Người Tuyết

Lượt đọc: 139 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày thứ chín - 14
BERGEN

❊ ❊ ❊

Đúng tám giờ hai mươi sáu phút, chiếc máy bay mang số hiệu DY604 đáp xuống đường băng ướt nhẹp của sân bay Flesland, Bergen. Cú tiếp đất mạnh đến nỗi khiến Harry bừng tỉnh.

“Ngủ ngon không?” Katrine hỏi.

Harry gật đầu, dụi mắt và nhìn ra cửa sổ ngắm bình minh chìm trong màn mưa như trút.

“Lúc ngủ, anh nói mơ đấy,” cô cười.

“Ừm.” Harry không muốn hỏi mình đã nói những gì. Anh chỉ vội vã ôn lại giấc mộng vừa qua. Giấc mộng không có bóng dáng Rakel. Nhiều đêm rồi anh không mơ thấy cô. Anh đã gạt bỏ cô. Anh và những giấc mơ cùng đồng lòng quên cô đi. Nhưng anh lại mơ thấy Bjarne Møller, cấp trên đồng thời là thầy cũ của anh, người đã tìm đến vùng cao nguyên Bergen để rồi được phát hiện hai tuần sau đó ở hồ Revurtjern. Møller lựa chọn quyết định ấy bởi một lẽ, cũng như Zenon với ngón chân cái đau nhức, ông không thấy cuộc đời còn gì đáng sống nữa. Phải chăng Gert Rafto cũng đi đến kết luận tương tự? Hay thực sự ông ta vẫn còn sống đâu đó ngoài kia?

“Tôi đã gọi điện cho vợ cũ của Rafto,” Katrine nói trong lúc hai người đi qua sảnh đến. “Cả bà ấy lẫn cô con gái đều không muốn phải làm việc với cảnh sát một lần nữa, không muốn khơi lại vết thương cũ. Nhưng như thế cũng chẳng sao. Những báo cáo để lại từ thời đó đã là quá đủ rồi.”

Hai người lên taxi ở ngoài trạm.

“Được về nhà thế này có thích không?” Harry hỏi lớn trong tiếng mưa rào rào và tiếng sột soạt đều đều của cần gạt nước trên kính chắn gió.

Katrine hờ hững, nhún vai. “Tôi ghét mưa lắm. Ghét luôn cả đám dân Bergen dám nói ở đây không mưa nhiều như dân miền Đông Na Uy vẫn tường.”

Khi đi qua quảng trường Danmarksplass, Harry ngước lên nhìn ngọn núi Ulriken. Trên đỉnh núi tuyết phủ trắng xóa, anh trông thấy những cabin cáp treo đang dịch chuyển. Thế rồi xe chạy qua những con đường trơn ướt như ổ rắn bên bờ vịnh Store Lungegårdsvann và tới được trung tâm thành phố, quang cảnh hiện ra trước mắt du khách giống như một niềm vui bất ngờ sau khi trải qua hành trình đầy tẻ nhạt.

Hai người bước vào khách sạn SAS nằm trong khu Bryggen, nhìn thẳng ra vịnh. Harry đã hỏi Katrine có định tá túc ở nhà bố mẹ không, cô đáp rằng chỉ ở có mỗi một đêm thôi, làm vậy thì phiền quá, bố mẹ cô sẽ cuống lên cho xem, mà cô thậm chí còn chẳng báo với họ là sẽ về đây nữa kia.

Họ nhận khóa thẻ từ lên phòng, chẳng ai nói năng gì trong lúc đi thang máy. Katrine đưa mắt liếc Harry và mỉm cười như thể khoảng lặng trong thang máy là một trò đùa đầy ẩn ý. Harry cúi xuống nhìn, hy vọng cơ thể mình không phát đi tín hiệu sai lệch nào đó. Hoặc là tín hiệu chuẩn xác.

Cửa thang máy cuối cùng cũng mở, cô uốn éo bước ra hành lang.

“Năm phút nữa gặp ở sảnh lễ tân,” Harry gọi với theo.

“Lịch trình thế nào đây?” Harry hỏi khi cả hai cùng ngồi ở sảnh sáu phút sau đó.

Katrine ngả người về phía trước trên chiếc ghế bành sâu lòng và lật giở cuốn sổ bìa da. Cô đã thay sang bộ vét xám thanh lịch, cho thấy cô hòa nhập rất nhanh với nhóm khách doanh nhân ở khách sạn.

“Anh đến gặp Knut Müller-Nilsen, trưởng Đơn vị Tìm kiếm Người Mất tích và Điều tra Tội phạm Bạo lực.”

“Cô không đi cùng sao?”

“Tôi mà đi thì lại phải chào hỏi rồi tám chuyện với mọi người ở đó, mất toi cả một ngày. Mà tốt hơn hết anh đừng nhắc đến tên tôi. Nói đến chỉ khiến họ phật lòng vì tôi không ghé qua. Tôi sẽ tới Øyjordsveien để hỏi chuyện nhân chứng trông thấy Rafto lần cuối cùng.”

“Ừm. Chỗ đó là ở đâu?”

“Cạnh vũng tàu đậu. Nhân chứng nhìn thấy ông ta ra khỏi ô tô và đi vào công viên Nordnes. Không ai quay lại lấy xe, cảnh sát đã rà soát toàn bộ khu vực xung quanh mà không thu được kết quả gì.”

“Sau đó thì làm gì nữa?” Harry vuốt ngón cái và ngón giữa lên quai hàm, thầm nghĩ lẽ ra anh nên cạo râu trước khi rời thành phố.

“Anh đọc lại các báo cáo cũ cùng với những người từng phụ trách điều tra mà hiện vẫn còn làm việc ở đó. Tìm hiểu đầy đủ thông tin. Cố gắng xem xét vụ án từ một góc độ khác.”

“Không,” Harry đáp.

Katrine ngẩng lên khỏi cuốn sổ tay.

“Những thanh tra ngày ấy đã đưa ra kết luận của riêng mình, nhất định họ sẽ tìm mọi cách bảo vệ quan điểm cá nhân,” Harry giảng giải. “Tôi thích nghiền ngẫm đống báo cáo trong yên bình ở Oslo. Còn tranh thủ thời gian ở đây để tìm hiểu thêm về Gert Rafto. Có chỗ nào cho chúng ta xem qua đồ đạc của ông ta không nhỉ?”

Katrine lắc đầu. “Gia đình ông ta đã quyên góp toàn bộ cho tổ chức Cứu Thế quân. Rõ ràng là cũng chẳng nhiều nhặn gì. Chỉ có ít đồ nội thất và quần áo thôi.”

“Thế nơi ông ta từng ở thì sao?”

“Ông ta sống một mình trong căn hộ ở Sandviken sau ly hôn, nhưng nó bị bán từ lâu rồi.”

“Ừm. Gia đình họ không còn giữ lại ngôi nhà thuở nhỏ, nhà ở quê hay nhà nghỉ nào à?”

Katrine ngần ngừ. “Trong báo cáo có nhắc đến một căn nhà gỗ nhỏ tại khu nghỉ hè dành cho cảnh sát, nằm trên đảo Finnøy ở Fedje. Gia đình được phép giữ lại căn nhà trong những trường hợp như thế này, vì vậy chúng ta có thể thử xem. Tôi có số điện thoại của vợ Rafto rồi. Tôi sẽ gọi điện cho bà ấy.”

“Tôi tưởng bà ta không muốn nói chuyện với cảnh sát.”

Katrine nháy mắt với anh và nở nụ cười ranh mãnh.

Harry xoay xở mượn được một chiếc ô ở quầy lễ tân khách sạn, nhưng chẳng mấy chốc nó đã bị gió thổi tốc ngược khi anh còn chưa tới nổi chợ cá Fisketorget ở cảng, và trông không khác gì con dơi tàn tạ lúc anh đến được Sở Cảnh sát sau một hồi cúi đầu mải miết chạy.

Harry đang đứng đợi POB Knut Müller-Nilsen ở quầy tiếp đón thì Katrine gọi cho anh và nói rằng căn nhà gỗ trên đảo Finnøy vẫn thuộc sở hữu của gia đình Rafto.

“Nhưng vợ ông ta đã không còn đặt chân đến đó kể từ sau khi Rafto mất tích. Bà ấy nghĩ cô con gái cũng thế.”

“Chúng ta sẽ cùng đi,” Harry đáp. “Một giờ là tôi xong việc ở đây.”

“Được, tôi sẽ thuê tàu. Gặp nhau ở bến Zacharias nhé.”

Knut Müller-Nilsen có dáng vẻ của một con gấu bông vui tính với đôi mắt biết cười và tay to như vợt tennis. Những chồng giấy cao chất ngất trên bàn khiến ông ta trông như thể đang ngồi giữa vòng vây, hai cái vợt đan lại đặt sau đầu.

“Rafto à, hừm…” Müller-Nilsen nói, sau khi giải thích với Harry rằng ở Bergen không mưa nhiều như dân miền Đông Na Uy vẫn tưởng.

“Xem ra các sĩ quan cảnh sát hay có xu hướng vuột khỏi tay ông nhỉ,” Harry nói và giơ tấm ảnh của Gert Rafto đi kèm trong mấy tập báo cáo anh đang đặt trên đùi.

“Thế á?” Müller-Nilsen thắc mắc, nhìn Harry, anh vừa tìm được chiếc ghế tựa lưng nan trong một góc phòng không bị giấy tờ chiếm hữu.

“Bjarne Møller,” Harry nói.

“Ừ,” Müller-Nilsen đáp, nhưng chính sự chần chừ trong cách nói đã lật tẩy ông ta.

“Sĩ quan mất tích ở Fløyen ấy,” Harry nhắc.

“Phải rồi!” Müller-Nilsen vỗ trán. “Thật bi thảm. Khi đó ông ấy mới tới được một thời gian ngắn nên tôi chưa kịp… Phỏng đoán được đưa ra là ông ấy lạc đường, đúng không nhỉ?”

“Đúng là như thế,” Harry nói, hướng ánh mắt ra ngoài cửa sổ và nghĩ về con đường Bjarne Møller đã chọn, từ lý tưởng lúc ban đầu cho tới khi tha hóa, biến chất, về bao mục đích tốt đẹp của ông, và cả những sai lầm đáng tiếc. Những điều người khác sẽ chẳng bao giờ hay biết. “Ông có thể cho tôi biết gì về Gert Rafto?”

Quả là bản sao tính cách của mình ở Bergen này, Harry nghĩ thầm sau khi nghe lời miêu tả của Müller-Nilsen: có thái độ thiếu lành mạnh đối với rượu, tính tình khó ưa, một con sói cô độc, không đáng tin cậy, đạo đức có vấn đề và lý lịch quá nhiều vết đen.

“Nhưng ông ta có khả năng phân tích và trực giác cực kỳ đáng nể,” Müller-Nilsen nói. “Và cả tinh thần thép nữa. Dường như ông ta bị thôi thúc bởi… một điều gì đó. Tôi không biết phải nói thế nào cho đúng. Rafto là người cực đoan. Điều đó thì chẳng còn gì phải bàn cãi sau khi chúng tôi biết chuyện.”

“Chuyện gì cơ?” Harry hỏi, nhác thấy một cái gạt tàn nằm lẫn trong đống giấy tờ.

“Rafto tính tình hung bạo. Chúng tôi biết ông ta đã có mặt trong căn hộ của Onny Hetland ngay trước khi cô ta mất tích, và Hetland có thể nắm trong tay thông tin nào đó giúp hé lộ danh tính của kẻ sát hại Laila Aasen. Vả lại, sau đó ông ta lập tức biến mất. Cũng không loại trừ khả năng ông ta nhảy xuống biển tự sát. Dù sao đi nữa, chúng tôi chẳng thấy lý do gì để mở cuộc điều tra trên diện rộng.”

“Ông không cho rằng ông ta có thể trốn ra nước ngoài à?”

Müller-Nilsen mỉm cười lắc đầu.

“Sao lại không?”

“Xin thưa với anh rằng trong vụ này chúng tôi có lợi thế là biết rất rõ nghi phạm. Dù trên lý thuyết Rafto rất có thể trốn khỏi Bergen, nhưng ông ta không phải người như thế. Đơn giản vậy thôi.”

“Họ hàng hay bạn bè không ai trình báo dấu hiệu nào cho thấy ông ta còn sống ư?”

Müller-Nilsen lắc đầu. “Cha mẹ ông ta không còn ở đây nữa, mà Rafto cũng ít bạn. Mối quan hệ giữa ông ta và vợ cũ lại căng thẳng, thế nên ông ta đời nào chịu liên lạc với bà ta.”

“Thế còn cô con gái?”

“Hai bố con khá thân thiết. Cô bé ngoan ngoãn, thông minh. Sau rồi cũng thành người tử tế, anh biết đấy, tất nhiên là xét trong hoàn cảnh ấy.”

Harry nhận ra câu nói đó ám chỉ điều này ai mà chẳng biết. “Sau rồi cũng thành người tử tế, anh biết đấy,” đúng là cách nói điển hình của những sở cảnh sát quy mô nhỏ mà tại đó, nhìn chung anh phải biết nhiều điều về nhiều chuyện xảy ra trong vùng.

“Rafto có một căn nhà gỗ trên đảo Finnøy, phải không?” Harry hỏi.

“Phải, đấy cũng có thể là nơi ẩn náu theo lẽ tự nhiên. Để suy xét mọi việc và rồi…” Müller-Nilsen đưa bàn tay to tổ chảng lên diễn tả hành động cứa cổ. “Chúng tôi đã lục soát căn nhà, tìm kiếm khắp hòn đảo bằng chó nghiệp vụ và lùng sục cả dưới nước. Chẳng thấy gì.”

“Tôi định đến đó xem qua.”

“Có gì đáng kể đâu mà xem. Gia đình tôi cũng có một căn nằm đối diện với nhà Rafto Sắt, tiếc là nó xuống cấp lắm rồi. Bà vợ ông ta nhất định không chịu từ bỏ căn nhà, thật đáng hổ thẹn. Bà ta có bao giờ ở đấy đâu.” Müller-Nilsen đưa mắt liếc đồng hồ. “Bây giờ tôi phải đi họp, một trong những sĩ quan cấp cao điều tra vụ này sẽ cùng cậu xem lại báo cáo.”

“Không cần đâu,” Harry nói, cúi nhìn tấm ảnh đặt trên đùi. Thốt nhiên, khuôn mặt trong ảnh bỗng trở nên quen thuộc lạ lùng, như thể anh mới trông thấy cách đây chưa lâu. Là ai đó cải trang chăng? Hay là người anh từng đi lướt qua trên phố? Một nhân vật đóng vai trò nhỏ bé mà anh không phát hiện ra, nhân viên giám sát đỗ xe rình mò trên phố Sofies, hay người bán hàng ở Vinmonopol? Harry đành chịu thua.

“Thế ra không phải là Gert à?”

“Anh bảo sao cơ?” Müller-Nilsen hỏi.

“Ông gọi ông ta là Rafto Sắt. Thế ra mọi người không gọi đơn giản là Gert hay sao?”

Müller-Nilsen ném cho Harry cái nhìn nghi hoặc, e dè bật ra tiếng cười khẽ, nhưng cuối cùng chỉ đáp lại bằng nụ cười nửa miệng. “Không, có lẽ ở đây chúng tôi chưa từng nghĩ tới điều đó.”

“Được rồi. Cảm ơn ông đã giúp đỡ.”

Đang trên đường ra về, Harry bỗng nghe thấy Müller- Nilsen gọi nên ngoái lại. Vị POB đứng ở cửa phòng làm việc phía cuối hành lang, tiếng nói dội lại giữa những bức tường trong thoáng chốc.

“Và tôi nghĩ Rafto cũng không thích bị gọi như thế đâu.”

Rời khỏi Sở Cảnh sát, Harry đứng đó nhìn khách bộ hành cúi rạp người gắng gượng bước đi giữa trời mưa gió. Cảm giác ấy vẫn không chịu buông tha cho anh. Cảm giác như có thứ gì hoặc người nào đó đang ở đâu đây, hiện hữu ngay trong nội bộ, nếu anh biết nhìn nhận mọi thứ từ một góc độ chuẩn xác, dưới ánh sáng minh bạch và rõ ràng.

Katrine tới đón Harry ở bến tàu như đã hẹn.

“Thứ này là tôi mượn của một người bạn,” cô nói trong lúc điều khiển thứ gọi là thuyền máy dài gần sáu mét rưỡi phóng ra khơi từ cửa cảng chật hẹp. Khi thuyền đi vòng qua bán đảo Nordnes, một âm thanh cất lên khiến Harry ngoái lại, và anh bắt gặp hình ảnh chiếc cột totem. Những khuôn mặt khắc trên gỗ đang ngoác miệng khản cổ gào thét về phía anh. Một luồng gió lạnh quét ngang qua chiếc thuyền.

“Bầy hải cẩu ở Thủy Cung kêu đấy,” Katrine nói.

Harry khép áo khoác chặt hơn quanh mình.

Finnøy là đảo nhỏ. Ngoài những cây thạch nam, chẳng còn loài thực vật nào tồn tại nổi trên khoảnh đất mưa dập gió vùi, nhưng ở đây lại có một bến tàu và Katrine neo thuyền vào đó một cách thuần thục. Khu nhà ở có cả thảy sáu mươi căn nhà gỗ bé như nhà búp bê, khiến Harry nhớ đến những ngôi lều của thợ mỏ anh từng thấy ở Soweto.

Katrine dẫn Harry bước trên con đường rải sỏi len lỏi giữa những căn nhà, rồi dừng lại phía trước một trong số đó. Căn nhà nổi bật hẳn lên nhờ lớp sơn bong tróc. Một ô kính trên cửa sổ đã rạn nứt. Katrine kiễng chân, nắm lấy chiếc đèn ốp trần lắp trên cửa ra vào và bắt đầu vặn. Bên trong vang lên tiếng lạo xạo khi cô xoay vỏ đèn và mấy con côn trùng chết rụng lả tả. Rơi xuống cùng chúng còn có một chiếc chìa khóa mà cô kịp bắt lấy trong không trung.

“Bà vợ cũ quý tôi lắm,” Katrine nói, tra chìa vào ổ.

Trong nhà có mùi nấm mốc và gỗ ẩm. Harry căng mắt ra nhìn giữa khung cảnh tranh tối tranh sáng và nghe thấy tiếng bật công tắc và đèn bừng sáng.

“Vậy là bà ấy vẫn duy trì hệ thống điện dù không sống ở đây,” anh nói.

“Điện dùng chung,” Katrine nói, chậm rãi nhìn quanh. “Chi phí đã có Sở Cảnh sát lo.”

Căn nhà gỗ rộng hai mươi lăm mét vuông, gồm một phòng khách kiêm luôn cả phòng bếp lẫn phòng ngủ. Trên mặt bàn bếp và bàn trà la liệt vỏ chai bia cũ. Bốn bức tường trống trơn, chẳng có đồ trang trí nào trên bậu cửa sổ hay sách vở gì trên giá.

“Nhà này còn có tầng hầm nữa,” Katrine nói và chỉ vào cánh cửa sập trên sàn. “Giờ đến phận sự của anh rồi đấy. Tiếp theo chúng ta làm gì đây?”

“Tìm thôi,” Harry đáp.

“Tìm gì?”

“Điều đó ta chưa cần quan tâm.”

“Vì sao?”

“Vì rất dễ bỏ sót chi tiết quan trọng nào đó nếu chỉ chăm chăm tìm kiếm thứ khác. Cứ để đầu óc thoải mái đi. Cô sẽ biết mình đang tìm gì khi cô thấy nó.”

“Được rồi,” Katrine đáp một cách thật chậm rãi.

“Cô tìm ở trên này nhé,” Harry nói, bước tới chỗ cửa sập và kéo cái vòng sắt gắn phía trên lên. Một chiếc cầu thang hẹp dẫn xuống khoảng không tối đen bên dưới. Anh hy vọng cô không nhận ra sự do dự nơi anh.

Những tấm mạng nhện khô của lũ nhện đã chết từ lâu dính vào mặt anh khi anh dấn thân xuống không gian ẩm thấp mù tối có mùi đất và mùi gỗ mục. Toàn bộ căn hầm nằm trọn trong lòng đất. Anh tìm thấy công tắc ở chân cầu thang và bật thử, nhưng chẳng có gì xảy ra. Thứ ánh sáng duy nhất dưới này là một đốm đỏ phía trên cái tủ đông lạnh kê sát tường bên. Anh bật đèn pin, luồng sáng rọi đúng vào cánh cửa kho chứa đồ.

Bản lề rít lên the thé khi anh mở cửa. Ra là một xưởng mộc chật chội với đủ thứ dụng cụ. Dành cho người đàn ông có tham vọng làm được điều gì đó hữu ích, Harry nghĩ thầm. Bên cạnh việc truy lùng những tên sát nhân.

Nhưng chỗ dụng cụ này trông có vẻ không được sử dụng thường xuyên cho lắm, hẳn là vì Rafto cuối cùng cũng nhận ra mình chẳng làm được việc gì khác; ông không phải tuýp người sáng tạo mà chỉ là người thu dọn sau khi xong việc. Một tiếng động đột ngột vang lên khiến Harry quay ngoắt lại. Rồi anh thở phào nhẹ nhõm khi nhận ra nhiệt kế của tủ đông lạnh đã kích hoạt chiếc quạt gió. Harry đi sang kho chứa đồ thứ hai. Một tấm vải phủ lên toàn bộ đồ đạc ở đây. Anh kéo tấm vải ra, mùi ẩm mốc xộc thẳng vào mũi anh. Luồng sáng đèn pin soi tỏ một chiếc ô mục nát, cái bàn nhựa, một chồng ngăn kéo tủ đông lạnh, mấy cái ghế nhựa bạc phếch và bộ dụng cụ chơi bóng cửa. Trong tầng hầm chẳng còn gì khác nữa. Anh nghe thấy tiếng Katrine lục lọi ở trên nhà và chuẩn bị đóng cửa kho. Có điều một trong mấy cái ngăn kéo tủ đông lạnh đã trượt xuống và nằm chình ình ở ngưỡng cửa khi anh bỏ tấm vải ra lúc ban nãy. Đang định lấy chân gạt nó về chỗ cũ thì anh bỗng dừng lại và quan sát. Dưới ánh sáng đèn pin anh có thể trông thấy những con chữ nổi ở cạnh bên của ngăn kéo. Electrolux. Anh bước tới chỗ bức tường, nơi quạt gió của tủ đông lạnh vẫn chạy ro ro. Chiếc tủ mang nhãn hiệu Electrolux. Anh nắm lấy tay cầm và kéo, nhưng cửa tủ chẳng hề nhúc nhích. Bên dưới tay cầm anh thấy một ổ khóa và hiểu ra cái tủ chỉ đơn giản là bị khóa. Anh đi vào kho dụng cụ để lấy xà beng. Anh quay lại vừa đúng lúc Katrine cũng bước xuống cầu thang.

“Trên kia chẳng có gì đâu,” cô nói. “Có lẽ chúng ta về thôi. Anh định làm gì đấy?”

“Xâm phạm tư gia,” Harry nói, kê đầu xà beng lên cửa tủ đông lạnh ngay phía trên ổ khóa. Anh lấy hết sức đè đầu kia xuống. Cũng không ăn thua. Anh bèn thay đổi cách cầm, tì một bàn chân vào cầu thang làm điểm tựa và bẩy mạnh.

“Chết tiệt…”

Vói một tiếng rắc khô khốc, cánh cửa bật tung làm Harry ngã dúi dụi. Anh nghe thấy chiếc đèn pin rơi xuống sàn gạch và cảm nhận cái lạnh ùa tới mình, như hơi thở của băng giá. Đang quờ quạng tìm đèn phía sau thì anh nghe thấy tiếng Katrine. Đó là âm thanh ghê rợn đến tận xương tủy, một tiếng thét cất lên từ sâu trong cổ họng rồi chuyển thành tiếng nức nở dồn dập, nghe như đang cười. Thế rồi âm thanh tắt lịm trong vài giây khi cô lấy hơi, sau đó tất cả lại bắt đầu, vẫn tiếng thét dai dẳng kéo dài chẳng khác gì bài lễ ca nghiêm trang và đau đớn của người phụ nữ khi chuyển dạ. Nhưng đến lúc này thì Harry đã kịp nhìn thấy tất cả và hiểu ra nguyên nhân. Cô hét lên như vậy là bởi suốt mười hai năm qua, chiếc tủ đông lạnh vẫn chạy tốt, ánh đèn trong tủ soi sáng một thứ bị tống vào đó, hai cẳng tay đặt phía trước, đầu gối gập lại, cái đầu bị bẻ ngoặt về một bên. Cái xác được bao bọc bởi những tinh thể băng trắng toát, như thể một lớp nấm mốc trắng đã ăn dần ăn mòn nó bấy lâu nay; thân xác biến dạng ấy chẳng khác nào hình ảnh minh họa cho tiếng thét của Katrine. Nhưng đó không phải là điều làm dạ dày Harry muốn lộn nhào. Vài giây sau khi chiếc tủ bị phá, thi thể đổ ập về phía trước, cái trán đập vào mép cửa khiến những tinh thể băng rơi ra khỏi khuôn mặt, rụng lả tả xuống sàn. Nhờ vậy Harry mới nhận ra Gert Rafto đang cười với họ. Thế nhưng nụ cười không nở trên khuôn miệng vốn đã bị khâu lại bằng sợi chỉ thô như sợi gai dầu theo đường dích dắc xuyên qua cặp môi. Nụ cười vắt ngang cằm và vòng lên tận hai bên má, được vẽ nên bởi một hàng đinh đen sì chỉ có thể do dùng búa đóng vào. Đặc điểm khiến Harry chú ý chính là cái mũi. Anh cố đè nén cơn buồn ói đang dâng lên như một hành động phản kháng mà thôi. Phần xương và sụn mũi được cắt bỏ trước. Khí lạnh đã rút sạch sắc màu của củ cà rốt. Người tuyết vậy là đã hoàn tất.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Jo Nesbø

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.