Đó là căn phòng khiến cho những người có mặt cảm thấy hồi hộp và lo lắng. Có lẽ vì thế một số người mới gọi nó là phòng chờ, như thể họ đang ngồi đợi ở phòng khám nha khoa. Hoặc tiền sảnh, như thể cánh cửa nặng nề của Trường quay 1 với hai chiếc sofa kê hai bên sẽ đưa họ bước vào chốn nào đó quan trọng, thậm chí là linh thiêng. Thế nhưng trong bản vẽ mặt bằng tòa cao ốc thuộc sở hữu của Đài Truyền hình Quốc gia Na Uy NRK tọa lạc tại quận Marienlyst, thủ đô Oslo, nó lại mang một cái tên thật tầm thường và nhàm chán: Sảnh, Trường quay 1. Dẫu vậy, đây vẫn là căn phòng thú vị nhất Oda Paulsen từng biết.
Các khách mời tham dự chương trình Bosse số phát sóng vào buổi tối hầu hết đều đã có mặt. Như thường lệ, nhân vật nào ít nổi tiếng nhất và người có thời gian lên hình ngắn nhất sẽ đến sớm nhất. Lúc này họ đang ngồi tại một trong hai chiếc sofa, sửa soạn trang điểm, khuôn mặt ửng hồng vì căng thẳng trong lúc tán gẫu, uống trà hoặc rượu vang đỏ, ánh mắt không ngừng hướng về phía chiếc màn hình cho thấy toàn cảnh trường quay phía bên kia cánh cửa. Ở đó, khán giả đã được cho vào và người quản lý chương trình đang hướng dẫn họ cách vỗ tay, cười và hò reo cổ vũ. Trên màn hình còn chiếu cả ghế ngồi của người chủ trì và bốn ghế khác dành cho khách mời, tất cả như đang chờ đợi sự xuất hiện của người tham gia, nội dung và màn giải trí hấp dẫn.
Oda rất thích những giây phút căng thẳng, lo âu trước khi ghi hình. Thứ Sáu nào cũng vậy, bốn mươi phút của chương trình là khoảng thời gian đưa họ đến gần với tâm điểm thế giới nhất có thể ở Na Uy này. Số lượng khán giả theo dõi chương trình chiếm từ hai mươi đến hai mươi lăm phần trăm dân số, quả là tỷ lệ cao ngất ngưởng đối với một chương trình trò chuyện. Những người làm việc ở đây không chỉ có mặt ở nơi diễn ra chương trình, họ chính là điều làm nên chương trình. Bosse được ví như Cực Bắc từ của sự nổi tiếng, là thứ có khả năng thu hút mọi thứ lẫn mọi người. Sự nổi tiếng giống như một chất gây nghiện, hơn nữa ở Cực Bắc mũi tên la bàn luôn chỉ về một hướng duy nhất, đó là hướng Nam - đi xuống, thế nên tất cả nhân viên đều phải tìm mọi cách cố gắng giữ được công việc mình đang có. Một người hành nghề tự do như Oda phải hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ để có cơ hội góp mặt trong đội ngũ sản xuất vào mùa tiếp theo. Chính vì lẽ ấy cô ta mừng như bắt được vàng, mừng cho chính mình, khi nhận được cú điện thoại gọi đến vào lúc sẩm tối ngày hôm qua, ngay trước khi họp bộ phận biên tập. Bosse Eggen đã cười với Oda và nói rằng đó đúng là một mỏ vàng. Mỏ vàng của cô ta.
Chú đề của chương trình tối nay là những trò chơi người lớn. Đó là đề tài quen thuộc của Bosse, nghiêm túc nhưng không quá nặng nề. Một thứ mà các khách mời có thể đưa ra quan điểm cận chuyên môn. Trong số đó có một nữ chuyên gia tâm lý mới hoàn thành luận án về đề tài này, song khách mời chính của số này là Arve Støp, người sẽ chủ trì lễ kỷ niệm hai mươi lăm năm thành lập tạp chí Liberal vào ngày mai. Khi Oda đến gặp ông ta tại nhà riêng để trao đổi về công tác chuẩn bị, Støp không phản đối lời đề nghị tham dự dưới góc nhìn của một người lớn chịu chơi, tay chơi bất hảo. Ông ta chỉ phá lên cười khi nghe Oda so sánh ông ta với một [1] già nua mặc áo choàng ngủ, miệng phì phèo tẩu thuốc trong bữa tiệc độc thân kéo dài bất tận tại dinh thự của mình. Cô cảm thấy ông ta nhìn mình bằng ánh mắt dò xét, hiếu kỳ, và chỉ chấm dứt lúc cô hỏi ông ta có hối hận không khi chẳng có con cái, không có người kế thừa đế chế ông ta gây dựng nên.
“Thế cô có con không?” ông ta hỏi.
Khi cô đáp rằng không, ông ta bỗng tỏ ra chẳng còn hứng thú gì với cả cô lẫn cuộc nói chuyện này nữa, khiến cô vô cùng ngạc nhiên. Vì vậy cô nhanh chóng kết thúc cuộc gặp mặt bằng cách dặn dò ông ta những thông tin cơ bản: thời gian có mặt ở đài và trang điểm, tốt hơn nên tránh mặc trang phục kẻ sọc, chủ đề và khách mời của chương trình có thể thay đổi vào phút chót vì Bosse là talk show ứng biến linh hoạt, vv…
Vậy là vào lúc này đây Arve Støp đang có mặt ở Sảnh, Trường quay 1, vừa trải qua công đoạn trang điểm, với cặp mắt xanh ánh lên sắc sảo cùng mái tóc muối tiêu dày dặn được chải chuốt gọn gàng và chỉ đủ dài để ngọn tóc hơi bồng bềnh cho phù hợp với phong cách bất cần. Ông ta mặc bộ vét xám trơn mà ai cũng biết là có giá cỡ một cánh tay hay một bàn chân, dù chẳng ai giải thích được vì sao mình biết. Một bàn tay rám nắng nhanh chóng chìa ra để chào đón chuyên gia tâm lý đang ngồi trên sofa nhấm nháp đậu phộng và một ly vang đỏ.
“Tôi thật không biết chuyên gia tâm lý có thể xinh đến vậy,” ông ta nói với người phụ nữ. “Hy vọng mọi người vẫn nghe hiểu những điều cô nói.”
Oda quan sát cô chuyên gia ngần ngừ giây lát rồi mỉm cười rạng rỡ. Và dù người phụ nữ đó biết rõ lời khen của Støp thực chất là một câu bông đùa, nhìn tia sáng long lanh trong đôi mắt cô ta, Oda biết rằng nó đã đánh trúng tâm.
“Xin chào, cảm ơn tất cả các vị đã có mặt ở đây ngày hôm nay!” Bosse Eggen nói khi bước vào phòng. Ông ta bắt đầu với các khách mời ở bên trái bằng cách bắt tay, nhìn vào mắt họ và nói rằng ông ta rất vui khi được đồng hành cùng họ trong chương trình, và họ có thể chen ngang giữa chừng để đặt câu hỏi cho những khách mời khác hoặc đưa ra nhận xét của mình; như thế cuộc thảo luận sẽ càng thêm sôi nổi.
Gubbe, nhà sản xuất chương trình, ra hiệu bảo Støp và Bosse rút vào căn phòng phụ để trao đổi về cấu trúc cuộc phỏng vấn chính và phần giới thiệu chương trình. Oda xem đồng hồ. Tám phút rưỡi nữa là ghi hình rồi. Cô bắt đầu thấy hơi lo và tự hỏi có nên gọi điện cho lễ tân hỏi xem anh ta có đang đợi ở đó không: vị khách chủ chốt thực sự. Mỏ vàng của cô. Thế nhưng khi cô ngước lên thì thấy anh ta đang đứng đằng trước cùng với một trợ lý, và tim Oda lỡ mất một nhịp. Anh ta không hẳn ưa nhìn, thậm chí có thể nói là xí trai, nhưng cô chẳng ngại thừa nhận cô cảm thấy có một sức hút nhất định. Và sức hút này phần nào xuất phát từ việc anh ta là khách mời mà hiện nay tất cả các kênh truyền hình ở Scandinavia đều muốn giành lấy. Vì anh ta là người đã bắt được Người Tuyết, chuyên án giết người gây chấn động nhất Na Uy trong vòng nhiều năm trở lại đây.
“Tôi đã bảo sẽ đến muộn mà,” Harry Hole lên tiếng trước khi cô kịp nói điều gì.
Cô ngửi hơi thở của anh ta. Lần gần đây nhất xuất hiện trong chương trình, anh ta rõ ràng đã uống say và làm mếch lòng toàn thể người dân trên đất nước này. Hay ít nhất là khoảng hai mươi đến hai mươi lăm phần trăm trong số đó.
“Có anh là chúng tôi mừng lắm rồi,” cô rối rít nói. “Anh sẽ là người thứ hai lên hình. Sau đó anh chỉ ngồi nghe cho đến hết chương trình cũng được; những khách mời khác sẽ lần lượt xuất hiện.”
“Được thôi,” anh ta nói.
“Dẫn anh ấy đi trang điểm đi,” Oda nói với người trợ lý. “Chọn Guri ấy.”
Guri không chỉ được việc mà còn biết cách khiến một gương mặt bơ phờ trở nên dễ coi trên truyền hình chỉ bằng một vài mánh khóe cả đơn giản lẫn không đơn giản cho lắm.
Sau khi họ đi Oda hít một hơi thật sâu. Cô rất, rất thích những giờ phút cuối cùng đầy căng thẳng khi mọi thứ dường như là một mớ hỗn loạn nhưng rồi vẫn sẽ đâu vào đấy cả.
Bosse và Støp từ phòng phụ đi ra. Cô giơ ngón tay cái với Bosse. Cô nghe tiếng hoan hô của khán giả khi cánh cửa trường quay khép lại. Trên màn hình cô trông thấy Bosse ngồi xuống ghế và biết rằng người quản lý đã bắt đầu đếm ngược. Rồi nhạc hiệu nổi lên và thế là bọn họ lên sóng.
Oda nhận ra dường như có điều gì đó không ổn. Tính đến thời điểm này chương trình diễn ra khá suôn sẻ. Arve Støp thể hiện rất tốt và Bosse rất hài lòng. Arve Støp nói ông ta bị người ta xem là một tay thượng đẳng cũng bởi vì ông ta chính là thượng đẳng. Và rằng ông ta sẽ chẳng được ai nhớ đến trừ phi trải qua một, hai lần thất bại thực sự nào đó.
“Những câu chuyện hay chẳng bao giờ kể về một chuỗi thành công mà luôn là những thất bại cay đắng,” Støp nói. “Dù Roald Amundsen có chiến thắng trong cuộc chạy đua tới Nam Cực đi nữa, Robert Scott mới là người được lưu danh muôn thuở bên ngoài lãnh thổ Na Uy. Không thắng lợi nào của Napoleon được người đời nhớ bằng thất bại ở Waterloo. Niềm tự hào dân tộc Serbia bắt nguồn từ trận chiến với người Thổ ở Kosovo Poljie vào năm 1389, trận chiến trong đó người Serbia thất bại thảm hại. Và các vị cứ nhìn Chúa Jesus mà xem! Biểu tượng của người đàn ông được cho rằng đã chiến thắng cái chết đúng ra phải là người đứng bên ngoài lăng mộ với hai tay giơ cao. Ấy thế mà trong suốt chiều dài lịch sử, các tín đồ Thiên Chúa giáo vẫn lựa chọn biểu tượng của sự thất bại ngoạn mục: khi người đó bị đóng đinh trên thập giá, gần như sắp đầu hàng. Bởi lẽ câu chuyện thất bại luôn có sức lay động lớn hơn cả.”
“Và ông đang tính trở thành một Jesus như thế?”
“Không,” Støp đáp, cụp mắt xuống và mỉm cười khi khán giả cười ồ. “Tôi hèn lắm. Tôi chỉ nhắm đến những thành công dễ quên thôi.”
Støp đã bộc lộ một khía cạnh đáng mến không ngờ, thậm chí là khiêm nhường, trong tính cách của mình, thay cho sự ngạo mạn khét tiếng thường ngày. Bosse hỏi ông ta rằng, người độc thân trường kỳ như ông ta chẳng lẽ không khao khát có được một người phụ nữ ở bên cạnh hay sao. Và khi Støp đáp rằng có. Oda biết sắp tới những lời cầu hôn sẽ đổ dồn về như tuyết lở. Khán giả phản ứng bằng một tràng pháo tay giòn giã. Thế rồi Bosse tuyên bố một cách hùng hồn: “Và đây, kẻ đi săn miệt mài, con sói độc hành của Sở Cảnh sát Oslo, thanh tra Harry Hole.” Oda nghĩ hình như mình vừa bắt gặp vẻ sửng sốt của Støp khi ống kính máy quay ngừng lại một giây ở chỗ ông ta.
Rõ ràng Bosse rất thích thú trước phản ứng nhận được trong câu hỏi về một người phụ nữ, bởi lẽ ông ta cố gắng duy trì điều đó bằng cách chuyển hướng sang phía Harry, người mà ông ta biết vẫn còn độc thân, hỏi rằng anh ta có ao ước được ở bên người phụ nữ nào không? Harry nhếch mép cười và lắc đầu. Nhưng Bosse chưa chịu buông tha mà hỏi tiếp, có chăng một người đặc biệt nào đó anh ta đang chờ đợi mỏi mòn không.
“Không,” Harry đáp, ngắn gọn nhẹ nhàng.
Thường thì kiểu cự tuyệt này chỉ càng thôi thúc Bosse khai thác sâu hơn, nhưng ông ta biết không nên phá hỏng bữa tiệc. Người Tuyết. Vì vậy, ông ta đề nghị Harry kể cho mọi người nghe về chuyên án đang gây xôn xao dư luận trên khắp Na Uy, kẻ sát nhân hàng loạt thực sự, lần đầu xuất hiện ở đất nước này. Harry cựa mình trên ghế như thể cái ghế quá nhỏ so với thân hình dài nghêu của anh trong khi tóm tắt lại chuỗi sự kiện xảy ra bằng những câu gãy gọn, súc tích. Trong những năm gần đây đã xảy ra một số vụ mất tích có nhiều điểm tương đồng dễ nhận thấy. Tất cả những phụ nữ mất tích đều đang gắn bó với người nào đó, đã có con và không tìm được xác.
Bosse thể hiện rõ vẻ nghiêm trọng để toàn thể khán giả biết họ đã chạm đến đề tài không có đất cho sự bông đùa.
“Năm nay Birte Becker bỗng dưng biến mất khỏi căn nhà ở Hoff, ngay tại Oslo này, cũng với tình huống tương tự,” Harry nói. “Không lâu sau, Sylvia Ottersen được phát hiện đã chết ở Sollihøgda ngoại ô Oslo. Đó là lần đầu tiên chúng tôi tìm được thi thể. Hay ít nhất là một phần của thi thể.”
“Vâng, vì anh đã tìm thấy đầu cô ấy, phải vậy không?” Bosse nói chen vào. Thông tin vừa đủ hữu ích cho khán giả nào còn mù mờ, lại vừa máu me và lá cải cho những ai đã biết. Ông ta chuyên nghiệp đến nỗi Oda lập tức cảm thấy hết sức hài lòng.
“Sau đó chúng tôi lại phát hiện thi thể của một cảnh sát đã mất tích bên ngoài thành phố Bergen.” Harry kiên nhẫn kể tiếp. “Ông ấy đã mất tích mười hai năm nay.”
“Rafto Sắt,” Bosse nói.
“Gert Rafto,” Harry chữa lại. “Cách đây vài hôm chúng tôi phát hiện ra xác của Idar Vetlesen ở Bygdøy. Đó là những thi thể duy nhất chúng tôi tìm được.”
“Theo anh điều tồi tệ nhất trong chuyên án này là gì?” Oda nhận ra sự sốt ruột trong giọng nói của Bosse, có lẽ là vì Harry đã không mắc bẫy cái đầu và cũng chẳng mô tả các vụ giết chóc với những tình tiết máu me ghê rợn như ông ta mong đợi.
“Từng ấy năm trôi qua đến giờ chúng tôi mới phát hiện ra có một mối liên hệ giữa các vụ mất tích.”
Lại một câu trả lời chán ngắt. Người quản lý chương trình ra hiệu bảo Bosse nghĩ cách chuyển chủ đề.
Bosse áp đầu ngón tay vào nhau. “Giờ thì chuyên án đã kết thúc và anh lại trở thành ngôi sao. Cảm giác thế nào hả Harry? Anh có nhận được thư của người hâm mộ không?” Ông ta nở nụ cười cầu tài tinh nghịch. Đề tài không có đất cho sự bông đùa đến đây là kết thúc.
Vị thanh tra chậm rãi gật đầu và liếm môi với vẻ đăm chiêu, như thể cách anh ta trả lời câu hỏi sẽ mang tính quyết định. “À, hồi đầu mùa thu vừa qua, tôi đã nhận được một lá thư, nhưng tôi tin Støp có thể cho biết rõ hơn về điều đó.”
Máy quay chiếu cận cảnh Støp trong khi ông ta nhìn Harry bằng vẻ mặt có chút tò mò. Hai giây dài của buổi ghi hình trôi đi trong im lặng. Oda cắn môi dưới. Harry nói vậy là sao? Thế rồi Bosse nhảy vào cứu vãn tình hình.
“Vâng, dĩ nhiên là Støp nhận được nhiều thư của người hâm mộ rồi. Và cả các fan nữ cuồng nữa. Nhưng còn anh thì sao, anh Hole? Anh có nhiều fan nữ như vậy không? Cảnh sát các anh có đội fan cuồng của riêng mình không?”
Khán giả cười một cách dè dặt.
Harry Hole lắc đầu.
“Thôi nào,” Bosse nói. “Thỉnh thoảng chắc cũng phải có sĩ quan nữ mới vào nghề đến xin chỉ giáo thêm về phương pháp khám người chứ nhỉ.”
Lần này cả trường quay cười ồ. Một cách thật sảng khoái. Bosse toét miệng cười thích chí.
Harry Hole chẳng thèm nhếch môi; anh chỉ tỏ vẻ cam chịu và liếc mắt về phía lối ra. Trong một giây hốt hoảng, Oda đã tưởng anh sẽ đứng dậy và ra về. Nhưng không, thay vào đó anh quay sang Støp đang ngồi bên cạnh.
“Ông sẽ làm gì hả Støp? Khi một phụ nữ đến tìm ông sau bài giảng ở Trondheim, nói rằng tuy mình chỉ còn một bên ngực nhưng vẫn muốn lên giường với ông. Ông có mời cô ta tham dự hoạt động ngoại khóa ngắn hạn tại phòng khách sạn của mình không?”
Khán giả chết lặng đi, ngay cả Bosse cũng ngỡ ngàng.
Dường như chỉ duy nhất Arve Støp cho rằng câu hỏi này thật thú vị. “Không, tôi không nghĩ thế. Nhưng không phải vì chuyện lên giường sẽ kém vui khi chỉ có một bên ngực, mà vì giường khách sạn ở Trondheim chật lắm.”
Khán giả lại cười, có điều tiếng cười thật gượng, chủ yếu họ thở phào nhẹ nhõm khi màn đối đáp không đến nỗi quá thô thiển. Sau đó người chủ trì giới thiệu nữ chuyên gia tâm lý.
Bọn họ trao đổi về những người có thói quen chơi bời, Oda nhận thấy Bosse đã hướng cuộc đối thoại dần xa khỏi Harry Hole. Hẳn ông ta cho rằng anh chàng cảnh sát khó lường này hôm nay phong độ không được tốt. Bởi thế Arve Støp, người có phong độ quá ổn, mới có thời lượng lên hình nhiều hơn hẳn.
“Ông chơi thế nào hả Støp?” Bosse hỏi với vẻ mặt ngây thơ của cáo đội lốt cừu. Oda hạnh phúc vô ngần, vì cô là người viết ra câu hỏi đó.
Nhưng Støp chưa kịp đáp thì Harry Hole đã chồm người tới trước và hỏi ông ta bằng giọng rất to và rõ ràng. “Ông có làm người tuyết không?”
Và đó là lúc Oda nhận ra có điều không ổn. Giọng điệu hống hách và tức tối cùng ngôn ngữ cơ thể đầy vẻ hung hăng của Hole; Støp nhướn một bên lông mày tỏ ý ngạc nhiên, khuôn mặt dường như cau lại và trở nên căng thẳng. Bosse ngần ngừ. Oda không hiểu chuyện gì đang xảy ra, nhưng cô đếm được bốn giây chết, khoảng thời gian dài vô tận đối với một chương trình phát sóng trực tiếp. Thế rồi cô hiểu thì ra Bosse đã biết rõ việc mình đang làm. Cho dù Bosse luôn nhận trọng trách tạo ra bầu không khí vui vẻ cho các khách mời, nhưng tất nhiên ông ta vẫn biết điều quan trọng nhất, trách nhiệm lớn nhất của mình là mua vui cho khán giả. Và trên đời còn gì vui hơn những con người đang tức giận, mất kiểm soát, khóc lóc, suy sụp hoặc bộc lộ cảm xúc bằng nhiều cách khác ngay trước mặt khán giả truyền hình. Bởi thế, ông ta cứ để nước đẩy thuyền trôi và chỉ giương mắt nhìn Støp.
“Tất nhiên tôi có làm người tuyết,” Støp nói sau bốn giây. “Tôi làm ra chúng trên mái nhà cạnh bể bơi. Mỗi con sẽ giống một thành viên gia đình hoàng gia. Như thế, khi xuân sang, tôi có thể trông đợi những nhân tố không hợp thời bắt đầu tan chảy và biến mất.”
Lần đầu tiên trong buổi tối hôm nay Støp không gọi được tiếng cười hay tràng vỗ tay nào. Oda nghĩ Støp lẽ ra phải biết những lời nhận xét về cơ bản mang tính chất chống hoàng gia như vậy sẽ chẳng bao giờ có tác dụng.
Không chút nao núng, Bosse phá vỡ sự im lặng bằng cách giới thiệu một ngôi sao nhạc pop, người sẽ kể về sự cố suy sụp tinh thần khi đang biểu diễn cách đây không lâu và sau đó khép lại talk show với một ca khúc có trong đĩa đơn sẽ được phát hành vào thứ Hai.
“Thế là thế quái nào vậy?” Gubbe, nhà sản xuất, người đã đến đứng ngay sau Oda, lên tiếng hỏi.
“Có lẽ anh ta đúng là không được tỉnh táo,” Oda đáp.
“Trời đất, gã là cảnh sát kia mà!”
Vào giây phút ấy, Oda chợt nhớ ra anh ta là của cô. Mỏ vàng của cô. “Nhưng, Chúa ơi, chẳng phải anh ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hay sao.”
Nhà sản xuất không đáp.
Trong lúc ngôi sao nhạc pop nói về những vấn đề tâm lý và giải thích rằng đó là do di truyền, Oda liếc đồng hồ đeo tay. Bốn mươi giây đã trôi qua. Chủ đề này quá nghiêm túc để đem ra thảo luận vào một buổi tối thứ Sáu. Bốn mươi ba giây. Bosse cắt ngang sau khi giây thứ bốn mươi sáu kết thúc.
“Vậy còn ông thì sao hả Arve?” Bosse có thói quen gọi khách mời chính bằng tên thánh vào cuối buổi phát sóng. “Ông có mắc chứng tâm thần hoặc căn bệnh di huyền nghiêm trọng nào không?”
Støp mỉm cười. “Không, Bosse ạ. Trừ phi anh coi khao khát tự do tuyệt đối là một căn bệnh. Đúng ra mà nói thì đó là điểm yếu của dòng họ nhà tôi.”
Đã đến lúc Bosse kết lại chương trình, giờ ông ta chỉ cần nói lời tạm biệt với những khách mời khác trước khi giới thiệu ca khúc. Nữ chuyên gia tâm lý trình bày nốt những điều cuối cùng về thói ham vui trong cuộc sống. Rồi sau đó:
“Giờ Người Tuyết không còn nữa, chắc hẳn anh sẽ có thời gian để chơi bời trong vài ngày chứ, Harry?”
“Không,” Harry đáp. Anh ngồi lún sâu trên chiếc ghế đến nỗi đôi chân dài gần chạm tới chỗ ngôi sao nhạc pop. “Người Tuyết vẫn chưa bị bắt.”
Bosse nhíu mày, mỉm cười và đợi anh nói tiếp, đợi câu chốt hạ ăn tiền. Oda thầm cầu nguyện câu kết đó sẽ hay ho hơn lời mở đầu.
“Tôi chưa bao giờ nói Idar Vetlesen là Người Tuyết cả,” Harry nói. “Thực tế hoàn toàn ngược lại. Mọi chứng cứ đều cho thấy Người Tuyết vẫn chưa sa lưới.”
Bosse khẽ cười khùng khục. Đó là tiếng cười ông ta dùng để khỏa lấp nỗ lực tỏ ra hài hước nhưng bất thành của khách mời.
“Vì giấc ngủ giữ sắc của bà xã tôi, tôi hy vọng anh chỉ đang nói đùa,” Bosse tinh nghịch nói.
“Không,” Harry đáp. “Tôi không đùa.”
Oda nhìn đồng hồ và biết người quản lý đã tới đứng sau máy quay, lo lắng nháp nhổm, cô đưa ngón tay cắt ngang cổ họng để Bosse biết đã quá thời lượng chương trình và ông ta phải giới thiệu ca khúc ngay để còn kịp hát xong lời đầu trước khi danh sách đội ngũ sản xuất chương trình bắt đầu chạy. Nhưng Bosse đúng là số một. Ông ta hiểu rằng mọi đĩa đơn trên thế giới đều không thể sánh được với điều này. Bởi thế ông ta ngó lơ lời cảnh báo và rướn người tới trước để chứng tỏ cho những ai còn nghi ngờ chưa biết chuyện gì đang diễn ra. Đây là một thông tin vàng. Là tuyên bố giật gân. Ngay tại chương trình của ông ta, của bọn họ. Sự run rẩy trong giọng nói của Bosse gần như là thật.
“Có phải anh đang muốn nói với chúng tôi, ngay tại đây và ngay lức này, rằng cảnh sát đã nói dối, thưa anh Hole? Rằng Người Tuyết vẫn nhởn nhơ ngoài kia và có thể sẽ còn tiếp tục gây án?”
“Không,” Harry đáp. “Chúng tôi không hề nói dối. Cuộc điều tra đã hé lộ những tình tiết mới.”
Bosse quay người lại trên ghế, và hình như Oda nghe thấy tiếng giám đốc kỹ thuật hét gọi máy quay 1, thế rồi khuôn mặt Bosse hiện ra, cặp mắt nhìn thẳng vào bọn họ.
“Và tôi đoán chúng ta sẽ được biết thêm những tình tiết đó trong bản tin tối nay. Bosse sẽ trở lại vào thứ Sáu tuần sau. Cảm ơn quý vị và các bạn đã quan tâm theo dõi.”
Oda nhắm nghiền mắt lại khi ban nhạc bắt đầu biểu diễn ca khúc trong đĩa đơn.
“Lạy Chúa,” cô nghe thấy tiếng nhà sản xuất thở khò khè phía sau. Tiếp đó là, Lạy Chúa tôi. Oda những muốn hú vang. Hú vang vì sung sướng. Ngay tại đây, cô nghĩ thầm. Ngay tại cực Bắc này. Chúng ta không chỉ có mặt ở nơi diễn ra chương trình. Chúng ta chính là điều làm nên chương trình.
❀ ❀ ❀
[1] Hugh Hefner (1926-2017) là tỷ phú người Mỹ, người sáng lập và chủ sở hữu tạp chí Playboy.