Lúc bảy giờ sáng, Harry đến mở khóa buồng giam số 23 ở khu tạm giam. Becker vẫn mặc nguyên quần áo ngồi trên giường nhìn anh với vẻ vô cảm. Harry cầm theo chiếc ghế từ phòng trực ban và đặt ở chính giữa căn buồng rộng năm mét vuông dùng để giữ người qua đêm và tạm giam bị can ở Sở Cảnh sát. Anh xoay ghế lại và ngồi giạng chân, chìa bao thuốc Camel nhàu nhĩ mời Becker một điếu.
“Quy định ở đây đâu cho phép hút thuốc, phải không?” Becker nói.
“Nếu tôi đang ngồi chờ án chung thân,” Harry nói, “tôi nghĩ mình cũng liều thử.”
Becker chỉ giương mắt nhìn anh.
“Cầm đi,” Harry nói. “Làm gì còn chỗ nào tốt hơn để hút trộm nữa.”
Vị giáo sư cười khẩy và cầm lấy điếu thuốc Harry dốc ra.
“Jonas vẫn ổn, xét trong hoàn cảnh này,” Harry nói, lấy ra chiếc bật lửa. “Tôi có nói chuyện với nhà Bendiksen, và họ đã đồng ý trông thằng bé vài hôm. Tuy phải đôi co với bên công tác xã hội đôi chút nhưng rồi họ cũng xuôi. Và chúng tôi chưa cho báo chí biết tin ông bị bắt.”
“Sao chưa?” Becker hỏi, thận trọng kề điếu thuốc vào mồi lửa và rít một hơi.
“Tôi sẽ quay lại vụ đó sau. Nhưng chắc ông cũng hiểu nếu ông không chịu hợp tác thì tôi không thể tiếp tục ém nhẹm tin này được.”
“A ha, vậy ra anh là cớm tốt. Còn cái gã thẩm vấn tôi hôm qua là cớm xấu, hả?”
“Đúng thế, Becker, tôi là cớm tốt. Và tôi muốn hỏi riêng ông vài câu. Những điều ông khai sẽ không thể và không được dùng để chống lại ông. Ông đồng ý chứ?”
Becker nhún vai.
“Espen Lepsvik, người thẩm vấn ông hôm qua, cho rằng ông nói dối,” Harry nói, nhả làn khói thuốc màu xanh về phía chuông báo cháy trên trần.
“Về việc gì?”
“Việc ông bảo mình chỉ nói chuyện với Camilla Lossius trong gara, sau đó ra về.”
“Sự thật là thế. Vậy chứ anh ta nghĩ sao?”
“Anh ta nói với ông tối qua rồi đấy thôi. Ông đã bắt cóc, giết rồi giấu xác cô ta.”
“Quá khùng điên!” Becker la lên. “Chúng tôi nói chuyện, tất cả chỉ thế, và đó là sự thật!”
“Thế tại sao ông lại không chịu cho chúng tôi biết ông và cô ta đã nói những gì?”
“Đây là chuyện riêng. Tôi đã bảo rồi mà.”
“Và theo như tôi hiểu, ông thừa nhận có gọi điện cho Vetlesen vào ngày anh ta được phát hiện đã chết, nhưng ông vẫn coi cuộc nói chuyện đó là vì việc riêng?”
Becker nhìn quanh quất như thể nghĩ rằng quanh đây hẳn phải có gạt tàn chứ. “Nghe này, tôi không làm gì phạm pháp, nhưng tôi cũng không muốn trả lời thêm bất cứ câu hỏi nào khi không có luật sư. Mà hôm nay thì phải lát nữa anh ta mới đến được.”
“Tối qua chúng tôi đã đề nghị chỉ định luật sư có thể có mặt ngay lập tức cho ông còn gì.”
“Tôi muốn có một luật sư đàng hoàng, chứ không phải mấy tay… công chức nhà nước ấy. Mà chẳng phải các anh cũng nên cho tôi biết lý do các anh quy kết tôi đã làm gì mụ vợ của gã Lossius đó hay sao?”
Harry sững sờ trước cách dùng từ ấy. Hay đúng hơn là cách ông ta nói về Camilla. Mụ vợ của gã Lossius.
“Nếu cô ta mất tích, các anh nên bắt giam Erik Lossius,” Becker tiếp tục nói. “Không phải thủ phạm luôn là các ông chồng sao?”
“Đúng thế,” Harry đáp. “Nhưng anh ta có chứng cứ ngoại phạm; vào lúc cô vợ mất tích, anh ta đang làm việc. Lý do ông ngồi đây lúc này là vì chúng tôi cho rằng ông chính là Người Tuyết.”
Miệng Becker hơi há ra, ông ta chớp mắt hệt như khi ngồi trong phòng khách ở Hoffsveien tối qua. Harry trỏ về phía làn khói cuộn lên từ điếu thuốc ông ta đang kẹp giữa hai ngón tay. “Ông nên hít vào tí chút để chuông báo cháy khỏi kêu.”
“Người Tuyết á?” Becker kêu lên. “Người Tuyết là Vetlesen cơ mà, không phải sao?”
“Không,” Harry nói. “Chúng tôi biết là không phải.”
Becker chớp mắt hai cái rồi bật cười khô khốc và chua chát, nghe như tiếng ho. “Hóa ra vì thế nên anh mới chưa hở ra câu nào với cánh báo chí. Không được để họ biết các anh đã bé cái nhầm. Trong lúc đó các anh chạy ngược chạy xuôi truy tìm hung thủ thật. Hay hung thủ có tiềm năng là thật.”
“Chính xác,” Harry nói, rít một hơi thuốc. “Và hiện tại, kẻ đó chính là ông.”
“Hiện tại á? Tôi tưởng việc của anh là thuyết phục tôi tin rằng anh biết hết rồi, tốt nhất tôi nên thú tội luôn đi thì hơn.”
“Nhưng tôi đã biết hết đâu,” Harry nói.
Becker nhăn một bên mặt. “Anh định bẫy tôi đấy à?”
Harry nhún vai. “Chỉ là trực giác mách bảo. Tôi cần ông thuyết phục tôi tin rằng ông vô tội. Cuộc thẩm vấn ngắn ngày hôm qua càng củng cố cảm giác ông là người có rất nhiều điều muốn giấu giếm.”
“Tôi chẳng giấu gì hết. Ý tôi là, tôi chẳng có gì phải giấu cả. Và tôi thực sự không hiểu sao tôi lại phải khai với anh nếu tôi không làm gì sai.”
“Ông nghe cho rõ đây, Becker. Tôi không nghĩ ông là Người Tuyết hoặc đã giết Camilla Lossius. Mà tôi nghĩ ông là người biết nghĩ, có lý lẽ. Người có thể nhận thức được rằng tổn thất sẽ giảm đi nếu ông chịu khai với tôi những chuyện khó nói ngay lúc này và ở đây, còn hơn là ngày mai đọc báo với hàng tít giáo sư Filip Becker bị bắt vì bị tình nghi là kẻ sát nhân khét tiếng nhất Na Uy. Vì chắc ông cũng biết kể cả ông có được minh oan và phóng thích vào ngày kia đi nữa, thì tên tuổi của ông sẽ vẫn mãi gắn với những hàng tít đó. Cả con ông nữa.”
Harry quan sát yết hầu của Becker chạy lên chạy xuống trên cái cổ lún phún râu. Quan sát ông ta nhẩm tính trong đầu để đưa ra những kết luận logic. Và đơn giản. Cuối cùng ông ta cũng chịu nói với giọng khổ sở mà lúc đầu Harry tưởng là do không quen hút thuốc.
“Birte, vợ tôi, là một con điếm.”
“Hả?” Harry cố che giấu vẻ sửng sốt.
Becker vứt điếu thuốc xuống sàn, chúi người về phía trước và lôi từ túi quần sau ra một cuốn sổ màu đen. “Tôi tìm thấy thứ này sau hôm cô ta mất tích. Nó nằm trong ngăn kéo bàn của Birte, cô ta còn chẳng thèm giấu. Nhìn qua thì có vẻ trong sáng. Toàn những ghi chú thông thường và số điện thoại. Chỉ đến khi tôi nhờ tổng đài kiểm tra những số đó thì mới biết chúng không tồn tại. Đó là mật mã. Nhưng tiếc rằng vợ tôi chẳng giỏi dùng mật mã cho lắm. Chưa đầy một ngày tôi đã giải được hết.”
Erik Lossius là người sở hữu và điều hành Rydd & Flytt, công ty vận chuyển kiếm được chỗ đứng riêng trên thị trường chẳng lấy gì làm sáng sủa bằng cách chuẩn hóa giá thành, đẩy mạnh tiếp thị, thuê nhân công nước ngoài với giá rẻ và đưa ra điều khoản hợp đồng yêu cầu thanh toán tiền mặt ngay sau khi chất xong đồ lên xe và trước khi xe chuyển bánh. Gã chưa bao giờ mất tiền cho khách hàng nào, vì trong hợp đồng có đi kèm dòng chữ nhỏ đề rõ rằng mọi khiếu nại liên quan đến tổn hại hoặc mất mát đồ đạc đều phải được phản ánh trong vòng hai ngày, và thực tế là chín mươi phần trăm trong số khá nhiều đơn khiếu nại gửi đến quá trễ nên không được giải quyết. Với mười phần trăm còn lại, Erik Lossius đã vẽ ra đủ thứ thủ tục để trốn tránh khách hàng hoặc kéo dài các khâu xử lý, khiến quá trình khiếu nại trở nên quá mệt mỏi đến nỗi những người bị mất ti vi plasma hoặc có đàn piano hư hỏng trong quá trình vận chuyển cuối cùng cũng đành bỏ cuộc.
Erik Lossius vào nghề khi còn trẻ và làm cho ông chủ cũ của Rydd & Flytt. Ông ta là bạn của bố Erik, gã được bố xin cho một chân ở công ty.
“Thằng này ngồi không yên nên học nữa cũng bằng thừa, quá khôn lỏi nên làm tội phạm thì phí,” bố gã đã nói như thế. “Hay ông nhận nó nhé?”
Với vai trò nhân viên kinh doanh hưởng phần trăm hoa hồng, chẳng mấy chốc Erik đã tạo được tên tuổi nhờ vào sức hút, năng suất và sự tàn nhẫn của gã. Gã được thừa hưởng cặp mắt nâu của mẹ, mái tóc xoăn dày dặn của bố, lại sở hữu thân hình khỏe khoắn; cánh phụ nữ đa phần không xin báo giá của các công ty khác nữa mà đồng ý ký hợp đồng ngay với gã. Gã cũng được cái sáng dạ, giỏi tính toán và lên kế hoạch trong những dịp hiếm hoi công ty được mời đấu thầu một số vụ làm ăn lớn hơn. Giá thành rẻ trong khi phí bồi thường mất mát hoặc thiệt hại lại cao. Sau năm năm công ty thu về một khoản lợi nhuận đáng kể, và Erik trở thành cánh tay phải của ông chủ trong hầu hết các hoạt động kinh doanh. Vậy nhưng, trong lần chuyển đồ tương đối nhẹ nhàng ngay trước Giáng sinh, khi khiêng bàn làm việc lên văn phòng mới của Erik trên tầng hai cạnh phòng sếp, ông giám đốc lên cơn đau tim và đột tử. Trong những ngày sau đó, Erik an ủi bà vợ ông chủ bằng tất cả khả năng của mình - thứ mà gã có thừa - và một tuần sau lễ tang, hai bên đã thỏa thuận xong một số tiền chuyển nhượng gần như chỉ mang tính hình thức, tượng trưng cho thứ Erik nhấn mạnh là “một công ty nhỏ trong một thị trường chẳng lấy gì làm tươi sáng, ẩn chứa rủi ro cao và biên lợi nhuận gần như bằng không”. Nhưng gã cũng mạnh miệng tuyên bố điều quan trọng nhất đối với gã là có người đứng ra tiếp tục gánh vác thành quả cả đời của chồng bà ta. Cặp mắt nâu của gã rơm rớm nước khi gã nói ra câu đó, và bà vợ giám đốc run rẩy áp tay lên tay gã, bảo gã hãy đích thân đến thông báo tình hình cho bà ta biết. Và như thế, Lossius trở thành người sở hữu Rydd & Flytt, việc đầu tiên gã làm là quẳng hết đơn từ khiếu nại vào thùng rác, soạn lại hợp đồng, phát tờ rơi đến tất cả các gia đình sống tại khu thượng lưu Tây Oslo, dân ở đây hay chuyển nhà nhất và độ nhạy cảm về giá cũng cao nhất.
Đến năm ba mươi tuổi Erik Lossius đã đủ khả năng tài chính để sở hữu hai chiếc BMW, một dinh thự nghỉ hè ở phía Bắc thành phố Cannes, và một căn nhà riêng rộng năm trăm mét vuông trong khu Tveita nơi những tòa chung cư gã từng sống từ khi còn nhỏ không chắn mất ánh mặt trời. Nói ngắn gọn, gã đủ sức cung phụng Camilla Sandén.
Camilla xuất thân từ một gia đình quyền thế trong ngành may mặc nhưng lâm vào cảnh phá sản, cư ngụ ở phía Tây, quận Blommenholm, khu vực xa lạ với cậu con trai của gia đình thuộc tầng lớp lao động chẳng khác gì những chai vang Pháp trên hàng kệ cao cả mét dưới tầng hầm nhà gã ở Tveita. Nhưng khi đặt chân vào dinh thự bề thế và trông thấy tất cả những món đồ cần chuyển đi, gã mới phát hiện ra thứ mình vẫn còn thiếu và vì vậy nhất định phải có: đẳng cấp, phong cách, lối sống xa hoa một thời và khí chất thượng lưu mà sự lịch thiệp và nụ cười chỉ có nhiệm vụ duy nhất là củng cố cho hình ảnh ấy. Tất cả những điều này đều hội tụ ở cô con gái Camilla, người đang ngồi trên ban công ngắm cảnh vịnh Oslo qua đôi kính râm cỡ lớn mà trong mắt Erik dù có được mua ở trạm xăng đi nữa nhưng một khi đã mang trên người cô thì cũng thành hàng Gucci, Dolce & Gabbana hay thương hiệu gì gì đó gã chẳng biết tên.
Giờ thì gã biết hết tên những thương hiệu ấy rồi.
Gã chuyển toàn bộ đồ đạc của họ, chỉ để lại vài bức tranh cần bán, tới một căn nhà nhỏ hơn ở địa chỉ ít thời thượng hơn và chẳng phải nghe đến một câu khiếu nại khi họ mất một món đồ do gã nhón được trong số ấy. Ngay cả khi Camilla Lossius đứng trước cửa nhà thờ Tveita trong bộ váy cưới, với những tòa cao ốc là các chứng nhân câm lặng, bố mẹ cô cũng không hề bộc lộ dù một cái bĩu môi chê trách lựa chọn của con gái. Có lẽ là bởi họ nhận ra rằng về mặt nào đó Erik và Camilla bổ khuyết cho nhau; gã thiếu sự cao nhã còn cô thiếu tiền.
Erik chiều chuộng Camilla như bà hoàng, và cô để hắn làm thế. Gã đáp ứng mọi ý muốn của cô, đồng ý để cô yên trong chuyện gối chăn bất cứ khi nào cô muốn, chỉ có một yêu cầu duy nhất là cô hãy ăn vận thật đẹp mỗi khi đi đâu hoặc khi mời vài người bạn thân của hai vợ chồng - mà thực ra là bạn của gã từ hồi nhỏ - đến ăn tối. Có đôi lúc cô tự hỏi liệu gã có yêu cô thật lòng hay không, rồi dần dần cô cũng nảy sinh lòng cảm mến sâu sắc dành cho gã trai năng động và giàu tham vọng xuất thân ở Đông Oslo này.
Về phần mình, Erik cực mãn nguyện. Ngay từ đầu gã đã biết Camilla không phải tuýp máu lửa; thực ra, đó là một trong những điều khiến gã đặt cô lên một tầm cao hơn mấy ả gã từng quen. Dù sao thì những nhu cầu sinh lý của gã đã được giải tỏa nhờ tiếp xúc gần gũi với khách hàng rồi. Erik rút ra một kết luận rằng trong việc chuyển nhà hẳn là có điều gì đó khiến người ta trở nên đa cảm, ủ dột và dễ tiếp nhận những trải nghiệm mới. Nói chung, gã luộc cả đàn bà độc thân lẫn ly thân, đang chung sống lẫn đã có chồng, những cuộc giao hoan diễn ra trên bàn ăn, trên chiếu nghỉ cầu thang, trên tấm đệm bọc nylon và sàn gỗ mới lau, giữa đống thùng các tông dán kín và bốn bức tường trống trơn âm vang, trong lúc đó gã còn nghĩ xem tiếp theo nên mua gì cho Camilla.
Đỉnh cao của việc dàn xếp này là một cách tự nhiên gã sẽ chẳng bao giờ gặp lại những phụ nữ ấy nữa. Bọn họ sẽ ra đi và biến mất. Và họ làm thế thật. Trừ một người.
Birte Olsen có mái tóc sẫm màu, tính tình khá dễ chịu và thân hình ngon nghẻ. Cô ta kém tuổi gã, chất giọng cao vút và cách nói khiến cô ta thậm chí còn trẻ hơn. Cô ta đang mang bầu hai tháng và chuẩn bị chuyển từ khu Tveita gần nhà gã để tới sống ở Hoffsveien cùng với người sắp thành bố trẻ con, gã đàn ông ở khu Tây mà cô ta sắp cưới. Đó là vụ làm ăn Erik chẳng lạ gì. Và - gã nhận ra điều này sau khi quan hệ với cô ta trên cái ghế lưng nan xấu xí giữa căn phòng trống hoác - tình dục là thứ gã không thể sống thiếu được.
Nói ngắn gọn, Erik Lossius đã gặp được đối thủ xứng tầm.
Phải, đúng thế, vì gã nghĩ cô ta như một người đàn ông, kẻ chẳng thèm giấu giếm điều duy nhất cô ta muốn ở gã: chơi cho đã thì thôi. Theo một cách nào đó thì bọn họ đúng là chỉ làm có thế. Cả hai bắt đầu gặp nhau trong những căn hộ trống có đồ đạc cần chuyển đi hoặc chuyển đến, ít nhất một lần mỗi tháng với nguy cơ lộ tẩy lúc nào cũng cao. Mọi chuyện diễn ra chóng vánh, hiệu quả, quy trình luôn cố định và không có sự thay đổi. Nhưng dẫu sao, Erik Lossius vẫn ngóng chờ những cuộc hẹn bất chính đó như một đứa trẻ mong Giáng sinh, nghĩa là với niềm sung sướng giản đơn và chân thật chỉ có tăng lên vì tin rằng lần này cũng sẽ giống như bao lần trước, những kỳ vọng sẽ được thỏa mãn. Họ sống hai cuộc đời song song, trong hai thế giới song song, điều đó có vẻ hợp với cả gã lẫn cô ta. Và thế là họ tiếp tục dan díu, chỉ bị gián đoạn trong thời gian cô ta sinh con - may thay lại là đẻ mổ - vài kỳ nghỉ tương đối dài hơi và một căn bệnh lây truyền qua đường tình dục khá vô hại bắt nguồn từ đâu thì gã chẳng thể và cũng chẳng buồn tìm hiểu. Từ đó đến nay đã mười năm trôi qua, giờ đây, trước mặt Erik, đang ngồi trên cái thùng các tông trong căn hộ đã dọn được phân nửa ở Torshov, là một người đàn ông cao nghểu có mái tóc húi cua và giọng nói nghe như tiếng máy cắt cỏ, hỏi gã có quen Birte Becker hay không.
Erik Lossius nuốt khan một cái.
Người đàn ông tự giới thiệu mình là Harry Hole, thanh tra thuộc Đội Hình sự, nhưng trông anh ta giống với đám nhân viên chuyển đồ của công ty gã hơn là thanh tra gì đó. Những sĩ quan cảnh sát đã nói chuyện với Erik sau khi gã báo tin Camilla biến mất đều thuộc Đơn vị Tìm kiếm Người Mất tích. Tuy nhiên, khi người này trình thẻ cho gã xem, đầu tiên Erik tưởng anh ta có tin gì của Camilla. Hơn nữa, tay sĩ quan đang ngồi trước mặt lại không gọi điện mà đến tận đây tìm gã, thế nên gã lo sợ sắp có tin xấu. Bởi vậy, gã đã đuổi hết nhân viên ra ngoài và mời vị thanh tra ngồi trong lúc gã đi tìm điếu thuốc và cố gắng chuẩn bị tinh thần để đón nhận những gì sắp đến.
“Thế nào?” Anh ta hỏi.
“Birte Becker ấy à?” Erik Lossius lặp lại, cố gắng châm thuốc và nghĩ thật nhanh. Nhưng cả hai việc ấy gã đều làm không nổi. Chết tiệt, đến nghĩ chậm cũng còn chẳng xong nữa là.
“Tôi hiểu anh cần phải bình tĩnh lại,” vị thanh tra nói, rút bao thuốc của mình ra. “Cứ từ từ.”
Erik nhìn vị thanh tra châm điếu thuốc Camel và nhoài người tới trước khi anh ta giơ cái bật lửa về phía gã.
“Cảm ơn,” Erik lẩm bẩm, rít mạnh đến nỗi điếu thuốc cháy lách tách. Khói thuốc xộc vào phổi gã, giống như nicotine đang được tiêm vào huyết mạch, xóa tan mọi rào cản. Gã luôn cho rằng điều này sớm muộn gì cũng xảy đến; bằng cách nào đó cảnh sát sẽ phát hiện ra mối quan hệ giữa gã với Birte và đến thẩm vấn gã. Nhưng lúc ấy gã chỉ lo làm sao để giấu được Camilla mà thôi. Còn bây giờ, mọi chuyện đã khác rồi. Bắt đầu từ giây phút này trở đi. Bởi lẽ trước đó gã không hề nhận ra cảnh sát có thể cho rằng hai vụ mất tích có liên quan đến nhau.
“Chồng của Birte, Filip Becker, đã tìm thấy một cuốn sổ được Birte ghi chép dưới dạng một loại mật mã tương đối dễ giải,” người cảnh sát nói. “Trong đó có các số điện thoại, ngày tháng và những thông điệp rất nhỏ. Ít nhiều không còn nghi ngờ gì về việc Birte thường xuyên liên lạc với những người đàn ông khác.”
“Những người đàn ông á?” Erik buột miệng hỏi.
“Không biết điều này có khiến anh được an ủi không, nhưng Becker cho rằng anh là người Birte gặp gỡ thường xuyên nhất. Trong số vô vàn địa chỉ khác nhau, theo như tôi được biết,” Harry nói thêm.
Erik, cảm thấy mình như đang ngồi trên con thuyền dập dềnh nhìn cơn sóng dữ mỗi lúc một lớn lên phía chân trời, im lặng không đáp.
“Vì thế Becker tìm địa chỉ nhà anh, cầm theo khẩu súng đồ chơi của cậu con trai, một khẩu Glock 21 trông y như thật, và đến Tveita chờ anh về. Ông ta nói muốn nhìn thấy nỗi sợ trong mắt anh. Đe dọa để anh chịu khai ra mọi điều anh biết, sau đó ông ta có thể báo lại cho chúng tôi về anh. Ông ta đi theo chiếc ô tô vào tận trong gara, nhưng không ngờ người lái xe lại là vợ anh.”
“Vậy là ông ta… ông ta…”
“Đã kể hết cho bà nhà, đúng vậy.”
Erik đứng lên khỏi chiếc thùng các tông và bước tới bên cửa sổ. Căn hộ này trông ra quang cảnh công viên Torshov và thành phố Oslo đang tắm mình dưới ánh bình minh. Gã không thích những tòa nhà chung cư cũ nhìn ra khung cảnh bên ngoài. Vì như vậy tức là ở đó có cầu thang. Tầm nhìn càng đẹp thì càng có nhiều cầu thang, căn hộ càng thuộc loại cao cấp, đồng nghĩa với việc có nhiều đồ nặng và đắt tiền hơn, phí bồi thường hư hỏng sẽ cao hơn, và sau đó nhân viên của gã sẽ xin nghỉ ốm lâu hơn. Nhưng đó là điều anh phải chấp nhận khi mạo hiểm duy trì mức giá cố định ở mức thấp; anh sẽ luôn chiến thắng trong cuộc cạnh tranh để giành lấy những công việc tồi tệ nhất. Dần dần, sự mạo hiểm nào rồi cũng đến lúc phải trả giá. Erik hít sâu một hơi và nghe thấy tiếng viên cảnh sát lê bước trên sàn gỗ. Và như vậy, gã biết. Người thanh tra này sẽ chẳng chịu buông xuôi trước bất cứ chiêu trò kéo dài thời gian nào hết. Báo cáo thiệt hại lần này là bản báo cáo gã sẽ không thể vứt vào thùng rác được nữa. Birte Olsen, giờ mang họ Becker, sắp trở thành khách hàng đầu tiên gã hứng chịu tổn thất.
“Thế rồi anh ta thú nhận đã dan díu với Birte Becker suốt mười năm trời,” Harry nói. “Và rằng bọn họ gặp rồi quan hệ lần đầu trong thời gian cô ta mang bầu với chồng.”
“Phải nói là mang bầu con trai hoặc con gái,” Rakel chỉnh lời anh, vỗ vỗ chiếc gối để nhìn anh được rõ hơn. “Hoặc mang bầu đứa con của chồng.”
“Ừm,” Harry nói và chống tay nhỏm dậy, nhoài người qua chỗ cô nằm để với lấy bao thuốc lá trên kệ đầu giường. “Khả năng đó chỉ khoảng tám mươi phần trăm là cùng.”
“Sao cơ?”
“Trên radio nói có từ mười lăm đến hai mươi phần trăm trẻ em ở Scandinavia không phải con ruột của bố chúng.” Anh lắc bao thuốc để lấy ra một điếu và giơ lên trên nền ánh chiều hôm hắt vào phòng từ bên dưới tấm rèm. “Em hút cùng không?”
Rakel gật đầu chẳng nói gì. Bình thường cô không hút thuốc, nhưng đó là điều họ luôn làm sau khi ân ái: chia nhau một điếu thuốc. Lần đầu Rakel đòi hút thử, cô bảo lý do là vì cô muốn nếm trải cảm giác của anh, muốn bị tiêm nhiễm giống anh, bị kích thích như anh, để đến gần anh nhất có thể. Lúc ấy anh nghĩ đến những cô gái nghiện ngập anh từng gặp, bọn họ cũng trải qua lần đầu thử cảm giác mạnh với cùng một lý do ngốc nghếch như thế, và anh từ chối. Nhưng cô đã thuyết phục được anh, cuối cùng việc đó trở thành một thói quen. Sau màn ân ái chậm rãi, lưu luyến chưa dứt, điếu thuốc giống như một sự nối dài cuộc vui. Những lần khác cảm giác lại giống như bình yên hút tẩu sau một trận đấu.
“Nhưng anh ta có chứng cứ ngoại phạm trong suốt buổi tối hôm Birte mất tích,” Harry nói. “Tối đó là tối tụ tập của cánh đàn ông ở Tveita bắt đầu từ lúc sáu giờ và kéo dài thâu đêm. Có ít nhất mười người làm chứng, tuy đa phần đều say xỉn, nhưng không ai được phép ra về trước sáu giờ sáng.”
“Sao các anh lại giữ kín thông tin Vetlesen không phải là Người Tuyết?”
“Chừng nào Người tuyết còn cho rằng cảnh sát tưởng mình đã bắt được hung thủ thì hắn sẽ còn án binh bất động, mong là thế, và không gây án thêm nữa. Hắn sẽ lơ là cảnh giác nếu cho rằng cuộc săn đã khép lại. Trong lúc đó, bọn anh có thể nhẩn nha âm thầm điều tra tiếp.”
“Nghe chừng có ý mỉa mai thì phải?”
“Có thể,” Harry đáp, đưa điếu thuốc cho cô.
“Vậy là anh không thực sự tin điều đó à?”
“Anh cho rằng cấp trên có nhiều lý do để giữ kín thông tin Vetlesen không phải hung thủ thực sự. Giám đốc Sở và Hagen đã tổ chức họp báo trong lúc bọn họ tung hô khen ngợi lẫn nhau vì đã phá án thắng lợi.”
Rakel thở dài. “Thế mà đôi lúc em vẫn còn nhung nhớ Sở Cảnh sát ấy đấy.”
“Ừm.”
Rakel chăm chú quan sát điếu thuốc. “Anh đã bao giờ không chung thủy chưa, Harry?”
“Định nghĩa không chung thủy xem.”
“Ngủ vối người không phải người yêu hoặc vợ chồng.”
“Rồi.”
“Ý em là trong thời gian ở bên em ấy.”
“Em biết là anh không thể chắc chắn một trăm phần trăm mà.”
“Thôi được rồi, thế lúc tỉnh.”
“Không, chưa bao giờ.”
“Thế anh nghĩ sao về em? Về việc em đang ở đây lúc này?”
“Em hỏi xoáy anh đấy à?”
“Em nói nghiêm túc đấy, Harry.”
“Anh biết. Anh chỉ không rõ mình có muốn trả lời hay không thôi.”
“Thế thì anh đừng mong hút thuốc nữa nhé.”
“Ừm. Thôi được rồi. Anh nghĩ là em tin rằng em muốn anh, nhưng em ước gì mình muốn anh ta kia.”
Những lời vừa thốt ra còn vang vọng quanh họ như thể đã in hằn vào bóng tối.
“Anh… vô tư quá thể,” Rakel kêu lên, đưa điếu thuốc cho Harry và khoanh tay trước ngực.
“Hay là chúng ta không nên nói về chuyện đó thì hơn?” Harry đề nghị.
“Nhưng em phải nói! Anh không hiểu hay sao? Không nói thì em phát điên mất. Lạy Chúa, em điên thật rồi, khi ở đây lúc này…” Cô kéo chăn lên tận cằm.
Harry trở mình và xích lại gần cô. Anh còn chưa chạm vào cô mà cô đã nhắm mắt lại, ngả đầu ra, anh nghe thấy tiếng thở bắt đầu trở nên gấp gáp qua đôi môi hé mở của cô. Và anh nghĩ thầm: sao cô làm được như vậy nhỉ? Từ xấu hổ ê chề bỗng trở nên phóng đãng chỉ trong chớp mắt? Sao cô có thể… vô tư đến thế?
“Em có nghĩ…” anh nói, thấy cô mở mắt nhìn đăm đăm lên trần nhà với vẻ ngỡ ngàng và bực bội khi vẫn chưa thấy những cái vuốt ve đâu cả, “lương tâm cắn rứt đã khiến chúng ta thèm khát nhau? Chúng ta ngoại tình không phải bất chấp cảm giác hổ thẹn mà chính là vì nó?”
Cô chớp mắt vài lần.
“Cũng đúng một phần,” cuối cùng cô nói. “Nhưng đó chưa phải là tất cả. Lần này thì không.”
“Lần này ư?”
“Đúng vậy.”
“Có lần anh đã hỏi em và em bảo…”
“Em nói dối đấy,” cô đáp. “Trước đây em cũng từng không chung thủy rồi.”
“Ừm.”
Hai người lặng im nằm đó nghe tiếng xe cộ trong giờ tan tầm trên phố Pilestredet từ xa vẳng lại. Từ chỗ làm cô về thẳng nhà anh; anh nắm rõ thời gian biểu của Rakel và Oleg nên cũng biết không lâu nữa cô sẽ phải ra về.
“Có biết em ghét anh ở điểm gì không?” cô nói và véo tai anh một cái. “Anh quá kiêu ngạo và ương bướng nên chẳng thèm hỏi có phải em không chung thủy với anh hay không.”
“À thì,” Harry nói, cầm lấy điếu thuốc hút dở và đắm đuối nhìn theo tấm thân lõa lồ của cô khi cô rời khỏi giường, “anh cần biết để làm gì chứ?”
“Cũng như chồng của Birte thôi. Để lật tẩy sự dối trá. Để phơi bày sự thật.”
“Em nghĩ sự thật có giúp Filip Becker bớt buồn chút nào không?”
Cô kéo cái áo len qua đầu, chiếc áo màu đen bó sát dệt từ len sợi thô phủ lên làn da mềm mại của cô. Harry chợt nghĩ nếu trên đời có thứ gì khiến anh sinh lòng ghen tuông thì đó chính là chiếc áo ấy.
“Anh biết sao không, anh Hole? Đối với một người chuyên làm nghề vạch trần những sự thật xấu xí, anh có vẻ thích sống chung với dối trá đấy.”
“Thôi được,” Harry đáp và dụi điếu thuốc vào gạt tàn. “Kể nghe xem nào.”
“Đó là hồi ở Moscow, khi em đang yêu Fjodor. Có một anh chàng tùy viên ở đại sứ quán Na Uy mà em được huấn luyện cùng. Bọn em đã yêu nhau say đắm.”
“Rồi sao?”
“Anh ta cũng đã có người yêu. Lúc cả hai bọn em sắp sửa chia tay nửa kia của mình thì cô người yêu anh ta can thiệp trước và báo tin có bầu. Nói chung em rất có mắt nhìn đàn ông…” Cô xỏ chân vào đôi bốt, môi trên cong lên. “Nên dĩ nhiên em phải chọn một người không rũ bỏ trách nhiệm. Anh ta nộp đơn xin chuyển về Oslo, từ đó về sau bọn em không bao giờ gặp lại nữa. Rồi em và Fjodor kết hôn.”
“Ngay sau đó em có bầu chứ gì?”
“Phải.” Cô cài cúc áo khoác và cúi xuống nhìn anh. “Đôi lúc em tự hỏi liệu có phải em làm thế là để quên anh ta đi hay không. Và Oleg là kết quả không phải của tình yêu mà của đam mê mù quáng chăng. Anh có cho là thế không?”
“Anh không biết,” Harry đáp. “Anh chỉ biết nó là một kết quả tuyệt vời.”
Cô mỉm cười nhìn anh đầy cảm kích và cúi xuống đặt một nụ hôn lên trán anh. “Chúng ta sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa đâu, Hole ạ.”
“Dĩ nhiên là không rồi,” anh nói, ngồi dậy trên giường và nhìn đăm đăm vào bức tường trống trải cho tới khi nghe thấy tiếng cánh cửa chính nặng trịch trên phố đóng lại sau lưng cô với một âm thanh trầm đục. Sau đó anh đi vào bếp, vặn vòi và lấy một chiếc cốc từ trong tủ bếp phía trên. Trong lúc chờ nước lạnh chảy ra, ánh mắt anh chợt dừng lại trên tấm lịch có ảnh Oleg và Rakel trong bộ váy màu thanh thiên rồi anh nhìn xuống sàn. Trên sàn có hai dấu bốt ướt. Đó hẳn là dấu giày của Rakel.
Anh mặc áo khoác và xỏ bốt vào, chuẩn bị đi, thì anh bỗng quay lại, lấy khẩu súng lục công vụ Smith & Wesson trên nóc tủ quần áo và nhét vào túi áo khoác.
Cuộc mây mưa vừa qua vẫn còn vương lại dấu ấn nơi anh, một cảm giác lâng lâng thật dễ chịu, một thứ men say dịu dàng. Vừa tới cửa chính mở ra phố thì chợt có tiếng cách vang lên khiến anh quay ngoắt lại, căng mắt nhìn ra sân nơi bóng tối đen đặc hơn ở trên phố. Anh định đi tiếp và lẽ ra đã làm thế. Nếu không vì trông thấy những dấu chân. Dấu bốt trên sàn nhà. Vậy là anh quay vào sân. Ánh đèn vàng tỏa ra từ những ô cửa sổ tầng trên hắt lên chút tuyết còn sót lại ở nơi mặt trời không rọi tới. Nó đang đứng đó cạnh lối vào kho chứa đồ ở tầng hầm. Thân hình cong vẹo, cái đầu nghiêng nghiêng, cặp mắt là hai viên sỏi, cái miệng nhăn nhở nhìn anh cười. Tiếng cười câm lặng vang vọng giữa những bức tường gạch, hòa với tiếng thét cuồng loạn anh chợt nhận ra là tiếng của chính mình khi chộp lấy cái xẻng xúc tuyết bên cạnh bậc thang xuống tầng hầm và vung mạnh trong cơn nộ khí xung thiên. Mép xẻng bằng kim loại sắc bén đánh trúng vào cổ, khiến cái đầu lìa khỏi thân và tuyết ướt bắn cả lên tường. Cú chém đầy uy lực sau đó phạt đứt đôi thân người tuyết, cú thứ ba khiến phần còn lại văng tung tóe trên mặt đất trải nhựa đường đen ở giữa sân. Harry đứng đó thở hồng hộc và bỗng nghe thấy một tiếng cách nữa vang lên sau lưng. Âm thanh ấy giống như tiếng súng lục lên cò. Với một động tác thuần thục, anh quay ngoắt lại, vứt xẻng xuống và rút khẩu súng lục màu đen ra.
Muhammad và Salma đang đứng bên hàng rào gỗ dưới cây bạch dương cổ thụ, đôi mắt trẻ thơ mở lớn đầy khiếp đảm chằm chằm nhìn người hàng xóm trong câm lặng. Chúng đang cầm mấy nhánh cây khô. Những nhánh cây ấy hẳn sẽ là đôi cánh tay xinh xắn cho người tuyết nếu như Salma không lỡ tay bẻ gãy chỉ vì quá sợ hãi.
“Người… người tuyết của bọn cháu,” Muhammad lắp bắp nói.
Harry cất súng vào túi áo và nhắm mắt lại. Anh thầm nguyền rủa chính mình, nuốt khan một cái và lệnh cho bộ não thôi ngay những ý nghĩ bạo lực đi. Rồi anh mở mắt ra. Cặp mắt nâu của Salma rưng rưng lệ.
“Chú xin lỗi,” anh khẽ nói. “Chú sẽ giúp các cháu đắp người tuyết khác.”
“Cháu muốn về,” Salma nghẹn ngào nói.
Muhammad nắm tay em gái và đưa cô bé về nhà, tránh xa Harry như tránh tà.
Harry cảm thấy báng súng cọ vào bàn tay. Tiếng cách đó. Vừa nãy anh cứ tưởng là tiếng búa gõ giương lên. Nhưng dĩ nhiên anh đã nhầm; trong thao tác bắn súng, bước này không phát ra tiếng động. Thứ ta nghe được là tiếng búa gõ hạ xuống, âm thanh của phát bắn chưa được khai hỏa, âm thanh của sự sống. Anh lại rút khẩu súng công vụ ra. Chĩa xuống đất và siết cò. Búa gõ vẫn không xê dịch. Chỉ đến khi anh ép cò súng được một phần ba giới hạn và tưởng như súng có thể nổ bất cứ lúc nào thì búa gõ mới từ từ giương lên. Anh nhả cò súng. Búa gõ lại hạ xuống, trở về vị trí cũ kèm theo tiếng kim loại vang lên đánh cách. Đúng là âm thanh ấy rồi. Anh nhận ra rằng người nào bóp cò sâu đến mức búa gõ giương lên, kẻ đó thực sự có ý định bắn.
Harry ngước nhìn những ô cửa sổ căn hộ của mình trên tầng hai. Tất cả đều tối om, và anh bỗng nảy ra ý nghĩ: chẳng biết điều gì diễn ra phía sau những ô cửa ấy khi anh vắng nhà.
Erik Lossius ngồi trong văn phòng với vẻ uể oải bơ phờ dõi nhìn ra ngoài cửa sổ và đăm chiêu nghĩ ngợi. Gã đâu ngờ đằng sau cặp mắt nâu của Birte lại ẩn chứa nhiều bí mật đến thế. Khi biết cô ta còn qua lại với nhiều người đàn ông khác, gã cảm thấy điều đó còn tồi tệ hơn cả việc cô ta mất tích và có thể đã chết. Và gã thà để mất Camilla vào tay một tên sát nhân còn hơn mất cô theo cách này. Nhưng nói chung Erik Lossius nghĩ rằng mình hẳn đã yêu Camilla thực sự. Đến giờ vẫn còn yêu. Gã đã gọi điện cho bố mẹ cô, nhưng họ cũng không có tin tức gì của cô cả. Có thể cô đang tá túc tại nhà một trong mấy cô bạn gái ở Tây Oslo mà gã chỉ biết qua lời cô kể.
Gã đăm đăm nhìn ánh chiều tà đang dần phủ lên thung lũng Groruddalen khi bóng tối mỗi lúc một dày đặc và khỏa lấp những nét chi tiết. Chẳng còn việc gì để làm trong ngày hôm nay nữa, nhưng gã không muốn trở về căn nhà rộng rãi mà trống vắng đến vô cùng. Gã chưa muốn về vội. Trong chiếc tủ phía sau lưng gã có một thùng rượu đủ loại, một kiểu quỹ đen mà gã nhón được trong những lần vận chuyển tủ rượu của các gia đình. Nhưng trong số đó không có rượu pha. Gã rót rượu gin vào chiếc cốc uống cà phê, mới nhấp được tí chút thì điện thoại trên bàn đổ chuông. Gã nhận ra mã số điện thoại quốc tế của Pháp trên màn hình. Số này không có trong danh sách khiếu nại nên gã yên tâm nghe máy.
Gã biết vợ mình đang ở đầu dây bên kia chỉ qua tiếng thở, ngay cả khi cô chưa nói gì.
“Em đang ở đâu?” gã hỏi.
“Anh nghĩ là ở đâu?” Giọng cô dường như vọng đến từ một nơi rất xa.
“Em gọi điện từ nơi nào thế?”
“Từ Casper.”
Đó là quán cà phê nằm cách biệt thự vùng ngoại ô của họ ba cây số.
“Cảnh sát đang tìm em đấy, Camilla.”
“Vậy sao?”
Nghe giọng cô, gã có cảm giác như thể cô vừa thiếp đi trên chiếc ghế tắm nắng. Giọng nói ấy toát lên sự buồn chán, chỉ miễn cưỡng tỏ ra quan tâm bằng thái độ lịch thiệp nhưng hờ hững, điều đã khiến gã mê mệt từ nhiều năm về trước, trên ban công căn hộ ở Blommenholm.
“Anh…” gã mở lời, rồi lại im lặng. Có thể nói gì được đây?
“Tôi nghĩ tốt hơn là nên báo cho anh trước khi luật sư gia đình gọi điện,” cô nói.
“Luật sư gia đình ư?”
“Gia đình tôi,” cô nói. “Một trong những người giỏi nhất trong lĩnh vực này, e rằng như vậy. Ông ta sẽ đề nghị thẳng thắn chia đôi tài sản và tiền bạc. Chúng tôi sẽ yêu cầu được giữ lại căn nhà, và chắc chắn sẽ có nó, dù chẳng giấu gì anh là sau đó tôi định bán nó đi.”
Khỏi nói cũng biết, gã nghĩ thầm.
“Năm ngày nữa tôi về. Đến lúc đó, mong là anh chuyển đi rồi.”
“Như vậy gấp quá,” gã nói.
“Anh dư sức làm được. Tôi nghe nói không đâu chuyển đồ nhanh và rẻ hơn Rydd & Flytt mà.”
Cô thốt ra những từ cuối cùng một cách khinh miệt đến nỗi khiến gã co rúm lại. Tình trạng ấy đã diễn ra kể từ sau cuộc nói chuyện giữa gã và thanh tra Hole đến nay. Gã chẳng khác nào cái chăn đem giặt ở nhiệt độ quá cao nên bị co nhỏ, không còn vừa với cô, trở nên vô dụng. Cùng với niềm tin không gì lay chuyển nổi khi biết rằng giờ đây, ngay phút giây này, gã yêu cô nhiều hơn bao giờ hết, gã cũng biết mình đã mãi mãi mất cô, không còn hy vọng hàn gắn. Sau khi cô cúp máy, trong đầu gã hiện lên hình ảnh cô nheo mắt ngắm hoàng hôn ở vùng ven biển Riviera nước Pháp qua cặp kính râm có giá hai mươi euro, nhưng một khi cô đeo lên, trông nó nào có thua kém gì hàng hiệu giá ba ngàn krone của Gucci, Dolce & Gabbana, hay là… gã đã quên tên của những thương hiệu khác mất rồi.
Harry lái xe lên tận nơi cao nhất của ngọn núi Holmenkollen nằm ở phía Tây thành phố. Anh đỗ xe trong bãi xe rộng thênh thang vắng tanh vắng ngắt ở trung tâm thể thao, rồi đi bộ lên Holmenkollen. Khi đến nơi, anh đứng trên đài ngắm cảnh bên cạnh khu ski jump, cùng vài khách du lịch trái mùa nhìn bao quát những hàng ghế ngồi tỏa đều sang hai bên của đường dốc hệt như một nụ cười vô cảm, cái hồ nhỏ phía dưới đã cạn khô trong suốt những tháng mùa đông, và thành phố trải dài đến tận vùng vịnh. Cảnh quan giúp ta mở mang tầm mắt. Cảnh sát chưa có được chứng cứ xác đáng. Người Tuyết đã ở rất gần, gần đến nỗi ngỡ như chỉ cần vươn ra là có thể tóm được hắn. Ấy thế mà một lần nữa hắn lại vuột khỏi tầm tay họ chẳng khác nào võ sĩ quyền Anh chuyên nghiệp đầy mưu mẹo, láu cá. Vị thanh tra thấy mình già nua, nặng nề và hậu đậu. Một vị khách du lịch đang nhìn anh. Sức nặng của khẩu súng lục công vụ khiến túi áo bên phải của anh trĩu xuống. Vậy còn những xác chết, chúng đang ở chỗ quái quỷ nào cơ chứ? Ngay cả những thi thể bị chôn vùi thì rồi cũng đều được phát hiện kia mà. Phải chăng hắn dùng axit?
Harry cảm thấy ý nghĩ muốn đầu hàng bắt đầu manh nha xuất hiện. Không, đừng hòng có chuyện đó! Khi tham gia khóa huấn luyện của FBI, các học viên được tìm hiểu về những vụ án mất đến cả chục năm trời điều tra ròng rã mới bắt được hung thủ. Dường như đã thành lệ, một tình tiết ngẫu nhiên rất nhỏ nào đó thường lại có thể giúp phá án. Nhưng thực ra, mấu chốt nằm ở chỗ cảnh sát không bao giờ chịu bó tay, dù đã đi hết mười lăm hiệp đấu nhưng nếu đối thủ vẫn trơ như đá vững như đồng thì họ sẽ kiên quyết đòi đấu thêm lượt về.
Bóng chiều chạng vạng âm thầm trườn lên từ thành phố bên dưới, quanh anh đèn đóm dần được thắp sáng.
Họ phải bắt đầu tìm kiếm ở nơi có ánh sáng. Đó là quy tắc tuy nhỏ nhưng quan trọng trong quá trình điều tra. Xuất phát từ bất cứ chỗ nào có manh mối. Trong trường hợp này, điều đó có nghĩa là bắt đầu với nhân vật ít tiềm năng nhất và ý tưởng tồi tệ nhất, điên rồ nhất anh từng có.
Harry thở dài, lấy điện thoại di động trong túi ra và dò lại danh sách các cuộc gọi cũ. Con số đó chẳng nhiều nhặn gì nên trong máy vẫn còn lưu, cuộc nói chuyện ngắn ngủi ở khách sạn Leon. Anh nhấn Gọi.
Oda Paulsen, cô nhân viên tổ chức sản xuất chương trình Bosse, lập tức trả lời bằng giọng vui vẻ, hào hứng của người luôn coi mỗi cuộc gọi đến đều là một cơ hội đầy hứa hẹn. Và lần này, theo một khía cạnh nào đó, thì đúng là thế thật.