Người Tuyết

Lượt đọc: 171 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày thứ tư - 11
MẶT NẠ NGƯỜI CHẾT

❊ ❊ ❊

Katrine Bratt đang chúi mũi vào máy tính thì Harry thò đầu vào phòng.

“Thấy gì ăn khớp chưa?”

“Chẳng có gì đáng kể,” Katrine nói. “Tất cả phụ nữ mất tích đều có mắt xanh. Ngoài điểm đó ra thì ngoại hình của họ nhìn chung khá khác biệt. Họ đều có chồng con.”

“Tôi có manh mối để ta lần theo đây,” Harry nói. “Birte Becker đưa Jonas đến khám ở phòng mạch gần ‘công vua’. Đó chắc chắn là khu trang viên hoàng gia Kongsgården ở Bygdøy. Cô từng nói hai cô bé sinh đôi đến Bảo tàng Kon-Tiki sau khi đi khám bác sĩ. Chính là Bygdøy. Filip Becker không biết gì về bác sĩ này, nhưng có thể Rolf Ottersen lại biết.”

“Tôi sẽ gọi điện cho anh ta.”

“Xong thì sang gặp tôi nhé.”

Ngồi trong phòng, Harry cầm lấy chiếc còng tay, khóa một đầu còng quanh cổ tay và đập đầu kia vào chân bàn trong lúc lắng nghe tin nhắn thoại. Rakel nói Oleg sẽ dẫn theo một người bạn đến khu trượt băng Valle Hovin. Tin nhắn thật thừa thãi. Anh biết đó là lời nhắc khéo, phòng trường hợp Harry quên khuấy mất cuộc hẹn. Xưa nay anh chưa bao giờ quên buổi hẹn nào với Oleg, nhưng anh vẫn chấp nhận những lời nhắn nhủ mà người khác có thể coi là dấu hiệu của sự thiếu tin tưởng. Đúng hơn, anh thậm chí còn thích nữa. Bởi lẽ điều đó cho thấy cô là người mẹ tốt. Và còn bởi cô biết nhắc nhở ý nhị để không làm anh phật ý.

Katrine không gõ cửa mà cứ thế đi vào phòng.

“Quái dị,” cô nói, hất đầu về phía cái chân bàn Harry đang bị còng vào. “Cơ mà tôi thích.”

“Còng nhanh bằng một tay.” Harry mỉm cười. “Trò ruồi tôi học được ở bên Mỹ ấy mà.”

“Anh thử loại còng nhanh Hiatt mới ra xem. Thậm chí chẳng cần phải nghĩ nên tiếp cận từ bên trái hay bên phải, còng sẽ ôm lấy cổ tay hoặc bất cứ thứ gì, miễn sao đập chính xác. Thế là anh có một cặp để tập, mỗi tay một cái, để cơ hội tăng gấp đôi.”

“Ừm.” Harry mở khóa còng ra. “Cô biết được những gì rồi?”

“Rolf Ottersen chưa hề nghe nói đến buổi hẹn khám bệnh hoặc bác sĩ nào ở Bygdøy. Thực ra, họ có bác sĩ riêng ở Bærum. Tôi có thể hỏi cặp sinh đôi xem chúng có nhớ vị bác sĩ kia không, hoặc chúng ta tự gọi điện đến phòng mạch của các bác sĩ ở Bygdøy để kiểm tra cũng được. Chỉ có bốn người thôi. Đây.”

Cô đặt một tờ giấy nhớ màu vàng lên bàn anh.

“Họ không được phép tiết lộ tên bệnh nhân đâu,” anh nói.

“Tôi sẽ nói chuyện với cặp sinh đôi khi chúng đi học về.”

“Đợi đã,” Harry nói, nhấc máy lên và quay số điện thoại đầu tiên.

Một giọng mũi nghe máy và xưng tên phòng khám.

“Borghild có đó không vậy?” Harry hỏi.

Không có ai là Borghild cả.

Vói số điện thoại thứ hai, giọng mũi giống lần trước thông báo qua máy trả lời tự động rằng phòng khám chỉ nhận điện thoại trong vòng hai giờ cố định, và thời gian nhận điện đã qua lâu rồi.

Cuối cùng, ở lần thử thứ tư, một giọng hớn hở, gần như đang cười mang lại cho Harry câu trả lời anh đang trông đợi.

“Vâng, tôi đây.”

“Chào chị, Borghild, tôi là thanh tra Harry Hole, thuộc Sở Cảnh sát Oslo.”

“Sinh vào ngày nào?”

“Đâu đó trong khoảng mùa xuân. Tôi gọi điện để hỏi về một vụ án. Chắc chị đã đọc số báo ra ngày hôm nay rồi. Tôi muốn biết tuần vừa rồi chị có gặp Sylvia Ottersen không.”

Đầu dây bên kia bỗng im lặng.

“Đợi một lát,” bà ta nói.

Harry nghe thấy tiếng bà ta đứng dậy, anh kiên nhẫn chờ. Sau đó bà ta quay lại. “Rất tiếc, thưa anh Hole. Thông tin về bệnh nhân được bảo mật. Và tôi nghĩ điều này cảnh sát các anh cũng biết rồi chứ.”

“Chúng tôi biết. Nhưng nếu tôi không nhầm thì hai cô con gái mới là bệnh nhân chứ không phải Sylvia.”

“Như nhau cả thôi. Anh đang hỏi về thông tin có thể gián tiếp tiết lộ danh tính của bệnh nhân.”

“Xin nhắc để chị nhớ rằng chúng tôi đang điều tra án mạng.”

“Xin nhắc để anh nhớ rằng anh cứ việc hỏi lại sau khi có lệnh khám xét. Có lẽ chúng tôi cẩn trọng với thông tin bệnh nhân hơn nhiều chỗ khác, nhưng đó cũng là do đặc thù công việc thôi.”

“Đặc thù công việc?”

“Lĩnh vực chuyên môn của chúng tôi.”

“Là gì?”

“Phẫu thuật tạo hình và dịch vụ chuyên biệt. Anh có thể tham khảo trang web của chúng tôi - wwwkirklinikkno.”

“Cảm ơn, nhưng có lẽ tạm thời tôi biết vậy là đủ rồi.”

“Vậy tùy anh.”

Bà ta cúp máy.

“Sao rồi?” Katrine hỏi.

“Jonas và cặp sinh đôi đến khám ở cùng một nơi,” Harry nói và ngả người ra sau. “Điều đó có nghĩa ta có việc rồi đây.”

Harry cảm thấy một luồng adrenalin trào dâng, cơn run rẩy luôn xuất hiện mỗi khi anh có được manh mối đầu tiên của kẻ thủ ác. Sau đó là Nỗi Ám ảnh Vĩ đại. Đó là sự kết hợp của đủ thứ: yêu và say, mù quáng và sáng suốt, mục đích và cuồng loạn. Các đồng nghiệp thi thoảng vẫn kể cho nhau nghe về cảm giác phấn khích, nhưng đây là cảm giác khác, một điều thật đặc biệt. Anh chưa bao giờ nói với ai về Nỗi Ám ảnh, mà cũng chẳng buồn phân tích xem nó có ý nghĩa gì. Anh không dám. Chỉ biết rằng nó nâng đỡ anh, thôi thúc anh, tiếp sức cho anh hoàn thành nhiệm vụ. Anh không muốn biết thêm gì nữa. Thực sự không muốn.

“Giờ sao?” Katrine hỏi.

Harry mở mắt ra và đứng phắt dậy. “Giờ ta đi mua sắm.”

Cửa hàng Hương vị châu Phi tọa lạc gần con phố sầm uất nhất khu Majorstuen, Bogstadveien. Nhưng tiếc thay nó lại nằm sâu mười bốn mét trong một ngõ nhỏ nên vẫn chỉ ở ngoài rìa của sự nhộn nhịp ấy mà thôi.

Tiếng chuông ngân vang khi Harry và Katrine bước vào cửa hàng. Dưới ánh sáng tù mù - hay nói đúng hơn: thiếu sáng - anh trông thấy những tấm thảm thô màu sắc sặc sỡ, những trang phục kiểu sarong, mấy cái gối lớn có hoa văn vùng Tây Phi, bàn trà nhỏ nhìn như thể được đẽo trực tiếp trong rừng mưa, những bức tượng gỗ thuôn dài tượng trưng cho tộc người Masai và một số loài động vật phổ biến nhất ở vùng xavan. Mọi thứ ở đây dường như được sắp đặt cẩn thận và có chủ ý: không thấy đề mác giá, màu sắc bổ trợ cho nhau, và các món đồ đều đi theo cặp như trong con thuyền của Noah vậy. Nói ngắn gọn thì nơi đây nhìn giống phòng trưng bày hơn cửa hàng. Và phòng trưng bày này xem chừng hơi bụi bặm. Ý nghĩ đó càng được củng cố bởi không khí tĩnh lặng gần như phi tự nhiên bao trùm khi cửa đóng lại sau lưng họ và chuông cũng ngừng kêu.

“Xin chào?” một giọng nói cất lên từ trong cửa hàng.

Harry đi theo tiếng nói ấy. Trong bóng tối phía cuối phòng, đằng sau con hươu cao cổ khổng lồ bằng gỗ và được soi sáng nhờ chiếc đèn chiếu điểm duy nhất, Harry trông thấy phần lưng của một người phụ nữ đứng trên chiếc ghế. Cô ta đang treo lên tường chiếc mặt nạ gỗ màu đen có nụ cười rộng ngoác.

“Có việc gì vậy?” cô ta nói mà không ngoái lại.

Người phụ nữ này tạo cho người ta cảm giác cô ta đã quen với những điều bất ngờ hơn là với khách hàng.

“Chúng tôi là cảnh sát.”

“À, vâng.” Cô ta quay lại và ánh đèn rọi thẳng lên mặt cô. Harry cảm thấy tim mình ngừng đập, anh bất giác lùi lại một bước. Đó là Sylvia Ottersen.

“Có vấn đề gì sao?” cô ta hỏi, vầng trán cau lại giữa hai mắt kính.

“Cô… là ai?”

“Ane Pedersen,” cô ta đáp và lập tức hiểu ra nguyên nhân của vẻ sửng sốt trên khuôn mặt Harry. “Tôi là em sinh đôi của Sylvia.”

Harry ho khù khụ.

“Đây là thanh tra Harry Hole,” anh nghe thấy Katrine lên tiếng từ phía sau. “Còn tôi là Katrine Bratt. Chúng tôi đến tìm Rolf.”

“Anh ấy đang ở nhà tang lễ.” Ane Pedersen chợt im lặng, vào giây phút ấy cả ba người đều biết những người còn lại đang nghĩ gì: Làm sao chôn cất một cái đầu được nhỉ?

“Vậy là cô đến làm thay?” Katrine hỏi đỡ lời.

Ane Pedersen cười nhẹ. “Vâng.” Cô ta thận trọng bước xuống ghế, trên tay vẫn cầm chiếc mặt nạ gỗ.

“Mặt nạ hành lễ hay mặt nạ tâm linh vậy?” Katrine hỏi.

“Mặt nạ hành lễ,” Ane đáp. “Của người Hutu. Đông Congo.”

Harry liếc đồng hồ. “Mấy giờ anh rể cô về?”

“Tôi cũng không biết.”

“Cô thử đoán xem?”

“Tôi đã nói rồi, tôi không…”

“Chiếc mặt nạ đẹp thật,” Katrine ngắt lời. “Cô đã đến Congo và đích thân mua nó phải không?”

Ane kinh ngạc nhìn Katrine. “Sao cô biết?”

“Tôi nhìn cách cô cầm nó, không che đi đôi mắt hoặc cái miệng. Làm vậy là để tôn trọng những linh hồn.”

“Cô cũng có hứng thú với mặt nạ ư?”

“Gần như vậy,” Katrine nói, chỉ vào một chiếc mặt nạ màu đen với đôi tay nhỏ ở hai bên và cặp chân phía dưới. Khuôn mặt lai giữa người và động vật. “Đó là mặt nạ Kpelie đúng không?”

“Vâng, nó có xuất xứ từ Bờ Biển Ngà. Của người Senufo.”

“Mặt nạ quyền lực ư?” Katrine vuốt lớp lông động vật cứng đơ, nhờn dính gắn trên gáo dừa ở đầu mặt nạ.

“Chà, cô biết nhiều thật đấy,” Ane nói.

“Mặt nạ quyền lực là gì?” Harry hỏi.

“Tên sao thì nghĩa là vậy,” Ane đáp. “Ở châu Phi, mặt nạ kiểu này không chỉ đơn giản là những biểu tượng vô nghĩa. Ai đeo loại mặt nạ này trong cộng đồng người Lo sẽ lập tức sở hữu quyền hành pháp và phán quyết. Không ai dám nghi ngờ thẩm quyền của người đeo; chiếc mặt nạ trao cho họ quyền lực.”

“Tôi có thấy hai chiếc mặt nạ người chết treo cạnh cửa,” Katrine nói. “Rất đẹp.”

Ane mỉm cười đáp lễ. “Tôi có vài cái như vậy. Chúng được chế tác ở Lesotho.”

“Cho tôi xem qua được không?”

“Dĩ nhiên rồi. Chờ tôi một chút nhé.”

Sau khi cô ta đi, Harry đưa mắt nhìn Katrine.

“Tôi chỉ nghĩ chuyện phiếm với cô ta một chút biết đâu lại hay,” cô đáp như để trả lời câu hỏi anh ngầm đưa ra. “Để xem gia đình này có bí mật gì không, anh hiểu chứ?”

“Tôi hiểu. Việc này cô tiến hành một mình là tốt nhất.”

“Anh có việc rồi à?”

“Tôi sẽ chờ ở văn phòng. Nếu Rolf Ottersen đến thì nhớ xin giấy đồng ý bỏ quyền bảo mật thông tin bệnh nhân nhé.”

Khi ra đến cửa, Harry liếc nhìn những khuôn mặt người chẳng khác nào làm từ da thuộc, khô quắt và đông cứng trong tiếng thét lặng câm. Anh cho rằng chúng chỉ là bản mô phỏng mà thôi.

Eli Kvale chậm rãi đẩy chiếc xe đẩy giữa những kệ hàng trong siêu thị ICA ở sân vận động Ullevål. Nơi này rộng mênh mông. Giá tuy có cao hơn các siêu thị khác một chút nhưng chủng loại hàng hóa đa dạng hơn nhiều. Không phải ngày nào cô cũng ghé vào đây mà chỉ những lúc chuẩn bị nấu món gì đó ngon ngon thôi. Tối nay con trai cô, Trygve, sẽ từ Mỹ về. Nó đang học năm thứ ba ngành kinh tế tại một trường đại học ở Montana, nhưng học kỳ mùa thu này không phải thi mà tự học ở nhà cho tới tận tháng Một. Sau khi rời văn phòng ở nhà thờ, Andreas sẽ lái xe thẳng tới sân bay Gardermoen đón con. Cô biết, khi về đến nhà hai bố con sẽ mải mê thảo luận về môn câu cá bằng mồi giả và những chuyến du lịch bằng ca nô.

Cô nhoài người phía trên chiếc tủ đá và thấy hơi lạnh dâng lên khi có bóng lướt qua. Chẳng cần ngước nhìn cô cũng biết vẫn là nó. Cái bóng đi qua lúc cô đứng ở quầy thực phẩm tươi sống, và trong bãi xe khi cô khóa ô tô. Điều đó chẳng có ý nghĩa gì với cô cả. Chỉ là những điều cũ kỹ trỗi dậy mà thôi. Cô đã chấp nhận thực tế rằng nỗi sợ sẽ không bao giờ thật sự buông tha cho cô, dù đã hơn nửa đời người trôi qua. Khi ra thanh toán cô chọn quầy có người xếp hàng dài nhất; kinh nghiệm cho thấy nhìn chung như vậy sẽ nhanh hơn cả. Hoặc chí ít cô nghĩ kinh nghiệm đó là do cô từng trải qua. Andreas thì cho rằng cô nhầm. Có ai đó đứng vào hàng phía sau cô. Vậy là lại có thêm nhiều người nhầm. Cô không ngoái lại mà chỉ nghĩ người đó hẳn là mua nhiều thực phẩm đông lạnh lắm, cô có thể cảm thấy hơi lạnh phả vào lưng mình.

Nhưng khi cô quay lại thì chẳng còn ai đứng đó. Ánh mắt cô muốn lướt qua những dòng người xếp hàng khác. Cô nhủ thầm, đừng làm thế. Đừng khơi mào ra chuyện đó nữa.

Rời siêu thị, cô cố ép mình đi thật từ tốn ra lấy xe, không nhìn quanh quất, mở cửa, cất đồ vào trong, ngồi xuống và lái đi. Trong lúc chiếc Toyota chầm chậm leo lên con đường dài trên đồi để trở về căn hộ thông tầng ở Nordberg, tâm trí cô mải mê nghĩ đến Trygve cùng bữa tối phải chuẩn bị xong xuôi khi hai bố con về đến nhà.

Harry lắng nghe những lời Espen Lepsvik nói qua điện thoại và ngước nhìn những tấm ảnh của ba người đồng nghiệp quá cố. Lepsvik đã lập một tổ điều tra riêng và đang đề nghị Harry cho phép tiếp cận các thông tin có liên quan.

“Anh lấy mật khẩu ở chỗ sếp phòng IT của bọn tôi,” Harry nói. “Sau đó anh mở tệp Người tuyết trong mạng nội bộ của Đội Hình sự.”

“Người Tuyết ư?”

“Thì cũng phải có tên chứ.”

“Được rồi. Cảm ơn Hole. Anh muốn tôi báo cáo thường xuyên ở mức độ nào?”

“Chỉ khi nào có tin gì mới thôi. Và, Lepsvik này?”

“Sao?”

“Đừng xen vào việc của bọn tôi.”

“Chính xác thì việc của bọn anh là gì?”

“Các anh tập trung điều tra tin mật báo, nhân chứng và những kẻ từng vào tù ra khám có thể là sát nhân hàng loạt. Phần việc nặng đều ở đây cả.”

Harry biết vị thanh tra Kripos giàu kinh nghiệm đang nghĩ gì: những việc khó xơi.

Lepsvik đằng hắng. “Vậy là chúng ta nhất trí rằng các vụ mất tích có liên quan đến nhau?”

“Chả cần phải nhất trí gì sất. Anh cứ theo bản năng mà làm.”

“Được thôi.”

Harry cúp điện thoại và nhìn màn hình máy tính trước mặt. Anh đã truy cập vào trang web Borghild giới thiệu và trông thấy ảnh chụp đủ các mỹ nam mỹ nữ với những đường kẻ chấm trên mặt và thân người, cho thấy những vị trí trên cơ thể dù hoàn hảo nhưng vẫn có thể chỉnh sửa nếu muốn. Vị bác sĩ tên Idar Vetlesen mỉm cười với Harry trong một tấm ảnh, trông chẳng khác gì đám người mẫu nam của ông ta.

Bên dưới ảnh của Vetlesen là phần lý lịch trích ngang liệt kê các loại văn bằng cùng mấy chứng chỉ dài ngoằng viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp mà Harry cho rằng có khi chỉ cần học hai tháng cũng lấy được nhưng vẫn đủ cho ta cái quyền thêm mấy chữ viết tắt trước học vị. Anh đã tra tên Idar Vetlesen trên Google và thu được một loạt kết quả có vẻ như từ những cuộc thi đấu bi đá trên băng, ngoài ra còn có trang web cũ của một trong những nơi ông ta từng làm việc, phòng khám Marienlyst. Đến khi trông thấy cái tên bên cạnh tên Idar Vetlesen anh mới chợt nghĩ có lẽ người ta nói đúng: Na Uy quả là đất nước nhỏ bé đến nỗi người này với người kia cùng lắm chỉ qua hai người quen là biết nhau hết.

Katrine Bratt bước vào phòng, ngồi phịch xuống chiếc ghế trước mặt Harry và thở dài thườn thượt. Cô bắt tréo hai chân vào nhau.

“Theo cô có đúng là người đẹp thường quan tâm đến hình thức hơn người xấu không?” Harry hỏi.

“Tôi không biết,” Katrine đáp. “Nhưng điều đó có vẻ cũng hợp lý. Những người có IQ cao bị ám ảnh bởi chỉ số IQ đến nỗi lập ra cả một hội của riêng họ, đúng không? Chắc người ta có gì thì sẽ quan tâm đến thứ đó. Tôi đoán anh khá tự hào về tài điều tra phá án của mình.”

“Ý cô là tài bắt chuột từ trong gen? Khả năng trời phú để tóm cổ những kẻ tâm thần, nghiện ngập, trí tuệ dưới mức trung bình và tuổi thơ thiếu thốn tình cảm trên mức trung bình?”

“Vậy ra chúng ta chỉ là những tay săn bắt chuột thôi sao?”

“Chuẩn. Chính vì thế chúng ta hạnh phúc vô ngần khi tỷ năm mới có một vụ như thế này rơi xuống đầu. Cơ hội để bước vào cuộc săn hoành tráng, để bắn được một con sư tử, voi hay khủng long khỉ gió nào đó.”

Katrine không cười. Ngược lại, cô còn nghiêm nghị gật đầu.

“Em gái sinh đôi của Sylvia đã nói với cô những gì?”

“Tôi có nguy cơ trở thành bạn thân của cô ta.” Katrine thở dài, đôi tay đan lại đặt trước một bên đầu gối đi tất.

“Kể đi.”

“À,” cô nói, và Harry nhận thấy câu à đó rất giống kiểu nói của anh, “Ane kể với tôi cả Sylvia lẫn Rolf đều tin rằng Rolf là người gặp may khi họ đến với nhau. Trong khi những người xung quanh đều nghĩ ngược lại. Hồi đó Rolf vừa tốt nghiệp kỹ sư của trường Đại học Kỹ thuật ở Bergen và chuyển đến Oslo để làm cho công ty kỹ thuật Kvserner. Sylvia rõ ràng là tuýp người mỗi sáng lại nảy ra một ý tưởng sống mới. Cô ta học đến nửa tá chuyên ngành khác nhau ở trường đại học và chưa bao giờ gắn bó với công việc gì quá sáu tháng. Cô ta tính tình ương bướng, nóng nảy, chiều quá hóa hư, tự xưng là người theo chủ nghĩa xã hội và bị thu hút bởi những hệ tư tưởng ủng hộ xóa bỏ cái tôi cá nhân. Vài cô bạn gái hiếm hoi có được đều bị cô ta thao túng, những người đàn ông đến với cô ta đều chạy mất chỉ sau một thời gian ngắn vì không chịu đựng nổi. Em gái cô ta cho rằng Rolf say đắm Sylvia đến thế cũng bởi cô ta là hiện thân của con người hoàn toàn trái ngược với anh ta. Rolf trở thành kỹ sư để nối nghiệp cha. Anh ta xuất thân trong một gia đình tin vào bàn tay nhân ái vô hình của chủ nghĩa tư bản và niềm hạnh phúc của tầng lớp trung lưu. Còn trong mắt Sylvia, dân phương Tây rặt những kẻ chạy theo vật chất, nhân cách suy đồi, đánh mất mối liên hệ với con người thật sự và cội nguồn của hạnh phúc. Và ông vua nào đó ở Ethiopia là đấng Messiah đầu thai.”

“Haile Selassie,” Harry nói. “Đức tin của phong trào Rastafari.”

“Anh cũng không phải dạng vừa đâu.”

“Nhờ nhạc của Bob Marley thôi. Hừm, như vậy có thể hiểu được vì sao cô ta lại gắn bó với châu Phi.”

“Có thể.” Katrine đổi tư thế ngồi, chân trái giờ vắt sang chân phải, và Harry chuyển ánh nhìn đi chỗ khác. “Dù sao thì Rolf và Sylvia đã nghỉ một năm để du lịch khắp vùng Tây Phi. Không ngờ đó là con đường khai sáng đối với cả hai. Rolf phát hiện ra lẽ sống của anh ta là giúp châu Phi đứng dậy trên đôi chân của chính mình. Còn Sylvia, người có hình xăm quốc kỳ Ethiopia to tướng trên lưng, hiểu ra rằng ai cũng chỉ biết lo cho bản thân, ngay cả ở châu Phi. Vậy là họ mở cửa hàng Hương vị châu Phi. Mục đích của Rolf là giúp đỡ châu lục nghèo khó, còn với Sylvia, mấy thứ đồ nhập khẩu giá rẻ kết hợp với sự trợ giúp của chính phủ có vẻ là món tiền ngon ăn. Và cô ta có cùng động cơ như trên lúc bị bắt giữ tại cửa hải quan khi trở về từ Lagos với một ba lô đầy cần sa.”

“Biết ngay mà.”

“Sylvia bị phạt cải tạo không giam giữ trong thời gian ngắn vì cô ta kêu oan. Cô ta nói không biết trong ba lô chứa thứ gì mà chỉ mang theo lời nhờ cậy của một người Nigeria sống ở Na Uy thôi.”

“Ừm. Còn gì nữa không?”

“Ane rất quý Rolf. Anh ta là người nhân hậu, chu đáo, hết mực thương con. Nhưng rõ ràng anh ta trở nên mù quáng trước tất cả những việc liên quan đến Sylvia. Đã hai lần cô ta phải lòng người đàn ông khác và bỏ rơi bố con Rolf. Nhưng rồi hai gã kia đều quất ngựa truy phong và Rolf thì vẫn vui vẻ chấp nhận đoàn tụ với cô ta.”

“Theo cô thì cô ta nắm thóp được ông chồng ở điểm nào?”

Katrine Bratt nở một nụ cười thoáng buồn, mắt nhìn xa xăm, tay mân mê gấu váy. “Tôi đoán là lý do thường tình thôi. Chẳng ai rời bỏ được người đem lại cho mình cảm giác thỏa mãn trong chuyện gối chăn. Dù có cố đến mấy đi nữa nhưng cuối cùng vẫn ngựa quen đường cũ thôi. Con người tầm thường như thế đấy, phải không?”

Harry chậm rãi gật đầu. “Vậy những gã đá cô ta và không quay lại thì sao?”

“Đàn ông thì khác. Theo thời gian, một vài người gặp trục trặc trong khâu hành sự.”

Harry nhìn cô đăm đăm. Và quyết định không tiếp tục theo đuổi đề tài đó nữa.

“Cô có gặp được Rolf Ottersen không?”

“Có, anh về được mười phút thì anh ta đến,” Katrine nói. “Trông sắc mặt anh ta đỡ hơn lần trước. Anh ta chưa từng nghe nói đến phòng khám phẫu thuật chỉnh hình ở Bygdøy, nhưng cũng chấp thuận ký giấy bỏ quyền bảo mật thông tin bệnh nhân.” Cô để lại tờ giấy gấp gọn lên bàn anh.

Một cơn gió lạnh căm ùa tới hàng ghế thấp ở Valle Hovin nơi Harry đang ngồi xem những người trượt băng lướt vòng quanh sân. Trong năm vừa rồi, kỹ năng của Oleg đã linh hoạt và thuần thục hơn. Mỗi khi cậu bạn định tăng tốc để vượt qua, Oleg hạ người xuống thấp và bám chắc vào mặt băng rồi bình thản lướt đi.

Harry gọi điện cho Espen Lepsvik và hai người trao đổi thông tin với nhau. Harry được biết trong đêm Birte mất tích, có người nhìn thấy một chiếc xe sedan tối màu đi vào khu Hoffsveien lúc đã khuya. Không lâu sau, nó lại quay về theo đường cũ.

“Xe sedan tối màu,” Harry lặp lại và rùng mình ghê sợ. “Trong đêm hôm đó.”

“Phải, tôi biết chừng ấy là chưa đủ.” Lepsvik thở dài.

Harry vừa cất điện thoại vào túi áo thì chợt cảm thấy có thứ gì đó đang chắn mất một phần ánh sáng đèn pha.

“Xin lỗi vì tôi đến hơi trễ.”

Anh ngẩng lên và bắt gặp gương mặt tươi cười của Mathias Lund-Helgesen.

Anh chàng đặc phái viên của Rakel ngồi xuống ghế. “Anh thích các môn thể thao mùa đông à, Harry?”

Harry nhận thấy Mathias có kiểu nhìn trực diện vào đối phương với vẻ mặt nghiêm túc đến nỗi khiến người ta có cảm giác anh ta vẫn đang lắng nghe dù miệng thì đang nói.

“Cũng không hẳn. Tôi có chút hứng thú với trượt băng thôi. Còn anh?”

Mathias lắc đầu. “Có điều tôi đã quyết định rằng sau này, khi công trình để đời của tôi đã hoàn tất và bệnh tình trầm trọng đến mức không còn thiết tha gì với cuộc sống nữa, tôi sẽ đi cáp treo lên tầng thượng của tháp ski jump trên ngọn đồi đằng kia.”

Anh ta hất ngón cái ra phía sau vai, Harry không cần ngoái lại cũng biết. Holmenkollen, công trình thân thương nhất và khu ski jump tồi tệ nhất của Oslo, luôn dễ thấy dù anh có đứng ở bất cứ đâu trong thành phố này.

“Và nhảy xuống. Không phải từ cáp treo mà từ trên tháp.”

“Kịch tính đấy,” Harry nói.

Mathias mỉm cười. “Cú rơi tự do ở độ cao bốn mươi mét. Chỉ vài giây là xong.”

“Nhưng chắc cũng còn lâu mới đến lúc ấy.”

“Vói nồng độ kháng thể kháng Scl-70 trong máu tôi thì khó mà nói trước được điều gì.” Mathias cười với vẻ u ám.

“Kháng thể kháng Scl-70?”

“Phải, các kháng thể là tốt, nhưng nếu chúng xuất hiện thì luôn phải cẩn thận. Chúng hiện diện đều có nguyên do cả.”

“Ừm. Tôi tưởng bác sĩ mà lại có tư tưởng tự sát thì trái đạo quá.”

“Liên quan đến bệnh tật thì chẳng ai rành hơn bác sĩ. Tôi có cùng quan điểm với Zenon khắc kỷ, người cho rằng tự sát là điều đáng làm khi cái chết có sức cám dỗ hơn cuộc sống. Ông ta bị trật khớp ngón chân cái ở tuổi chín mươi tám. Điều đó khiến ông ta khổ sở đến mức ông ta quyết định về nhà treo cổ tự tử.”

“Thế sao anh không treo cổ mà lại mất công trèo lên tận tầng thượng khu ski jump Holmenkollen?”

“À thì, cái chết nên là một cách tôn vinh sự sống. Mà cũng phải thú thật là tôi thích ý nghĩ công chúng hẳn sẽ rất quan tâm sau khi việc đó xảy ra. Chứ đề tài nghiên cứu của tôi thì e rằng ít được chú ý lắm.” Giọng cười vui vẻ của Mathias bị xé thành muôn mảnh bởi tiếng lưỡi giày lao vun vút trên băng. “Nhân tiện, xin lỗi vì tôi đã trót mua giày trượt mới cho Oleg. Về sau Rakel mới nói với tôi là anh định tặng nó một đôi vào dịp sinh nhật.”

“Có gì đâu.”

“Nó sẽ thích hơn nếu được anh tặng, anh biết đây.”

Harry im lặng không đáp.

“Tôi ghen tị với anh đấy Harry. Anh có thể ngồi đây đọc báo, gọi điện thoại, nói chuyện với người khác; Oleg chỉ cần sự hiện diện của anh là đủ. Trong khi tôi hò hét cổ vũ nó, làm đủ điều có trong sách dạy làm cha, thì lại chỉ khiến nó khó chịu. Anh có biết ngày nào nó cũng mang giày trượt ra lau vì nó biết trước đây anh cũng làm thế? Mãi đến khi Rakel yêu cầu cất giày trong nhà nó mới chịu, chứ trước đó nó một mực đòi để ngoài cửa vì anh từng nói lưỡi trượt bằng thép luôn phải giữ lạnh. Anh chính là hình mẫu lý tưởng của nó.”

Ý nghĩ ấy khiến Harry rùng mình. Nhưng đâu đó sâu thẳm trong thâm tâm - mà thực ra cũng không sâu đến mức ấy - anh lại hài lòng khi nghe thấy thế. Vì anh là kẻ đáng ghét lòng dạ hẹp hòi, những muốn âm thầm trù ẻo nỗ lực lấy lòng Oleg của Mathias.

Mathias nghịch nghịch chiếc cúc áo khoác. “Điều đó thật lạ trong thời buổi ly dị đầy rẫy như thế này, trẻ con đứa nào cũng ý thức sâu sắc về gốc rễ của chúng. Người cha mới chẳng bao giờ thay thế được người cha thật sự.”

“Người cha thật sự của Oleg đang sống ở Nga,” Harry nói.

“Trên giấy tờ thì đúng,” Mathias đáp với nụ cười nửa miệng. “Nhưng thực tế lại khác đấy Harry.”

Oleg trượt qua chỗ họ và vẫy chào. Mathias vẫy tay đáp lại.

“Anh từng làm việc với một bác sĩ tên là Idar Vetlesen,” Harry nói.

Mathias ngạc nhiên nhìn anh. “Idar, phải rồi. Ở phòng khám Marienlyst. Trời đất, anh cũng quen Idar à?”

“Không, tôi tra Google tên anh ta và tìm thấy một trang web cũ với danh sách bác sĩ làm việc tại phòng khám. Trong đó có cả tên anh.”

“Đó giờ mấy năm rồi, nhưng làm ở Marienlyst rất vui. Phòng khám mở ra vào thời điểm ai cũng tin rằng kinh doanh dịch vụ chăm sóc sức khỏe tư sẽ kiếm được bộn tiền, và rồi đi xuống khi dân tình hiểu ra mọi chuyện không đơn giản như thế.”

“Các anh phá sản à?”

“Tôi nghĩ hình như họ gọi là cắt giảm biên chế. Anh là bệnh nhân của Idar sao?”

“Không, tên anh ta xuất hiện do có mối liên quan tới một vụ án. Có thể cho tôi biết anh ta là người thế nào không?”

“Idar Vetlesen ư?” Mathias bật cười, “Ừ, anh ta thì có nhiều điều để nói lắm. Chúng tôi từng học chung và chơi chung một nhóm suốt nhiều năm.”

“Nói vậy nghĩa là các anh không còn liên hệ gì với nhau nữa?”

Mathias nhún vai. “Có lẽ Idar và tôi có khá nhiều điểm khác biệt. Phần lớn những người trong nghề bọn tôi coi ngành y như là cái nghiệp vậy. Nhưng Idar thì khác. Anh ta cũng thẳng thắn thừa nhận. Anh ta học y vì đó là nghề được kính trọng nhất. Dù sao tôi cũng ngưỡng mộ sự thành thật đó.”

“Vậy là Idar Vetlesen chỉ quan tâm làm sao để được kính trọng?”

“Tất nhiên còn cả chuyện tiền bạc nữa. Chẳng ai ngạc nhiên khi Idar theo ngành phẫu thuật chỉnh hình, hay làm việc ở phòng khám phục vụ nhóm khách hàng có tiền và có tiếng. Anh ta luôn bị thu hút bởi những người như thế. Anh ta muốn được như họ, muốn gia nhập thế giới của họ. Vấn đề nằm ở chỗ Idar cố hơi quá đà. Tôi có thể tưởng tượng đám người nổi tiếng trước mặt anh ta thì cười cười nói nói, nhưng sau lưng lại gọi anh ta là tên khốn giả tạo, bám dai.”

“Ý anh muốn nói anh ta là loại người sẵn sàng bất chấp tất cả để đạt được mục đích?”

Mathias đăm chiêu nghĩ ngợi. “Idar luôn kiếm tìm một thứ có thể mang lại thanh danh cho anh ta. Vấn đề của Idar không phải là anh ta không có nhiệt huyết, mà anh ta không tìm được mục đích sống. Lần nói chuyện gần đây nhất với tôi, anh ta có vẻ chán nản, thậm chí là suy nhược.”

“Theo anh, liệu anh ta có tìm được mục đích sống đem lại vinh quang cho bản thân không? Một việc ngoài ngành y chăng?”

“Tôi chưa nghĩ đến điều đó, nhưng cũng có thể. Anh ta không thực sự có phẩm chất của một bác sĩ.”

“Về mặt nào?”

“Về mặt ngưỡng mộ những người thành đạt và khinh ghét người yếu thế, bệnh tật. Idar không phải bác sĩ duy nhất có tư tưởng đó, nhưng chỉ mình anh ta dám công khai thể hiện.” Mathias cười. “Trong nghề này, bọn tôi lúc mới đầu toàn là những kẻ theo chủ nghĩa lý tưởng tuyệt đối, rồi chẳng biết từ lúc nào dần dần mải mê hơn với nghề bác sĩ tư vấn, với việc trả hết số tiền vay để xây gara mới, rồi tiền làm thêm giờ. ít nhất thì Idar không phản bội lại lý tưởng nào; xưa nay anh ta vẫn thế, chẳng hề thay đổi.”

Idar Vetlesen phá lên cười. “Mathias thực sự nói thế sao? Tôi không phản bội lại lý tưởng nào ấy hả?”

Anh ta có khuôn mặt dễ coi, gần như nữ tính, hai hàng lông mày mảnh đến nỗi nhìn vào dễ tưởng anh ta tỉa tót, hàm răng trắng sáng và đều tăm tắp đến nỗi nhìn vào dễ tưởng anh ta đi mượn. Da dẻ có vẻ mềm mại và được tút tát; mái tóc dày bồng bềnh đầy sức sống. Nói tóm lại là trông anh ta trẻ hơn so với cái tuổi ba mươi bảy.

“Tôi không biết anh ta nói thế có ý gì,” Harry nói dối.

Hai người đang an tọa trên hai chiếc ghế bành sâu lòng trong phòng đọc sách của căn nhà rộng rãi sơn trắng được xây theo phong cách cổ điển, oai nghiêm của vùng Bygdøy. Đó là ngôi nhà anh ta sinh ra và lớn lên, Idar Vetlesen kể với Harry trong lúc dẫn anh đi qua hai khu sảnh rộng rãi, tối tăm, đến một căn phòng bốn bề toàn là sách. Mikkjel Fønhus. Kjeli Aukrust. The Shop Steward của Einar Gerhardsen. Đủ các thể loại văn học đại chúng và tiểu sử của các chính khách. Cả một dãy kệ bày đầy tạp chí Reader’s Digest ố vàng. Harry không thấy số nào xuất bản sau năm 1970.

“Ồ, nhưng tôi thì biết.” Idar cười khùng khục.

Harry đã lờ mờ hiểu ý Mathias muốn ám chỉ khi nói rằng quãng thời gian làm ở phòng khám Marienlyst rất vui. Chắc ở đó họ thi xem ai cười nhiều nhất.

“Mathias, thằng cha thánh thiện. May mắn thì đúng hơn. Không, khỉ ạ, vừa thánh thiện vừa may mắn mới đúng.” Idar Vetlesen cười vang. “Họ nói không tin vào Chúa, nhưng các đồng nghiệp kính Chúa của tôi là những kẻ mộ đạo nhát gan, tích đức chẳng qua vì trong thâm tâm họ kinh sợ trước viễn cảnh bị hỏa ngục thiêu cháy.”

“Anh thì không ư?” Harry hỏi.

Idar nhướn một bên lông mày thanh mảnh, nhìn Harry với vẻ tò mò. Idar đi đôi giày mọi màu xanh nhạt dây buộc hờ, mặc quần jean và áo phông tennis trắng có hình người chơi mã cầu hên ngực trái. Harry chẳng nhớ nổi cái áo là của thương hiệu thời trang nào, chỉ biết là vì lý do nào đó anh xếp nó vào loại nhàm chán.

“Tôi xuất thân trong gia đình thực tế, thanh tra ạ. Bố tôi là tài xế taxi. Chúng tôi chỉ tin vào những gì mắt thấy tai nghe.”

“Ừm. Tài xế taxi mà có nhà đẹp thế.”

“Ông ấy sở hữu một công ty taxi, có ba giấy phép hành nghề. Nhưng ở Bygdøy này thì tài xế taxi là kẻ thấp kém, và sẽ luôn luôn là thế.”

Harry quan sát gã bác sĩ và cố tìm hiểu xem anh ta có đang dùng loại ma túy nào không. Vetlesen ngả người trên ghế với phong thái ung dung tự tại quá mức, như thể đang cố che giấu trạng thái bất an hoặc phấn khích. Ý nghĩ đó cũng từng lướt qua tâm trí Harry lúc anh gọi điện cho Vetlesen nói rằng cảnh sát muốn hỏi anh ta đôi điều và Vetlesen đã ngỏ lời mời anh đến nhà một cách nhiệt tình gần như thái quá.

“Nhưng anh thì không muốn lái taxi,” Harry nói. “Anh muốn… nâng tầm nhan sắc cho người khác?”

Vetlesen mỉm cười. “Anh có thể nói tôi chào hàng dịch vụ của mình cho thị trường phù phiếm. Hoặc tôi cải thiện ngoại hình của người khác để xoa dịu nỗi đau nội tâm cho họ. Anh muốn nghĩ sao cũng được. Đúng ra mà nói, tôi đếch quan tâm.” Chắc mẩm Harry sẽ tỏ vẻ sửng sốt trước câu đó, Vetlesen bật cười rào trước. Nhưng khi thấy Harry không cắn câu, vẻ mặt anh ta trở nên nghiêm túc hơn. “Tôi tự coi mình giống như một điêu khắc gia. Tôi chẳng theo đuổi lý tưởng cao siêu. Tôi thích thay đổi diện mạo, tạo hình khuôn mặt. Đó là việc tôi luôn yêu thích. Tôi làm tốt, và được người ta trả tiền. Có thế thôi.”

“Ừm.”

“Nhưng điều đó không có nghĩa tôi làm việc vô nguyên tắc. Và bảo mật thông tin bệnh nhân là một trong số đó.”

Harry không nói gì.

“Tôi đã trao đổi với Borghild,” anh ta nói. “Tôi biết anh mong muốn điều gì, thanh tra ạ. Và tôi cũng hiểu đây là vấn đề hết sức hệ trọng. Nhưng tôi không thể giúp được anh. Tôi bị ràng buộc bởi lời thề.”

“Giờ thì hết rồi.” Harry lấy ra tờ giấy gấp gọn cất ở túi trong và đặt lên chiếc bàn ngăn cách giữa hai người. “Bố của cặp sinh đôi đã ký giấy miễn trách nhiệm cho anh đấy.”

Idar lắc đầu. “Có nó hay không cũng chẳng khác gì nhau.”

Harry nhíu mày ngạc nhiên. “Vậy sao?”

“Tôi không thể tiết lộ tên người đến gặp tôi hoặc những điều họ nói, nhưng tôi có thể nói chung rằng những người đến khám cùng con cái đều được bảo vệ bởi lời thề bảo mật thông tin khách hàng, ngay cả vợ hoặc chồng họ cũng không được biết nếu họ có yêu cầu.”

“Tại sao Sylvia Ottersen lại giấu chồng việc cô ta đưa hai con đến khám chỗ anh?”

“Chúng tôi có thế cứng nhắc thật, nhưng anh cũng cần nhớ rằng nhiều khách hàng của chúng tôi là người nổi tiếng, họ luôn phải đối mặt với đủ lời đàm tiếu tầm phào cùng ánh mắt soi mói của báo giới. Anh cứ thử đến quán Kunstnernes Hus vào tối thứ Sáu và nhìn quanh một lượt đi. Anh không biết bao nhiêu người trong số đó đã từng nhờ tôi cắt chỗ này gọt chỗ kia đâu. Việc họ ghé qua phòng khám của tôi bị phơi bày trước bàn dân thiên hạ ấy à, chỉ cần nghĩ đến thôi là họ đã chết khiếp rồi. Danh tiếng chúng tôi có được cũng là nhờ bảo mật. Nếu chẳng may việc chúng tôi không cẩn trọng với thông tin khách hàng lộ ra thì phòng khám sẽ phải gánh chịu hậu quả vô cùng thê thảm. Tôi tin là anh cũng hiểu.”

“Chúng tôi đang điều tra hai nạn nhân của hai vụ án mạng với một điểm chung duy nhất giữa họ,” Harry nói. “Họ đều đến phòng khám của anh.”

“Điều đó tôi không thể và cũng không đời nào xác nhận, ừ thì cứ tạm cho rằng đúng là họ đến chỗ tôi đi.” Vetlesen phẩy tay. “Thế thì sao chứ? Na Uy là quốc gia ít dân, số lượng bác sĩ thậm chí còn ít hơn. Anh có biết chúng ta chỉ cần qua vài cái bắt tay giữa người này với người kia là quen nhau hết không? Xác suất hai nạn nhân này đến khám cùng một chỗ cũng chẳng nhỏ hon xác suất họ có thể đã từng gặp nhau trên tàu điện vào một lúc nào đó. Anh đã bao giờ tình cờ gặp bạn khi đang đi tàu điện chưa?”

Harry không hình dung nổi dịp nào như thế. Trước hết là vì anh chẳng mấy khi đi tàu điện.

“Tôi đường xa lặn lội tới đây mà anh lại không chịu tiết lộ điều gì,” Harry nói.

“Rất xin lỗi. Tôi mời anh đến nhà vì cho rằng nếu không thế thì chỉ còn cách đến Sở Cảnh sát. Mà ở đó lúc này báo giới đang chầu chực ngày đêm săm soi kẻ vào người ra. Phải, tôi biết bọn họ là vậy đấy…”

“Tôi có thể xin lệnh khám xét khiến lời thề bào mật của anh hoàn toàn vô hiệu, anh biết chứ?”

“Tùy anh thôi,” Vetlesen đáp. “Trong trường hợp đó, phòng khám sẽ đứng về phía pháp luật. Nhưng chưa đến lúc ấy thì…” Anh ta làm động tác kéo khóa môi.

Harry cựa mình trên ghế. Anh hiểu Idar biết anh nhận thức rõ những lời anh ta nói. Để tòa án chịu ban lệnh vô hiệu hóa lời thề bảo mật, ngay cả với một vụ án mạng, cảnh sát phải đưa ra chứng cứ rõ ràng chứng minh được tầm quan trọng của thông tin bác sĩ có thể cung cấp. Mà cảnh sát thì nắm được gì nào? Vetlesen nói không sai, xác suất chỉ như gặp nhau trên tàu điện. Harry cảm thấy thôi thúc mãnh liệt muốn làm điều gì đó. Uống rượu. Hoặc nâng tạ. Một cách thật điên cuồng. Anh hít vào một hơi.

“Tôi vẫn buộc phải hỏi anh đã ở đâu vào đêm mồng hai và mồng bốn tháng Mười một.”

“Tôi biết thế nào anh cũng hỏi.” Vetlesen mỉm cười. “Nên tôi đã nghĩ từ trước. Hôm đó tôi ở đây cùng… à vâng, bà ấy đây rồi.”

Một bà lão với mái tóc nâu xỉn tựa tấm rèm rủ xuống quanh đầu lặng lẽ bước vào phòng, tay bưng cái khay bạc đựng hai tách cà phê rung rinh đến sợ. Vẻ mặt bà trông như thể lưng bà đang vác thánh giá và đầu đội vòng gai. Chỉ cần một cái liếc mắt của bà, cậu con trai lập tức đứng phắt dậy và đỡ lấy chiếc khay.

“Cảm ơn mẹ.”

“Buộc dây giày vào.” Bà hơi quay về phía Harry. “Có ai định cho tôi biết tên tuổi người đến kẻ đi trong cái nhà này không vậy?”

“Đây là thanh tra Hole ạ. Anh ta đến hỏi con đã ở đâu ngày hôm qua và ba hôm trước.”

Harry đứng dậy chìa tay ra.

“Dĩ nhiên là mẹ nhớ,” bà nói, trao cho Harry ánh nhìn cam chịu và bàn tay đầy vết đồi mồi. “Hôm đó hai mẹ con xem chương trình nói chuyện có anh bạn trong nhóm chơi bi đá trên băng của con. Và mẹ không thích những lời cậu ta nói về hoàng gia. Mà tên cậu ta là gì ấy nhỉ?”

“Arve Støp ạ.” Idar thở dài.

Bà lão rướn người về phía Harry. “Cậu ta bảo dẹp hết hoàng gia đi thì hơn. Anh có hình dung nổi điều gì kinh khủng như vậy không? Hồi chiến tranh mà không có hoàng gia thì Na Uy sẽ đi về đâu?”

“Về ngay chỗ ta đang ở lúc này chứ đâu,” Idar nói. “Hiếm có nhà cầm quyền nào lại vô tích sự đến thế trong thời chiến. Anh ta còn bảo lượng người ủng hộ vương triều đông đảo như vậy chính là bằng chứng cuối cùng cho thấy hầu hết mọi người vẫn còn tin vào quỷ quái và thần tiên.”

“Điều đó chẳng phải đáng sợ lắm sao?”

“Hẳn rồi mẹ.” Idar cười cười đặt tay lên vai bà, đồng thời liếc chiếc đồng hồ hiệu Breitling nhìn có vẻ quá khổ và nặng nề trên cổ tay gầy guộc. “Thôi chết! Đến giờ tôi phải đi rồi, Hole ạ. Chúng ta nhanh nhanh giải quyết tách cà phê này thôi.”

Harry lắc đầu và mỉm cười với bà Vetlesen. “Cà phê chắc là rất ngon nhưng cháu xin phép để hôm khác ạ.”

Bà lão thở dài thườn thượt, miệng lẩm bẩm điều gì chẳng rõ, sau đó bà cầm lấy chiếc khay và lại trở ra.

Khi Idar và Harry đứng ở hành lang, Harry quay lại hỏi, “Anh nói may mắn là có ý gì?”

“Sao cơ?”

“Lúc nãy anh bảo Mathias Lund-Helgesen không chỉ là thằng cha thánh thiện, mà còn may mắn nữa.”

“A, ra vậy! Ấy là về ả đàn bà mà hắn câu được. Mathias nói chung khá vô tích sự trong khoản đó, nhưng cô ả kia hẳn đã từng cặp kè với mấy gã vô dụng. Chắc là cần lắm một kẻ kính Chúa như hắn. Đừng bảo với Mathias là tôi nói thế nhé. Hoặc đừng nhắc đến thì hơn.”

“Nhân tiện, anh có biết kháng thể kháng Scl-70 là gì không?”

“Đó là một loại kháng thể trong máu. Có thể là dấu hiệu của bệnh Scleroderma. Anh quen ai mắc bệnh đó à?”

“Tôi còn chẳng biết Scleroderma là gì nữa kia.” Harry nhận ra mình nên chấm dứt câu chuyện này đi thì hơn. Anh muốn lắm nhưng không thể. “Vậy ra Mathias nói cô ta từng cặp kè với mấy gã dở người?”

“Theo tôi hiểu thì là thế. Thánh Mathias chả bao giờ nói về người khác bằng những từ kiểu đó. Trong mắt hắn, bất cứ ai cũng có thể trở thành người tốt hơn.” Tiếng cười của Idar Vetlesen vang vọng khắp những căn phòng tối om.

Sau khi Harry nói lời cảm ơn và xỏ chân vào đôi bốt, lúc đứng trên bậc tam cấp bên ngoài, anh ngoái nhìn khi cửa khép lại và thấy Idar ngồi đó, cúi xuống thắt lại dây giày.

Trên đường về, Harry gọi điện cho Skarre bảo anh ta in ảnh của Vetlesen trên trang web ra và mang đến cho Đơn vị Phòng chống Ma túy để xem có ai trong đội cảnh sát ngầm nhận ra gã này từng mua ma túy đá không.

“Mua trên phố á?” Skarre hỏi. “Chẳng phải bác sĩ nào cũng có những thứ kiểu đó trong tủ thuốc sao?”

“Phải, nhưng quy định kê khai thuốc bây giờ nghiêm lắm, bác sĩ thà mua hồng phiến của dân buôn trên phố Skippergata còn hơn.”

Sau khi ngắt máy, Harry gọi cho Katrine ở văn phòng.

“Hiện tại thì không có gì,” cô nói. “Giờ tôi chuẩn bị về. Anh đang trên đường về à?”

“Ừ.” Harry ngần ngừ. “Cô nghĩ liệu có khả năng tòa án đồng ý yêu cầu Vetlesen từ bỏ lời thề Hippocrate không?”

“Với những gì chúng ta thu được ấy à? Dĩ nhiên tôi có thể kiếm cái váy siêu ngắn rồi lượn qua tòa án và tìm một ông thẩm phán nào đó tuổi tác vừa phải. Nhưng nói thật nhé, ta nên quên đi thì hơn.”

“Nhất trí.”

Harry cho xe chạy đến phố Bislett. Anh nghĩ đến căn hộ bị lột sạch của mình. Anh nhìn đồng hồ rồi đổi ý và ngoặt sang phố Pilestredet, hướng về Sở Cảnh sát.

Lúc hai giờ sáng, một lần nữa Harry lôi Katrine đang say giấc nồng dậy nghe điện thoại.

“Lại chuyện gì nữa đây?” cô hỏi.

“Tôi đang ở văn phòng và xem qua những thông tin cô tìm được. Cô nói những phụ nữ mất tích đều đã có chồng con. Tôi cho rằng đó có thể là chi tiết đáng ngờ.”

“Gì cơ?”

“Tôi không biết. Tôi chỉ muốn nghe mình nói ra điều đó với người khác. Để xem có ngớ ngẩn không.”

“Vậy anh thấy thế nào?”

“Ngớ ngẩn. Chúc ngủ ngon.”

Eli Kvale nằm mở bừng mắt. Bên cạnh cô, Andreas đang thở nặng nhọc không chút ưu tư, vướng bận. Một vạt ánh trăng lọt qua khe hở giữa hai tấm rèm, rọi lên bức tường đúng vào cây thánh giá cô mua hồi đi nghỉ trăng mật ở Rome. Điều gì đã khiến cô thức giấc nhỉ? Phải chăng là Trygve? Nó dậy rồi ư? Bữa ăn và buổi tối trôi đi như những gì cô mong đợi. Cô được ngắm nhìn hai gương mặt hạnh phức rạng ngời trong ánh nến, mọi người thi nhau nói, ai cũng có bao điều muốn kể! Nhất là Trygve. Và khi thằng bé kể về Montana, về việc học hành và bạn bè ở đó, cô chỉ lặng im ngắm con trai, chàng trai trẻ đã dần thành người lớn, thành bất cứ ai mà nó mong muốn, tự tay xây đắp đời mình. Điều khiến cô hạnh phúc nhất là Trygve có thể lựa chọn. Một cách tự do và thoải mái. Không giống như cô, phải giấu giấu giếm giếm trong bí mật.

Cô nghe thấy tiếng căn nhà cọt kẹt, nghe bốn bức tường chuyện trò với nhau.

Nhưng còn một âm thanh khác nữa, một tiếng động lạ. Từ ngoài vọng vào.

Cô rời khỏi giường, bước tới bên cửa sổ và he hé vén rèm ra xem. Tuyết rơi rồi. Những cành táo đã khoác lên mình lớp áo dày, ánh trăng phản xạ trên lớp tuyết mỏng phủ trắng sân, tô đậm cảnh vật trong vườn. Cô nhìn từ cổng tới gara, không hiểu mình đang kiếm tìm điều gì. Bỗng ánh mắt cô dừng lại. Cô sửng sốt và hãi hùng hít mạnh một hơi. Đừng lại bắt đầu nữa đi, cô nhủ thầm. Nhất định là Trygve đó thôi. Nó mệt mỏi sau chuyến bay dài, không ngủ được nên mới ra ngoài. Dấu chân đi từ cổng vào và dừng lại ngay bên dưới ô cửa sổ cô đang đứng. Nhìn chúng giống như một hàng chấm màu đen in trên lớp tuyết mỏng. Một khoảng lặng khơi gợi kịch tính trên trang sách.

Không có dấu chân trở ra ngoài.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Jo Nesbø

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.