Người Tuyết

Lượt đọc: 164 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày thứ ba - 7
SỐ LIỆU ẨN

❊ ❊ ❊

Ánh sáng buổi sớm mai yếu ớt rọi qua bức màn sáo trong văn phòng sếp Đội Hình sự, phủ lên khuôn mặt hai người đàn ông một màu xám xịt. POB Hagen đang lắng nghe Harry nói, vầng trán trầm tư nhăn lại phía trên hàng lông mày đen rậm rì dính vào nhau. Trên chiếc bàn làm việc khổng lồ có bày chân đế nhỏ với một đốt xương ngón tay màu trắng, theo lời khắc trên đế thì đó là xương của tiểu đội trưởng Yoshito Yasuda thuộc quân đội Nhật Bản. Trong thời gian giảng dạy tại trường quân đội, Hagen thường kể về ngón tay út mà Yasuda đã tuyệt vọng chặt bỏ ngay trước mặt binh sĩ dưới quyền trong cuộc di tản khỏi Miến Điện vào năm 1944. Mới một năm hước thôi, Hagen được cơ quan cũ là sở cảnh sát mời về phụ trách Đội Hình sự, và sau bao nhiêu chuyện xảy ra trong thời gian đó, ông ta lắng nghe khá kiên nhẫn trong lúc điều tra viên giàu kinh nghiệm trình bày về chủ đề người mất tích.

“Chỉ tính riêng ở Oslo đã có hơn sáu trăm người được báo mất tích mỗi năm. Sau vài giờ trình báo, chỉ còn vài người trong số đó vẫn chưa rõ tung tích. Gần như không có người nào mất tích quá vài ngày.”

Hagen di ngón tay lên những sợi lông nối liền hai bên chân mày trên sống mũi. Ông ta còn phải chuẩn bị cho cuộc họp bàn về ngân sách trong văn phòng cảnh sát trưởng. Xoay quanh chủ đề cắt giảm.

“Những người mất tích phần lớn là bệnh nhân tâm thần trốn viện hoặc người cao tuổi suy giảm trí lực,” Harry nói tiếp.

“Nhưng ngay cả những người thần trí tương đối tỉnh táo chạy trốn đến Copenhagen hoặc tự sát thì rốt cuộc cũng đều được tìm thấy. Họ có tên trong danh sách hành khách, rút tiền ở ATM hoặc trôi dạt vào bờ biển.”

“Ý cậu là gì?” Gunnar Hagen hỏi và liếc đồng hồ.

“Là đây,” Harry đáp, quẳng đánh bộp một tập hồ sơ màu vàng lên bàn sếp.

Hagen nhoài người tới và lật qua xấp tài liệu đóng ghim đâu ra đấy. “Trời đất, Harry. Cậu đâu phải típ người chịu viết báo cáo.”

“Công lao đó thuộc về Skarre,” Harry nói, không thích nhiều lời. “Còn kết luận là của tôi, mà giờ tôi sẽ trực tiếp trình bày với sếp.”

“Làm ơn nói ngắn thôi.”

Harry cúi nhìn hai bàn tay đặt trong lòng. Đôi chân dài duỗi thẳng về phía trước. Anh hít sâu một hơi. Anh biết rõ một khi đã nói ra sẽ không cách nào rút lại được.

“Có quá nhiều người mất tích,” Harry lên tiếng.

Hàng lông mày bên phải của Hagen nhướn lên. “Nói rõ hơn đi.”

“Sếp xem trang 6 ấy. Một danh sách phụ nữ trong độ tuổi từ hai mươi lăm đến năm mươi mất tích từ 1994 đến nay. Những người vẫn chưa được tìm thấy trong mười năm trở lại đây. Tôi đã trao đổi với Ban Tìm kiếm Người Mất tích, và họ cũng đồng ý. Thực sự là quá nhiều.”

“Quá nhiều so với cái gì?”

“So với trước đó. So với Đan Mạch và Thụy Điển. Và so với những nhóm nhân khẩu khác. Phụ nữ đã lập gia đình hoặc đang sống chung chiếm tỷ lệ áp đảo trong danh sách.”

“Phụ nữ thời nay độc lập hơn so với trước đây,” Hagen nói. “Nhiều người chọn cách sống riêng, tách khỏi gia đình, ra nước ngoài với bạn trai, có thể lắm. Điều đó hẳn cũng là yếu tố tác động đến số liệu thống kê. Thế thì có gì đáng nói đâu nào?”

“Phụ nữ Đan Mạch và Thụy Điển cũng độc lập hơn. Nhưng họ vẫn được tìm thấy đấy thôi.”

Hagen thở dài. “Nếu những số liệu này quá dị biệt, như cậu nói, vậy tại sao trước đây không ai phát hiện ra?”

“Vì số liệu Skarre thu thập được là tính trên cả nước, trong khi cảnh sát chỉ tập trung vào những vụ xảy ra tại địa bàn họ phụ trách. Trong sổ thống kê quốc gia về người mất tích ở Kripos có đến một ngàn tám trăm cái tên, nhưng đấy là tính tổng trong vòng năm mươi năm gần đây, gồm cả những vụ đắm tàu và tai nạn như vụ lật giàn khoan Alexander Kielland chẳng hạn. Mấu chốt nằm ở chỗ chưa ai xem xét trong phạm vi toàn quốc. Cho tới bây giờ.”

“Ừ thì thế, nhưng trách nhiệm của chúng ta không trải dài khắp cả nước, Harry ạ. Mà chỉ giới hạn trong Sở Cảnh sát Oslo thôi.” Hagen đập mạnh hai tay xuống như muốn ám chỉ cuộc hội kiến đến đây là kết thúc.

“Vấn đề là,” Harry nói và xoa cằm, “nó đã tới Oslo rồi.”

“Nó là cái gì?”

“Tối qua tôi tìm thấy điện thoại di động của Birte Becker bên trong người tuyết. Tôi cũng chưa rõ nó là gì, sếp ạ. Nhưng tôi cho rằng chúng ta cần phải điều tra ra. Thật nhanh.”

“Những số liệu đó đáng chú ý đấy,” Hagen nói, lơ đãng cầm lấy đốt xương của tiểu đội trưởng Yasuda và ấn ngón cái lên. “Tôi cũng biết rằng vụ mất tích mới nhất này có vài yếu tố đáng lo ngại. Nhưng chừng đó là chưa đủ. Vì thế, hãy trả lời xem: Thực sự vì lý do gì mà cậu yêu cầu Skarre viết báo cáo này?”

Harry nhìn Hagen một hồi. Sau đó anh rút từ túi áo trong ra một chiếc phong bì quăn góc và đưa cho Hagen.

“Thứ này được gửi đến hòm thư của tôi sau khi tôi xuất hiện trong chương trình truyền hình hồi đầu tháng Chín. Trước giờ tôi cứ tưởng nó là tác phẩm của một thằng điên.”

Hagen lấy lá thư ra, và sau khi đọc hết sáu câu trong đó, ông ta lắc đầu với Harry. “Người tuyết ư? Còn Murri là cái gì?”

“Vấn đề nằm ở chỗ đó,” Harry nói. “Tôi e rằng đây chính là nó.”

Vị POB ngơ ngác nhìn anh.

“Tôi cũng hy vọng là mình nhầm,” Harry nói, “nhưng có lẽ sắp tới chúng ta sẽ phải đương đầu với những ngày tháng cực kỳ đen tối đấy.”

Hagen thở dài. “Cậu muốn gì hả Harry?”

“Tôi muốn lập một tổ điều tra.”

Hagen nhìn Harry dò xét. Cũng như hầu hết các sĩ quan trong Sở Cảnh sát, ông ta cho rằng Harry là một kẻ nghiện rượu ương ngạnh, ngạo mạn, hay cãi và tính tình bất ổn. Nhưng dù sao đi nữa, Hagen cũng lấy làm mừng vì hai người đang ở cùng một chiến tuyến và ông ta không muốn gã này quay lại đối đầu với mình.

“Bao nhiêu người?” cuối cùng ông ta hỏi. “Và trong bao lâu?”

“Mười thanh tra. Hai tháng.”

“Hai tuần?” Magnus Skarre hỏi. “Và bốn người? Đấy mà là điều tra án mạng à?”

Anh ta bất bình đưa mắt nhìn ba người còn lại đang chen chúc trong văn phòng Harry: Katrine Bratt, Harry Hole và Bjørn Holm thuộc Krimteknisk, tức Phòng Giám định Pháp y.

“Hagen chỉ cho tôi có thế,” Harry nói, ngả người trên ghế. “Và đây không phải cuộc điều tra án mạng. Tạm thời thì chưa.”

“Thế thì là cái gì?” Katrine Bratt hỏi. “Tạm thời ấy?”

“Vụ tìm người mất tích,” Harry đáp. “Nhưng là vụ có điểm tương đồng nhất định với một số vụ khác xảy ra gần đây.”

“Các bà nội trợ tự nhiên đùng đùng bỏ đi vào một ngày cuối thu hả?” Bjørn Holm hỏi, cách nói vẫn còn tàn dư của vùng quê Toten anh ta đem theo khi rời làng Skreia cùng với đống tài sản gồm bộ sưu tập đĩa LP của Elvis, nhạc đồng quê chính hiệu, the Sex Pistols, Jason & the Scorchers, ba bộ vét khâu tay mua ở Nashville, một cuốn Kinh Thánh Mỹ, một chiếc sofa giường hơi nhỏ quá và bộ bàn ghế ăn được truyền lại qua ba đời nhà Holm. Tất cả được chất lên toa moóc và kéo về thủ đô bằng chiếc Amazon cuối cùng được xuất xưởng nám 1970 của hãng Volvo. Bjørn Holm mua chiếc Amazon với giá một ngàn hai trăm krone, nhưng ngay cả hồi ấy cũng chẳng ai biết được nó đã chạy bao nhiêu dặm đường, vì công tơ mét chỉ hiển thị tối đa một trăm ngàn. Tuy thế, chiếc xe là đại diện cho cá tính và đức tin của Bjørn Holm; nó có mùi tuyệt diệu hơn hết thảy mọi thứ, hòa quyện giữa mùi giả da, kim loại, dầu máy, táp lô phía sau bạc phếch, mùi của nhà máy Volvo và ghế ngồi thâm đẫm mồ hôi khí chất, như Bjørn Holm giải thích thì đây không phải mồ hôi thông thường mà là lớp vỏ ghế đặc biệt được tạo nên từ tâm hồn, nghiệp báo, thói quen ăn uống và phong cách sống của những người từng sở hữu chiếc xe. Đôi xúc xắc nhồi bông treo ở gương chiếu hậu chính là xúc xắc Fuzzy Dice nguyên bản, minh chứng cho sự kết hợp tuyệt hảo giữa tình cảm yêu mến chân thành và khoảng cách vời vợi đối với nền văn hóa cũng như cái đẹp của xứ sở cờ hoa xưa, hoàn toàn phù hợp với cậu bé con nhà nông ở Na Uy lớn lên giữa một bên là Jim Reeves và bên kia là the Ramones, nhưng mê tít cả hai. Người đó giờ đang ngồi trong phòng làm việc của Harry, chiếc mũ Rasta trên đầu mang lại cho anh ta diện mạo của một cảnh sát ngầm thuộc Đội Phòng chống Ma túy hơn là sĩ quan giám định pháp y. Hai dải tóc mai dày đỏ rực như màu sơn xe cứu hỏa thò ra bên dưới chiếc mũ, ôm lấy gương mặt tròn trĩnh, phúng phình của Bjørn Holm, cặp mắt hơi trố khiến anh ta trông có phần ngơ ngác, hao hao giống cá. Anh ta là người duy nhất Harry một mực yêu cầu phải có trong tổ điều tra nho nhỏ của mình.

“Còn một điều nữa,” Harry nói, thò tay vào giữa mấy chồng giấy đặt trên bàn làm việc để bật cái máy chiếu treo phía trên cao. Magnus Skarre chửi thề và lấy tay che mắt khi những dòng chữ mờ đột nhiên hiện ra trên mặt mình. Skarre dịch sang chỗ khác, giọng nói của Harry vang lên từ phía sau máy chiếu.

“Lá thư này xuất hiện trong hòm thư của tôi cách đây đúng hai tháng. Không ghi địa chỉ người gửi, có dấu bưu điện Oslo. In bằng máy in phun thông thường.”

Harry chưa kịp nhờ thì Katrine Bratt đã nhấn công tắc đèn ở cạnh cửa ra vào, khiến cả phòng chìm trong bóng tối. Một ô sáng hiện lên trên bức tường sơn trắng.

Bốn người lặng lẽ đọc.

Không lâu nữa tuyết đầu mùa sẽ đến. Và lúc ấy hắn sẽ tại hiện ra. Người tuyết. Khi tuyết tan là lúc hắn bắt đi một kẻ khác. Hãy tự hỏi bản thân điều này: “Ai đã tạo ra người tuyết? Ai đang đắp nên những người tuyết? Ai đã sinh ra Murri?” Bởi điều ấy người tuyết nào có hay.

“Đầy thi vị,” Bjørn Holm lẩm bẩm.

“Murri là cái gì?” Skarre hỏi.

Tiếng vù vù của chiếc quạt bên trong máy chiếu vang lên đều đều thay cho lời đáp.

“Câu hỏi thú vị nhất phải là, người tuyết là ai,” Katrine Bratt nói.

“Dĩ nhiên là một thằng ấm đầu,” Bjørn Holm đáp.

Tiếng cười đơn độc của Skarre nhanh chóng bị cắt ngang.

“Murri là biệt danh của một kẻ giờ đã chết,” giọng nói của Harry cất lên từ trong bóng tối. “Người Murri vốn là một bộ tộc thổ dân ở Queensland, Australia. Gã Murri này khi còn sống đã sát hại nhiều phụ nữ trên khắp Australia. Không ai biết chính xác số người chết là bao nhiêu. Tên thật của hắn là Robin Toowoomba.”

Quạt vẫn quay o o.

“Tên sát nhân hàng loạt,” Bjørn Holm nói. “Kẻ đã bị anh bắn hạ.”

Harry gật đầu.

“Nói vậy nghĩa là anh cho rằng chúng ta đang phải đương đầu với một kẻ như vậy?”

“Lá thư này cho thấy ta không thể loại trừ khả năng đó.”

“Ối chà. Tấp vào lề cái đã, ông anh!” Skarre giơ hai tay lên. “Từ sau khi thành người nổi tiếng nhờ phi vụ xứ chuột túi, đã bao nhiêu lần anh hô hào có biến rồi hả Harry?”

“Ba lần,” Harry đáp, “ít nhất cũng chừng ấy.”

“Thế mà ở Na Uy đã xuất hiện tên giết người hàng loạt nào đâu.” Skarre liếc nhìn Bratt như để chắc chắn cô vẫn chú ý. “Có phải vì anh tham gia khóa học của FBI về sát nhân hàng loạt không? Vì thế mà nhìn đâu anh cũng thấy chúng à?”

“Có thể,” Harry đáp.

“Xin nhắc để anh nhớ, ngoài vụ gã y tá tiêm thuốc cho vài ông già bà cả đằng nào cũng sắp về chầu trời, thì ở Na Uy này chưa bao giờ xuất hiện sát nhân hàng loạt. Chưa bao giờ. Những kẻ đó chỉ có ở Mỹ thôi, mà ngay cả thế đi nữa cũng toàn ở trên phim là chính.”

“Nhầm rồi,” Katrine Bratt nói.

Mọi người quay sang nhìn cô. Cô cố ghìm một cái ngáp dài.

“Thụy Điển, Pháp, Bỉ, Anh, Italy, Hà Lan, Đan Mạch, Nga, Phần Lan. Mà đó mới chỉ là những vụ đã được phá. Còn chưa tính những số liệu thống kê ẩn đâu đây.”

Harry không nhìn thấy khuôn mặt đỏ lựng của Skarre trong bóng tối mà chỉ thấy bóng dáng cái cằm vênh lên, hướng về phía Bratt đầy thách thức.

“Đã tìm được cái xác nào đâu, và tôi có thể cho cô xem cả ngăn kéo đầy chóc những lá thư kiểu đó. Của những kẻ còn khùng hơn cả gã… gã… Người Tuyết này.”

“Sự khác nhau nằm ở chỗ,” Harry nói, đứng dậy và ung dung bước đến bên cửa sổ, “gã khùng này đã điều tra rất kỹ. Cái tên Murri không hề xuất hiện trên mặt báo vào thời điểm ấy. Murri là biệt danh Robin Toowoomba từng dùng khi còn là võ sĩ quyền Anh của gánh xiếc rong.”

Những tia sáng cuối ngày le lói qua kẽ mây. Harry nhìn đồng hồ. Oleg nhất định đòi đến sớm để có thể xem cả ban nhạc Slayer nữa.

“Vậy mình bắt đầu từ đâu?” Bjørn Holm lẩm bẩm.

“Hở?” Skarre nói.

“Vậy thì mình phải bắt đầu điều tra từ đâu?” Holm nhắc lại, nhấn từng chữ một cách cường điệu.

Harry quay lại bàn làm việc.

“Holm kiểm tra lại căn nhà và sân vườn của gia đình Becker, tạm coi như là hiện trường vụ án đi. Chú ý khám nghiệm kỹ cái điện thoại và chiếc khăn quàng. Skarre, cậu lọc ra một danh sách những kẻ có tiền án giết người, cưỡng hiếp, bị tình nghi trong…”

“… các vụ tương tự và những tên cặn bã khác vẫn còn nhởn nhơ ngoài kia,” Skarre tiếp lời.

“Bratt, cô đọc qua báo cáo của các vụ mất tích xem có phát hiện ra được mô thức nào không.”

Harry chờ đợi câu hỏi tất yếu: Mô thức kiểu gì? Nhưng Katrine Bratt không nói mà chỉ gật nhanh một cái.

“Được rồi,” Harry nói. “Mọi người vào việc đi.”

“Vậy còn anh?” Bratt hỏi.

“Tôi đi xem ca nhạc,” Harry đáp.

Khi những người khác đã rời đi, anh cúi nhìn cuốn sổ của mình. Trên đó anh chỉ ghi đúng ba từ: Số liệu ẩn.

Sylvia bỏ chạy thục mạng. Cô nhằm về hướng cây cối mọc dày nhất mà chạy trong bóng tối đang dần phủ khắp không gian. Cô chạy để bảo toàn mạng sống của chính mình.

Đôi bốt ban nãy cô chưa kịp buộc dây giờ đã ngập đầy tuyết. Cô cầm chiếc rìu nhỏ giơ ra phía trước trong lúc lao qua tầng tầng lớp lớp những cành cây la đà trụi lá. Lưỡi rìu nhuốm máu đỏ tươi bóng loáng.

Cô biết tuyết rơi ngày hôm qua giờ đã tan hết trong thành phố, nhưng dù Sollihøgda nằm cách đó chỉ chừng nửa giờ chạy xe, ở đây tuyết vẫn có thể bao phủ đến tận khi xuân về. Giờ đây, cô ước gì gia đình mình chưa từng chuyển đến nơi khỉ ho cò gáy, chốn hoang vu nằm bên rìa thành phố này. Ước gì cô đang chạy trên mặt đường nhựa đen, tại một thành phố với những thanh âm ồn ào át đi tiếng động phát sinh trong lúc trốn chạy và cô có thể ẩn mình an toàn trong đám đông. Nhưng ở đây, Sylvia hoàn toàn đơn độc.

Không.

Không hoàn toàn như vậy.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Jo Nesbø

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.