Người Tuyết

Lượt đọc: 171 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày thứ tám - 13
GIẤY

❊ ❊ ❊

Lúc này là chín rưỡi sáng, mặt trời đang tỏa nắng xuống chiếc ô tô đơn độc đi qua vòng xoay ở cầu vượt Sjølyst phía trên đường cao tốc. Chiếc xe chạy về phía Bygdøyveien, con đường dẫn tới miền quê yên bình trên bán đảo nằm cách quảng trường Tòa Thị chính chỉ năm phút lái xe. Nơi đây thật tĩnh lặng, gần như không thấy bóng xe qua lại, mà cũng chẳng có công hay quạ nào ở trang viên hoàng gia Kongsgården; những con đường nhỏ tấp nập các tín đồ tìm đến bãi biển khi hè sang thì giờ vắng tanh vắng ngắt.

Harry đánh xe theo những khúc cua trên cung đường uốn lượn và lắng nghe Katrine phân tích.

“Có tuyết,” cô nói.

“Tuyết ư?”

“Tôi đã điều tra theo chỉ dẫn của anh. Tập trung vào những phụ nữ mất tích đã có chồng con. Sau đó tôi bắt đầu tìm hiểu ngày tháng. Đa phần các vụ mất tích xảy ra vào tháng Mười một và Mười hai. Tôi tách riêng nhóm đó và khoanh vùng cụ thể. Các vụ chủ yếu tập trung ở Oslo; ngoài ra cĩmg có ở một vài khu vực khác nữa. Rồi đột nhiên tôi hiểu ra, chính là nhờ lá thư anh nhận được. Cái phần nói đến Người Tuyết tái xuất giang hồ khi đợt tuyết đầu mùa xuất hiện ấy. Và ngày chúng ta đến Hoffsveien cũng là ngày đầu tiên tuyết rơi ở Oslo.”

“Thật sao?”

“Tôi đã nhờ Viện Khí tượng kiểm tra thời gian và địa điểm cụ thể. Anh biết kết quả thế nào không?”

Harry biết chứ. Đáng lẽ anh phải biết từ lâu rồi mới đúng.

“Tuyết đầu mùa,” anh nói. “Hắn chọn đúng ngày có tuyết đầu mùa để ra tay.”

“Chính xác.”

Harry đập mạnh tay lên vô lăng. “Khốn kiếp, đầu mối rành rành như thế mà không nhìn ra. Đã có bao nhiêu phụ nữ mất tích rồi?”

“Mười một. Mỗi năm một người.”

“Nhưng năm nay lại có những hai người. Hắn đã phá vỡ mô thức của chính mình.”

“Có một vụ án mạng và hai vụ mất tích xảy ra vào đợt tuyết đầu mùa năm 1992 ở Bergen. Tôi nghĩ chúng ta có thể bắt đầu điều tra từ đó.”

“Vì sao?”

“Vì người bị giết là một phụ nữ đã kết hôn và sinh con. Còn cô gái mất tích là bạn thân nhất của cô ta. Do vậy chúng ta có một xác chết, một hiện trường gây án và hai bộ hồ sơ. Ngoài ra còn có một nghi phạm vẫn biệt tích từ bấy đến nay.”

“Ai vậy?”

“Một sĩ quan cảnh sát. Gert Rafto.”

Harry đưa mắt liếc nhanh về phía cô. “À, ra là vụ đó. Ông ta là kẻ có tật chôm đồ ở hiện trường vụ án phải không nhỉ?”

“Đấy là họ đồn thế. Các nhân chứng trông thấy Rafto đi vào căn hộ của một trong hai nạn nhân, Onny Hetland, chỉ vài giờ trước khi cô ta mất tích. Cảnh sát truy tìm gắt gao nhưng vô ích. Ông ta đã biến mất mà không để lại bất cứ dấu vết nào.”

Harry chú mục vào con đường phía trước và những hàng cây trụi lá ở hai bên đại lộ Huk dẫn tới bờ biển và mấy viện bảo tàng trưng bày những di sản được người dân cả nước xem như là thành tựu vĩ đại nhất của Na Uy: cuộc thám hiểm bằng bè lênh đênh trên vùng biển Thái Bình Dương và hành trình đến Bắc Cực bất thành.

“Giờ cô cho rằng có khả năng Rafto không hề biến mất?” anh hỏi. “Mà ông ta có thể tái xuất hiện mỗi năm một lần ngay khi tuyết bắt đầu rơi?”

Katrine so vai. “Tôi cho rằng vụ đó cũng đáng để điều tra cho rõ ngọn ngành.”

“Ừm. Trước hết, ta cần xin sự trợ giúp của cảnh sát Bergen.”

“Tôi nghĩ không nên làm vậy,” cô vội đáp.

“Sao thế?”

“Vụ án Rafto đến giờ vẫn còn là vấn đề hết sức nhạy cảm ở Sở Cảnh sát Bergen. Nguồn nhân lực được huy động trong vụ đó chủ yếu là để che đậy chứ chẳng phải điều tra. Bọn họ lo sợ trước những gì họ có thể tìm thấy. Hơn nữa, ông ta lại tự biến mất, thế nên…” Cô vẽ hình dấu X trong không khí.

“Tôi hiểu. Vậy theo cô nên làm thế nào?”

“Anh cùng tôi đến Bergen một chuyến và tự điều tra đôi chút. Dù sao thì giờ nó cũng có liên quan đến một vụ án mạng ở Oslo mà.”

Khi đến đúng địa chỉ cần tìm, Harry đỗ xe phía trước một tòa nhà gạch bốn tầng tọa lạc ngay cạnh bờ biển, nằm lọt thỏm trong một bến tàu. Anh tắt máy rồi nhưng vẫn ngồi đó dõi mắt nhìn về phía cảng Filipstad ở ngoài khơi vịnh Frognerkilen.

“Làm thế nào mà vụ Rafto lại lọt vào danh sách của cô được?” anh hỏi. “Thứ nhất là nó xảy ra trước khoảng thời gian tôi yêu cầu cô điều tra. Và thứ hai, tôi tin đó không phải vụ mất tích mà là án mạng.”

Anh quay sang nhìn Katrine. Cô đáp lại anh bằng ánh nhìn không chớp.

“Vụ Rafto khá nổi tiếng ở Bergen,” cô nói. “Hơn nữa còn có một tấm ảnh.”

“Ảnh ư?”

“Phải. Tất cả các sĩ quan mới vào nghề ở Sở Cảnh sát Bergen đều được nghe giới thiệu về nó. Đó là ảnh chụp hiện trường án mạng ở đỉnh núi Ulriken, kiểu như màn thử lửa đầu tiên. Tôi nghĩ phần lớn bọn họ sợ mất mật trước các chi tiết ở tiền cảnh rồi nên chẳng bao giờ để ý đến hậu cảnh. Hoặc cũng có thể bọn họ chưa từng leo lên đỉnh Ulriken. Tóm lại là ở đó có một chi tiết bất hợp lý, một cái ụ nằm ở phía xa. Khi phóng to ảnh lên, anh sẽ thấy khá rõ đó là thứ gì.”

“Vậy ư?”

“Một người tuyết.”

Harry chậm rãi gật đầu.

“Mà nhân tiện nhắc đến ảnh ọt,” Katrine nói, lấy từ trong túi xách ra một chiếc phong bì khổ A4 và thảy vào lòng Harry.

Phòng khám nằm trên tầng hai, sảnh chờ được thiết kế hoàn hảo đến từng chi tiết bằng chi phí khủng với đồ nội thất Italy, bàn trà gầm thấp hệt như gầm xe Ferrari, những bức tượng thủy tinh được tạc nên bằng đôi tay của Nico Widerberg, ngoài ra còn có một bức tranh nguyên bản của Roy Lichtenstein vẽ hình khẩu súng đang bốc khói.

Thay vì khu tiếp tân thường thấy theo quy định với những vách ngăn bằng kính, một phụ nữ đang ngồi bên chiếc bàn làm việc kiểu cổ tuyệt đẹp kê ở giữa phòng. Bà ta khoác chiếc áo trắng với hai tà để mở bên ngoài bộ vét công sở màu xanh dương, gương mặt nở nụ cười nồng hậu. Nụ cười chẳng kém tươi đi là mấy khi Harry giới thiệu tên mình, nêu lý do cuộc viếng thăm và nói rằng bà ta hẳn là Borghild.

“Anh vui lòng đợi một lát nhé?” bà ta nói, trỏ vào bộ sofa với cung cách lịch thiệp chuyên nghiệp như chiêu đãi viên hàng không đang chỉ dẫn lối ra cửa thoát hiểm. Harry từ chối lời mời dùng cà phê espresso, trà và cả nước lọc. Anh cùng Katrine ngồi xuống ghế chờ.

Harry nhận thấy xấp tạp chí bày sẵn cho khách đọc đều là những số mới ra; vừa giở tờ Liberal ra xem, lập tức đập vào mắt anh là hàng tít trong đó Arve Støp tuyên bố việc đám chính khách hào hứng tham gia các chương trình giải trí trên truyền hình để phô trương thanh thế cùng những vai hề bọn họ đóng góp quả là chiến thắng tối thượng dành cho chính quyền vì dân, chính quyền mà trong đó ngự trên ngai vàng là thường dân, còn chính trị gia là tên hề triều đình chuyên diễn trò mua vui.

Bỗng cánh cửa văn phòng với tấm biển đề tên Bác sĩ Idar Vetlesen bật mở và một phụ nữ vội vã bước ra phòng chờ, nói tạm biệt với Borghild rồi cứ thế ra về mà chẳng buồn ngó ngàng xung quanh.

Katrine tròn mắt nhìn theo. “Cô này làm cho kênh tin tức TV2 đúng không nhỉ?”

Đúng lúc ấy Borghild thông báo Vetlesen đã sẵn sàng tiếp Harry và Katrine, bà ta bước đến mở cửa mời họ vào.

Văn phòng của Idar Vetlesen là loại phòng đẳng cấp chủ tịch có cửa sổ nhìn ra vịnh Oslo. Các bằng cấp lồng khung kính được treo trên bức tường phía sau bàn làm việc.

“Xin đợi một chút,” Vetlesen nói, mắt vẫn không rời màn hình máy tính. Thế rồi khuôn mặt ngời lên vẻ đắc thắng, anh ta nhấn phím cuối cùng, xoay ghế lại và tháo cặp kính đang đeo ra.

“Đến nâng cơ mặt đấy à, Hole? Hay là định bơm khoai, hút mỡ?”

“Cảm ơn lời mời chào,” Harry đáp. “Đây là sĩ quan Bratt. Chúng tôi đến gặp anh lần nữa vẫn với mong muốn anh giúp đỡ cung cấp thông tin về Ottersen và Becker.”

Idar Vetlesen thớ dài đánh thượt và bắt đầu rút mùi soa ra lau kính.

“Tôi phải giải thích thế nào thì anh mới hiểu hả Hole? Ngay cả với một người như tôi, cho dù có muốn dốc ruột dốc gan ra giúp cảnh sát các anh và nói chung chẳng theo quy định nào hết, thì vẫn có một số nguyên tắc bất di bất dịch.” Anh ta giơ ngón trỏ lên. “Trong suốt những năm tháng hành nghề, tôi chưa bao giờ, chưa một lần nào,” ngón tay đánh nhịp theo từng từ, “phản bội lời thề Hippocrate. Và bây giờ tôi cũng không có ý định làm vậy.”

Sau đó là một khoảng lặng kéo dài, Vetlesen chỉ ngồi nhìn họ, rõ ràng rất hài lòng với hiệu quả lời nói của mình mang lại.

Harry đằng hắng một tiếng.

“Có lẽ vẫn có cách để anh thỏa ước nguyện dốc ruột dốc gan ra giúp chúng tôi đấy, Vetlesen. Chúng tôi đang điều tra vụ tình nghi mua bán dâm trẻ em diễn ra tại một nơi được gọi là khách sạn Leon ở Oslo. Tối qua, hai sĩ quan cảnh sát ngồi trong xe đã chụp lại ảnh những người ra vào nơi đó.”

Harry mở chiếc phong bì A4 màu nâu Katrine đưa cho lúc trước, anh nhoài người tới và đặt mấy tấm ảnh trước mặt gã bác sĩ.

“Người trong ảnh chính là anh, phải không?”

Vetlesen trông như thể đang mắc nghẹn; cặp mắt trợn trừng, mạch máu trên cổ nổi lên rõ mồn một.

“Tôi…” anh ta lắp bắp. “Tôi… đã làm gì sai trái hay phạm pháp đâu.”

“Ấy không,” Harry nói. “Chúng tôi chỉ đang cân nhắc gọi anh đến thẩm vấn với tư cách nhân chứng thôi. Một nhân chứng có thể cung cấp thông tin về những chuyện diễn ra trong đó. Việc khách sạn Leon là nơi tập trung những kẻ mua bán dâm thì ai cũng biết; nhưng còn điều chưa ai biết là ở đó có cả đối tượng là trẻ em. Không như các hình thức mại dâm khác, mại dâm trẻ em bị coi là phạm pháp, anh biết đấy. Chúng tôi chỉ định thông báo với anh trước khi công khai toàn bộ sự việc trước công chúng.”

Vetlesen nhìn chằm chằm bức ảnh, đưa tay chà xát mạnh lên mặt.

“Nhân tiện, chúng tôi vừa thấy cô phóng viên kênh tin tức TV2 từ đây đi ra,” Harry nói. “Tên cô ta là gì ấy nhỉ?”

Vetlesen không đáp. Những nét trẻ trung phơi phới của anh ta cứ như thể vừa tan biến ngay trước mắt họ, khuôn mặt như già sọm đi chỉ trong một giây ngắn ngủi.

“Gọi cho chúng tôi nếu anh tìm thấy kẽ hở nào đó trong lời thề Hippocrate nhé,” Harry nói.

Anh và Katrine đi được nửa đường ra cửa thì Vetlesen gọi lại.

“Bọn họ đến đây thăm khám,” anh ta nói. “Tất cả chỉ có vậy thôi.”

“Thăm khám kiểu gì?” Harry hỏi.

“Khám bệnh.”

“Một bệnh cả hai cùng mắc ư? Bệnh gì vậy?”

“Điều đó không quan trọng.”

“Được rồi,” Harry nói và đi tiếp. “Khi nào bị gọi đến Sở với tư cách nhân chứng, anh có thể trình bày như trên. Việc đó chẳng quan trọng đâu. Dù sao chúng tôi cũng chưa phát hiện được điều gì phi pháp cả.”

“Khoan đã!”

Harry quay lại. Vetlesen tì cùi chỏ lên bàn, vùi mặt vào hai bàn tay.

“Hội chứng Fahr.”

“Hội chứng Cha á?”

“Fahr. F-a-h-r. Đó là bệnh di truyền hiếm gặp, hơi giống bệnh Alzheimer. Nó khiến khả năng vận động suy giảm, nhất là các vùng nhận thức, hay bị co giật. Bệnh thường khởi phát ở những người ngoài ba mươi tuổi, nhưng cũng có trường hợp mắc bệnh từ khi còn nhỏ.”

“Ừm. Vậy là Birte và Sylvia biết con mình mắc bệnh này à?”

“Họ đến khám do lo ngại. Hội chứng Fahr khá khó chẩn đoán, trước đó Birte Becker và Sylvia Ottersen đã đưa con đi khám ở một số nơi nhưng các bác sĩ chưa đưa ra được kết luận cụ thể nào. Tôi nhớ hình như bọn họ đều đã tra cứu Internet, nhập các triệu chứng và phát hiện ra bệnh Fahr có nhiều biểu hiện trùng hợp đáng lo ngại.”

“Và thế là họ liên hệ với anh? Một bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình?”

“Trùng hợp thay, tôi cũng là chuyên gia về hội chứng Fahr.”

“Trùng hợp ư?”

“Ở Na Uy có khoảng mười tám ngàn bác sĩ. Anh có biết thế giới đã phát hiện ra bao nhiêu loại bệnh không?” Vetlesen hất đầu về phía bức tường treo đầy chứng chỉ. “Trùng hợp thay, hội chứng Fahr lại được đề cập đến trong khóa đào tạo về các kênh thần kinh mà tôi từng theo học ở Thụy Sĩ. Chút kiến thức ít ỏi thu được cũng đủ để tôi trở thành chuyên gia ở Na Uy này rồi.”

“Anh biết gì về Birte Becker và Sylvia Ottersen?”

Vetlesen so vai. “Họ đưa con đến đây mỗi năm một lần. Tôi khám cho chúng nhưng không phát hiện được dấu hiệu nào cho thấy tình trạng bệnh đi xuống, ngoài điều đó ra thì tôi không biết gì về cuộc sống của họ. Hay đúng hơn là,” anh ta hất mái ra sau, “cái chết của họ.”

“Cô có tin hắn không?” Harry hỏi trong lúc lái xe qua những cánh đồng hoang vắng.

“Không tin lắm,” Katrine đáp.

“Tôi cũng thế,” Harry nói. “Tôi nghĩ tạm thời ta nên tập trung điều tra việc này và gác vụ Bergen lại.”

“Không được,” Katrine nói.

“Sao lại không?”

“Giữa chúng hẳn phải có mối liên quan nào đó.”

“Mối liên quan gì?”

“Tôi không biết. Nghe thì có vẻ hoang đường, nhưng biết đâu Rafto và Vetlesen có liên hệ với nhau. Có thể nhờ đó mà Rafto mới lẩn trốn được suốt ngần ấy năm.”

“Ý cô là sao?”

“Ông ta đơn giản là kiếm cho mình một chiếc mặt nạ. Mặt nạ thật trăm phần trăm. Phẫu thuật nâng cơ mặt.”

“Nhờ Vetlesen ư?”

“Điều đó có thể lý giải cho sự trùng hợp khi cả hai nạn nhân đều đến khám cùng một bác sĩ. Biết đâu Rafto đã gặp Birte và Sylvia ở phòng khám và quyết định cho họ vào tầm ngắm.”

“Cô đang cầm đèn chạy trước ô tô đấy,” Harry nói.

“Cầm đèn chạy trước ô tô ư?”

“Điều tra những vụ án kiểu này cũng giống như chơi trò ghép hình vậy. Bước đầu tiên là thu thập những mảnh ghép, xem xét chúng, và phải kiên nhẫn. Còn cô thì lại đang cố đặt chúng vào vị trí một cách gượng ép. Bây giờ vẫn còn quá sớm.”

“Tôi chỉ muốn nêu ra vài suy nghĩ với người khác. Để xem có ngớ ngẩn không.”

“Ngớ ngẩn lắm.”

“Đây đâu phải đường về Sở Cảnh sát,” cô nói.

Harry nghe thấy trong giọng cô có chút run rẩy lạ thường và đưa mắt nhìn cô, nhưng khuôn mặt cô không có biểu hiện gì.

“Tôi muốn kiểm tra lại lời khai của Vetlesen thông qua một người tôi quen,” anh nói. “Và người đó cũng quen cả Vetlesen nữa.”

Mathias mặc chiếc áo khoác trắng và găng tay vệ sinh màu vàng theo quy định khi anh ta đón Harry và Katrine ở gara bên dưới nhà Tiền lâm sàng, tên thường gọi của tòa nhà sơn màu nâu thuộc Bệnh viện Gaustad, đối diện với đường vành đai 3.

Anh ta bảo Harry đánh xe vào vị trí, hóa ra đó là ô để xe riêng nhưng anh ta không dùng đến.

“Tôi cố gắng đạp xe thường xuyên,” Mathias giải thích và quẹt thẻ để mở cánh cửa dẫn từ gara vào lối đi dưới tầng hầm của khoa Giải phẫu. “Lối này giúp đưa các thi hài ra vào tiện hơn. Tôi cũng muốn mời anh dùng cà phê, có điều tôi vừa dạy xong một nhóm sinh viên và không lâu nữa nhóm sau sẽ tới.”

“Xin lỗi vì đã quấy rầy. Chắc hôm nay anh mệt lắm.”

Mathias ngơ ngác nhìn anh.

“Rakel và tôi có nói chuyện điện thoại. Cô ấy bảo tối qua anh làm việc khuya,” Harry vội nói thêm, thầm mắng chính mình và hy vọng mặt anh không để lộ điều gì.

“Rakel, phải rồi.” Mathias lắc đầu. “Cô ấy cũng về muộn. Đi chơi với đám bạn gái để đến nỗi hôm nay phải xin nghỉ. Thế mà lúc tôi gọi điện thì cô ấy lại đang bận tổng vệ sinh nhà cửa. Phụ nữ thật là! Ai mà hiểu nổi họ chứ?”

Harry mỉm cười gượng gạo và tự hỏi liệu trên đời có câu nào thích hợp để trả lời cho câu hỏi đó không.

Một người đàn ông mặc trang phục bệnh viện màu xanh lá cây đẩy cái bàn bằng kim loại đi về phía cửa gara.

“Lại chuyển đến Bệnh viện Tromsø à?” Mathias hỏi.

“Chào tạm biệt Kjeldsen đi,” người áo xanh mỉm cười. Một bên tai anh ta đeo cụm khuyên tròn be bé hơi giống bộ vòng cổ của phụ nữ dân tộc Masai, chỉ có điều nó làm khuôn mặt anh ta trở nên mất cân đối trông đến là khó chịu.

“Kjeldsen?” Mathias kêu lên và khựng lại. “Thật vậy sao?”

“Ba mươi năm phục vụ. Và giờ đến lượt Tromsø mổ xẻ ông ấy.”

Mathias vén tấm vải phủ lên. Harry nhác thấy thi hài bên dưới. Lớp da bao bọc hộp sọ căng ra, kéo giãn những nếp nhăn khiến khuôn mặt ông lão không còn phân biệt được là nam hay nữ, trắng bệch như mặt nạ thạch cao. Harry biết đó là do cái xác đã qua xử lý bảo quản, nghĩa là hỗn hợp formalin, glycerin và cồn được bơm đầy vào các động mạch để chống phân hủy từ bên trong. Trên tai ông ta đeo một cái nhãn kim loại có khắc ba chữ số. Mathias nhìn theo người trợ lý đẩy Kjeldsen về phía cửa gara. Sau đó anh ta dường như sực tỉnh.

“Xin lỗi nhé. Chỉ là Kjeldsen đã gắn bó với chúng tôi từ rất lâu. Ông ấy là giáo sư dạy ở khoa Giải phẫu từ hồi nó còn nằm ở trung tâm thành phố. Một chuyên gia giải phẫu kỳ cựu. Có cơ bắp rất đẹp. Chúng tôi sẽ rất nhớ ông ấy.”

“Bọn tôi sẽ không làm phiền anh lâu đâu,” Harry nói. “Hy vọng anh có thể cho chúng tôi biết đôi điều về mối quan hệ giữa Idar với các bệnh nhân nữ. Và con cái của họ.”

Mathias ngẩng lên, ngạc nhiên hết nhìn Harry rồi đến Katrine, rồi lại nhìn Harry.

“Tôi có nghe lầm câu hỏi không vậy?”

Harry lắc đầu.

Mathias mở tiếp một cánh cửa bị khóa. Ba người bước vào căn phòng có tám chiếc bàn bằng kim loại và một cái bảng đen ở đầu bên kia. Các bàn đều lắp đèn và bồn rửa. Trên mỗi bàn đặt một vật có dạng chữ nhật được bọc trong khăn lau tay màu trắng. Dựa vào hình dáng và kích thước của nó, Harry đoán rằng bài học hôm nay liên quan đến một bộ phận nằm đâu đó giữa hông và bàn chân. Trong phòng thoang thoảng mùi thuốc tẩy, nhưng không đến mức nồng nặc như Harry thường thấy ở phòng khám nghiệm tử thi tại Viện Pháp y. Mathias thả người xuống một chiếc ghế còn Harry ngồi ghé vào mép bàn giáo viên. Katrine bước tới bên một cái bàn và chăm chú quan sát ba bộ não; chẳng thể phân biệt được đó là đồ thật hay mô hình.

Mathias suy nghĩ hồi lâu rồi mới trả lời. “Cá nhân tôi chưa bao giờ nhận thấy hoặc nghe ai nói rằng có chuyện mờ ám giữa Idar và bệnh nhân của anh ta.”

Có điều gì đó trong cái cách Mathias nhân mạnh hai từ bệnh nhân khiến Harry chột dạ. “Thế còn những người không phải bệnh nhân?”

“Tôi không biết rõ Idar cho lắm để có thể đưa ra nhận xét. Nhưng tôi biết anh ta đủ để hiểu rằng không nên nhận xét gì thì hơn.” Anh ta nhoẻn cười rụt rè. “Như vậy không sao chứ?”

“Không sao. Còn một điều nữa tôi muốn hỏi. Anh có biết hội chứng Fahr là gì không?”

“Biết sơ sơ. Đó là căn bệnh rất đáng sợ. Và không may lại có tính di truyền…”

“Anh có biết ai ở Na Uy là chuyên gia về bệnh này không?” Mathias ngẫm nghĩ. “Ngay lúc này thì tôi không nhớ ra được cái tên nào cả.”

Harry đưa tay gãi gáy. “Được rồi, cảm ơn anh đã giúp đỡ, Mathias.”

“Đừng khách sáo, tôi rất vui lòng mà. Nếu anh muốn tìm hiểu thêm về hội chứng Fahr thì tối nay cứ gọi điện cho tôi, lúc đó tôi mới có sách bên cạnh để tra cứu.”

Harry đứng dậy. Anh tới chỗ Katrine đang đứng, cô đã mở nắp của một trong bốn chiếc hộp kim loại cỡ lớn kê sát tường, và anh nhìn qua vai cô. Lưỡi anh bỗng nổi gai, toàn thân phản ứng tức thì. Nhưng không phải vì những bộ phận cơ thể ngâm trong cồn trong suốt, trông như những tảng thịt bán ngoài hàng. Mà là vì mùi cồn. Nồng độ bốn mươi phần trăm.

“Ban đầu các thi hài ít nhiều toàn vẹn hơn thế,” Mathias nói. “Sau đó chúng tôi mới chia tách khi nào cần đến các bộ phận cụ thể.”

Harry quan sát vẻ mặt Katrine. Dường như cô hoàn toàn không bị tác động trước điều đó. Cửa ra vào bỗng bật mở phía sau lưng họ. Những sinh viên đầu tiên xuất hiện và bắt đầu mặc áo khoác xanh, đeo găng tay cao su màu trắng vào.

Mathias tiễn họ tới tận gara. Khi ra cửa, Mathias tóm lấy cánh tay Harry và giữ anh lại.

“Còn một việc nhỏ tôi nên nói với anh. Mà cũng có thể không nên. Tôi băn khoăn mãi.”

“Cứ nói đi,” Harry đáp và nghĩ thầm, thế đấy, Mathias đã biết chuyện giữa anh và Rakel rồi.

“Tôi đang ở thế lưỡng nan có liên quan đến vấn đề đạo đức. Chuyện về Idar ấy mà.”

“Vậy sao?” Harry nói, lấy làm ngạc nhiên khi anh cảm thấy thất vọng thay vì thở phào nhẹ nhõm.

“Tôi tin chuyện này cũng chẳng có gì quan trọng, nhưng tôi chỉ nghĩ là biết đâu quyền phán xét không thuộc về tôi. Và tôi không thể đặt lòng trung thành lên trên hết trong trường hợp nghiêm trọng như thế này. Bất luận thế nào cũng phải nói ra. Năm ngoái, hồi tôi còn làm việc ở phòng cấp cứu, tôi và một đồng nghiệp cũng quen biết Idar cùng đến Postkafeen ăn sáng sau ca làm đêm. Đó là một quán cà phê mở cửa từ sớm tinh mơ và bán cả bia nữa, thế nên bọn dậy sớm hay tụ tập ở đây lắm. Ngoài ra còn có nhiều kẻ đáng thương khác nữa cũng tìm đến.”

“Tôi biết quán đó,” Harry nói.

“Bọn tôi rất ngạc nhiên khi chạm trán Idar. Anh ta ngồi ở một bàn cùng với một cậu bé người ngợm lem luốc đang ăn xúp. Trông thấy chúng tôi, Idar đứng phắt dậy với vẻ rất sốc, phân bua này nọ với chúng tôi. Tôi cũng không nghĩ ngợi gì cả. Đúng hơn là tôi đã tưởng thế, cho tới khi nghe được những điều anh nói ban nãy. Lúc đó tôi mới nhớ ra những gì tôi đã nghĩ suốt bấy lâu nay. Rằng có thể là… ừm, chắc anh hiểu ý tôi muốn nói.”

“Tôi hiểu,” Harry đáp. Thấy đối phương có vẻ dằn vặt dữ quá, anh mới thêm vào: “Anh làm vậy là đúng.”

“Cảm ơn.” Mathias cố gượng cười. “Nhưng tôi cảm thấy mình chẳng khác gì Judas.”

Harry cố nặn óc nghĩ ra câu gì đó phù hợp để đáp lại, nhưng rốt cuộc anh chỉ đành chìa tay ra, khẽ nói lời cảm ơn. Và rùng mình khi nắm lấy bàn tay đi găng lạnh lẽo của Mathias.

Judas. Nụ hôn của Judas. Trong lúc lái xe trên phố Slemdalsveien, Harry nhớ đến chiếc lưỡi đầy khao khát của Rakel luồn vào miệng anh, tiếng thở dài êm ái và tiếng rên rỉ ồn ào, cơn đau ở hông trong lúc anh làm tình với Rakel, tiếng cô kêu lên đầy bực dọc khi anh dừng lại vì muốn kéo dài cuộc vui. Nhưng đó không phải mục đích của cô khi tìm đến với anh. Cô đến là để trừ bỏ ma tâm và tẩy trần cơ thể, để sau đó cô có thể trở về thanh tẩy tâm hồn. Và lau sạch các tầng trong nhà. Càng sớm càng tốt.

“Cô gọi đến phòng khám đi,” Harry nói.

Anh nghe thấy Katrine bấm máy lia lịa và những tiếng bíp rất khẽ vang lên. Sau đó cô đưa điện thoại cho anh.

Borghild từ tốn trả lời một cách vừa nhẹ nhàng lại vừa ngắn gọn.

“Tôi là Harry Hole đây. Xin cho biết tôi nên khám bác sĩ nào nếu mắc phải hội chứng Fahr?”

Đầu dây bên kia im lặng hồi lâu.

“Điều đó còn tùy,” Borghild do dự đáp.

“Tùy vào cái gì?”

“Tùy vào việc [1] mắc hội chứng gì, tôi nghĩ thế.”

“Phải lắm. Idar Vetlesen có đi làm không vậy?”

“Ông ấy về rồi.”

“Sớm thế sao?”

“Họ có trận đấu bi đá trên băng. Mai anh gọi lại nhé.”

Bà ta có vẻ sốt ruột. Harry đoán bà ta đang chuẩn bị ra về.

“Câu lạc bộ bi đá Bygdøy à?”

“Không, là câu lạc bộ tư nhân. Nằm trên phố Gimle ấy.”

“Cảm ơn. Chúc chị buổi tối vui vẻ.”

Harry đưa trả điện thoại cho Katrine.

“Chúng ta sẽ lôi hắn đến đồn,” anh nói.

“Ai cơ?”

“Gã chuyên gia có trợ lý chưa bao giờ nghe nói đến căn bệnh thuộc lĩnh vực chuyên môn của hắn.”

Hai người hỏi đường và tìm đến Villa Grande, dinh thự xa hoa từng thuộc sở hữu của một nhân vật người Na Uy trong Thế chiến II. Khác với viên thủy thủ vượt đại dương trên chiếc bè thô sơ và nhà thám hiểm Bắc Cực năm nào, tên tuổi người này đi vào sử sách không riêng gì ở Na Uy mà trên toàn thế giới với danh xưng: [2], kẻ phản bội.

Dưới chân con dốc ở phía Nam của dinh thự có một ngôi nhà gỗ hình chữ nhật trông giống như doanh trại quân đội cũ. Người ngoài vừa đặt chân vào nhà sẽ cảm nhận được ngay hơi lạnh ập đến. Và khi đi qua một cánh cửa nữa, nhiệt độ càng giảm sâu.

Có bốn người đàn ông đứng trên băng. Tiếng la ó vang vọng khắp bốn bức tường gỗ, không ai nhận thấy sự có mặt của Harry và Katrine. Bốn người đang hò hét nhắm vào một khối đá bóng loáng trượt đi trên đường băng. Viên bi, nặng hai chục cân và được làm từ loại đá hoa cương ailsite khai thác ở đảo Ailsa Craig thuộc Scotland, dừng lại trước hàng phòng thủ gồm ba viên khác đặt ở rìa của hai vòng tròn vẽ trên mặt băng ở cuối sân. Bốn người đàn ông dùng một chân lấy đà, chân kia lướt trên băng, vừa bàn luận vừa lấy cây chổi làm điểm tựa và chuẩn bị cho cú ném tiếp theo.

“Đúng là môn thể thao trọc phú,” Katrine thì thào. “Anh nhìn mà xem.”

Harry không nói gì. Anh thích bi đá trên băng. Thích cảm giác tĩnh tâm khi nhìn viên đá chầm chậm trượt đi, xoay tròn trong môi trường không ma sát, giống như con tàu vũ trụ trong chuyến du hành của [3], chỉ có điều không phải với tiếng nhạc nền du dương của Strauss mà là âm thanh trầm đục của đá và tiếng chổi thi nhau khua lạo xạo.

Giờ thì bốn người trông thấy họ rồi. Trong số đó, Harry nhận ra gương mặt quen thuộc của hai nhân vật trong giới truyền thông. Một người là Arve Støp.

Idar Vetlesen trượt về phía anh.

“Gia nhập cuộc chơi không Hole?”

Anh ta nói to câu đó từ xa, như thể cố ý để cho ba người còn lại nghe thấy chứ không phải muốn nói với Harry. Đi kèm với đó là tiếng cười nghe thì tưởng vui đấy, nhưng những bó cơ nổi lên dưới lớp da trên quai hàm đã lật tẩy vai diễn của anh ta. Vetlesen dừng lại trước mặt hai người, hơi thở phả ra thành những bụm khói trắng.

“Trò chơi kết thúc rồi,” Harry nói.

“Tôi không nghĩ thế,” Idar mỉm cười.

Mới đó mà Harry đã cảm thấy cái lạnh của lớp băng âm thầm len lỏi qua đế giày và lan dần lên hai chân.

“Đề nghị anh theo chúng tôi về Sở Cảnh sát,” Harry nói. “Ngay bây giờ.”

Nụ cười trên môi Idar Vetlesen lập tức tan biến. “Vì sao tôi phải đi chứ?”

“Vì anh nói dối chúng tôi. Một trong số đó là việc anh mạo nhận mình là chuyên gia về hội chứng Fahr.”

“Ai bảo tôi mạo nhận?” Idar vặn lại, liếc nhìn về phía ba người chơi còn lại để chắc chắn họ không nghe được cuộc nói chuyện từ khoảng cách này.

“Trợ lý của anh. Vì rõ ràng bà ta thậm chí còn chưa bao giờ nghe đến tên căn bệnh đó.”

“Nghe này,” Idar nói, giọng nói giờ đây chất chứa một âm sắc mới, âm sắc của nỗi tuyệt vọng. “Anh không thể tự dưng xông vào bắt tôi đi cùng như thế được. Không phải ở đây, ngay trước mặt các…”

“Khách hàng của anh?” Harry hỏi và nhìn qua vai Idar. Anh trông thấy Arve Støp đang vừa quét sạch tuyết dưới đế một viên bi vừa chăm chú quan sát Katrine.

“Tôi không biết anh đang toan tính điều gì,” Harry nghe thấy Idar nói. “Tôi rất vui lòng hợp tác cùng anh, nhưng nếu anh cố tình muốn hủy hoại thanh danh của tôi thì đừng hòng. Họ là những người bạn tốt nhất tôi có.”

“Bọn tôi tự chơi tiếp vậy nhé, Vetlesen…” một giọng nam trung trầm ấm vang lên. Người nói là Arve Støp.

Harry đưa mắt nhìn gã bác sĩ phẫu thuật bất hạnh, tự hỏi gã hiểu bạn tốt nhất kiểu gì. Anh nghĩ bụng, nếu có cơ hội dù là nhỏ nhoi để moi được thông tin gì từ Vetlesen thì chiều lòng anh ta một chút cũng đáng.

“Thôi được rồi,” Harry nói. “Bây giờ chúng tôi sẽ ra về. Nhưng đúng một tiếng nữa anh phải có mặt tại Sở Cảnh sát ở Grønland. Bằng không, bọn tôi sẽ gióng trống mở cờ đến tận nơi tìm anh đấy. Mà ở Bygdøy này chắc nghe rõ phải biết.”

Vetlesen gật đầu, và trong khoảnh khắc ngắn ngủi, trông anh ta như thể sắp sửa bật cười theo thói quen.

Oleg sập cửa đánh rầm một tiếng, hất bỏ đôi bốt đang đi và hối hả chạy lên cầu thang. Trong nhà sực nức mùi thơm tươi mát của chanh và xà phòng. Nó xông vào phòng và món đồ trang trí treo trên trần kêu lên lanh lảnh như báo động trong lúc thằng bé thay chiếc quần jean đang mặc bằng quần thể thao. Sau đó nó lại chạy biến đi, nhưng vừa bám vào tay vịn để nhảy cóc xuống cầu thang bằng hai bước dài, nó chợt nghe thấy tiếng mẹ gọi vọng ra từ phòng riêng đang để ngỏ cửa.

Nó bước vào và trông thấy Rakel đang quỳ bên chiếc giường, tay cầm chổi cọ cán dài.

“Con tưởng cuối tuần mẹ đã dọn nhà rồi?”

“Ừ, nhưng chưa sạch hẳn,” Rakel đáp, đứng dậy và quệt trán. “Con đi đâu đấy?”

“Tới cung thể thao. Con tính trượt băng. Karsten đang đợi ngoài kia. Con sẽ về đúng giờ ăn tối.” Nó đẩy cửa một cái để lấy đà và đôi chân đi tất lướt trên sàn, trọng tâm cơ thể hạ tháp đúng như lời dạy của Erik V, một trong những chuyên gia trượt băng kỳ cựu ở Valle Hovin.

“Từ từ đã, ông tướng. Nhắc đến trượt băng mới nhớ…”

Oleg khựng lại. Thôi chết, nó nghĩ thầm. Mẹ phát hiện ra vụ giày trượt rồi.

Rakel đứng ở ngưỡng cửa, nghiêng đầu nhìn nó chằm chằm. “Vậy còn bài tập thì sao?”

“Cũng ít thôi ạ,” nó đáp với một nụ cười nhẹ nhõm. “Ăn tối xong con sẽ làm.”

Thấy mẹ do dự, nó vội nói thêm: “Mẹ mặc bộ váy này xinh lắm.”

Rakel cúi nhìn chiếc váy xanh da trời điểm hoa trắng đã cũ. Cô ném cho cậu con trai cái nhìn khiển trách nhưng khóe môi lại tủm tỉm cười. “Cứ liệu hồn đấy, Oleg. Ăn nói càng ngày càng giống bố.”

“Thế ạ? Con tưởng bố chỉ nói tiếng Nga thôi chứ.”

Câu hỏi ấy của thằng bé hoàn toàn không mang hàm ý sâu xa gì, nhưng nét mặt mẹ nó đột nhiên biến đổi, như thể vừa có một cơn sốc lan ra khắp người.

Oleg kiễng chân. “Con đi được chưa ạ?”

“Được rồi, đi đi?” Giọng Katrine Bratt vang lên như roi quất giữa bốn bức tường phòng gym nằm ở tầng hầm của Sở Cảnh sát. “Anh nói vậy thật sao? Idar Vetlesen cứ thế ra về ư?”

Harry ngước nhìn khuôn mặt cô cúi xuống bên cạnh cái ghế anh đang nằm. Chiếc đèn trần hình vòm tỏa ánh sáng vàng như vầng hào quang quanh đầu cô. Harry thở hồng hộc vì bị thanh sắt chặn ngang ngực. Anh đang chuẩn bị nâng mức tạ chín mươi lăm cân và vừa mới nhác đòn tạ khỏi giá đỡ thì Katrine xông vào, khiến nỗ lực của anh thành ra công cốc.

“Buộc phải thế thôi,” Harry nói, vận sức đẩy đòn tạ cao lên một chút để nó tì vào xương ức. “Hắn đi cùng tay luật sư riêng. Johan Krohn.”

“Việc đó thì liên quan gì?”

“À thì, Krohn mở màn bằng cách chất vấn cảnh sát dùng phương pháp gì để đe dọa thân chủ của anh ta. Sau đó lại nói dịch vụ tình dục ở Na Uy là hợp pháp, và cách thức chúng ta dùng để ép buộc một bác sĩ đáng kính phản bội lời thề Hippocrate cũng rất đáng để giật tít.”

“Nhưng khốn kiếp!” Katrine thét lớn, giọng run lên vì giận dữ. “Đây là vụ điều tra án mạng cơ mà!”

Harry chưa bao giờ thấy cô mất bình tĩnh nên anh trả lời bằng giọng nhẹ nhàng nhất.

“Nghe này, chúng ta không thể móc nối những vụ án với căn bệnh đó hay thậm chí chỉ đặt ra giả thuyết thôi cũng không được. Và Krohn biết rõ điều này. Chính vì thế tôi không có quyền giữ Vetlesen lại.”

“Phải, nhưng anh không thể cứ… nằm ì ra đây… mà không chịu làm gì!”

Harry cảm thấy xương ức bắt đầu đau nhức, và anh chợt nhận ra cô nói chí phải.

Katrine đưa hai tay lên ôm mặt. “Tôi… tôi… xin lỗi. Tôi chỉ nghĩ… Hôm nay là một ngày thật kỳ lạ.”

“Thôi được.” Harry rên rỉ. “Cô đỡ thanh sắt giúp tôi được không? Tôi sắp…”

“Đầu kia!” cô kêu lên, bỏ tay khỏi mặt. “Chúng ta cần điều tra từ đầu kia. Từ Bergen!”

“Không,” Harry phều phào nói, dùng nốt chút hơi tàn còn sót lại trong hai lá phổi. “Bergen không phải một đầu. Cô làm ơn…”

Anh ngước lên nhìn cô. Thấy đôi mắt sẫm màu của cô long lanh nước.

“Tôi đến tháng đấy mà,” cô thì thào. Thế rồi cô bỗng mỉm cười. Mọi chuyện xảy ra nhanh đến mức ngỡ như có người nào đó khác đang đứng nhìn anh, người có cặp mắt ánh lên rất lạ và giọng nói bình thản tuyệt đối. “Và anh chết đi cũng được.”

Harry nằm đó trong ngỡ ngàng, nghe tiếng chân cô đi xa dần, tiếng xương mình kêu răng rắc và những đốm đỏ bắt đầu nhảy nhót loạn xạ trước mắt. Anh chửi thề, hai tay nắm chặt thanh sắt, gầm lên một tiếng và đẩy mạnh. Nhưng đòn tạ chẳng hề nhúc nhích.

Cô nói phải; anh có thể chết trong tình cảnh này lắm chứ. Nếu anh lựa chọn điều đó. Nghe thì có vẻ nực cười nhưng đúng là thế.

Anh cựa mình, nghiêng đòn tạ về một bên cho tới khi nghe thấy đĩa tạ trượt ra và rơi xuống sàn đánh rầm một tiếng inh tai nhức óc. Sau đó đòn tạ chúc xuống đất ở đầu bên kia. Anh ngồi dậy, nhìn theo mấy đĩa tạ lăn lóc khắp phòng.

Harry tắm rửa, thay đồ và đi lên tầng sáu. Ngồi phịch xuống chiếc ghế xoay, chưa gì đã cảm nhận được cơn đau nhức tuyệt diệu trong từng bó cơ, qua đó anh biết sáng mai người anh sẽ cứng đờ cho xem.

Trong hộp thư thoại có một lời nhắn của Bjørn Holm, bảo anh gọi lại cho cậu ta càng sớm càng tốt.

Khi Holm bắt máy, trong điện thoại vang lên tiếng nức nở thương tâm đi kèm với giai điệu luyến láy của đàn ghita thép có bàn đạp.

“Gì đấy?” Harry hỏi.

“Dwight Yoakam,” Holm nói, vặn nhỏ nhạc xuống. “Một gã sexy, nhỉ?”

“Ý tôi là, cậu gọi có việc gì?”

“Chúng tôi có kết quả khám nghiệm lá thư của Người Tuyết rồi.”

“Thế nào?”

“Chữ viết không có gì đặc biệt. Máy in laser thông thường.”

Harry kiên nhẫn chờ đợi. Anh biết chắc Holm phát hiện được chi tiết đáng chú ý.

“Điều đặc biệt là ở loại giấy hắn dùng. Đội khám nghiệm bọn tôi chưa gặp loại giấy này bao giờ, vì thế mới mất thời gian hơn một chút. Nó được làm từ sợi mitsumata, sợi gỗ của Nhật Bản tương tự như giấy cói papyrus. Có thể nhận biết mitsumata nhờ thứ mùi đặc trưng. Người Nhật dùng vỏ cây để làm giấy một cách thủ công, và riêng loại này cực kỳ hiếm có khó tìm. Nó được gọi là Kono.”

“Kono ư?”

“Muốn mua phải đến cửa hiệu chuyên biệt, kiểu như những nơi bán bút máy với giá mười ngàn krone, mực hảo hạng và sổ bìa da ấy. Anh biết đấy…”

“Thực ra tôi chả biết đâu.”

“Tôi cũng thế,” Holm thành thật nói. “Nhưng tóm lại là một cửa hiệu ở đường Gamle Drammensveien có bán giấy viết Kono. Tôi đã trao đổi với chủ tiệm và được biết bây giờ loại giấy này ít người mua lắm, thế nên khó có khả năng họ đặt hàng lại. Ông ta nói ngày nay chẳng ai chú trọng đến chất lượng như trước nữa.”

“Phải chăng như vậy nghĩa là…”

“Đúng, tôi e rằng như vậy nghĩa là ông ta không nhớ nổi lần cuối cùng bán giấy Kono là khi nào.”

“Ừm. Chỉ có mỗi cửa hiệu này bán thôi à?”

“Phải,” Holm nói. “Còn một tiệm ở Bergen, nhưng đã mấy năm nay họ không bán loại giấy đó nữa rồi.”

Holm chờ đợi lời đáp - hay đúng hơn là câu hỏi - từ phía Harry, trong lúc Dwight Yoakam khe khẽ cất giọng hát tiễn đưa tình yêu của cuộc đời mình xuống mồ. Nhưng chờ mãi mà chẳng thấy gì.

“Harry?”

“Có đây. Tôi đang nghĩ.”

“Hết sảy!” Holm nói.

Kiểu pha trò thâm thúy này thường khiến Harry cười rất lâu sau đó, mà thậm chí đến lúc ngẫm lại vẫn chẳng hiểu nổi có gì đáng cười. Nhưng bây giờ thì không. Harry đằng hắng.

“Tôi nghĩ thật kỳ lạ khi hung thủ lại để tờ giấy này rơi vào tay một điều tra viên hình sự nếu hắn không muốn bị lần ra danh tính. Chẳng cần xem nhiều phim hình sự mới biết kiểu gì cảnh sát cũng phải kiểm tra.”

“Hay hắn không biết đó là loại giấy hiếm?” Holm nêu giả thuyết. “Hoặc hắn không mua nó chăng?”

“Tất nhiên đấy cũng là một khả năng, có điều trực giác mách bảo tôi rằng Người Tuyết không sơ suất đến mức ấy đâu.”

“Nhưng thực tế đúng là thế mà.”

“Ý tôi muốn nói, tôi không cho rằng đó là sơ suất,” Harry đáp.

“Nghĩa là…”

“Đúng vậy, tôi nghĩ hắn muốn chúng ta lần ra hắn.”

“Tại sao?”

“Mô tip kinh điển. Kẻ sát nhân hàng loạt mắc chứng ái kỷ dựng lên một trò chơi mà trong đó hắn đóng vai chính: kẻ chinh phạt bất khả chiến bại với quyền năng vô song, giành được thắng lợi sau cùng.”

“Thắng ai mới được?”

“A,” Harry đáp, lần đầu tiên thứ nhận điều này, “nói ra thì bảo ái kỷ nhưng người hắn muốn thắng là tôi.”

“Anh á? Sao lại thế?”

“Tôi chịu. Có thể vì hắn biết tôi là cảnh sát duy nhất ở Na Uy đã từng bắt được sát nhân hàng loạt, nên hắn xem tôi như một thử thách. Lá thư của hắn cho thấy điều đó, trong thư có nhắc đến Toowoomba. Tôi không biết nữa, Holm ạ. À mà này, cậu tìm ra được tên cửa hàng ở Bergen chưa?”

“Ba láp đây!”

Hay đúng hơn là nghe có vẻ như vậy. Từ chính xác - flæk - được phát âm và nhân nhá bằng chất giọng đặc sệt vừng Bergen. Âm l phớt nhẹ, æ kéo dài và hạ xuống ở giữa, cùng âm s rất khẽ. Peter Flesch, người tự phát âm tên mình nghe như bn láp, nói hổn hà hổn hển, vừa to vừa sốt sắng. Ông ta rất vui vẻ khai báo, đúng là ông ta bán đủ loại đồ cổ có kích thước nhỏ, nhưng mặt hàng chủ yếu là tẩu thuốc, bật lửa, bút, cặp da và văn phòng phẩm. Có cả hàng mới lẫn hàng đã qua sử dụng. Đa phần bán cho khách quen, thường là cũng ở tầm tuổi như ông ta.

Đối với mấy câu hỏi của Harry về giấy viết Kono, ông ta đáp bằng giọng tiếc nuối rằng cửa hiệu không còn bán loại giấy đó. Thực ra là mấy năm nay ông ta không nhập về nữa.

“Tôi hỏi thế này e hơi khó,” Harry nói. “Nhưng khách hàng của ông đa phần là khách quen, nên liệu ông có nhớ được một vài người đã từng mua giấy Kono không?”

“Có thể có vài người. Møller này. Kikkusaen già ở Møllaren này. Chúng tôi không ghi sổ, nhưng vợ tôi có trí nhớ tốt lắm.”

“Hay là ông giúp tôi ghi lại họ tên đầy đủ, tuổi tác áng chừng và địa chỉ của những khách hàng ông còn nhớ rồi e-mail cho…”

Harry đang nói thì bị tiếng chắt lưỡi chen ngang. “Chúng tôi không dùng e-mail, con trai ạ. Và cũng không có ý định lập một cái đâu. Cậu cho tôi số fax thì hơn.”

Harry đọc số fax của Sở Cảnh sát. Rồi anh chợt ngần ngừ. Một ý tưởng bất ngờ nảy ra trong anh. Nhưng những ý tưởng chẳng bao giờ xuất hiện một cách vô duyên vô cớ.

“Không biết trong số khách hàng của ông ngày trước, có ai tên là Gert Rafto không?” Harry hỏi.

“Rafto Sắt ư?” Peter Flesch bật cười.

“Ông cũng biết ông ta sao?”

“Cả thành phố này đều biết Rafto ấy chứ. Nhưng ông ta không phải khách mua hàng ở đây.”

FOB Møller ngày trước luôn nói rằng, để tìm ra được chi tiết có lý, ta phải loại bỏ tất cả những chi tiết vô lý. Vì thế, đã là thanh tra cảnh sát thì đừng bao giờ nản chí mà hãy lấy làm mừng mỗi khi loại bỏ được một manh mối không đưa đến đáp án cuối cùng. Hơn nữa, đó cũng chỉ là một ý nghĩ bất chợt mà thôi.

“Dù sao cũng cảm ơn ông,” Harry nói. “Chúc ông một ngày tốt lành.”

“Ông ta không phải khách mua hàng,” Flesch nói. “Mà là tôi.”

“Vậy sao?”

“Đúng thế. Ông ta mang đến cho tôi vài món lặt vặt. Bật lửa bạc, bút mạ vàng, mấy thứ kiểu như vậy. Có đôi lần tôi mua lại của ông ta. Nhưng đấy là trước khi tôi biết được những món đồ đó từ đâu mà ra…”

“Thế chúng ở đâu ra?”

“Cậu không biết à? Ông ta lấy trộm ở hiện trường những vụ án ông ta điều tra chứ đâu.”

“Ông ta không bao giờ mua gì ư?”

“Rafto chẳng có nhu cầu sử dụng những mặt hàng của chúng tôi.”

“Kể cả giấy cũng không à? Nhưng ai mà chẳng cần giấy, không phải sao?”

“Hừm. Xin chờ một lát để tôi hỏi lại bà xã.”

Tuy có bàn tay che đi ống nghe nhưng Harry vẫn nghe thấy tiếng nói lón, rồi đến tiếng trò chuyện nhỏ hơn. Sau đó bàn tay buông ra và Flesch oang oang nói bằng giọng Bergen đầy hồ hởi, “Bà ấy nghĩ là Rafto lấy nốt chỗ giấy ấy hồi chúng tôi ngừng bán thì phải. Hình như đổi lấy ống cắm bút bằng bạc bị gãy. Bà vợ tôi đúng là có trí nhớ khủng thật.”

Harry cúp máy và biết rằng không lâu nữa anh sẽ lên đường đến Bergen. Trở lại với Bergen.

Tối đó dù đã chín giờ mà tầng trệt của tòa nhà tọa lạc tại số 6 đường Brynsalléen, thủ đô Oslo, vẫn sáng đèn. Nhìn từ ngoài, trông nó chẳng khác gì mấy khu liên hợp thương mại khác, xây theo phong cách hiện đại ốp gạch đỏ kết hợp cùng khung thép xám. Và bên trong cũng không có gì đặc biệt, nơi này quy tụ hơn bốn trăm nhân viên, hầu hết trong số đó là kỹ sư, chuyên gia IT, chuyên gia xã hội học, kỹ thuật viên phòng thí nghiệm, thợ ảnh, vv… Thế nhưng đây lại là tổng hành dinh của cơ quan quốc gia phòng chống tội phạm có tổ chức và tội phạm nghiêm trọng, thường được nhắc đến bằng cái tên lâu đời Kriminalpolitisentralen, hay gọi tắt là Kripos.

Espen Lepsvik vừa cho nhân viên ra về sau khi nghe báo cáo tình hình điều tra án mạng. Chỉ còn hai người ngồi lại trong phòng họp trống trải với ánh đèn chói gắt.

“Thông tin hơi bị nghèo nàn đấy,” Harry Hole nói.

“Nói trắng ra là chả có gì,” Espen Lepsvik đáp, đưa ngón cái và ngón trỏ lên xoa mí mắt. “Hay chúng ta đi làm chầu bia rồi anh kể cho tôi những gì anh khai thác được nhé?”

Harry kể lại mọi chuyện cho Espen Lepsvik trong lúc anh ta lái xe vào trung tâm thành phố, tiện thể ghé vào quán Kafé Justisen trên đường về. Họ chọn một bàn nằm sâu bên trong quán cà phê đông đúc, chốn thường xuyên lui tới của khách hàng thuộc đủ mọi thành phần, từ đám sinh viên mê bia bọt cho đến những tay luật sư và cảnh sát thậm chí còn mê hơn cả tụi trẻ.

“Chuyến này tới Bergen tôi định để Katrine Bratt đi cùng thay cho Skarre,” Harry nói, đưa chai nước khoáng có ga lên nhấp một ngụm. “Trước khi đến đây tôi đã xem qua hồ sơ của cô ấy rồi. Nhìn chung khá sạch, nhưng trong đó có đề cập đến việc cô ấy từng tham gia phá hai vụ án mạng ở Bergen, mà theo tôi biết thì hình như anh được cử đến đó để chỉ đạo điều tra.”

“Bratt, phải rồi, tôi vẫn nhớ cô ta.” Espen Lepsvik cười khì và giơ ngón trỏ ra dấu gọi thêm bia.

“Cô ấy làm anh hài lòng chứ?”

“Cực kỳ hài lòng. Cô ta… cực kỳ… có tài.” Lepsvik nháy mắt với Harry, anh nhận thấy Lepsvik bắt đầu có vẻ lơ mơ của một viên thanh tra đã mệt mỏi lại còn nốc đến ba vại bia. “Nếu hai bọn tôi chưa ai lập gia đình thì chắc tôi đã có cơ hội.”

Anh ta uống cạn cốc bia.

“Điều tôi muốn biết là anh thấy tâm tính cô ấy có ổn định không,” Harry nói.

“Ổn định á?”

“Phải, ở cô ấy có gì đó… Tôi cũng chẳng biết giải thích thế nào. Có gì đó mãnh liệt.”

“Tôi hiểu ý anh.” Espen Lepsvik chậm rãi gật đầu trong khi ánh mắt cố tập trung vào Harry. “Hồ sơ của cô ta đẹp không tì vết. Nhưng nói riêng với anh thôi nhé, tôi có nghe một tay cảnh sát ở đấy nhắc đến chuyện riêng giữa vợ chồng cô ta.”

Lepsvik nhìn Harry những mong có được chút khích lệ nào đó từ phía anh, tuy không thấy nhưng cũng chẳng vì thế mà chịu ngừng lời.

“Chuyện là… anh biết đây… cô ta thích dây dợ và xiềng xích. Mạnh và bạo. Hẳn nhiên là tín đồ của thể loại ấy. Khẩu vị hơi quái đản.”

“Tôi không quan tâm việc đó,” Harry nói.

“Không, không, không, tôi cũng có quan tâm đâu!” Lepsvik kêu lên và giơ hai tay như muốn thanh minh. “Chỉ là người ta đồn thế thôi. Nhưng anh biết không?” Lepsvik nhếch mép cười và nhoài người qua bàn, để Harry ngửi thấy hơi thở nồng nặc mùi bia. “Cô ta mà muốn thống trị thì tôi luôn sẵn sàng.”

Harry nhận ra ánh mắt mình hẳn là đã để lộ điều gì đó, bởi lẽ Lepsvik dường như ngay lập tức hối hận vì sự cởi mở của mình và vội vã rụt người về chỗ cũ. Rồi anh ta lại tiếp tục nói, nhưng bằng giọng nghiêm chỉnh hơn.

“Cô ta làm việc chuyên nghiệp. Thông minh sáng dạ. Mãnh liệt và tận tụy. Nằng nặc đòi tôi giúp điều tra vài vụ án bế tắc lâu năm với thái độ theo tôi nhớ là có phần gay gắt. Nhưng tuyệt đối không có gì bất ổn, ngược lại là đằng khác. Cô ta thuộc tuýp người khép kín, hay cau có. Nhưng thiếu gì người như thế. Đúng vậy, thực lòng tôi nghĩ anh và cô ta sẽ là một đội hoàn hảo đấy.”

Harry mỉm cười trước hàm ý châm chọc và đứng dậy. “Cảm ơn vì đã mách nước, Lepsvik.”

“Thế thì mách lại cho tôi một tí đi. Anh và cô ta… có gì với nhau không?”

“Lời mách nước dành cho anh,” Harry đáp và thảy tờ một trăm krone lên mặt bàn, “là anh để xe lại đây thì hơn.”

❀ ❀ ❀

[1] Borghild nghe nhầm Fahr thành father, nghĩa là người cha, cũng giống như Harry nhầm lẫn lúc trước.

[2] Vidkun Quisling (1887-1945) là chính trị gia người Na Uy, về sau trở thành lãnh tụ phát xít khi hợp tác với Đức Quốc xã trong thời gian Đức chiếm đóng Na Uy hồi Thế chiến II. Cái tên Quisling sau này đồng nghĩa với kẻ phản bội.

[3] Ý tác giả muốn nhắc đến bộ phim du hành không gian của đạo diễn Stanley Kubrick.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Jo Nesbø

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.