Bầu không khí rộn ràng, háo hức đang lan tỏa bên dưới những ngọn đèn chùm trong phòng Sonja Henie của khách sạn Plaza. Arve Støp đứng ở ngưỡng cửa nãy giờ để đón khách. Quai hàm ông ta mỏi nhừ do liên tục phải tươi cười niềm nở, và việc chào hỏi quá nhiều người đã khiến triệu chứng khuỷu tay tennis lại bắt đầu phát tác. Một phụ nữ trẻ của bên công ty tổ chức sự kiện, người phụ trách hậu cần, lướt đến bên ông ta và mỉm cười thông báo khách khứa đã an tọa. Bộ vét đen trung tính và tai nghe đi kèm với một chiếc micro gần như vô hình của cô khiến ông ta liên tưởng đến hình ảnh nữ đặc vụ trong phim Nhiệm vụ bất khả thi.
“Chúng ta chuẩn bị vào thôi,” cô nói, chỉnh lại chiếc nơ bướm trên cổ ông ta với một động tác thân thiện, gần như dịu dàng.
Cô có đeo nhẫn cưới. Cô uốn éo đi vào trong phòng trước mặt ông ta. Cái hông kia đã sinh nở lần nào chưa nhỉ? Chiếc quần đen ôm sát lấy cặp mông săn chắc nhờ chăm chỉ tập luyện, và Arve Støp tưởng tượng ra cặp mông ấy khi không còn chiếc quần ôm, trước mặt ông ta trên chiếc giường trong căn hộ ở Aker Brygge. Nhưng cô có vẻ chuyên nghiệp quá. Dây vào sẽ rất lằng nhằng. Sẽ phải à ơi mồi chài gãy lưỡi. Bắt gặp ánh mắt cô qua tấm gương lớn bên cạnh cửa, ông ta biết mình đã lộ tẩy và nở nụ cười tươi rói để xin lỗi. Cô bật cười cùng lúc với sắc hồng nhẹ hơi thiếu chuyên nghiệp bỗng ửng lên trên đôi má. Nhiệm vụ bất khả thi ư? Còn lâu. Nhưng không phải tối nay.
Bảy người cùng bàn đồng loạt đứng dậy khi ông ta xuất hiện. Đối tượng được ông ta chọn để sánh đôi là phó ban biên tập của mình. Một lựa chọn nhàm chán nhưng cần thiết. Cô ta đã có chồng con và có gương mặt tàn tạ của người làm việc mười hai đến mười bốn tiếng mỗi ngày. Tội nghiệp lũ trẻ. Và tội nghiệp cho cả ông chồng khi đến một ngày cô ta nhận ra cuộc sống còn nhiều thứ khác nữa chứ không chỉ có tạp chí Liberal. Cả bàn cùng đồng loạt nâng ly chúc mừng Støp và trong lúc đó, ông ta đưa mắt nhìn quanh phòng. Kim sa, trang sức và bao đôi mắt cười ngời sáng lung linh dưới ánh đèn. Và cả những bộ đầm. Không quai, không vai, không lưng, không ý tứ.
Thế rồi âm nhạc nổi lên. Những giai điệu hùng tráng của bản giao hưởng Also Sprach Zarathustra bùng nổ qua dàn loa phát thanh. Trong buổi họp với công ty tổ chức sự kiện, Arve Støp đã chỉ ra rằng bản nhạc mở màn này không thực sự độc đáo mà mang tính chất khoa trương và khiến ông ta liên tưởng đến sự sáng tạo ra loài người. Nhưng hóa ra mục đích của họ lại chính là như vậy.
Trên sân khấu lớn, xuất hiện giữa làn khói và ánh sáng là một ngôi sao truyền hình, người đã đòi và được nhận mức cátxê tới sáu con số để đảm nhiệm vai trò dẫn chương trình cho sự kiện.
“Xin kính chào quý vị!” anh ta nói oang oang vào cái micro không dây cỡ lớn, thứ khiến Støp liên tưởng đến một dương cụ to tướng, dựng đứng. “Rất hân hạnh!” Cặp môi nổi tiếng của ngôi sao gần chạm vào thứ của quý đen sì. “Hân hạnh chào mừng quý vị đến với một buổi tối tôi đảm bảo sẽ vô cùng đặc biệt!”
Mới đó mà Arve Støp đã sốt ruột mong cho tất cả mau chóng kết thúc.
Harry chăm chăm nhìn những tấm ảnh trên giá sách ở văn phòng, nhìn Hội Cảnh sát Quá cố. Anh cố gắng nghĩ nhưng đầu óc cứ quay cuồng, không sao tìm được một điểm tựa, một hình ảnh tổng thể. Suốt thời gian qua anh luôn cảm thấy như có kẻ đang thâm nhập nội bộ, kẻ nắm được mọi hành động của anh. Nhưng anh chưa từng nghĩ mọi chuyện sẽ như thế này. Thật dễ dàng đến không tưởng. Và đồng thời cũng phức tạp đến không ngờ.
Knut Müller-Nilsen nói với anh rằng Katrine được coi là một trong những thanh tra giàu tiềm năng nhất Đội Hình sự của Sở Cảnh sát Bergen, một ngôi sao đang lên. Chưa bao giờ để xảy ra vấn đề gì. Tuy đúng là đã có một sự cố khiến cô nộp đơn xin chuyển sang Đơn vị Phòng chống Tội phạm Tình dục. Nhân chứng của một vụ án cũ đã gọi điện khiếu nại vì Katrine Bratt vẫn tiếp tục tìm đến tận nhà để bắt ông ta trả lời những câu hỏi mới. Cô không chịu buông tha dù ông ta nói rất rõ rằng mình đã khai với cảnh sát rồi. Từ đó mới lộ ra là Katrine đã một mình điều tra vụ án này suốt nhiều tháng qua mà không thông báo với cấp trên. Mọi việc cô đều giải quyết trong thời gian rảnh rỗi nên thường thì cũng chẳng có vấn đề gì, nhưng riêng vụ này họ không muốn cô đào xới lại. Khi bị nhắc nhở, cô phản ứng lại bằng cách chỉ ra vài sai phạm trong công tác điều tra ban đầu, nhưng chẳng ai chịu lắng nghe nên cô tức giận xin chuyển công tác.
“Vụ án này hẳn đã khiến cô ấy bị ám ảnh,” đó là điều cuối cùng Müller-Nilsen nói với anh. “Theo như tôi nhớ, cũng vào khoảng thời gian đó chồng Katrine đã bỏ cô ấy.”
Harry đứng dậy, đi ra hành lang và tới trước phòng làm việc của Katrine. Cửa bị khóa theo đúng quy định của văn phòng. Anh tiếp tục đi tới phòng photocopy. Trên hàng kệ dưới cùng, cạnh những chồng giấy viết, anh lôi ra cái máy xén giấy có đế bằng sắt to nặng và lưỡi dao bên trên. Anh nhớ là cái máy to tướng này chưa từng được sử dụng thì phải, nhưng giờ đây anh thận trọng dùng cả hai tay bê nó trên hành lang, tới trước cửa văn phòng của Katrine.
Anh giơ máy xén giấy lên cao quá đầu và nhắm cho chuẩn. Sau đó anh dùng sức giáng mạnh xuống.
Cái máy nện trúng tay nắm, khiến ổ khóa đập vào khung cửa làm nó nứt ra kèm theo tiếng rắc lớn.
Harry chỉ vừa kịp nhích chân sang chỗ khác trước khi cái máy rơi xuống sàn với một tiếng rên rỉ bị bóp nghẹt. Cánh cửa phun ra những mẩu gỗ vụn và bật tung sau cú đá đầu tiên. Anh nhặt cái máy xén giấy lên và mang vào trong.
Văn phòng của Katrine Bratt giống hệt như căn phòng anh từng ngồi chung với sĩ quan cảnh sát Jack Halvorsen khi xưa. Ngăn nắp, sơ sài, không có ảnh hay bất cứ vật dụng cá nhân nào. Bàn làm việc có một cái khóa đơn giản ở trên cùng, mở chung cho các ngăn kéo phía dưới. Sau hai cú nện bằng máy xén, ngăn kéo trên cùng và ổ khóa cũng tan tành. Harry lục lọi bên trong, gạt giấy tờ qua một bên và bới đống túi hồ sơ nhựa, máy bấm lỗ và các dụng cụ văn phòng phẩm cho tới khi tìm thấy một con dao. Anh rút dao ra khỏi vỏ. Sống dao có khía răng cưa. Chắc chắn không phải loại dao cắm trại. Harry ấn dao lên đống giấy phía dưới và lưỡi dao cứa rất ngọt mà không gặp chút khó khăn nào.
Trong ngăn kéo bên dưới có hai hộp đạn còn nguyên chưa mở của khẩu súng lục công vụ. Món đồ cá nhân duy nhất Harry tìm được là hai cái nhẫn. Một cái đính đầy đá quý lóng lánh đến chói mắt dưới ánh sáng đèn bàn. Anh từng trông thấy nó rồi. Harry nhắm mắt và cố hình dung xem đó là ở đâu. Cái nhẫn to tướng, màu mè. Gắn đá đủ màu. Phong cách Las Vegas. Katrine sẽ chẳng bao giờ đeo loại nhẫn như thế. Và rồi anh nhớ ra mình đã thấy nó ở đâu. Anh cảm nhận được mạch trong người đang đập dồn, mạnh mẽ nhưng ổn định. Anh thấy chiếc nhẫn trong một căn phòng ngủ. Phòng ngủ của Becker.
Tại phòng Sonja Henie, bữa tối đã kết thúc, bàn ghế được dẹp hết đi. Arve Støp đứng dựa vào bức tường phía sau trong lúc nhìn lên sân khấu, nơi khách khứa túm tụm lại và đang say sưa xem ban nhạc biểu diễn. Đó là thứ âm nhạc ồn ào, đắt đỏ, thứ âm nhạc vĩ cuồng. Ban đầu Arve Støp không mấy tin tưởng, nhưng cuối cùng công ty tổ chức sự kiện đã thuyết phục được ông ta rằng đầu tư vào trải nghiệm âm nhạc là cách để mua lòng trung thành, niềm tự hào và tình yêu công việc của nhân viên. Bằng cách mua về chút thành công tầm cỡ thế giới, ông ta đã chứng tỏ thành công của chính tờ tạp chí và tạo dựng thương hiệu cho Liberal, sản phẩm mà các nhà quảng cáo nhất định sẽ muốn hợp tác làm ăn.
Ca sĩ chính ấn ngón tay lên chiếc tai nghe dạng nút và gào lên nốt cao nhất trong bài hit nổi tiếng thế giới hồi thập niên tám mươi của ban nhạc.
“Không ai hát sai nốt hay như Morten Harket,” một giọng nói cất lên bên cạnh Støp.
Ông ta quay sang nhìn. Và lập tức biết rằng mình đã từng trông thấy cô rồi, vì ông ta không bao giờ quên những người đàn bà đẹp. Điều ông ta càng ngày càng hay quên là tên gì, ở đâu và khi nào. Cô có vóc người thanh mảnh, mặc chiếc đầm đen trơn với đường xẻ gợi cho ông ta nhớ đến một người. Birte. Birte cũng có một chiếc đầm như thế.
“Thật đáng xấu hổ,” ông ta nói.
“Nốt đó khó hát chuẩn lắm,” cô nói mà mắt vẫn dán vào ca sĩ chính.
“Thật đáng xấu hổ vì tôi không nhớ ra được tên em. Tôi chỉ biết chúng ta đã từng gặp nhau rồi.”
“Chúng ta chưa gặp bao giờ,” cô nói. “Ông chỉ nhìn em một lượt thôi.” Cô gạt lọn tóc đen lòa xòa trước mặt. Ở cô có nét quyến rũ theo phong cách cổ điển, nghiêm nghị. Phong cách Kate Moss. Còn Birte lại quyến rũ theo kiểu Pamela Anderson.
“Tôi nghĩ điều đó hoàn toàn có thể tha thứ được,” ông ta nói, cảm thấy mình đang dần thức tỉnh, máu bắt đầu chạy rần rần trong cơ thể, đưa sâm panh tới các phần trong não bộ mang lại cảm giác thư thái thay vì khiến ông ta trở nên buồn ngủ.
“Em là ai?”
“Katrine Bratt,” cô nói.
“Ra vậy. Em là người của bên quảng cáo à, Katrine? Hay bên ngân hàng? Cho thuê bất động sản? Phóng viên ảnh tự do?”
Với mỗi câu hỏi ông ta đưa ra, Katrine đều chỉ lắc đầu và mỉm cười.
“Em là kẻ bám càng,” cô nói. “Em có cô bạn là phóng viên tạp chí của ông. Cô ấy kể với em về ban nhạc sẽ biểu diễn sau tiệc tối và bảo em cứ ăn diện rồi lẻn vào xem. Có định đuổi em ra ngoài không vậy?”
Cô nâng ly sâm panh lên môi. Đôi môi tuy không đầy đặn như ông ta thích nhưng đỏ thẫm và ẩm ướt. Cô vẫn hướng ánh mắt về phía sân khấu để cho ông ta tùy ý ngắm mình. Từ đầu đến chân. Tấm lưng ong mềm mại, cặp tuyết lê với đường cong hoàn hảo. Không cần đến silicone mà có lẽ chỉ một cái áo lót tốt là đủ. Nhưng liệu chúng có nuôi được đứa trẻ nào không?
“Tôi đang cân nhắc,” ông ta đáp. “Em muốn phản biện gì không?”
“Đe dọa liệu có được không?”
“Có thể.”
“Em thấy đám thợ săn ảnh ngoài kia đang chực chờ các khách mời nổi tiếng của ông bước ra cùng với đối tượng cặp kè tối nay. Hay là em kể với họ về cô bạn phóng viên của em nhé? Rằng cô ấy được biết tiền đồ của mình ở Liberal thật mờ mịt sau khi từ chối màn gạ tình của ông ấy mà?”
Arve Støp phá lên cười to và rất tự nhiên. Ông ta thấy bọn họ đã thu hút ánh mắt tò mò của những khách mời. Ngả người về phía cô, ông ta phát hiện mùi nước hoa của cô không khác mấy so với loại ông ta dùng.
“Thứ nhất, đến điều tiếng xấu tôi còn chẳng sợ nữa là dăm ba lời xì xào của đám đồng nghiệp ở mục buôn chuyện nhảm nhí. Thứ hai, bạn em là kẻ bất tài, và thứ ba, cô ta nói dối. Tôi quất cô ả ba lần rồi. Em cứ việc nói với lũ thợ săn ảnh như thế. Em đã kết hôn chưa?”
“Rồi,” người đàn bà xa lạ đáp, quay về phía sân khấu và đổi dáng đứng khiến đường xẻ của bộ đầm kín đáo khoe ra đoạn nịt tất bằng ren. Arve Støp bỗng thấy miệng khô khốc và nháp một ngụm sâm panh. Quan sát đám đàn bà nháp nhổm trước sân khấu. Hít một hơi qua đằng mũi. Ông ta có thể ngửi thấy mùi nhục dục từ chỗ đang đứng lúc này.
“Em có con cái gì không, Katrine?”
“Ông muốn em có con không?”
“Có.”
“Vì sao?”
“Vì thông qua quá trình tạo ra sự sống, phụ nữ học được cách hiến mình trọn vẹn cho tự nhiên, và điều đó mang lại cho họ cái nhìn thông tuệ về cuộc sống hơn những phụ nữ khác. Và cả đàn ông nữa.”
“Nhảm nhí.”
“Không đâu, việc đó làm phụ nữ các cô đỡ phải chạy đôn chạy đáo săn lùng cho được một ông bố tiềm năng. Các cô chỉ muốn tận hưởng cuộc chơi thôi.”
“Thôi được,” cô bật cười. “Vậy thì em có con rồi. Ông thích chơi trò gì nào?”
“Ái chà,” Støp nói và liếc đồng hồ đeo tay. “Chúng ta vội vàng quá đấy.”
“Ông thích chơi trò gì?”
“Gì cũng chơi hết.”
“Tốt lắm.”
Ca sĩ nhắm mắt lại, chộp lấy chiếc micro bằng cả hai tay và bắt đầu vào đoạn cao trào của bài hát.
“Bữa tiệc chán chết, tôi về đây.” Støp đặt chiếc ly rỗng lên khay của người phục vụ đi ngang qua. “Tôi sống ở khu Aker Brygge. Đi chung cổng với tòa soạn Liberal, tầng trên cùng. Bấm chuông trên cùng.”
Cô khẽ cười. “Em biết chỗ đó rồi. Ông cần chuẩn bị trước bao lâu?”
“Cho tôi hai mươi phút. Và phải hứa là em không được nói với bất cứ ai trước khi rời khỏi đây. Ngay cả cô bạn của em. Đồng ý không, Katrine Bratt?”
Ông ta nhìn cô, hy vọng mình nói đúng tên cô.
“Tin em đi,” cô đáp, và ông ta nhận thấy ánh sáng lạ bừng lên trong mắt cô, như thể ánh lửa của khu rừng đang rực cháy hắt lên nền trời. “Em cũng muốn giữ bí mật chuyện này như ông vậy.” Cô nâng ly lên. “Mà này, ông đã quất cô ta bốn lần, không phải ba.”
Støp liếc nhìn một lần cuối cho thỏa rồi đi ra cửa. Sau lưng ông ta, lời ca thể hiện bằng giọng gió của người nghệ sĩ vẫn run rẩy gần như không còn nghe rõ bên dưới những ngọn đèn chùm.
Có tiếng cửa đóng sầm lại rõ to và những giọng nói hồ hỏi vang vọng trên phố Seilduksgata. Bốn thanh niên đang trên đường về sau khi tham dự bữa tiệc tại một quán bar ở quận Grünerløkka. Họ đi lướt qua một chiếc xe hơi đang đỗ sát vỉa hè mà không để ý đến người đàn ông ngồi bên trong. Sau đó họ rẽ qua góc phố, con đường lại chìm vào yên tĩnh. Harry rướn người về phía kính chắn gió và ngước lên nhìn cửa sổ căn hộ của Katrine Bratt.
Đúng ra anh nên gọi điện cho Hagen, cảnh báo với đồng nghiệp, dẫn Skarre đi cùng và gọi một xe tuần tra hỗ trợ. Nhưng nhỡ anh nhầm thì sao. Mọi việc cần phải chắc chắn trước đã; có quá nhiều thứ để mất đối với cả anh và cô.
Anh ra khỏi xe, bước tới cửa chính rồi nhấn chuông tầng hai không có tên chủ nhà. Anh đợi. Rồi nhấn chuông lần nữa. Sau đó anh quay lại ô tô, lấy cái xà beng cất trong cốp, lại đến trước cửa và nhấn chuông tầng một. Một người đàn ông trả lời bằng giọng ngái ngủ, có tiếng ti vi ra rả vọng ra. Mười lăm giây sau, ông ta xuống nhà mở cửa. Harry chìa thẻ cảnh sát cho ông ta xem.
“Tôi không nghe thấy tiếng cãi cọ trong nhà,” ông ta nói. “Ai gọi cho anh thế?”
“Lát nữa tôi sẽ tự ra về,” Harry nói. “Cảm ơn ông đã giúp đỡ.”
Trên cửa căn hộ tầng hai cũng không có bảng tên. Harry gõ cửa, áp tai lên lớp gỗ lạnh lẽo để nghe ngóng. Sau đó anh lách mũi xà beng vào giữa cánh cửa và khung cửa, ngay phía trên ổ khóa. Những chung cư tại Grünerløkka vốn là nhà ở cho công nhân của các nhà máy nằm bên sông Akerselva, được xây dựng bằng nguyên vật liệu rẻ nhất có thể, thế nên cuộc đột nhập lần thứ hai của Harry trong vòng một tiếng đồng hồ qua diễn ra khá suôn sẻ.
Anh dành ra vài giây nghe ngóng trên hành lang tối tăm trước khi bật đèn. Nhìn xuống giá để giày trước mặt. Có sáu đôi tất cả. Không đôi nào vừa với chân đàn ông. Anh cầm một đôi lên, đôi bốt Katrine đã đi ngày hôm nay. Đế bốt vẫn còn ướt.
Anh vào phòng khách. Bật đèn pin thay vì đèn trần để nếu cô mà có đứng ở dưới phố nhìn lên cũng không phát hiện trong nhà có người.
Chùm sáng quét lên sàn gỗ thông đã cũ mòn với những chiếc đinh lớn giữa các tấm ván, một chiếc sofa trắng trơn, mấy kệ sách thấp và một cái loa hiệu Linn đắt giá. Trên tường có một cái hốc kê chiếc giường nhỏ gọn gàng, khu bếp có tủ lạnh và bếp nấu. Nơi này thật đơn sơ, mộc mạc và ngăn nắp. Không khác gì nhà anh. Luồng sáng bỗng rọi vào một khuôn mặt nhìn anh chằm chằm với vẻ vô hồn. Rồi đến khuôn mặt khác. Và một khuôn mặt nữa. Những chiếc mặt nạ gỗ màu đen với những đường chạm khắc và họa tiết sơn màu.
Anh liếc đồng hồ đeo tay. Mười một giờ. Anh tiếp tục soi đèn sang chỗ khác.
Có rất nhiều bài viết cắt ra từ các trang báo được ghim bên trên cái bàn duy nhất trong phòng. Chúng phủ kín cả một bức tường. Anh bước lại gần. Anh xem qua một lượt và cảm thấy mạch trong người bắt đầu tăng tốc hệt như bộ đếm Geiger.
Đó là các bài viết về những vụ án mạng.
Con số đó khá nhiều, khoảng mươi, mười hai vụ, có vụ cũ đến nỗi giấy đã ố vàng. Nhưng tất cả số này Harry còn nhớ khá rõ. Bởi lẽ giữa chúng có một điểm chung: đó đều là những vụ án do anh phụ trách điều tra.
Trên bàn, ngoài bộ máy tính và máy in còn có một chồng bìa kẹp tài liệu. Báo cáo điều tra. Anh mở một tập ra xem. Không phải hồ sơ của những vụ anh phụ trách, mà là vụ sát hại Laila Aasen trên đỉnh núi Ulriken. Tập khác lại chứa báo cáo về vụ mất tích của Onny Hetland ở Fjellsiden. Tập thứ ba liên quan đến vụ cảnh sát hành hung ở Bergen, chứa các đơn khiếu nại Gert Rafto. Harry giở ra xem. Trong đó có bức ảnh chụp Rafto mà anh từng trông thấy ở văn phòng của Müller-Nilsen. Giờ nhìn thấy nó, anh nghĩ mọi sự đã quá hiển nhiên.
Bên cạnh máy in là một xấp giấy. Tờ giấy trên cùng có hình vẽ gì đó. Một hình phác họa ngây ngô bằng bút chì, nhưng mô tuýp thì đã rõ ràng. Người tuyết. Khuôn mặt dài ngoẵng như thể bị tan chảy và rỉ xuống; cặp mắt đen vô hồn, củ cà rốt thuôn dài khoằm khoặm. Harry lật qua xấp giấy. Trên đó còn vài hình vẽ nữa. Tất cả đều là hình người tuyết, đa phần chỉ có khuôn mặt. Mặt nạ, Harry thầm nghĩ. Mặt nạ người chết. Một trong số chúng có mỏ chim, hai cánh tay người nho nhỏ ở hai bên, và đôi chân chim bên dưới. Cái khác lại có hình mõm heo và đội mũ chóp cao.
Harry bắt đầu tìm tiếp ở bên kia phòng. Tự nhủ chính điều anh đã nói với Katrine lúc ở trên đảo Finnøy: gạt bỏ hết những kỳ vọng trong tâm trí và quan sát, đừng chủ tâm tìm kiếm. Anh kiểm tra toàn bộ tủ bếp và ngăn kéo, lục lọi đống vật dụng nhà bếp, thiết bị và đồ dùng giặt giũ vệ sinh, quần áo, những chai dầu gội lạ lẫm và các loại kem bôi kỳ quặc trong phòng tắm sực nức hương nước hoa cô vẫn dùng. Sàn phòng tắm vòi sen vẫn ướt, trên bồn rửa mặt có một chiếc tăm bông dính mascara. Anh lại quay ra. Anh không biết mình đang tìm kiếm thứ gì, chỉ biết rằng nó không có ở đây. Anh đứng thẳng lên và đưa mắt nhìn quanh.
Nhầm rồi.
Thứ đó đang ở đây. Chẳng qua anh chưa tìm ra đấy thôi.
Anh lấy hết sách trên giá xuống, mở nắp két nước, kiểm tra xem có tấm ván lỏng lẻo nào trên sàn hoặc trên tường hay không, rồi lật cả tấm đệm trong hốc. Cuối cùng mọi việc cũng hoàn tất. Anh đã tìm khắp nơi rồi. Tuy không thu được kết quả nào, nhưng tiền đề quan trọng nhất của mọi cuộc tìm kiếm là ở chỗ, những gì ta không tìm thấy cũng quan trọng chẳng kém thứ ta tìm được. Và anh biết mình chưa tìm ra thứ gì. Harry xem đồng hồ. Rồi anh bắt tay vào dọn dẹp.
Chỉ đến khi xếp lại tập giấy vẽ cho đúng thứ tự thì anh mới sực nhớ mình chưa kiểm tra máy in. Anh rút khay ra. Tờ giấy trên cùng có màu hơi vàng, dày hơn giấy in thông thường. Anh cầm lên. Nó tỏa ra một mùi đặc biệt như thể được tẩm gia vị hoặc bị đốt. Anh bật chiếc đèn bàn và giơ tờ giấy lên soi để tìm dấu hiệu. Đây rồi. Ở góc dưới cùng bên phải có một loại dấu ấn mờ giữa những xơ sợi giấy nhỏ mịn, chỉ hiện ra khi soi trước ánh đèn điện. Mạch trên cổ anh như phồng lên, máu đột nhiên ào ạt chảy trong huyết quản, bộ não đang kêu gào đòi tiếp thêm ôxy.
Harry bật máy tính lên. Anh xem đồng hồ lần nữa và dài cổ đợi hệ điều hành cùng các chương trình khởi động. Anh vào thẳng chức năng tìm kiếm, gõ một từ duy nhất. Nhấp chuột vào nút Tìm. Một chú chó nhìn rõ ảo - theo cả hai nghĩa - bỗng hiện ra, nhảy nhót và sủa ăng ẳng không thành tiếng như muốn rút ngắn thời gian chờ đợi. Harry chăm chú quan sát dòng chữ loang loáng vụt qua trong lúc máy tính quét các tài liệu. Nhìn sang bên, tiêu đề lúc này vẫn đang hiển thị Không tìm thấy kết quả phù hợp. Anh kiểm tra lại chính tả của từ khóa. Toowoomba. Anh nhắm mắt lại, lắng nghe tiếng máy rừ rừ giống như tiếng kêu thích thú của một chú mèo. Thế rồi tất cả kết thúc. Harry mở mắt ra. Tìm thấy một kết quả phù hợp.
Harry di trỏ chuột tới chỗ biểu tượng Word. Một hình chữ nhật màu vàng bật lên. Ngày chỉnh sửa: 9 tháng Chín. Anh cảm thấy ngón tay run rẩy khi nhấp đúp vào đó. Ánh sáng từ nền trắng của đoạn văn bản hắt vào trong căn phòng. Không còn nghi ngờ gì nữa. Những dòng chữ trên đó và dòng chữ trong lá thư của Người Tuyết là một.