Người Tuyết

Lượt đọc: 116 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày thứ mười - 16
BI ĐÁ TRÊN BĂNG

❊ ❊ ❊

Đó là một buổi sáng lạnh căm ở Bygdøy, Asta Johannsen đến mở cửa câu lạc bộ bi đá trên băng lúc tám giờ, như thường lệ. Bà góa sắp bước sang tuổi bảy mươi tới đây dọn dẹp hai lần mỗi tuần, như vậy là quá đủ đối với căn nhà tư diện tích nhỏ chẳng ai dùng đến ngoài mấy người đàn ông, hơn nữa nơi này lại không có nhà tắm. Bà bật đèn lên. Trên bức tường gỗ ghép bày đủ loại cúp, bằng khen, cờ lưu niệm với những cụm từ bằng tiếng Latinh và nhiều bức ảnh đen trắng của những người đàn ông để râu, mặc trang phục vải tweed, vẻ mặt hãnh diện. Asta nghĩ họ trông thật khôi hài, giống như đám người săn cáo trên chương trình truyền hình của Anh nói về tầng lớp thượng lưu vậy. Bà đi qua cửa để tới phòng chơi bi đá, hơi lạnh bên trong khiến bà nhận ra họ đã quên tăng nhiệt độ của máy điều nhiệt cho băng, việc họ vẫn thường làm để tiết kiệm điện. Asta Johannsen bật công tắc, trong lúc những bóng đèn neon nhấp nháy, vật vã đưa ra quyết định có hoạt động hay không, bà đeo kính vào và thấy rằng nhiệt độ của các ống làm mát đúng là quá thấp và bà cho tăng lên.

Ánh đèn chiếu xuống mặt băng xám xịt. Qua cặp kính lão bà nhác thấy thứ gì đó ở phía cuối phòng, vậy là bà bỏ kính ra. Dần dần, thứ đó trở nên rõ ràng hơn. Là một người ư? Bà muốn đi qua lớp băng để tới bên kia, nhưng lại ngần ngừ. Asta Johannsen không phải người nhát cáy, nhưng bà sợ rằng một ngày nào đó rất có thể mình sẽ ngã gãy đùi trên băng và phải nằm chết gí một chỗ đợi đến khi bầy thợ săn cáo tìm thấy bà. Bà vớ lấy một trong mấy cây chổi dựng ở tường, dùng nó làm gậy chống và thật chậm rãi, rón rén bước trên mặt băng.

Người đàn ông nằm bất động ở phía cuối đường băng, đầu đặt ở chính giữa những vòng tròn. Quầng sáng màu trắng xanh tỏa ra từ đèn neon hắt xuống gương mặt đã cứng lại thành vẻ nhăn nhó. Gương mặt này có nét quen quen. Phải chăng ông ta là người nổi tiếng? Cặp mắt ngây dại như đang kiếm tìm thứ gì đó phía sau lưng bà, vượt xa những gì có ở đây. Bàn tay phải co cứng nắm lấy một ống tiêm rỗng bằng nhựa, bên trong còn sót lại dấu vết của dung dịch màu đỏ.

Asta Johannsen bình thản kết luận rằng mình chẳng thể làm được gì cho người này nữa, bà chỉ chú tâm bước cẩn thận trên băng để quay trở ra và đi tìm máy điện thoại gần nhất.

Sau khi gọi cho cảnh sát và chờ họ tới, bà trở về nhà nhâm nhi tách cà phê sáng.

Chỉ đến khi cầm tờ báo Aftenposten lên đọc, bà mới nhận ra người mình tìm thấy là ai.

Harry ngồi thụp xuống, quan sát đôi bốt của Idar Vetlesen.

“Chuyên gia pháp y nói sao về thời điểm tử vong?” anh hỏi Bjørn Holm đang đứng bên cạnh trong chiếc áo khoác denim lót vải lông trắng. Đôi bốt da rắn gần như không phát ra tiếng động khi bước trên băng. Chưa đầy một tiếng đồng hồ sau cuộc điện thoại của Asta Johannsen, đám phóng viên đã kéo đến bên ngoài dải băng đỏ cảnh sát chăng xung quanh câu lạc bộ bi đá.

“Anh ta bảo khó xác định,” Holm đáp. “Chỉ có thể ước lượng tốc độ giảm thân nhiệt của xác chết nằm trên băng trong một căn phòng ấm hơn nhiều thôi.”

“Nhưng hẳn phải có ước đoán chứ?”

“Đâu đó từ năm giờ đến bảy giờ tối hôm qua.”

“Ừm. Vậy là trước khi thời sự đưa tin về anh ta. Cậu kiểm tra ổ khóa rồi phải không?”

Holm gật đầu. “Loại Yale tiêu chuẩn. Cửa bị khóa lúc bà lao công đến dọn. Vừa rồi tôi có thấy anh quan sát đôi bốt. Tôi đã kiểm tra dấu giày. Khá chắc chắn là nó trùng với dấu giày chúng ta thu được ở Sollihøgda.”

Harry nhìn kỹ hình thù trên mặt đế. “Vậy cậu cho rằng đây là kẻ chúng ta cần tìm?”

“Phải, tôi cho là thế.”

Harry gật đầu, chìm trong suy tư. “Theo cậu, có thể nào Vetlesen thuận tay trái không?”

“Chắc không đâu. Như anh thấy đây, anh ta cầm ống tiêm bằng tay phải kìa.”

Harry gật. “Đúng vậy. Nhưng cứ kiểm tra đi nhé.”

Harry chưa bao giờ thực sự được nếm trải cảm giác mãn nguyện khi đến một ngày, những vụ án anh phụ trách cuối cùng cũng đi tới một kết luận, án được phá xong, kết thúc. Trong suốt thời gian điều tra, đó chính là mục tiêu anh hướng tới, thế nhưng khi mục tiêu đã hoàn thành, anh chỉ biết một điều rằng mình vẫn chưa tới được điểm cuối của cuộc hành trình. Hay đây không phải cái kết anh vẫn hình dung. Không rõ mọi chuyện đã thay đổi hay anh thay đổi, hay gì nữa thì chỉ Chúa biết. Vấn đề nằm ở chỗ, anh cảm thấy thật trống rỗng, thành công chẳng có hương vị như hứa hẹn, việc bắt được kẻ có tội luôn kéo theo vô vàn câu hỏi: Rồi sao?

Lúc này là bảy giờ tối, quá trình thẩm vấn nhân chứng đã hoàn tất, chứng cứ pháp y được thu thập đầy đủ, buổi họp báo cũng đã kết thúc, không khí tiệc tùng bắt đầu lan tỏa khắp các hành lang trong phân khu của Đội Hình sự. Hagen đã đặt bánh ngọt với bia và cho gọi hai tổ điều tra của Lepsvik và Harry tới để nội bộ ăn mừng chiến thắng ở phòng K1.

Harry ngồi trên ghế ngó miếng bánh to tướng ai đó đặt lên đùi anh. Anh lắng nghe giọng nói của Hagen, tiếng cười và tiếng vỗ tay. Có người đẩy nhẹ lưng anh khi đi qua, nhưng nói chung họ để anh một mình. Tiếng nói chuyện rì rầm vang vọng quanh anh.

“Thằng khốn đó đúng là hèn. Sợ co vòi khi biết cảnh sát truy ra mình.”

“Hắn đã lừa chúng ta.”

“Chúng ta? Ý anh là đội Lepsvik các anh chứ…?”

“Nếu bắt sống được hắn, tòa sẽ phán hắn bị tâm thần và rồi…”

“Ta nên vui mừng mới phải. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng chẳng có chứng cứ thuyết phục, chỉ có chứng cứ gián tiếp thôi.”

Giọng Espen Lepsvik oang oang từ bên kia phòng. “Được rồi, anh em, im nào! Một đề xuất đã được nêu và được thông qua, đó là tám giờ tối nay cả hội sẽ tụ tập ở bar Fenris để cùng nhậu tới bến. Và đây là lệnh. Thế nào?”

Tiếng hò reo ầm ĩ.

Harry đặt đĩa bánh xuống bàn, đang định đứng lên thì anh cảm thấy bàn tay ai đó nhẹ nhàng đặt lên vai mình. Ra là Holm.

“Tôi đã kiểm tra rồi. Như tôi đã nói, Vetlesen thuận tay phải.”

Có tiếng bọt khí xèo xèo của chai bia vừa được mở, và Skarre đã bắt đầu ngà ngà say, đến khoác vai Holm.

“Nghe nói người thuận tay phải sống thọ hơn người thuận tay trái. Cơ mà hóa ra lại chả đúng với Vetlesen nhỉ? Ha ha ha!”

Nói xong, Skarre rời đi để chia sẻ mẩu thông tin nho nhỏ này với người khác, Holm hỏi Harry, “Anh về đây à?”

“Tôi đi dạo. Có thể lát nữa sẽ gặp các cậu ở Fenris.”

Harry sắp ra đến cửa thì bị Hagen giữ lại.

“Tốt nhất đừng ai về vội,” ông ta nói khẽ. “Cảnh sát trưởng nhắn là sẽ đến và nói đôi lời với cả đội.”

Harry nhìn Hagen rồi anh nhận ra ánh mắt mình hẳn đã để lộ điều gì đó, bởi lẽ Hagen vội buông cánh tay anh ra như phải bỏng.

“Tôi đi vệ sinh thôi,” Harry nói.

Hagen nở nụ cười thoáng qua và gật đầu.

Harry quay về văn phòng của mình, lấy áo khoác rồi thủng thẳng đi xuống, rời khỏi Sở Cảnh sát và tản bộ trên phố Grønlandsleiret. Một vài bông tuyết lơ lửng trong không trung, ánh đèn nhấp nháy trên ngọn núi Ekeberg, tiếng còi hụ lúc trầm lúc bổng như bài hát xa thẳm của một chú cá voi. Có hai người Pakistan đang tranh luận bên ngoài mấy cửa hiệu địa phương, mặc cho tuyết cứ thế rơi trên những trái cam, và một gã say ngất ngư ca bài hò của thủy thủ ở quảng trường Grønlands. Harry cảm thấy những sinh vật bóng tối đang hít hà đánh hơi, tự hỏi liệu đã đến lúc thích hợp để lộ diện hay chưa. Chao ôi, anh yêu thành phố này biết mấy.

“Con ở đây à?”

Eli Kvale ngạc nhiên khi thấy cậu con trai Trygve đang ngồi bên chiếc bàn trong bếp đọc tạp chí. Tiếng radio vang lên đều đều làm nền.

Cô định hỏi sao nó không ngồi trong phòng khách với bố, nhưng rồi cô chợt hiểu ra, cũng có thể là thằng bé muốn nói chuyện với cô lắm chứ. Có điều không phải vậy. Cô rót cho mình một tách trà rồi ngồi xuống lặng ngắm cậu con trai. Thằng bé quả là ưa nhìn. Trước đây cô luôn cho rằng nó sẽ rất xấu xí, nhưng cô đã nhầm.

Người trên radio nói đàn ông không còn là nguyên nhân khiến phụ nữ trên đất nước này không có cơ hội góp mặt trong các ban quản trị; nhiều công ty đang gặp khó khăn trong việc tuyển đủ hạn mức nhân viên nữ theo quy định của pháp luật, bởi phần lớn phụ nữ dường như đều có chung mối ác cảm thâm căn cố đế đối với những vị trí dễ khiến họ bị chỉ trích, gặp nhiều thách thức trong công việc hoặc không có ai để mà núp bóng.

“Bọn họ chẳng khác gì bầy con nít khóc lóc đòi bằng được một hạt dẻ, nhưng đến khi có mà cho vào miệng rồi thì lại nhổ ra,” người đó nói. “Một cảnh tượng nhìn hết sức khó chịu. Đã đến lúc phụ nữ chịu ít trách nhiệm và chứng tỏ bản lĩnh của mình.”

Đúng vậy, Eli nghĩ thầm. Đã đến lúc rồi.

“Hôm nay có người bắt chuyện với con ở siêu thị ICA,” Trygve nói.

“Vậy sao?” Eli nói, tim thót lên tận cổ.

“Người đó hỏi con có phải con trai của bố mẹ không.”

“Ừm,” Eli đáp khẽ, rất khẽ, cảm thấy đầu óc quay cuồng. “Vậy con trả lời thế nào?”

“Còn thế nào được nữa ạ?” Trygve ngẩng lên khỏi tờ tạp chí. “Dĩ nhiên con đáp là, đúng vậy.”

“Và người đàn ông hỏi con câu đó, ông ta là ai?”

“Có chuyện gì vậy mẹ?”

“Ý con là sao?”

“Mặt mẹ tái nhợt kìa.”

“Không có gì đâu, con yêu. Ông ta là ai?”

Trygve cúi đầu đọc tiếp. “Con có nói người hỏi là đàn ông đâu.”

Eli đứng dậy, vặn nhỏ radio xuống trong lúc một giọng nữ lên tiếng cảm ơn Bộ trưởng Bộ Công nghiệp và Arve Støp đã tham gia tranh luận. Cô nhìn đăm đăm vào bóng tối, nhìn những bông tuyết xoay tròn đó đây, phiêu du trong vô định, chẳng cần tuân theo tác động của trọng lực lẫn ý muốn của bản thân. Chúng sẽ rơi xuống bất cứ nơi đâu bàn tay của số phận sắp đặt. Và sau đó chúng sẽ tan chảy và biến mất. Ý nghĩ đó khiến cô cảm thấy bình yên lạ.

Eli húng hắng ho.

“Sao thế ạ?” Trygve hỏi.

“Không có gì đâu,” cô nói. “Chắc là mẹ bị cảm rồi.”

Harry thả mình vô định, đôi chân nhẹ lướt trên những con phố ở Oslo mà chẳng tuân theo ý muốn cụ thể nào. Chỉ đến khi dừng lại trước khách sạn Leon thì anh mới nhận ra đó là nơi mình định tới. Gái điếm và lũ buôn ma túy đã giạt về cắm chốt ở những con phố kế bên. Lúc này đang là giờ cao điểm. Khách hàng thích giải quyết nhu cầu thể xác và ma túy trước nửa đêm hơn.

Harry bước tới quầy lễ tân và thấy vẻ khiếp đảm trên khuôn mặt Børre Hansen, anh hiểu ông ta đã nhận ra mình.

“Chúng ta thỏa thuận rồi cơ mà!” ông chủ khách sạn kêu lên the thé, đưa tay quệt mồ hôi trán.

Harry không hiểu vì sao những gã kiếm sống dựa trên ham muốn của người khác dường như lúc nào cũng nhớp nhúa mồ hôi, nó giống như vỏ bọc của nỗi hổ thẹn giả tạo, hổ thẹn bới sự vô liêm sỉ của mình.

“Đưa chìa khóa phòng ông bác sĩ cho tôi,” Harry nói. “Tối nay ông ta không đến đâu.”

Ba mặt tường phòng được dán giấy dán tường từ thập niên bảy mươi với những họa tiết thức thần màu nâu và cam, còn tường phòng tắm chính lại được sơn đen, chi chít vết nứt và mảng xám ở những chỗ thạch cao bong tróc. Chiếc giường đôi trũng xuống ở giữa. Thảm trải sàn làm từ [1] cứng đanh. Harry đoán là để chống nước và chống tinh dịch. Anh bỏ cái khăn tay cũ sờn trên chiếc ghế ở cuối giường ra và ngồi xuống. Lắng nghe những tiếng rì rầm háo hức trong thành phố và cảm thấy bầy chó đã trở lại. Chúng thi nhau cắn đớp và sủa ran, kéo căng sợi xích sắt, gào lên: chỉ một ly thôi, một liều thôi, rồi chúng tôi sẽ trả lại sự bình yên cho anh và phủ phục dưới chân anh. Harry không có tâm trạng nào để cười, thế nhưng tiếng cười vẫn bật ra. Quỷ dữ phải bị thanh trừ, nỗi đau sẽ được vùi lấp. Anh châm một điếu thuốc. Làn khói cuộn lên bay về phía chiếc đèn có chụp bằng giấy.

Idar Vetlesen đã phải vật lộn với thứ ma quỷ gì? Anh ta mang theo chúng đến đây, hay căn phòng này là nơi trú ẩn, là thiên đường bình yên? Có lẽ anh đã tìm ra cho mình một vài câu trả lời, nhưng chừng đó vẫn chưa đủ. Không bao giờ là đủ. Chẳng hạn như sự điên rồ và cái ác có phải là hai phạm trù khác nhau, hay cứ khi nào không hiểu nổi mục đích của việc giết chóc thì ta mặc nhiên quy kết nó là điên rồ. Ta có thể hiểu lý do một người muốn ném bom nguyên tử xuống thành phố toàn những người dân vô tội, nhưng lại không hiểu vì sao kẻ khác muốn phanh thây những gái điếm gieo rắc bệnh dịch và sự suy đồi trong những khu ổ chuột ở London. Bởi vậy ta mới gọi trường hợp thứ nhất là chủ nghĩa hiện thực còn trường hợp thứ hai là sự điên rồ.

Lạy Chúa, lúc này anh muốn uống một ly xiết bao. Chỉ một ly thôi để những nỗi đau, những gì trải qua ngày hôm nay, đêm hôm nay, được xoa dịu đi phần nào.

Bỗng có tiếng gõ cửa vang lên.

“Gì?” Harry quát lớn và chính anh cũng giật thót khi nghe thấy cơn giận chất chứa trong giọng mình.

Cửa mở và khuôn mặt của một người da đen hiện ra trước mắt anh. Anh nhìn người đó một lượt. Bên dưới mái đầu và cái cổ rắn rỏi tuyệt đẹp, cô ta mặc chiếc áo khoác ngắn ngủn, ngắn đến nỗi để lộ cả những ngấn mỡ tràn ra phía trên chiếc quần bó sát.

“Bác sĩ?” cô ta hỏi bằng tiếng Anh. Cách nhấn trọng âm ở âm tiết thứ hai khiến từ đó nghe như từ tiếng Pháp vậy.

Anh lắc đầu. Cô ta nhìn anh. Rồi cửa đóng lại và cô ta đi mất.

Harry chững lại mất mấy giây rồi mới đứng dậy khỏi ghế và ra mở cửa. Người phụ nữ đã đi đến cuối hành lang.

“Cô ơi!” Harry gọi to bằng tiếng Anh. “Phiền cô quay lại đây.”

Cô ta dừng bước, nhìn anh bằng ánh mắt dè chừng.

“Hai trăm krone,” cô ta nói. Trọng âm nhấn vào âm tiết cuối.

Harry gật đầu.

Cô ta ngồi xuống giưòng và lắng nghe những câu hỏi của anh với vẻ bối rối. Anh hỏi cô về Bác sĩ, gã đàn ông độc ác. Về những cuộc truy hoan với vài phụ nữ. Về những đứa trẻ hắn muốn họ dẫn đến. Và cứ mỗi khi nghe xong một câu, cô đều lắc đầu tỏ ý không hiểu. Cuối cùng, cô hỏi anh có phải là cảnh sát không.

Harry gật đầu.

Cô nhíu mày. “Sao anh hỏi những câu đó? Bác sĩ đâu?”

“Bác sĩ giết người,” Harry nói.

Cô nhìn anh đầy ngờ vực. “Không đúng,” cuối cùng cô nói.

“Tại sao?”

“Vì Bác sĩ là người tốt. Ông ấy giúp chúng tôi.”

Harry hỏi Bác sĩ giúp họ thế nào. Và rồi đến lượt anh ngồi đó nghe người phụ nữ da đen kể rằng vào thứ Hai và thứ Năm hằng tuần, Bác sĩ mang theo chiếc túi đến căn phòng này, nói chuyện với họ, bảo họ vào phòng tắm và lấy mẫu nước tiểu, rồi lại lấy máu để xét nghiệm xem họ có mắc bệnh xã hội không. Ông ấy phát thuốc và điều trị cho họ nếu họ mắc bệnh hoa liễu thông thường. Đưa cho họ địa chỉ bệnh viện để họ đến khám nếu mắc bệnh kia, Đại dịch thế kỷ. Nếu họ còn gặp phải vấn đề nào khác, ông ấy cũng sẽ cho thuốc uống. Bác sĩ không bao giờ lấy tiền công, chỉ yêu cầu họ một điều duy nhất là phải hứa không được nói với bất cứ ai khác ngoài những người cùng hành nghề với mình trên phố. Vài phụ nữ có con ốm cũng mang con đến để Bác sĩ khám, nhưng lại bị chủ khách sạn đuổi đi.

Harry vừa hút thuốc vừa lắng nghe. Vậy ra đây chính là ham thú của Vetlesen ư? Một sự đối nghịch của cái ác, sự cân bằng thiết yếu. Hay nó chỉ càng củng cố cho cái ác, khiến cái ác thêm nổi bật? [2] chẳng phải cũng được tiếng rất thương trẻ con đó sao.

Lưỡi anh mỗi lúc một phồng lên trong miệng; nó sẽ khiến anh chết ngạt nếu anh không sớm uống một ly.

Người phụ nữ đã ngừng nói. Cô nghịch nghịch tờ hai trăm krone trong tay.

“Bác sĩ sẽ quay lại chứ?” cuối cùng cô hỏi.

Harry mở miệng định đáp, nhưng cái lưỡi không cho phép anh lên tiếng. Điện thoại di động của anh đổ chuông và anh nghe máy.

“Hole nghe.”

“Harry đấy à? Oda Paulsen đây. Anh còn nhớ tôi không?”

Anh không nhớ; vả lại, giọng cô ta có vẻ trẻ quá.

“Tôi ở đài NRK,” cô ta nói. “Lần trước tôi đã mời anh tham dự chương trình Bosse.”

Cái cô tổng hợp tin. Trò mỹ nhân kế.

“Không biết anh có muốn tham gia chương trình lần nữa không, ngày mai sẽ quay. Chúng tôi muốn tìm hiểu thêm về thắng lợi trong chuyên án Người tuyết. Đúng là hắn đã chết, nhưng không sao. Chúng tôi vẫn muốn biết những tâm tư, suy nghĩ của con người này. Nếu có thể gọi hắn như thế…”

“Không,” Harry nói.

“Sao cơ?”

“Tôi không muốn tham gia.”

“Đây là chương trình Bosse,” Oda Paulsen nói, giọng nói chất chứa nỗi ngạc nhiên thực sự. “Trên đài NRK đấy nhé.”

“Không.”

“Nhưng nghe này, Harry, chẳng lẽ anh không thấy thú vị khi nói về…”

Harry ném bay cái điện thoại về phía bức tường đen sì. Một mẩu thạch cao tróc ra và rơi xuống sàn.

Harry vùi đầu vào hai bàn tay, cố giữ cho nó khỏi vỡ tung. Anh nhất định phải uống thứ gì đó. Gì cũng được. Khi ngẩng lên, anh thấy trong phòng chỉ còn lại mình mình.

Có lẽ điều này sẽ chẳng xảy ra nếu ở bar Fenris không phục vụ rượu. Nếu Jim Beam không nằm trên hàng kệ phía sau nhân viên quầy rượu, gào thét bằng giọng khàn đặc nồng nặc mùi whiskey, nói với anh về cảm giác tê liệt và sự giải thoát: “Harry! Lại đây, ta cùng ôn lại kỷ niệm cũ. Về những bóng ma đáng sợ chúng ta đã xua tan, những đêm chúng ta ngon giấc.”

Nhưng mặt khác, có lẽ anh chẳng thể nào tránh được.

Harry hầu như không nhận thức được sự có mặt của các đồng nghiệp, và bọn họ cũng chẳng để ý đến anh. Khi anh bước vào quán bar màu mè với không gian nội thất hệt như một chiếc phà Đan Mạch đỏ lòe, mọi người đã nhập cuộc từ lâu. Họ bá vai bá cổ, hò hét và phả hơi rượu vào mặt nhau, ông ổng hát theo Stevie Wonder người tự nhận mình gọi điện chỉ để nói yêu bạn mà thôi. Tựu trung lại là với cách nói năng, cư xử ấy, trông bọn họ chẳng khác gì đội bóng đá vừa giành cúp vô địch. Đến khi Stevie Wonder kết thúc bài ca bằng cách tuyên bố lời tỏ tình của mình xuất phát từ sâu thẳm con tim thì ly rượu thứ ba cũng được đặt xuống trước mặt Harry trên quầy bar.

Ly đầu tiên đã làm tê mọi thứ; anh không thở nổi và thầm nghĩ chắc cảm giác khi tiêm carnadrioxide cũng giống thế. Ly thứ hai suýt nữa khiến dạ dày anh đảo lộn. Nhưng cơ thể anh nhanh chóng hồi lại sau cơn sốc đầu tiên và biết rằng những gì nó đòi hỏi bấy lâu nay đã được đáp ứng. Giờ thì nó đáp lại anh bằng lời rủ rỉ dễ chịu. Cảm giác ấm nóng lan khắp cơ thể anh. Chẳng khác nào lạc vào cõi thiên thai.

“Anh uống rượu đấy à?”

Katrine đang đứng bên cạnh anh.

“Ly cuối rồi,” Harry đáp, lưỡi anh không còn cảm giác sưng phồng mà mềm mại, linh hoạt. Rượu vào khiến lời ra trôi chảy hơn. Người khác khó lòng nhận ra anh đang say, nếu anh uống đến một giới hạn nhất định. Chính nhờ thế mà đến giờ anh vẫn giữ được công việc này.

“Cuối đâu mà cuối,” Katrine nói. “Ly đầu tiên thì có.”

“Đó là một trong những nguyên tắc của Hội Những người nghiện rượu vô danh.” Harry ngước nhìn cô. Đôi mắt xanh biếc, cánh mũi nhỏ, đôi môi đầy đặn. Chúa ơi, trông cô mới tuyệt vời làm sao. “Cô cũng nghiện rượu à, Katrine Bratt?”

“Bố tôi trước đây mới nghiện.”

“Ừm. Có phải vì thế mà cô không muốn ghé thăm họ ở Bergen?”

“Anh tránh ghé thăm người khác vì họ có bệnh ư?”

“Tôi không biết. Tuổi thơ của cô có thể không hạnh phúc vì có người bố như thế hoặc lý do nào đó tương tự.”

“Tôi không hạnh phúc chẳng thể là do bố tôi được. Mà tôi sinh ra đã thế rồi.”

“Không hạnh phúc ư?”

“Có lẽ. Anh thì sao?”

Harry so vai. “Còn phải nói.”

Katrine nhấp đồ uống của mình, ly nước sáng óng ánh. Sáng theo kiểu vodka, không phải màu xám của gin, anh nhận thấy thế.

“Vậy nguồn cơn nỗi bất hạnh của anh là gì hả Harry?”

Câu trả lời thốt ra khi anh còn chưa kịp nghĩ kỹ. “Yêu một người yêu tôi.”

Katrine bật cười. “Tội chưa. Thuở mới vào đời anh cũng ngây thơ yêu đời phơi phới nhưng sau này vỡ mộng à? Hay là ngay từ đầu anh đã thế rồi?”

Harry đăm đăm nhìn chất lỏng màu nâu vàng trong ly của mình. “Đôi lúc tôi cũng tự hỏi như vậy. Nhưng không thường xuyên lắm. Tôi cố gắng nghĩ đến những điều khác.”

“Điều gì?”

“Điều khác.”

“Vậy đôi lúc anh có nghĩ đến tôi không?”

Có người bỗng va phải cô và cô xích lại gần hơn. Hương nước hoa của cô hòa với mùi thơm của Jim Beam.

“Không bao giờ,” anh đáp, vớ lấy ly rượu và ngửa cổ uống liền một hơi. Anh dõi mắt về phía trước, nhìn vào tấm gương phía sau kệ rượu, trên đó anh trông thấy Katrine Bratt và Harry Hole đang đứng quá gần nhau. Cô nhoài người tới.

“Anh nói dối, Harry.”

Anh quay sang nhìn cô. Trong đôi mắt cô dường như đang có ngọn lửa âm ỉ cháy, ánh lên sắc vàng mờ ảo tựa ánh đèn của chiếc ô tô từ từ hiện ra trong màn sương. Hai cánh mũi nở rộng, cô đang thở dốc. Hơi thở thơm ngát như thể cô vừa nếm lát chanh trong ly vodka.

“Hãy nói cho tôi biết, thật chi tiết, điều anh thực sự muốn làm ngay bây giờ.” Giọng cô bỗng khàn đi. “Tất cả. Và lần này đừng có nói dối nữa.”

Tâm trí anh bỗng nhớ lại lời đồn đại mà Espen Lepsvik đã kể, về những sở thích của vợ chồng Katrine. Nhảm nhí, nhớ lại cái gì chứ, ý nghĩ đó vốn đã ngự trị ở ngay vỏ não anh suốt thời gian qua thì có. Anh hít một hơi. “Được rồi, Katrine. Tôi là người đàn ông đơn giản có nhu cầu đơn giản.”

Cô ngả đầu ra sau giống như một sinh vật chuẩn bị chứng tỏ sự quy phục. Anh giơ chiếc ly của mình lên. “Tôi muốn uống rượu.”

Katrine đổ người về phía Harry khi một đồng nghiệp vấp chân đẩy cô từ sau. Harry vội đưa tay kia đỡ lấy phần thân bên trái của cô, nhờ thế cô mới không ngã. Mặt cô nhăn lại vì đau.

“Xin lỗi,” anh nói. “Bị thương à?”

Cô ôm lấy mạng sườn. “Do đấu kiếm ấy mà. Không có gì đâu. Xin lỗi nhé.”

Cô quay lưng lại với anh và xăm xăm đi qua chỗ các đồng nghiệp. Anh thấy vài gã đưa mắt nhìn theo cô. Cô vào nhà vệ sinh. Harry nhìn quanh phòng một lượt và thấy Lepsvik quay đi khi ánh mắt hai người giao nhau. Anh không thể ở lại đây thêm nữa. Thiếu gì chỗ khác để anh và Jim tâm sự. Anh trả tiền và chuẩn bị ra về. Dưới đáy ly vẫn còn sót lại chút rượu. Có điều Lepsvik và hai đồng nghiệp đang quan sát anh từ bên kia quán bar. Anh chỉ cần kiềm chế một chút thôi. Harry muốn bước đi lắm, nhưng hai chân anh đã dính chặt xuống sàn như bị đóng đinh. Anh cầm lấy ly rượu, đưa lên miệng và uống cạn.

Không khí lạnh lẽo ban đêm ve vuốt làn da nóng bỏng quả là một cảm giác tuyệt diệu. Anh thật muốn ôm lấy thành phố này mà hôn.

Khi về đến nhà Harry định tự sướng ở bồn rửa, thế nhưng anh lại nôn thốc nôn tháo rồi sau đó ngước nhìn cuốn lịch đóng đinh treo bên dưới tủ bếp. Rakel đã tặng nó cho anh hồi Giáng sinh cách đây mấy năm. Trên lịch có ảnh của ba người họ. Mỗi tháng một bức. Tháng Mười một. Rakel và Oleg đang cười với anh trên nền vàng của lá thu và sắc xanh nhạt của bầu trời. Chiếc váy Rakel đang mặc cũng có màu thanh thiên nhạt điểm những bông hoa trắng nho nhỏ. Đó là lần đầu tiên cô mặc chiếc váy ấy. Và anh quyết định đêm nay anh sẽ mơ mình hóa thành bầu trời. Rồi anh mở tủ bên dưới bàn bếp, gạt đi những vỏ chai Coke rỗng khiến chúng đổ loảng xoảng, và kia, ở phía trong cùng, là nó. Chai Jim Beam vẫn còn nguyên. Harry chưa bao giờ mạo hiểm đến mức không thủ sẵn rượu ở nhà, ngay cả những lúc anh tỉnh táo nhất đi chăng nữa. Vì anh biết mình dám làm những gì để có được nó một khi con nghiện trỗi dậy. Anh vuốt cái nhãn trên chai như muốn trì hoãn điều tất yếu. Rồi anh mở nút. Bao nhiêu thì đủ đây? Bên trong ống tiêm Vetlesen đã dùng vẫn còn sót lại một lớp chất độc màu đỏ, chứng tỏ nó được bơm đầy ống. Sắc đỏ hệt như yên chi vậy. Yên chi yêu dấu của anh.

Anh hít một hơi và đưa chai lên. Kề vào miệng, cảm thấy toàn thân căng ra, chuẩn bị đón nhận cơn sốc. Rồi anh uống. Uống một cách tham lam và tuyệt vọng như muốn nhanh chóng kết thúc cho xong. Những tiếng ừng ực vang lên nghe như tiếng nức nở nghẹn ngào.

❀ ❀ ❀

[1] Bông chọc là sản phẩm được làm từ bông thô sợi ngắn chưa xe, người làm dùng những cây kim chuyên dụng có nhiều khía ở đầu để chọc bông, các khía này sẽ kéo các sợi bông vào với nhau và tạo thành sản phẩm.

[2] Josef Mengele (1911-1979) là bác sĩ tàn bạo làm việc cho Đức Quốc xã, thành viên của nhóm bác sĩ đã sát hại những người Do Thái tại trại tập trung Auschwitz trong Thế chiến II.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Jo Nesbø

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.