Những đám mây dày, xốp đã che mất ánh bình minh lúc Harry đặt chân lên hành lang tầng sáu của tòa nhà cao tầng ở Frogner. Tresko để hé cửa căn hộ, và khi Harry bước vào, Tresko đang ngồi trên sofa, chân gác lên bàn trà, tay trái cầm điều khiển từ xa. Những hình ảnh lật giở trên màn hình hợp thành bức tranh ghép mảnh ở dạng kỹ thuật số.
“Không muốn uống bia thật à?” Tresko hỏi lại, giơ cái chai còn phân nửa lên. “Hôm nay là thứ Bảy mà.”
Harry nghĩ hình như anh ngửi thấy mùi do vi khuẩn sinh ra trong không khí. Hai cái gạt tàn đầy những đầu lọc thuốc lá.
“Không, cảm ơn,” Harry nói và ngồi xuống. “Sao?”
“À, tôi mới nghiên cứu được mỗi một đêm,” Tresko nói và cho đầu DVD ngừng chạy. “Thường thì phải mất vài ngày cơ.”
“Lão này đâu phải tay chơi poker chuyên nghiệp,” Harry nói.
“Đừng coi thường,” Tresko nói và đưa chai lên tu một ngụm. “Lão thấu cáy còn giỏi hơn khối người chơi đấy. Đây là đoạn cậu hỏi lão một câu mà cậu cho rằng lão sẽ trả lời bằng cách nói dối, đúng không?”
Tresko bấm nút PLAY và Harry trông thấy hình ảnh của mình ở trường quay. Anh mặc áo vét sọc mảnh của một hãng thời trang Thụy Điển, cái áo hơi chật quá so với anh. Bên trong là áo phông đen do Rakel tặng. Kết hợp cùng quần jean Diesel và bốt Dr Martens. Tư thế ngồi của anh trông đến là kỳ cục, cứ như thể trên lưng ghế có đinh vậy. Câu hỏi phát ra từ bộ loa ti vi nghe sao khô khốc. “Ông có mời cô ta tham dự hoạt động ngoại khóa ngắn hạn tại phòng khách sạn của mình không?”
“Không, tôi không nghĩ thế,” Støp trả lời và rồi bất động khi Tresko bấm nút dừng.
“Đoạn này cậu biết lão nói dối à?” Tresko hỏi.
“Ừ,” Harry nói. “Lão đã ngủ với một cô bạn của Rakel. Phụ nữ nói chung không thích khoe khoang. Cậu phát hiện ra được gì?”
“Nếu chạy đoạn clip này trên máy tính, tôi có thể phóng to đôi mắt, nhưng không cần thiết. Cậu có thể thấy đồng tử nở ra.” Tresko giơ ngón tay trỏ có móng bị cắn nham nhở, chỉ về phía màn hình. “Đó là dấu hiệu kinh điển của sự căng thẳng. Chú ý cả lỗ mũi nữa. Cậu có thấy hai cánh mũi hơi phình ra tí xíu không? Con người thường như thế vào lúc căng thẳng vì bộ não cần tiếp thêm ôxy. Nhưng điều đó không có nghĩa lão đang nói dối; nhiều người cũng căng thẳng ngay cả khi nói thật. Hoặc chẳng hề căng thẳng khi nói dối. Ví dụ cậu thấy đấy, bàn tay lão vẫn để yên kìa.”
Harry phát hiện ra giọng nói của Tresko đã biến đổi; những âm sắc khó nghe không còn nữa, chất giọng trở nên nhẹ nhàng, gần như êm ái. Harry nhìn lên màn hình, quan sát hai bàn tay Støp để yên trên đùi, tay trái áp lên tay phải.
“E rằng không có dấu hiệu nào áp dụng được cho tất cả các trường hợp,” Tresko nói tiếp. “Những người chơi poker chẳng ai giống ai, thế nên việc cần làm là chỉ ra những sự khác biệt. Tìm xem khi một người nói dối, anh ta thay đổi như thế nào so với lúc nói thật. Nó giống như phép tam giác đạc ấy, cậu cần phải xác định được hai điểm cố định.”
“Một câu nói dối và một câu trả lời thật. Nghe có vẻ dễ.”
“Nghe có vẻ là đúng đây. Nếu giả sử lão nói thật khi kể về quá trình thành lập tạp chí và vì sao lão ghét đám chính khách, vậy thì ta sẽ có được điểm thứ hai.” Tresko tua lại đoạn clip và bấm nút chạy. “Nhìn nhé.”
Harry nhìn. Nhưng rõ ràng anh nhìn chưa đúng chỗ. Anh lắc đầu.
“Bàn tay,” Tresko nói. “Chú ý vào hai bàn tay ấy.”
Harry quan sát đôi tay rám nắng của Støp đang đặt trên tay vịn ghế.
“Chúng không cử động,” Harry nói.
“Đúng, nhưng lão không giấu chúng đi,” Tresko nói. “Dấu hiệu kinh điển cho thấy một tay chơi poker kém cỏi với bài yếu xìu là bọn họ tìm đủ cách giấu bài phía sau tay. Và khi thấu cáy, họ hay đưa bàn tay với điệu bộ như đang suy tư lên miệng để che đi biểu cảm. Bọn tôi gọi những người như thế là bọn ỉm. Kẻ khác lại có kiểu thấu cáy khoa trương bằng cách ngồi thẳng tưng trên ghế hoặc ngả ra sau để mình trông như to lớn hơn. Bọn đó gọi là bọn phô. Støp thuộc loại ỉm.”
Harry rướn người tới trước. “Cậu có thấy…?”
“Có,” Tresko đáp. “Và hành động đó diễn ra từ đầu đến cuối. Khi nói dối, lão bỏ tay ra khỏi ghế và giấu tay phải đi - tôi đoán lão thuận tay phải.”
“Lão nói thế nào lúc tôi hỏi lão có làm người tuyết không?” Harry không buồn che giấu sự hào hứng của mình.
“Lão nói dối,” Tresko đáp.
“Ở đoạn nào? Đoạn làm người tuyết hay đoạn làm người tuyết trên mái nhà?”
Tresko bật ra tiếng phì phò ngắn ngủi mà Harry nhận ra là tiếng cười.
“Đây đâu phải bộ môn khoa học chính xác,” Tresko bảo. “Như tôi đã nói, lão không phải người chơi dở tệ đâu. Trong mấy giây đầu tiên khi cậu nêu câu hỏi, lão đặt bàn tay lên tay vịn ghế như thể đang tính nói thật. Đồng thời, lỗ mũi nở ra như thể lão đang căng thẳng. Nhưng rồi lão đổi ý, giấu bàn tay phải đi và trả lời bằng cách nói dối.”
“Đúng thế,” Harry nói. “Và như vậy nghĩa là lão có điều muốn che giấu, phải không?”
Tresko mím môi, cho thấy đây là vấn đề hóc búa. “Điều đó cũng có thể có nghĩa lão chọn cách đưa ra một câu nói dối mà lão biết sẽ bị bóc mẽ. Để giấu đi thực tế rằng lão hoàn toàn có thể dễ dàng nói ra sự thật.”
“Ý cậu là sao?”
“Khi những tay chơi lão luyện có được bài tốt, đôi lúc thay vì cố tăng tiền cược thì họ lại đặt cược cao ở lần đầu tiên và phát những tín hiệu rất kín đáo cho thấy họ đang thấu cáy. Chỉ vừa đủ để lừa các tay chơi non nớt tin rằng mình đã phát hiện ra trò thấu cáy và nhảy vào đặt cược, về cơ bản, có vẻ đó là những gì diễn ra trong clip. Kiểu như một lời nói dối giả hiệu ấy.”
Harry chậm rãi gật đầu. “Ý cậu là lão cố tình khiến tôi tin rằng lão đang có điều muốn che giấu?”
Tresko nhìn chai bia rỗng, rồi lại nhìn cái tủ lạnh, làm bộ nhấc tấm thân hộ pháp khỏi sofa và thở dài.
“Tôi đã bảo rồi, đây không phải môn khoa học chính xác,” cậu ta nói. “Cậu làm ơn…”
Harry đứng dậy bước tới chỗ tủ lạnh. Anh rủa thầm trong bụng. Lúc gọi điện cho Oda ở chương trình Bosse, anh đã biết bọn họ sẽ chấp nhận khi anh ngỏ ý muốn tham gia. Anh cũng biết mình sẽ có cơ hội trực tiếp hỏi Støp mà không bị ai ngăn cản, đó là đặc điểm của chương trình. Và máy quay sẽ ghi hình nhân vật trả lời câu hỏi, quay cận cảnh hoặc bán thân, tức nửa thân phía trên. Tất cả đều được sắp đặt thật hoàn hảo để Tresko phân tích. Ấy thế mà họ đã chào thua. Đây là tia hy vọng cuối cùng, nơi cuối cùng có chút ánh sáng le lói để tìm kiếm. Còn lại chỉ toàn bóng tối. Và có thể là mười năm vừa mò mẫm vừa cầu may mắn, cầu sự tình cờ, hoặc sự bất cẩn nào đó.
Harry nhìn chằm chằm những chai bia Ringnes xếp thành hàng ngay ngắn trong tủ lạnh, đối lập một cách tức cười với khung cảnh căn hộ như bãi chiến trường. Anh lưỡng lự. Rồi lấy ra hai chai. Chai bia lạnh rát cả tay. Cửa tủ bắt đầu đóng lại.
“Đoạn duy nhất tôi có thể tự tin khẳng định Støp nói dối,” Tresko ngồi trên sofa nói, “là khi lão trả lời gia đình lão không có ai mắc chứng tâm thần hoặc căn bệnh di truyền nào.”
Harry xoay xở dùng chân kịp thời chặn được cánh cửa tủ. Ánh sáng hắt ra từ khe hở chiếu lên ô cửa sổ đen sì không có mành rèm gì cả.
“Nhắc lại coi,” anh nói.
Tresko nhắc lại.
Hai mươi lăm giây sau Harry đã đi hết lưng chừng cầu thang, Tresko cũng đi hết lưng chừng chai bia Harry quẳng cho.
“Ờ, còn điều này nữa, Harry,” Tresko lẩm bẩm một mình. “Bosse hỏi cậu có người đặc biệt nào đó mà cậu đang chờ đợi mỏi mòn không, và cậu đáp rằng không ấy mà.” Tresko ợ một cái. “Đừng có học chơi poker đấy nhé, Harry.”
Harry ngồi trong xe lấy điện thoại ra gọi.
Đầu bên kia lên tiếng trước cả khi anh kịp giới thiệu tên. “Chào Harry.”
Ý nghĩ Mathias Lund-Helgesen hoặc là nhận ra số máy của anh hoặc đã lưu sẵn trong danh bạ khiến Harry rùng mình ớn lạnh. Anh nghe thấy tiếng nói của Rakel và Oleg vọng vào điện thoại. Cuối tuần. Tụ họp gia đình.
“Tôi có điều muốn hỏi về phòng khám Marienlyst. Ở đó còn lưu hồ sơ bệnh án nào không?”
“Chắc là không đâu,” Mathias nói. “Tôi nhớ hình như có quy định những thứ kiểu như vậy phải bị tiêu hủy nếu không ai tiếp quản việc kinh doanh. Nhưng nếu là việc quan trọng thì tôi có thể kiểm tra.”
“Cảm ơn anh.”
Harry phóng xe qua trạm tàu điện Vinderen. Một bóng ma bỗng vụt qua trong thoáng chốc. Cuộc truy đuổi bằng ô tô, cứ va chạm, một đồng nghiệp tử vong, tin đồn người cầm lái là Harry và đáng lẽ anh phải bị kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở. Chuyện xảy ra đã lâu lắm rồi. Mọi thứ giờ chỉ như nước trôi qua cầu. Như vết sẹo ẩn dưới làn da. Vết chàm in dấu trong tâm hồn.
Mười lăm phút sau Mathias gọi lại.
“Tôi đã nói chuyện với Gregersen, ông chủ cũ của Marienlyst. E rằng mọi thứ đều đã bị xóa hoặc tiêu hủy rồi. Nhưng tôi nghĩ có một số người, như Idar chẳng hạn, mang theo dữ liệu bệnh nhân khi ra đi.”
“Vậy còn anh?”
“Tôi không có ý định làm ở phòng khám tư, nên chẳng mang theo gì cả.”
“Liệu anh có nhớ được tên bệnh nhân nào của Idar không?”
“Có thể là một vài người. Nhưng không nhiều. Lâu quá rồi, Harry ạ.”
“Tôi hiểu. Dù sao cũng cảm ơn anh.”
Harry ngắt máy và đi theo biển chỉ dẫn tới Rikshospitalet. Một loạt tòa nhà nằm trên triền đồi thấp hiện ra trước mắt anh.
Gerda Nelvik là một phụ nữ nở nang, dịu hiền ở độ tuổi tứ tuần và là người duy nhất ở phân khu nam giới tại Viện Pháp Y ở Rikshospitalet thứ Bảy này. Bà gặp Harry ở quầy tiếp tân và dẫn anh vào. Chẳng có gì cho thấy đây là nơi mà bọn tội phạm tệ hại nhất xã hội bị truy lùng. Những căn phòng sáng, bài trí theo lối ấm cúng, là bằng chứng xác nhận chuyện đội ngũ nhân viên ở đây hầu hết đều là phụ nữ.
Harry đã từng đến đây và anh cũng nắm được các thủ tục xét nghiệm ADN. Nếu là ngày thường, qua những ô cửa sổ phòng thí nghiệm anh sẽ trông thấy những phụ nữ mặc áo khoác trắng, đội mũ trắng và đeo găng tay dùng một lần đang lúi húi bên các loại dung dịch và máy móc, mải mê với những kỹ thuật bí hiểm gọi là chuẩn bị mẫu tóc, chuẩn bị mẫu máu và khuếch đại, cuối cùng sẽ cho ra một báo cáo ngắn gọn với kết luận dưới dạng trị số đối với mười lăm chỉ thị ADN khác nhau.
Họ đi qua một căn phòng với những hàng kệ chứa toàn phong bì dày màu nâu có ghi tên của những sở cảnh sát ở khắp nơi trên cả nước. Harry biết trong đó là những mẩu vải, sợi tóc, vỏ bọc đồ nội thất, máu và vật chất hữu cơ được gửi đến để phân tích. Tất cả nhằm tìm ra một mã số đại diện cho những điểm có chọn lọc trên một chuỗi xoắn kép bí ẩn gọi là ADN và tiết lộ danh tính chủ nhân của nó với độ chính xác lên đến 99,999… phần trăm, một loạt số 9 đi kèm sau dấu phẩy.
Diện tích phòng làm việc của Gerda Nelvik không lớn mà chỉ đủ để chứa hàng dãy kệ chất toàn những tập bìa còng đựng hồ sơ, một cái bàn làm việc với bộ máy tính, hàng đống giấy tờ và một tấm ảnh lớn chụp hai cậu bé đang cười, trên tay mỗi đứa cầm một chiếc ván trượt tuyết. “Con trai chị đây à?” Harry hỏi và ngồi xuống.
“Chắc thế,” chị ta mỉm cười.
“Sao cơ?”
“Trò đùa của dân trong nghề tụi tôi ấy mà. Anh đã hỏi về việc có người gửi yêu cầu xét nghiệm phải không nhỉ?”
“Vâng. Tôi rất muốn biết thông tin về tất cả các xét nghiệm ADN được một trung tâm gửi đến. Bắt đầu từ mười hai năm trước. Và tôi muốn biết đối tượng được xét nghiệm là ai.”
“Tôi hiểu rồi. Trung tâm đó tên là gì?”
“Phòng khám Marienlyst.”
“Phòng khám Marienlyst ư? Anh chắc chứ?”
“Sao chị lại hỏi thế?”
Chị ta nhún vai. “Trong các trường hợp cần xác định huyết thống cha con, người gửi yêu cầu thường là bên tòa án hoặc luật sư. Hoặc đích thân đối tượng.”
“Những trường hợp này không liên quan đến kiện cáo mà là để xác nhận mối quan hệ huyết thống nếu có, do đối tượng có nguy cơ mắc bệnh di truyền.”
“A ha,” Gerda nói. “Thế thì trong kho dữ liệu của bọn tôi sẽ lưu.”
“Chị có thể kiểm tra luôn bây giờ không?”
“Còn phải xem anh có đợi được khoảng…” Gerda nhìn đồng hồ, “ba mươi giây không đã.”
Harry gật đầu.
Gerda vừa gõ bàn phím vừa lẩm nhẩm đọc. “P-h-ò-n-g k-h- á-m M-a-r-i-e-n-l-y-s-t.”
Chị ta ngả người ra sau trong lúc đợi máy tính tìm kiếm.
“Mùa thu năm nay thời tiết tệ quá nhỉ?” Gerda nói.
“Vâng,” Harry đáp, tâm trí để tận đâu đâu, lắng nghe tiếng ổ cứng chạy ro ro như thể điều đó sẽ cho biết kết quả trả về có phải là câu trả lời anh đang kiếm tìm hay không.
“Bóng tối có thể tác động xấu đến con người,” Gerda nói. “Hy vọng sớm có tuyết rơi. Như thế ít nhất trời đất cũng sáng sủa hơn.”
“Ừm,” Harry nói.
Tiếng ro ro đã chấm dứt.
“Đây rồi,” chị ta nói và nhìn màn hình.
Harry hít một hơi dài.
“Đúng, phòng khám Marienlyst là khách hàng của chúng tôi. Nhưng đã thôi từ cách đây khá lâu rồi.”
Harry cố nhớ lại. Idar Vetlesen nghỉ việc ở đó từ khi nào nhỉ?
Gerda nhíu mày. “Nhưng trước đó họ gửi rất nhiều yêu cầu xét nghiệm.”
Chị ta lưỡng lự. Harry đợi chị ta nói trước. Thế rồi chị ta bảo, “Con số cao bất thường đối với một phòng khám, tôi nghĩ vậy.”
Harry chợt linh cảm đây là con đường cảnh sát cần đi, đây là con đường dẫn họ thoát khỏi chốn mê cung. Hay đúng hơn là đưa họ bước vào mê cung. Vào trung tâm của bóng tối.
“Chị có tên hay thông tin cá nhân nào của những đối tượng được xét nghiệm không?”
Gerda lắc đầu. “Thường thì sẽ có, nhưng trong trường hợp này, rõ ràng là phòng khám đã yêu cầu giữ bí mật danh tính.”
Mẹ kiếp! Harry nhắm mắt và rủa thầm.
“Nhưng kết quả thì vẫn còn lưu chứ? Về việc các đối tượng có phải là cha con không ấy mà.”
“Vâng, đúng thế,” Gerda nói.
“Kết quả ra sao?”
“Tôi không thể nói ngay được. Phải vào từng hồ sơ để kiểm tra, mà như vậy sẽ mất nhiều thời gian hơn.”
“Thôi được. Nhưng các chị có lưu hồ sơ ADN của những đối tượng được xét nghiệm không?”
“Có.”
“Và xét nghiệm này cũng chi tiết như các xét nghiệm trong những vụ án hình sự chứ?”
“Còn chi tiết hơn ấy. Để xác định chắc chắn mối quan hệ cha con, chúng tôi cần phải dựa vào nhiều chỉ thị ADN hơn, vì một nửa bộ gen được di truyền từ người mẹ mà.”
“Vậy ý chị là tôi có thể lấy mẫu tế bào niêm mạc của một người cụ thể, gửi đến đây và nhờ chị tìm giúp những điểm tương đồng có thể có với những đối tượng của phòng khám Marienlyst mà chị đã kiểm tra?”
“Câu trả lời là đúng,” Gerda nói, ngữ điệu ngầm cho thấy chị ta rất muốn biết lý do.
“Tốt quá,” Harry nói. “Các đồng nghiệp của tôi sẽ gửi cho chị mẫu tế bào niêm mạc của một số người, họ là chồng và con của những phụ nữ đã mất tích trong vài năm gần đây. Để kiểm tra xem các mẫu đó đã được gửi đến đây bao giờ chưa. Tôi sẽ tìm mọi cách để cấp trên phê duyệt đưa yêu cầu này vào hạng cần được ưu tiên số một.”
Hai mắt Gerda bất chợt sáng ngời như đèn pha. “Giờ thì tôi biết tôi đã trông thấy anh ở đâu rồi! Trong chương trình Bosse. Có phải chuyện này là về…?”
Dù trong phòng chỉ có hai người, chị ta vẫn hạ giọng thì thào như thể bí danh cảnh sát đặt cho tên nghiệt súc đó là một lời nguyền, một từ tục tĩu, một thứ bùa chú chớ nên nói to thành lời.
Harry gọi điện cho Katrine và hẹn gặp cô tại quán cà phê Java ở khu St. Hanshaugen. Anh đỗ xe trước một tòa nhà chung cư cũ có tấm biển treo ở cổng với lời hăm dọa xe nào đỗ ở đó sẽ bị kéo đi, dù lối vào chắc chỉ bằng chiều rộng cái máy cắt cỏ là cùng. Con phố Ullevålsveien tấp nập người qua kẻ lại đi sắm đồ dùng thiết yếu vào thứ Bảy. Một cơn gió bấc lạnh căm ùa tới từ St. Hanshaugen khi đang trên đường đến nghĩa trang Vår Frelsers để thổi bay những chiếc mũ đen của đoàn người có mặt trong lễ viếng.
Harry mua một suất double espresso và một suất [1] đựng trong cốc giấy mang đi, rồi ngồi xuống một chiếc ghế ở vỉa hè. Phía bên kia đường, trên mặt hồ có một con thiên nga trắng đơn độc lững lờ trôi trong câm lặng, cái cổ cong cong như hình dấu hỏi. Harry ngắm nhìn con thiên nga và chợt liên tưởng đến tên gọi của loại bẫy dùng để bắt cáo. Làn gió thổi khiến mặt hồ lăn tăn gợn sóng.
“Cortado còn nóng không vậy?”
Katrine đang đứng trước mặt Harry với bàn tay chìa ra.
Harry đưa chiếc cốc giấy cho cô, sau đó cả hai cùng tới chỗ anh đỗ xe.
“May là cô không ngại làm việc vào sáng thứ Bảy,” anh nói.
“May là anh không ngại làm việc vào sáng thứ Bảy,” cô đáp.
“Tôi độc thân mà,” anh nói. “Sáng thứ Bảy chả có giá trị gì với dân độc thân tụi tôi. Nhưng cô thì khác, phải sống đi chứ.”
Một ông lão đứng đó quắc mắt nhìn chiếc ô tô của Harry khi hai người tới nơi.
“Tôi gọi xe kéo rồi đấy,” ông ta nói.
“Vâng, nghe nói dòng đó phổ biến phết,” Harry đáp và mở cửa xe. “Vấn đề chỉ là có tìm được chỗ mà đỗ không thôi.”
Hai người vào xe, một ngón tay nhăn nheo gõ lên tấm kính. Harry hạ cửa sổ xuống.
“Xe kéo đang trên đường tới rồi,” ông ta nói. “Anh phải ở lại đây chờ.”
“Thế sao?” Harry nói và giơ thẻ lên.
Ông già lờ tấm thẻ đi, cau có nhìn đồng hồ đeo tay.
“Cửa nhà ông quá hẹp, không đủ tiêu chuẩn để được coi là cổng,” Harry nói. “Tôi sẽ gọi người của bên giao thông tới tháo tấm biển sai luật của ông. E rằng sẽ còn phạt nặng nữa.”
“Cái gì?”
“Chúng tôi là cảnh sát.”
Ông già giật phắt lấy tấm thẻ, ánh mắt ngờ vực soi mói nhìn Harry, đọc thẻ, rồi lại ngó Harry lần nữa.
“Lần này cho qua. Anh đi đi,” ông ta lầm bầm với vẻ cáu kỉnh và trả thẻ cho Harry.
“Không cho qua được,” Harry đáp. “Bây giờ tôi sẽ gọi bên giao thông.”
Ông ta trừng mắt nhìn anh đầy tức tối.
Harry vặn chìa khóa, chờ cho động cơ chiếc xe gầm lên rồi quay sang ông già và nói tiếp. “Ông phải ở đây chờ đấy.”
Khi phóng xe đi, hai người nhìn vào gương chiếu hậu và thấy ông ta đứng đó, miệng há hốc.
Katrine bật cười. “Anh hư quá! Đến ông già cũng không tha.”
Harry liếc xéo cô. Nét mặt cô thật lạ, như thể chỉ cười thôi cũng làm cô đau đớn. Ngược đời thay, sau cái lần ở bar Fenris, dường như cô trở nên thoải mái hơn khi ở cạnh anh. Có lẽ đó là một đặc điểm của phụ nữ quyến rũ, khi cự tuyệt họ, ta lại chiếm được sự tôn trọng của họ, khiến họ tin tưởng ta hơn.
Harry mỉm cười. Anh tự hỏi không biết cô sẽ phản ứng thế nào nếu biết sáng nay anh thức giấc với phần hạ bộ căng cứng và những mảnh ghép rời rạc của giấc mơ, anh mơ thấy mình làm tình với cô trong lúc cô ngồi trên bồn rửa nhà vệ sinh ở quán bar Fenris, đôi chân dang rộng. Màn ân ái mạnh bạo đến mức khiến cho đường ống kêu cót két, nước trong bồn cầu sóng sánh, những chiếc đèn neon rung ì ì và nhấp nháy, anh cảm nhận được cả lớp men sứ lạnh băng chạm vào da với mỗi cú thúc. Tấm gương phía sau lưng cô rung mạnh làm hình bóng anh nhòe đi trong lúc hông, lưng và đùi họ va đập vào vòi nước, máy hong tay và khay để xà phòng. Chỉ đến khi mọi chuyện chấm dứt thì anh mới nhận ra khuôn mặt trong gương không phải anh mà là một người khác.
“Anh đang nghĩ gì vậy?” cô hỏi.
“Nghĩ đến việc lấy giống,” Harry đáp.
“Ồ?”
Harry đưa cho cô một cái gói và cô mở ra. Phía trên có một mảnh giây với tiêu đề Hướng dẫn sử dụng bộ lấy mẫu tế bào niêm mạc xét nghiệm ADN.
“Dường như tất cả đầu mối đều quy về việc xác định huyết thống cha con,” Harry nói. “Tôi chỉ chưa rõ chúng liên quan đến nhau như thế nào và vì lý do gì.”
“Bây giờ chúng ta tới…?” Katrine hỏi, giơ lên một gói tăm bông nhỏ.
“Sollihøgda,” Harry đáp. “Để lấy mẫu tế bào niêm mạc của cặp song sinh.”
Trên những cánh đồng bao quanh nông trại, tuyết đã dần dần rút lui. Lớp tuyết ướt nhẹp xám xịt giờ yên vị ở ngoại ô, nơi vẫn còn bị chúng chiếm cứ.
Rolf Ottersen ra mở cửa và mời họ dùng cà phê. Sau khi cởi áo khoác, Harry nói với anh ta ý định của mình. Rolf Ottersen không hỏi lý do mà chỉ gật đầu.
Hai cô bé sinh đôi đang ngồi đan len trong phòng khách.
“Các con đan gì đấy?” Katrine hỏi.
“Khăn ạ,” cặp song sinh đồng thanh đáp. “Dì dạy bọn con.”
Hai đứa trẻ ra hiệu về phía Ane Pedersen, người đang ngồi trên ghế bập bênh nở nụ cười rất vui được gặp lại cô với Katrine.
“Tôi chỉ muốn lấy tí nước bọt và dịch nhầy trong miệng chúng thôi,” Katrine vui vẻ nói và giơ tăm bông lên. “Há to nào.”
Hai đứa trẻ khúc khích cười và bỏ đồ đan xuống.
Harry đi theo Rolf Ottersen vào bếp, ở đó có ấm nước lớn đã sôi và cà phê nóng tỏa hương thom phức.
“Vậy là các anh đã nhầm,” Rolf nói. “Về tay bác sĩ đó.”
“Có thể,” Harry nói. “Hoặc cũng có thể rốt cuộc anh ta đúng là có mối liên quan nào đó với vụ án. Tôi xem qua nhà kho lần nữa được không?”
Rolf Ottersen ra hiệu bảo Harry cứ tự nhiên.
“Nhưng Ane đã dọn dẹp đâu vào đấy cả rồi,” anh ta nói. “Chẳng còn gì nhiều nhặn để anh xem đâu.”
Nhà kho đúng là ngăn nắp thật. Harry nhớ trên sàn từng loang lổ máu gà vừa đặc vừa thẫm khi Holm đến lấy mẫu, nhưng giờ sàn đã được cọ sạch. Ván sàn có màu hồng ở nơi máu thấm xuống. Harry đứng bên khối gỗ dùng để chặt và nhìn ra cửa. Cố hình dung cảnh Sylvia đứng đó làm thịt gà khi Người tuyết xuất hiện. Cô ta có bị bất ngờ không? Cô ta đã giết hai con gà. Không, ba con mới đúng. Sao anh lại nghĩ là hai con nhỉ? Hai cộng một. Sao lại cộng một? Anh nhắm mắt lại.
Hai con gà được đặt trên khối gỗ, máu chảy ròng ròng xuống đống mùn cưa bên dưới. Đó là cách làm đúng đắn khi muốn thịt gà. Nhưng con gà thứ ba lại nằm cách đó một quãng, làm vấy bẩn sàn gỗ. Trình độ thật non kém. Máu đã đông lại ở nơi cổ gà bị chặt đứt. Giống như trường hợp của Sylvia vậy. Anh nhớ lại cách giải thích Holm đưa ra. Và anh biết ý nghĩ này không có gì mới mẻ, nó đã ngự trị trong đầu anh cùng với những ý tưởng nửa vời, dang dở, nửa hư nửa thực khác. Con gà thứ ba bị giết theo cùng một cách với Sylvia, bị vòng dây điện cứa đứt đầu.
Anh bước tới chỗ sàn thấm máu và ngồi thụp xuống.
Nếu con gà thứ ba là do Người Tuyết giết, vậy tại sao hắn lại chọn dùng vòng dây mà không phải là chiếc rìu? Câu trả lời rất đơn giản. Đó là vì cái rìu đã mất hút đâu đó trong rừng sâu rồi. Như vậy việc này chắc chắn phải xảy ra sau khi hắn giết người. Hắn lặn lội quay lại tận đây để giết một con gà. Nhưng vì lý do gì mới được? Một kiểu nghi thức tà đạo ư? Hay là vì nhất thời kích động? Thật vớ vẩn, cỗ máy giết chóc đó luôn tuân thủ kế hoạch, theo đúng mô thức hắn đặt ra.
Hắn làm thế nhất định là có nguyên do.
“Tại sao nhỉ?”
“Tại sao á?” Katrine hỏi.
Harry không nghe thấy tiếng cô đi vào. Cô đứng ở ngưỡng cửa nhà kho, ánh sáng của chiếc bóng đèn sợi tóc duy nhất rọi lên mặt cô, cô giơ hai chiếc túi nhựa đựng tăm bông lên. Harry rùng mình khi một lần nữa trông thấy dáng đứng đó của cô, ở ngưỡng cửa, hai tay chĩa thẳng về phía anh. Hệt như lúc ở nhà Becker. Nhưng vẫn còn một điều khác, một điều anh bất ngờ nhận ra.
“Như tôi đã nói,” Harry lẩm bẩm trong lúc quan sát vết loang màu hồng còn sót lại, “tôi cho rằng tất cả mọi chuyện đều có liên quan đến những mối quan hệ máu mủ. Và âm mưu che đậy sự thật.”
“Là ai?” cô hỏi và bước về phía anh. Gót giày khua lộp cộp trên sàn gỗ. “Anh đang nghĩ đến người nào vậy?”
Cô ngồi thụp xuống cạnh anh. Mùi nước hoa nam tính của cô thoảng qua chỗ anh, từ làn da ấm áp tỏa vào không khí lạnh lẽo.
“Tôi không biết.”
“Đây đâu phải suy luận có hệ thống, chỉ là một ý tưởng anh nảy ra mà thôi. Anh đã nghĩ đến một giả thuyết.” Cô tuyên bố một cách đơn giản và quệt ngón trỏ bàn tay phải vào đống mùn cưa.
Harry lần lữa chưa muốn nói. “Đó thậm chí còn chẳng phải là giả thuyết.”
“Thôi nào, nói thật đi.”
Harry hít một hơi thật sâu. “Arve Støp.”
“Ông ta thì có liên quan gì?”
“Arve Støp nói ông ta tìm đến Idar Vetlesen để nhờ anh ta điều trị hội chứng khuỷu tay tennis. Nhưng theo lời Borghild, Vetlesen không giữ hồ sơ nào của Støp cả. Tôi cứ thắc mắc vì sao lại như vậy.”
Katrine nhún vai. “Có thể là chuyện không chỉ liên quan đến cái khuỷu tay. Biết đâu Støp sợ lưu lại bằng chứng cho thấy mình đã đi chỉnh sửa nhan sắc.”
“Nếu Idar Vetlesen chấp nhận không lưu lại thông tin của tất cả những bệnh nhân lo ngại điều đó, thì trong các hồ sơ của anh ta đã chẳng có cái tên nào. Vì thế tôi cho rằng chắc chắn là còn một nguyên nhân khác, một điều tuyệt đối không thể bị phơi bày trước con mắt soi mói của dư luận.”
“Ví dụ?”
“Støp đã nói dối trong chương trình Bosse. Ông ta bảo gia đình mình không có tiền sử mắc chứng tâm thần hoặc căn bệnh di truyền nào.”
“Thế có à?”
“Cứ tạm cho là vậy, coi như một giả thuyết đi.”
“Giả thuyết mà thậm chí còn chẳng phải là giả thuyết?”
Harry gật đầu. “Idar Vetlesen là chuyên gia về hội chứng Fahr kín tiếng nhất Na Uy. Ngay cả Borghild trợ lý của anh ta cũng còn không biết. Vậy thì làm thế nào Sylvia Ottersen và Birte Becker lại biết mà tìm đến anh ta cơ chứ?”
“Thế nào?”
“Chúng ta hãy giả sử rằng chuyên môn của Vetlesen không nằm ở lĩnh vực bệnh di truyền mà ở khả năng giữ bí mật. Chính anh ta đã nói đó là nền móng cho việc kinh doanh của mình. Cũng vì thế mà cái người vừa là bệnh nhân vừa là bạn đã đến gặp Vetlesen và nói rằng mình mắc hội chứng Fahr theo chẩn đoán được một phòng khám khác đưa ra trước đó, bởi một chuyên gia thực thụ. Nhưng chuyên gia này không có được sự kín đáo của Vetlesen, trong khi đây lại là thông tin nhất thiết phải giữ kín. Bệnh nhân kiên quyết yêu cầu điều đó, và có thể còn chịu bỏ thêm tiền để mua sự im lặng. Vì người này có thừa khả năng chi trả.”
“Arve Støp?”
“Phải.”
“Nhưng ông ta đã được bác sĩ khác chẩn đoán rồi mà và vụ đấy có thể sẽ bị rò rỉ chứ.”
“Đó không phải mối lo ngại lớn nhất của Støp. Mà ông ta sợ lộ chuyện mình đưa con đến khám. Đứa con ông ta muốn kiểm tra xem có bị di truyền căn bệnh của mình không. Và việc này phải được giữ bí mật tuyệt đối vì không ai biết chúng là con ông ta. Thực ra, có vài ông bố tin rằng những đứa trẻ là con ruột của mình. Cũng như Filip Becker cứ ngỡ mình là bố đẻ của Jonas. Và…” Harry hất đầu về phía ngôi nhà chính.
“Rolf Ottersen?” Katrine thì thào thở dốc. “Cặp song sinh? Anh có nghĩ là…” cô giơ hai cái túi nhựa lên, “… chúng mang gen của Arve Støp không?”
“Có thể.”
Katrine nhìn anh. “Những phụ nữ mất tích… những đứa trẻ khác…”
“Nếu kết quả xét nghiệm ADN cho thấy Støp là bố đẻ của Jonas và cặp song sinh, đến thứ Hai chúng ta sẽ tiến hành xét nghiệm gen với con cái của những phụ nữ mất tích khác.”
“Ý anh là… Arve Støp đã lang chạ với nhiều người trên khắp Na Uy? Làm cho nhiều phụ nữ có bầu rồi giết họ vài năm sau đó, khi họ đã sinh con đẻ cái?”
Harry xoay vai.
“Tại sao chứ?” cô hỏi.
“Nếu suy nghĩ của tôi là đúng, vậy thì chúng ta đang đối đầu với một kẻ điên loạn, dĩ nhiên rồi, và đây mới chỉ là suy đoán thuần túy thôi. Thường thì sự điên loạn xuất phát từ một lý do khá logic. Cô đã nghe nói đến loài hải cẩu Berhaus bao giờ chưa?”
Katrine lắc đầu.
“Hải cẩu Berhaus bố rất tàn nhẫn và lý trí,” Harry nói. “Sau khi hải cẩu cái sinh con và đã qua giai đoạn nguy hiểm ban đầu, hải cẩu bố sẽ tìm cách giết chết hải cẩu mẹ. Vì nó biết con cái sẽ không muốn kết giống với mình nữa. Và nó không thích để những con hải cẩu non khác cạnh tranh với hậu duệ của mình.”
Katrine dường như cảm thấy điều này thật khó chấp nhận.
“Điên rồ thật,” cô nói. “Nhưng tôi không biết cái gì điên hơn: tư duy theo cách của hải cẩu, hay nghĩ rằng có người đang tư duy theo cách đó.”
“Tôi đã bảo rồi…” Harry đứng dậy và khớp gối của anh phát ra tiếng kêu khá rõ, “đó thậm chí còn chưa phải là một giả thuyết mà.”
“Nói dối,” cô đáp, ngước lên nhìn anh. “Anh tin chắc Arve Støp là bố của lũ trẻ rồi.”
Harry đáp lại bằng nụ cười nửa miệng.
“Anh cũng điên chẳng kém gì tôi,” cô nói.
Harry nhìn cô dò xét. “Ta đi thôi. Viện Pháp y đang chờ mấy cái tăm bông của cô đấy.”
“Vào thứ Bảy ư?” Katrine xoa tay lên đống mùn cưa và xóa đi những hình thù nguệch ngoạc cô đã vẽ. “Bọn họ không biết tận hưởng cuộc sống hay sao vậy?”
Sau khi giao hai cái túi nhựa đến Viện Pháp y và nhận được lời hứa sẽ có kết quả cho anh vào tối nay hoặc sáng sớm mai, Harry lái xe đưa Katrine về nhà cô ở Seilduksgata.
“Chẳng thấy bật đèn đóm gì cả,” Harry nói. “Cô lại ở một mình à?”
“Gái xinh như tôi á?” Cô mỉm cười và cầm lấy tay nắm cửa xe. “Làm gì có chuyện một mình.”
“Ừm. Sao cô lại không muốn tôi kể với các đồng nghiệp của cô ở Sở Cảnh sát Bergen là cô về đó?”
“Gì cơ?”
“Tôi tưởng họ sẽ thích thú khi biết tin cô đang tham gia điều tra chuyên án lớn ở thủ đô.”
Cô nhún vai và mở cửa xe. “Dân Bergen chả coi Oslo là thủ đô đâu. Chúc ngủ ngon.”
“Ngủ ngon.”
Harry lái xe tới Sannergata.
Anh không dám nói chắc, có điều hình như vừa rồi anh thấy Katrine sững lại. Nhưng có thứ gì mi dám chắc chắn đâu? Ngay cả tiếng cách mà mi tưởng là tiếng súng lên cò thì hóa ra lại là tiếng một cô bé con lỡ tay làm gãy nhánh cây khô trong lúc sợ hãi tột độ. Tuy thế, anh không thể giả vờ được nữa, không thể tiếp tục làm như không biết. Tối hôm ấy, Katrine đã chĩa khẩu súng lục công vụ vào lưng Filip Becker. Và khi Harry đứng chắn ngang tầm bắn của cô, anh đã nghe thấy âm thanh đó, cũng chính là âm thanh anh tưởng như nghe thấy khi Salma bẻ nhánh cây trong sân. Đó là tiếng cách trơn tru khi búa gõ của khẩu súng lục trở về vị trí cũ. Như vậy có nghĩa búa đã giương lên, Katrine đã ép cò súng được hơn một phần ba giới hạn, súng có thể nổ bất cứ lúc nào. Cô thực sự có ý định bắn Becker.
Không, anh không thể vờ như không biết. Bởi cái cách ánh sáng chiếu lên mặt cô ở ngưỡng cửa nhà kho. Lúc ấy anh đã nhận ra cô. Và như anh đã nói với cô, tất cả mọi chuyện đều có liên quan đến những mối quan hệ máu mủ.
POB Knut Müller-Nilsen si mê diễn viên Julie Christie. Mê đến độ ông ta chưa bao giờ dám thú nhận điều đó với vợ. Tuy vậy, Müller-Nilsen nghi bà xã có khi cũng đang ngoại tình trong tư tưởng với Omar Sharif nên ông ta chẳng cảm thấy tội lỗi cho lắm khi ngồi bên cạnh vợ và ngắm Julie Christie cho no mắt. Điều đáng tiếc duy nhất là lúc này Julie lại đang đắm đuối ôm ấp gã Sharif đó. Khi điện thoại trong phòng khách đổ chuông và ông ta nghe máy, bà xã nhấn nút tạm dừng khiến khung hình tuyệt đẹp nhưng cũng đầy đau đớn trong bộ phim ưa thích của hai vợ chồng, Bác sĩ Zhivago, trở nên bất động trước mắt họ.
“Chúc buổi tối tốt lành, Hole,” Müller-Nilsen nói sau khi vị thanh tra giới thiệu tên mình. “Phải, tôi cũng đoán lúc này anh đang bận đủ thứ việc rồi.”
“Ông có tiện nói chuyện một lát không?” giọng nói khàn khàn nhưng êm ái ở đầu dây bên kia hỏi.
Müller-Nilsen nhìn đôi môi đỏ khẽ run rẩy và cặp mắt ngước lên mơ màng của Julie. “Bao lâu cũng được, Hole ạ.”
“Ông đã cho tôi xem ảnh Gert Rafto lúc tôi đến văn phòng của ông. Tôi nhận thấy bức ảnh có điều gì đó quen quen.”
“Vậy sao?”
“Rồi sau đó ông nhắc đến con gái ông ta. Ông bảo: Sau rồi cũng thành người tử tế, anh biết đấy. Vấn đề nằm ở ba từ anh biết đấy ám chỉ sự thật hiển nhiên. Cứ như thể đây là điều tôi đã biết trước rồi.”
“Ừ, nhưng cô ta đúng là cũng thành người tử tế mà, phải không?” Müller-Nilsen nói.
“Phải hay không còn phụ thuộc vào cách nhìn,” Harry trả lời.
❀ ❀ ❀
[1] Cortado là cà phê đen pha với sữa ấm kiểu Tây Ban Nha.