Lúc này đã là tám giờ tối, thế nhưng những ai đi qua con phố Grønlandsleiret đều sẽ thấy đèn đóm vẫn sáng trưng trên toàn bộ tầng sáu của Sở Cảnh sát.
Tại phòng họp K1, Holm, Skarre, Espen Lepsvik, Gunnar Hagen và giám đốc Sở quây quần trước mặt Harry. Sáu tiếng rưỡi đã trôi qua kể từ khi họ tìm thấy Gert Rafto trên đảo Finnøy và bốn tiếng kể từ khi Harry gọi điện từ Bergen về Sở để thu xếp cho cuộc họp trước khi anh được đưa ra sân bay.
Harry đã báo cáo lại việc phát hiện ra thi thể, đến cả giám đốc Sở ngồi đó cũng không giấu được vẻ hãi hùng khi Harry đưa ra ảnh chụp hiện trường mà cảnh sát Bergen gửi đến qua e-mail.
“Báo cáo pháp y vẫn chưa xong,” Harry nói. “Nhưng nguyên nhân tử vong thì đã khá rõ ràng. Nạn nhân bị nhét súng vào họng và viên đạn xuyên qua vòm miệng rồi bắn ra ngoài từ phía sau đầu. Đó là những gì xảy ra ở hiện trường; cảnh sát Bergen tìm thấy viên đạn găm trên tường kho chứa đồ.”
“Có máu và chất não không?” Skarre hỏi.
“Không,” Harry đáp.
“Làm gì còn sau bao nhiêu năm như thế,” Lepsvik nói. “Rồi chuột bọ các kiểu…”
“Có thể đôi chỗ vẫn còn sót lại dấu vết,” Harry nói. “Nhưng tôi đã trao đổi với chuyên gia pháp y và cả hai đều thống nhất. Rafto có lẽ đã góp phần giúp cho hiện trưòng không quá bừa bộn.”
“Hả?” Skarre nói.
“Ặc,” Lepsvik nói đầy biểu cảm.
Skarre dường như cũng bắt đầu hiểu ra, mặt anh ta nhăn lại vì kinh hãi. “Ôi, tởm…”
“Xin lỗi,” Hagen lên tiếng. “Ai đó làm ơn giải thích cho tôi mọi người đang nói về điều gì được không?”
“Chuyện này đôi lúc chúng tôi cũng thấy trong những vụ tự tử,” Harry nói. “Con người tội nghiệp sẽ hút hết không khí trong nòng súng trước khi bóp cò. Môi trường chân không sẽ khiến cho xung quanh đỡ…” anh cân nhắc lựa lời để nói “… bung bét. Trong vụ này, có lẽ Rafto đã được lệnh hút không khí ra như thế.”
Lepsvik lắc đầu. “Một cảnh sát như Rafto chắc chắn phải biết lý do.”
Hagen tái mặt. “Nhưng làm… làm thế quái nào mà buộc được người ta hút…”
“Có thể vì ông ấy được quyền lựa chọn,” Harry nêu giả thuyết. “Còn nhiều cách chết khác đáng sợ hơn nhiều so với việc bắn bể họng mình.” Bầu không khí sững sờ lặng ngắt bao trùm khắp phòng. Harry để nó lấp đầy khoảng trống trong vài giây trước khi nói tiếp.
“Từ trước tới giờ chúng ta chưa tìm được thi thể nào. Rafto cũng bị giấu xác, nhưng lẽ ra ông ta đã có thể sớm được phát hiện nếu người thân của ông ta không từ bỏ căn nhà đó. Điều này khiến tôi tin rằng Rafto không phải là một phần trong kế hoạch của hung thủ.”
“Và cậu tin rằng hung thủ là kẻ sát nhân hàng loạt?” Trong giọng nói của giám đốc Sở không hề có ý thách thức mà chỉ mong câu hỏi của mình được xác thực.
Harry gật đầu.
“Nếu Rafto không phải một phần trong cái gọi là kế hoạch này, thế thì động cơ là gì?”
“Chúng tôi vẫn chưa biết, nhưng khi một thanh tra cảnh sát bị giết thì theo lẽ tự nhiên người ta sẽ cho rằng vị thanh tra đó là mối đe dọa đối với hung thủ.”
Espen Lepsvik ho mấy tiếng. “Đôi khi, cách xác chết được đối xử cũng có thể cho chúng ta biết đôi điều về động cơ gây án. Chẳng hạn như trong trường hợp này, cái mũi đã bị thay bằng củ cà rốt. Nói cách khác, hắn đang vểnh mũi về phía chúng ta.”
“Chế nhạo ta ư?” Hagen hỏi.
“Hay là hắn muốn bảo chúng ta đừng có gí mũi vào?” Holm dè dặt nêu ý kiến.
“Đúng rồi!” Hagen kêu lên. “Đó là lời cảnh báo để những người khác giữ khoảng cách.”
Giám đốc Sở cúi đầu và nhìn Harry qua khóe mắt. “Vậy còn cái miệng bị khâu?”
“Một thông điệp: giữ mồm giữ miệng đi,” Skarre nổ.
“Phải đấy!” Hagen kêu lên. “Nếu Rafto đã tha hóa biến chất thì có thể ông ta và hung thủ là đồng phạm về mặt nào đó, và Rafto đe dọa sẽ tố cáo hắn.”
Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía Harry, người chẳng đáp lại câu nào trước những ý kiến vừa nêu.
“Thế nào?” Giám đốc Sở cáu kỉnh hỏi.
“Tất nhiên những điều các vị nói đều có thể đúng,” Harry nói. “Nhưng tôi thì tin rằng thông điệp duy nhất hung thủ muốn truyền đạt chỉ là Người Tuyết đã ở đây. Và hắn thích tạo ra người tuyết. Chấm hết.”
Các thanh tra đưa mắt nhìn nhau thật nhanh, nhưng không ai phản đối gì.
“Chúng ta còn một vấn đề nữa,” Harry nói. “Sở Cảnh sát Bergen đã ra thông cáo nói rằng một thi thể vừa được phát hiện trên đảo Finnøy, tất cả chỉ có vậy thôi. Và tôi đã yêu cầu họ tạm thời giữ kín các thông tin chi tiết để chúng ta có thêm vài ngày truy tìm manh mối mà không để Người tuyết biết cái xác đã được tìm thấy. Tiếc thay, thời gian hai ngày e không khả thi. Chẳng có sở cảnh sát nào kín tiếng được đến mức ấy.”
“Báo chí sẽ công bố danh tính của Rafto vào sáng sớm mai,” Espen Lepsvik nói. “Tôi có quen mấy người làm cho tờ Bergens Tidende và Bergensavisen.”
“Nhầm rồi,” Một giọng nói cất lên phía sau họ. “Thông tin đó sẽ được phát trên bản tin muộn của kênh TV2 vào tối nay. Không chỉ danh tính mà còn có cả những mô tả chi tiết về hiện trường và mối liên quan với Người Tuyết.”
Mọi người ngoái lại nhìn. Đứng ở ngưỡng cửa là Katrine Bratt. Sắc mặt cô vẫn tái, tuy không còn trắng bệch như lúc Harry nhìn cô lái thuyền quay về từ Finnøy, để anh ở lại trên đảo chờ cảnh sát đến.
“Vậy ra cô quen biết bên TV2 cơ à?” Espen Lepsvik hỏi với nụ cười nửa miệng.
“Không,” Katrine đáp và ngồi xuống. “Tôi quen Sở Cảnh sát Bergen.”
“Cô đã đi đâu thế, Bratt?” Hagen hỏi. “Cô vắng mặt suốt mấy tiếng vừa qua.”
Katrine đưa mắt nhìn Harry, anh kín đáo gật đầu với cô một cái và hắng giọng. “Katrine đi xử lý một số việc tôi giao.”
“Chắc là quan trọng lắm. Kể đi, Bratt.”
“Giờ ta không cần nhắc đến chuyện đó làm gì cả,” Harry nói.
“Tôi chỉ tò mò tí thôi mà,” Hagen chế nhạo.
Ngài Sếp Ghế Bành chết giẫm, Harry nghĩ thầm. Ngài Luôn phải đúng giờ, ngài Tôi thích thẩm vấn, ông không để cho người ta yên được hay sao, không thấy cô ta vẫn còn đang sốc à? Chính ông cũng xám ngoét mặt mày khi trông thấy những bức ảnh đó còn gì. Cô ấy bỏ về nhà, biến khỏi mọi thứ. Rồi sao? Giờ cô ấy quay lại rồi. Đáng lẽ phải vỗ vai động viên thay vì làm người ta mất mặt trước đồng nghiệp như thế. Những ý nghĩ này lướt qua tâm trí Harry, nói với anh một cách thật rõ ràng, rành mạch, trong lúc đó anh cố khiến Hagen chú ý và ngầm ra hiệu cho ông ta hiểu bằng ánh mắt.
“Thế nào, Bratt?” Hagen giục.
“Tôi đi kiểm tra đôi điều,” Katrine vênh mặt đáp.
“Ra vậy. Ví dụ…”
“Ví dụ như Idar Vetlesen đang theo học ngành y vào thời điểm Laila Aasen bị giết, Onny Hetland và Rafto mất tích.”
“Việc đó có liên quan gì sao?” Giám đốc Sở hỏi.
“Có liên quan đấy,” Katrine nói. “Vì anh ta học ở Đại học Bergen.”
Cả phòng K1 im phăng phắc.
“Sinh viên y khoa ư?” Giám đốc Sở nhìn Harry.
“Sao lại không thể chứ?” Harry nói. “Về sau anh ta theo ngành phẫu thuật chỉnh hình, và anh ta còn nói mình thích tạo hình khuôn mặt.”
“Tôi đã kiểm tra những nơi anh ta đến thực tập và cả chỗ làm sau này,” Katrine nói. “Chúng không trùng với nơi xảy ra những vụ mất tích của những phụ nữ chúng ta cho rằng đã bị Người Tuyết sát hại. Nhưng bác sĩ mới vào nghề thường hay đi đây đi đó. Hội nghị này nọ, rồi nhận những công việc thời vụ chẳng hạn.”
“Đáng tiếc là Krohn không cho phép chúng ta thẩm vấn hắn,” Skarre nói.
“Quên chuyện đó đi,” Harry nói. “Ta sẽ bắt giam Vetlesen.”
“Vì cái gì?” Hagen hỏi. “Vì từng học ở Bergen chắc?”
“Vì tội có ý định mua dâm trẻ vị thành niên.”
“Dựa trên cơ sở nào?” Giám đốc Sở hỏi.
“Chúng ta có một nhân chứng. Chính là chủ khách sạn Leon. Và ta còn có những bức ảnh chứng minh mối liên hệ giữa Vetlesen và khách sạn.”
“Tôi ghét phải nói cái này,” Espen Lepsvik lên tiếng, “nhưng tôi biết gã Leon đó, không đời nào hắn chịu ra làm chứng đâu. Vụ này rồi sẽ công cốc thôi; anh sẽ phải thả Vetlesen sau hai mươi bốn tiếng, miễn thắc mắc.”
“Tôi biết chứ,” Harry nói và nhìn đồng hồ đeo tay. Anh đang nhẩm tính xem lái xe từ đây đến Bygdøy sẽ mất bao lâu. “Trong quãng thời gian ngắn ngủi ấy, những điều người ta có thể nghĩ ra để nói sẽ khiến anh phải ngạc nhiên đấy.”
Harry nhấn chuông một lần nữa, thầm nghĩ tình huống này giống hệt như những gì anh từng trải qua trong kỳ nghỉ hè hồi anh còn nhỏ, bạn bè đi hết, ở Oppsal chỉ còn lại duy nhất một cậu bé là anh. Anh đứng đó, nhấn chuông nhà Øystein hoặc đứa bạn nào đó khác, hy vọng điều kỳ diệu xảy ra và sẽ có đứa ở nhà thay vì đến chơi với bà ở Halden, hay đi nghỉ ở Son, hoặc cắm trại tít tận Đan Mạch. Anh cứ nhấn chuông hết nhà này đến nhà khác, cho tới khi anh biết chỉ còn một khả năng duy nhất. Tresko. Tresko, thằng bạn mà cả anh lẫn Øystein đều chẳng muốn chơi cùng nhưng vẫn lẵng nhẵng bám theo bọn anh như hình với bóng, đợi đến khi hai đứa hồi tâm chuyển ý và cứu vớt nó khỏi sự ghẻ lạnh, dù chỉ trong thời gian ngắn. Nó chọn Harry và Øystein bởi lẽ hai đứa cũng chẳng đông bạn lắm bè gì cho cam, vì thế Tresko cho rằng nếu nó muốn được gia nhập nhóm nào đó thì đây là cơ hội tốt nhất dành cho nó. Giờ thì cơ hội của Tresko đã đến, vì quanh đây chỉ còn lại mỗi mình nó, Harry biết nó luôn ở nhà vì gia đình không đủ điều kiện để đi đâu cả và nó cũng chẳng có bạn chơi cùng.
Harry nghe thấy tiếng dép loẹt quẹt trong nhà và cửa hé mở. Khuôn mặt bà lão bừng sáng. Hệt như vẻ mặt của mẹ Tresko khi bà nhìn thấy Harry. Bà chẳng bao giờ mời anh vào mà chỉ cất tiếng gọi Tresko, đi tận nơi tìm nó, ca cho nó một bài điếc tai, nhồi nó vào trong cái áo khoác lót lông có mũ xấu điên và đẩy ra khỏi cửa, để nó đứng đó mặt mũi sưng sỉa nhìn Harry. Và Harry biết là Tresko cũng biết. Anh cảm nhận được sự ghét bỏ trong lòng nó trong lúc hai đứa cùng đi bộ tới kiốt. Nhưng cũng chẳng sao. Dù gì như thế thời gian cũng sẽ trôi nhanh hơn.
“Rất tiếc, Idar đi vắng mất rồi,” bà Vetlesen nói. “Hay là anh vào nhà ngồi đợi vậy? Nó bảo chỉ lái xe đi dạo một lúc thôi.”
Harry lắc đầu, thầm nghĩ không biết bà cụ có trông thấy ánh đèn màu xanh loang loáng trên con phố chìm trong bóng tối ở Bygdøy hay không. Chắc chắn là Skarre đã bỏ lên xe đây mà, cái thằng đầu đất này.
“Anh ta đi lúc mấy giờ?”
“Gần năm giờ.”
“Thế là đã mấy tiếng rồi,” Harry nói. “Anh ta có nói đi đâu không?”
Bà cụ lắc đầu. “Nó chẳng bao giờ nói gì với tôi cả. Đây anh xem, thế có quá đáng không. Đến mẹ nó mà nó đi đâu làm gì cũng chẳng thèm bảo.”
Harry cảm ơn bà cụ và nói anh sẽ quay lại sau. Rồi anh bước trên lối đi rải sỏi và những bậc thềm để ra tới chỗ cổng nhỏ. Cảnh sát không tìm được Idar Vetlesen ở văn phòng và cả khách sạn Leon, câu lạc bộ bi đá thì đã đóng cửa tối om. Harry đóng cổng lại và ra xe. Sĩ quan mặc đồng phục hạ kính xe xuống.
“Tắt cái đèn xanh đi.” Harry nhắc, quay về phía Skarre đang ngồi ở ghế sau. “Mẹ hắn nói hắn không có nhà, có lẽ bà ấy nói thật. Cậu đợi ở đây xem hắn có về không nhé. Gọi cho sĩ quan trực ban và bảo cậu ta thu xếp chuẩn bị một đội tìm kiếm. Đừng trao đổi bất cứ điều gì qua hệ thống radio của cảnh sát, nhớ chưa?”
Trên đường về thành phố, Harry gọi cho tổng đài Telenor, nhân viên tổng đài báo với anh rằng người anh cần tìm, Torkildsen, đã về nhà còn việc anh yêu cầu định vị tín hiệu điện thoại di động của Idar Vetlesen cần phải được thông qua các kênh chính thức sáng sớm mai. Harry ngắt máy và vặn to âm lượng bài hát Vermilion của Slipknot, nhưng anh chẳng có lòng dạ nào mà nghe nên nhấn nút nhả đĩa để thay bằng CD của Gil Evans anh mới tìm lại được từ sâu bên trong hộc để găng tay. Kênh tin tức hai tư giờ của đài NRK đang ra rả phát trên radio trong lúc anh còn mải loay hoay với cái vỏ đĩa CD.
“Cảnh sát đang truy tìm một bác sĩ nam, ngoài ba mươi tuổi, cư ngụ tại Bygdøy. Người này được cho là có liên quan đến chuyên án Người Tuyết.”
“Mẹ kiếp!” Harry hét lên, ném bay Gil Evans về phía kính chắn gió khiến những mảnh nhựa văng tung tóe trong xe. Chiếc đĩa CD lăn tới chỗ để chân. Trong cơn cáu giận, Harry đạp mạnh ga và phóng vụt qua một chiếc xe bồn ở làn đường bên trái. Hai mươi phút. Bọn chúng chỉ mất hai mươi phút để mò ra thông tin. Sao không đưa quách micro cho Sở Cảnh sát và phát sóng trực tiếp luôn cho rồi?
Buổi tối, căng tin Sở Cảnh sát đã nghỉ bán nên vắng tanh, nhưng đó lại là nơi anh tìm thấy cô, cô đang ngồi cùng mấy chiếc sandwich ở một bàn đôi. Harry ngồi xuống ghế còn lại.
“Cảm ơn vì đã không kể ai chuyện tôi mất bình tĩnh ở Finnøy,” cô khẽ nói.
Harry gật đầu. “Sau đó thì cô làm gì?”
“Tôi trả phòng và bắt chuyến bay lúc ba giờ. Tôi chỉ muốn rời đi thôi.” Cô cúi mặt nhìn tách trà của mình. “Tôi… xin lỗi.”
“Không sao,” Harry nói, nhìn cái cổ thanh mảnh đang cúi xuống, mái tóc cặp hết lên cao và bàn tay nhỏ nhắn đặt trên bàn. Giờ anh nhìn cô bằng con mắt khác rồi. “Những thứ cứng rắn đến khi phải vỡ thì cũng vỡ theo cách rất ấn tượng.”
“Vì sao?”
“Có lẽ là vì chúng ít có dịp thực hành cách mất bình tĩnh.”
Katrine gật đầu, ánh mắt vẫn chú mục vào tách trà có logo đội tuyển thể thao của Sở.
“Anh cũng là người thích kiểm soát, Harry. Chẳng lẽ anh không bao giờ mất bình tĩnh ư?”
Cô ngước lên, và Harry thầm nghĩ hẳn là tia sáng mãnh liệt tỏa ra từ hai con ngươi đã khiến lòng trắng trong mắt cô ánh lên sắc xanh nhạt. Anh lục tìm bao thuốc lá. “Việc đó thì tôi thực hành khối lần. Tôi hầu như chẳng học được cái gì khác ngoài nổi đóa. Trình mất kiểm soát của tôi thuộc hàng đai đen rồi ấy chứ.”
Cô mỉm cười yếu ớt thay cho lời đáp.
“Người ta đã nghiên cứu hoạt động não bộ của nhũng võ sĩ quyền Anh lâu năm,” Harry nói. “Cô có biết là trong một trận đấu có vài lần võ sĩ bị mất ý thức không? Chỉ một phần trăm giây lúc này, hoặc lúc khác. Thế mà bằng cách nào đó họ vẫn đứng vững. Cứ như cơ thể họ biết rằng đó chỉ là hiện tượng nhất thời và tìm cách kiểm soát, giúp họ kiên cường chịu đựng cho tới khi lấy lại ý thức.” Harry gõ nhẹ cho điếu thuốc rơi ra. “Tôi cũng mất kiểm soát lúc ở trong căn nhà gỗ. Chỉ khác là, sau từng ấy năm, cơ thể tôi biết sự kiềm chế sẽ trở lại.”
“Nhưng anh làm thế nào,” Katrine hỏi, vuốt một lọn tóc xòa xuống mặt, “để không bị hạ gục sau cú đấm đầu tiên?”
“Làm theo cách của các võ sĩ, cứ thuận theo những cú đấm. Đừng chống cự. Nếu trong công việc có điều gì đó tác động đến cô thì cứ bình thản chấp nhận. Dù gì cô cũng chẳng thể né tránh mãi được. Cừ từ từ xả ra từng chút như xả đập ấy, đừng để nó tích tụ cho tới khi bức tường bắt đầu rạn nứt.”
Anh đưa điếu thuốc chưa mồi lên môi.
“Phải, tôi biết chứ. Chuyên gia tâm lý ở học viện cảnh sát đã nói với cô những điều này hồi cô còn là sinh viên. Ý tôi thế này: ngay cả khi cô xả những bức bối vào cuộc sống thì cũng cần cảm nhận được chúng tác động đến cô ra sao, xem chúng có đang hủy hoại cô hay không.”
“Được rồi,” Katrine nói. “Vậy ta xử lý thế nào nếu cảm thấy chúng đang hủy hoại ta?”
“Cô tìm nghề khác mà làm.”
Cô nhìn anh chằm chằm một hồi lâu.
“Thế anh thì sao hả Harry? Anh đã làm gì khi cảm thấy chúng đang hủy hoại mình?”
Harry cắn nhẹ phần đầu lọc, cảm nhận những sợi mềm và khô cọ vào răng anh. Thầm nghĩ cô có thể làm em gái hoặc con gái anh được đấy, cả cô và anh đều được tạo nên từ những thứ gai góc y như nhau. Hai tòa thành đồ sộ, vững chãi với những vết rạn lớn.
“Tôi quên không đi tìm nghề khác,” anh nói.
Cô nở nụ cười tươi rói. “Anh biết sao không?” cô thì thầm.
“Sao?”
Cô giơ tay ra, cầm lấy điếu thuốc trên môi anh và rướn người qua bàn.
“Tôi nghĩ là…”
Cửa căng tin bất ngờ bật mở. Người xuất hiện là Holm.
“TV2,” anh ta nói. “Đưa lên bản tin rồi. Họ tên cùng với ảnh của Rafto và Vetlesen.”
Vậy là náo loạn hết cả lên. Dù đã mười một giờ đêm nhưng chỉ trong vòng nửa tiếng, đám nhà báo và phóng viên ảnh đã kéo đến chật ních khu sảnh của Sở Cảnh sát. Tất cả đang nóng lòng chờ đợi người đứng đầu Kripos, Espen Lepsvik, hoặc Hagen, sếp Đội Hình sự, giám đốc Sở, cảnh sát trưởng, hay nói chung ai cũng được, xuống đây và nói gì đó. Họ rì rầm với nhau rằng cảnh sát phải có trách nhiệm thông báo cho công chúng được biết về vụ việc nghiêm trọng, gây sốc và giúp tăng lượng tiêu thụ tốt như thế này chứ.
Harry đứng bên lan can sân trong nhìn xuống đám phóng viên bên dưới. Họ đang lượn lờ như bầy cá mập bất an, hỏi han nhau, chơi xỏ nhau, giúp đỡ nhau, phỉnh phờ và thăm dò những chi tiết nhỏ. Đã ai nghe ngóng được gì chưa? Liệu đêm nay có tổ chức họp báo không? Hay chí ít là thông báo đột xuất? Có phải Vetlesen đã lên đường đi Thái Lan rồi không? Deadline đến nơi rồi; phải có gì cho họ chứ.
Harry từng đọc được rằng từ deadline - hạn chót - bắt nguồn từ những trận đánh trong cuộc Nội chiến Mỹ. Vào thời đó, do thiếu nơi giam hãm tù binh, những kẻ bắt bớ đã quây đám tù binh lại và vẽ một vòng tròn trên đất quanh chỗ họ đứng. Vòng tròn này được gọi là dead line - ranh giới chết, ai sơ sẩy vượt ra khỏi phạm vi đó sẽ ăn đạn ngay. Và họ, đám chiến binh săn tin đang quần tụ dưới kia, chính là những kẻ như thế: những tù nhân chiến tranh bị trói buộc bởi một deadline.
Harry đang trên đường tới phòng họp cùng các đồng đội thì điện thoại di động réo inh ỏi. Người gọi là Mathias.
“Anh đã nghe tin nhắn thoại tôi gửi chưa?” anh ta hỏi.
“Làm gì có thì giờ, ở đây đang nước sôi lửa bỏng lắm,” Harry đáp. “Ta nói chuyện sau được không?”
“Dĩ nhiên là được,” Mathias nói. “Nhưng chuyện này liên quan đến Idar. Tôi thấy trên bản tin thông báo anh ta đang bị truy nã.”
Harry chuyển điện thoại sang tay kia. “Vậy anh nói luôn đi.”
“Hôm nay Idar có gọi cho tôi để hỏi về carnadrioxide. Anh ta cũng hay gọi điện hỏi tôi về thuốc, ngành dược vốn không phải thế mạnh của Idar, vì thế lúc đó tôi cũng không nghĩ ngợi gì cả. Nhưng tôi gọi cho anh vì carnadrioxide là một loại thuốc cực kỳ nguy hiểm. Tôi chỉ cho rằng có thể anh muốn biết điều đó.”
“Có chứ, có chứ,” Harry nói, lục khắp các túi cho tới khi tìm thấy cây bút chì gặm dở và tấm vé tàu điện. “Carna… gì ấy nhỉ?”
“Carnadrioxide. Nó có chứa nọc độc của loài ốc nón và được dùng làm thuốc giảm đau cho bệnh nhân ung thư và nhiễm HIV. Loại thuốc này mạnh gấp một ngàn lần morphine, chỉ cần dùng quá liều một chút xíu cũng có thể khiến cơ bắp lập tức tê liệt. Các cơ quan hô hấp và tim ngừng hoạt động, bệnh nhân sẽ tử vong tức thì.”
Harry ghi lại. “Được rồi. Anh ta còn nói gì nữa không?”
“Không. Anh ta có vẻ stress. Chỉ cảm ơn tôi rồi cúp máy.”
“Liệu anh có biết anh ta gọi điện từ đâu không?”
“Không, nhưng tiếng vọng có vẻ lạ lắm. Chắc chắn Idar không gọi từ phòng tư vấn. Nghe như anh ta đang ở trong nhà thờ hoặc hang động nào đó, anh hiểu ý tôi chứ?”
“Tôi hiểu. Cảm ơn anh, Mathias. Chúng tôi sẽ gọi lại cho anh nếu cần thêm thông tin.”
“Rất vui…”
Harry không nghe được phần còn lại của câu nói vì anh đã nhấn nút kết thúc cuộc gọi và tín hiệu bị ngắt.
Trong phòng K1, tổ điều tra nho nhỏ đã có mặt đông đủ và đang ngồi đó cùng với mấy tách cà phê, một ấm mới đang được pha tiếp trong máy, áo khoác vắt trên thành ghế. Skarre vừa trở về từ Bygdøy. Anh ta báo cáo lại cuộc nói chuyện với mẹ của Idar Vetlesen, bà ta cứ nhắc đi nhắc lại rằng mình không biết gì và toàn vụ này chắc chắn là một hiểu lầm to đùng.
Katrine đã gọi điện cho trợ lý của Vetlesen, Borghild Moen, bà này cũng có cùng quan điểm như trên.
“Chúng ta sẽ thẩm vấn họ vào ngày mai nếu cần,” Harry nói. “Giờ tôi e rằng ta đang có một vấn đề khác cấp bách hơn.”
Ba người trong nhóm nhìn Harry trong lúc anh tóm tắt lại cuộc nói chuyện với Mathias. Đọc những gì ghi trên mặt sau vé tàu điện. Carnadrioxide.
“Anh có cho rằng hắn đã giết họ không?” Holm hỏi. “Bằng cách dùng thuốc tê ấy?”
“Thế là rõ rồi nhé,” Skarre nói chen vào. “Vì vậy hắn mới phải giấu xác các nạn nhân đi. Để loại thuốc đó không bị phát hiện khi khám nghiệm tử thi và khiến cảnh sát lần ra hắn.”
“Điều duy nhất chúng ta biết,” Harry nói, “là Idar Vetlesen giờ đã mất kiểm soát. Nếu hắn chính là Người Tuyết thì hắn sẽ phá vỡ mô thức của mình thôi.”
“Vấn đề là,” Katrine nói, “sắp tới hắn sẽ nhắm vào ai. Chắc chắn không lâu nữa sẽ có người mất mạng vì thứ thuốc đó.”
Harry xoa gáy. “Cô có bản in danh sách cuộc gọi của Vetlesen chưa, Katrine?”
“Có rồi, tôi đã hỏi được tên chủ thuê bao của các số máy và nhờ Borghild tra cứu. Phần lớn là bệnh nhân. Có hai cuộc điện thoại với Krohn, luật sư của hắn, và một cuộc anh vừa tóm tắt lại với Lund-Helgesen. Thêm vào đó, có một số máy được đăng ký dưới tên Công ty xuất bản Popper.”
“Cũng chẳng có gì nhiều để mà điều tra,” Harry nói. “Giờ hoặc là chúng ta ngồi đây, uống cà phê và gãi mấy cái đầu dốt nát. Hoặc cả lũ đi về và quay lại đây vào sáng mai với cái đầu dốt vẫn hoàn dốt, nhưng đỡ mệt hơn phần nào.”
Cả nhóm cứ trân trối nhìn anh.
“Tôi không đùa đâu,” anh nói. “Biến hết về nhà.”
Harry đề nghị lái xe đưa Katrine về đến quận Grünerløkka, nơi này ngày xưa vốn là một khu lao động. Tại đó, theo chỉ dẫn của cô, anh dừng lại phía trước tòa nhà bốn tầng cũ kỹ trên phố Seilduksgata.
“Cô ở căn nào?” anh hỏi, nhoài người tới trước.
“Tầng hai, tay phải.”
Anh ngước lên nhìn. Các cửa sổ đều tối om. Chẳng thấy mành rèm gì cả. “Xem ra chồng cô không có nhà thì phải. Hoặc là đi ngủ rồi.”
“Có lẽ thế,” cô nói, vẫn ngồi yên trong xe. “Harry này?”
Anh ngơ ngác nhìn cô.
“Lúc tôi nói vấn đề nằm ở chỗ sắp tới Người tuyết sẽ nhắm vào ai, anh có biết tôi muốn ám chỉ người nào không?”
“Có thể,” anh đáp.
“Những gì chúng ta phát hiện được ở Finnøy không đơn giản là vụ giết người diệt khẩu thông thường đâu. Nó được lên kế hoạch từ trước đó rất lâu rồi.”
“Ý cô là sao?”
“Ý tôi là nếu Rafto quả thực đã lần ra được tung tích của hắn, thì việc đó cũng là do hắn sắp đặt mà thôi.”
“Katrine…”
“Khoan hẵng nói. Rafto là thanh tra giỏi nhất Bergen. Còn anh là điều tra viên xuất sắc nhất Oslo. Hắn có thể lường trước được việc anh sẽ chịu trách nhiệm điều tra, Harry ạ. Chính vì thế anh mới nhận được lá thư đó. Tôi chỉ muốn nhắc anh nên thận trọng.”
“Cô cố tình dọa cho tôi sợ đấy à?”
Cô nhún vai. “Nếu anh mà sợ, anh biết điều đó nghĩa là gì không?”
“Không.”
Katrine mở cửa xe. “Nghĩa là anh nên tìm nghề khác mà làm.”
Harry mở khóa căn hộ của mình, cởi đôi bốt và dừng lại ở ngưỡng cửa phòng khách. Căn phòng giờ đã lanh tanh bành hết cả, giống như bộ đồ chơi lắp ghép bị tháo dỡ. Ánh trăng soi tỏ một hình thù màu trắng trên bức tường gạch đỏ trần trụi. Anh bước vào.
Đó là một số 8 được viết bằng phấn. Anh đưa tay ra chạm vào nó. Chắc là người xử lý nấm mốc đã viết, nhưng nó có ý nghĩa gì? Cũng có thể đó là mã để anh ta biết phải dùng loại dung dịch nào ở đây.
Những cơn ác mộng điên cuồng hành hạ Harry suốt đêm, khiến anh khổ sở vật vã. Anh mơ thấy mình bị nhét thứ gì đó vào miệng và anh phải hô hấp thông qua một cái lỗ để khỏi chết ngạt. Nó có vị của dầu, kim loại và thuốc súng, cuối cùng, bên trong không còn lại chút không khí nào mà chỉ toàn chân không. Thế rồi anh nhổ thứ đó ra và phát hiện mình hít thở không phải thông qua một họng súng mà là con số 8. Số 8 với một vòng tròn lớn ở phía dưới, vòng tròn nhỏ hơn ở trên. Vòng lớn nằm dưới, vòng nhỏ bên trên. Dần dần, số 8 đó lại có thêm vòng tròn thứ ba nhỏ hơn nữa ở trên đỉnh. Một cái đầu. Là đầu của Sylvia Ottersen. Cô ta cố thét lên, cố nói cho anh biết chuyện gì xảy ra, nhưng không thể. Cặp môi của cô ta đã bị khâu kín.
Khi tỉnh giấc, hai mắt anh kèm nhèm dính lại, đầu đau như dần, môi bị phủ một lớp có vị phấn và đắng ngắt như mật.