Lúc hai giờ chiều, Camilla Lossius lái xe từ phòng gym về nhà. Như thường lệ, cô phải đi cả một quãng đường từ bên kia thành phố sang khu Tây Oslo để đến với trung tâm thể hình Colosseum. Lý do không phải bởi thiết bị tập ở đây khác với thiết bị của phòng gym gần nhà cô ở Tveita, mà vì những học viên tại Colosseum có nhiều điểm chung với cô hơn. Họ đều là dân ở khu Tây. Chuyển đến sống ở Tveita là một điều kiện trong thỏa thuận giữa cô và Erik trước khi kết hôn. Hồi ấy cô đành coi như hy sinh vì lợi ích tổng thể. Cô quành xe vào con phố nơi mình sống. Cô trông thấy ánh đèn hắt ra từ cửa sổ nhà hàng xóm cô từng chào xã giao, chứ chưa bao giờ thực sự nói chuyện. Họ hợp với Erik hơn. Cô đạp thắng. Tại Tveita, ở phố này không ít gia đình có gara đôi, nhưng gara với cửa khóa điện thì chỉ nhà cô mới có. Erik như bị ám ảnh những thứ như thế, còn cô thì đếch bận tâm. Cô bấm điều khiển từ xa, cánh cửa lật nghiêng và từ từ nâng lên, cô nhấn bàn đạp khớp ly hợp và đánh xe vào. Đúng như cô nghĩ, xe của Erik không có trong gara; chồng cô vẫn đang ở chỗ làm. Cô nhoài người sang ghế phụ, cầm lấy chiếc túi đựng đồ tập gym và túi thức ăn mua ở siêu thị ICA, liếc mình qua gương chiếu hậu một cái theo thói quen rồi ra khỏi xe. Các bạn cô vẫn khen cô đẹp. Họ nói cô chưa đầy ba mươi tuổi mà đã có nhà riêng, hai xe hơi và nhà nghỉ ở ngoại thành thành phố Nice. Họ còn hỏi cuộc sống ở [1] ra sao, tình hình cha mẹ cô thế nào sau vụ phá sản. Thật lạ khi trong đầu họ cứ tự chắp nối hai câu hỏi đó với nhau.
Camilla soi mình vào gương lần nữa. Họ nói đúng. Cô đẹp thật. Hình như cô vừa nhác thấy gì đó, một chuyển động thoáng qua ở rìa tấm gương. Không phải, chỉ là cánh cửa lật về chỗ cũ mà thôi. Cô ra khỏi xe, đang lục tìm chùm chìa khóa nhà thì nhận ra mình để quên chiếc di động ở đế cắm điện thoại trong xe.
Camilla quay lại và kêu lên một tiếng.
Người đàn ông đó đang đứng phía sau cô. Kinh hãi, cô lùi lại một tay che miệng. Cô định mỉm cười xin lỗi ông ta, không phải vì cô có lỗi mà vì ông ta có vẻ hết sức vô hại. Nhưng rồi cô trông thấy khẩu súng trong tay ông ta. Họng súng chĩa về phía cô. Ý nghĩ đầu tiên nảy ra trong đầu cô là trông nó cứ như súng đồ chơi vậy.
“Tôi là Filip Becker,” ông ta nói. “Tôi đã gọi điện. Nhưng không có ai ở nhà.”
“Ông muốn gì?” cô hỏi, cố gắng kiềm chế sự run rẩy trong giọng nói vì bản năng mách bảo cô đừng để lộ nỗi sợ hãi của mình. “Có chuyện gì cần nói sao?”
Người đàn ông cười khẩy một cái. “Chuyện gian dâm.”
Trong im lặng, Harry quan sát Hagen, người đột ngột chen ngang cuộc họp của tổ điều tra trong văn phòng Harry để truyền đạt lại lệnh của giám đốc Sở, rằng giả thuyết về vụ sát hại Vetlesen không được phép tiết lộ ra bên ngoài trong bất kỳ hoàn cảnh nào, ngay cả với đối tượng đầu gối tay ấp như vợ chồng hoặc người yêu. Cuối cùng, ánh mắt Hagen hướng về phía Harry.
“Ừm, những gì tôi cần nói chỉ có vậy thôi,” ông ta kết một câu thật nhanh rồi rời đi.
“Tiếp đi,” Harry bảo Bjørn Holm, người đang tóm tắt lại những chứng cứ thu thập được tại hiện trường trong phòng chơi bi đá. Hay chính xác hơn là những hạn chế trong việc thu thập chứng cứ.
“Chúng ta mới bắt đầu điều tra thì vụ việc đã được kết luận là tự sát. Trước đó không tìm được chứng cứ pháp y nào còn bây giờ hiện trường đã bị vấy bẩn. Sáng nay tôi đã đến đó, e rằng chẳng có gì nhiều để xem xét nữa.”
“Ừm,” Harry nói. “Katrine?”
Katrine cúi xuống sổ tay. “Vâng, giả thuyết anh đặt ra là Vetlesen và hung thủ gặp nhau ở câu lạc bộ bi đá, và việc đó chắc chắn đã được dàn xếp trước. Từ đó rút ra kết luận hiển nhiên là số của người gọi sẽ được lưu trong danh sách. Anh đã yêu cầu tôi kiểm tra lịch sử đàm thoại.”
“Phải,” Harry đáp, cố ghìm cái ngáp dài.
Cô lật qua các trang. “Tôi đã lấy được danh sách cuộc gọi qua điện thoại cố định và di động của Vetlesen từ Telenor, sau đó mang tới nhà của Borghild.”
“Nhà á?” Skarre hỏi.
“Tất nhiên, giờ bà ta mất việc rồi còn đâu. Bà ta nói với tôi rằng trong hai ngày trước khi chết, Idar Vetlesen không tiếp vị khách nào ngoại trừ các bệnh nhân. Đây là danh sách những người đó.”
Cô rút một tờ giấy trong tập tài liệu ra và đặt lên chiếc bàn giữa bọn họ.
“Đúng như tôi dự đoán, Borghild biết rất nhiều về những mối quan hệ của Vetlesen trong công việc và ngoài xã hội. Bà ta giúp tôi xác định gần như tất cả những người có trong lịch sử cuộc gọi. Chúng tôi chia họ thành hai nhóm: quan hệ công việc và quan hệ xã hội. Cả hai nhóm đều bao gồm số máy, ngày giờ gọi, gọi đến hay gọi đi, thời gian đàm thoại.”
Ba người còn lại chụm đầu vào đọc bản danh sách. Katrine khẽ chạm vào tay Harry. Anh không thấy cô có vẻ ngượng ngùng. Có lẽ tất cả chỉ là mơ, lời đề nghị cô đã nói lúc ở quán bar Fenris. Chỉ có điều, một khi đã say thì anh chẳng bao giờ nằm mơ. Mục đích của việc uống rượu chính là ở chỗ ấy. Dù sao đi nữa, hôm sau anh thức dậy với một ý tưởng chắc hẳn đã hoài thai đâu đó từ lúc uống cạn một hơi cả chai whiskey cho đến giây phút khắc nghiệt khi anh thức tỉnh. Ý tường về yên chi và chiếc ống tiêm đựng đầy thuốc mà Vetlesen đã dùng. Cũng chính nó đã cứu anh khỏi lao ngay đến cửa hàng rượu trên phố Thereses, thay vào đó, nó hối thúc anh quay lại với công việc. Vậy là cơn nghiện này lại thế chỗ cho cơn nghiện khác.
“Số này của ai vậy?” Harry hỏi.
“Số nào?” Katrine nói, nhoài người tới trước.
Harry chỉ vào một số điện thoại nằm trong nhóm quan hệ xã hội.
“Điều gì khiến anh đặc biệt chú ý đến số máy đó?” Katrine hỏi, ngước nhìn anh với vẻ tò mò.
“Vì nó là số gọi đến chứ không phải gọi đi. Chúng ta cần suy nghĩ theo chiều hướng hung thủ là kẻ lên kế hoạch dàn dựng, vì thế hắn mới chủ động gọi điện.”
Katrine đối chiếu số máy với danh sách tên. “Rất tiếc, người này thuộc cả hai nhóm, vừa là bạn vừa là bệnh nhân.”
“Thôi được rồi, nhưng dù sao cũng phải bắt đầu từ đâu đó chứ. Người này là ai? Đàn ông hay đàn bà?”
Katrine toét miệng cười châm chọc. “Chắc chắn là đàn ông.”
“Ý cô là sao?”
“Là phái mạnh. Theo nghĩa đực rựa. Arve Støp.”
“Arve Støp?” Holm kêu lên. “Ngài Arve Støp á?”
“Cho ông ta lên đầu danh sách thăm hỏi,” Harry nói.
Sau khi xem xong, cả nhóm rút ra được danh sách bảy cuộc gọi cần điều tra. Gần như tất cả các số đều có tên người gọi tương ứng, chỉ trừ một số điện thoại công cộng ở trung tâm thương mại Storo gọi vào buổi sáng hôm Idar bị giết.
“Chúng ta có thời gian liên lạc cụ thể rồi,” Harry nói. “Bốt điện thoại đó có camera giám sát không nhỉ?”
“E rằng không đâu,” Skarre nói. “Nhưng tôi biết ở mỗi cổng vào đều lắp camera. Tôi có thể hỏi công ty dịch vụ an ninh xem họ có băng ghi hình không.”
“Kiểm tra tất cả những khuôn mặt xuất hiện trong vòng nửa tiếng trước và sau thời điểm gọi điện,” Harry nói.
“Thế thì mất công quá,” Skarre đáp.
“Đoán xem nên cầu cứu ai đây,” Harry nói.
“Beate Lønn,” Holm trả lời.
“Chính xác. Gọi đi nhé.”
Holm gật đầu, và Harry cảm thấy lương tâm cắn rứt. Điện thoại của Skarre bỗng réo vang, nhạc chuông là giai điệu There She Goes của nhóm La.
Cả nhóm quan sát trong lúc Skarre nghe máy. Harry trầm ngâm nghĩ đến việc anh đã trì hoãn gọi điện cho Beate bao lâu nay. Kể từ sau lần đến thăm khi cô sinh con hồi hè, anh không gặp cô lần nào nữa. Anh biết cô không trách anh vì chuyện Jack Halvorsen hy sinh khi làm nhiệm vụ. Nhưng thực sự anh khó cầm lòng nổi khi nhìn con của Beate và Halvorsen, đứa con mà cậu sĩ quan trẻ tuổi không bao giờ có cơ hội được gặp, và từ trong thâm tâm anh biết rằng Beate đã lầm. Anh đã có thể và đáng lẽ ra phải cứu được Halvorsen.
Skarre cúp máy.
“Một người chồng ở Tveita gọi điện báo vợ mình mất tích. Camilla Lossius, hai mươi chín tuổi, chưa có con. Vụ việc tuy mới xảy ra cách đây ít giờ, nhưng có một số chi tiết đáng lo ngại. Trên bàn bếp có túi đựng đồ siêu thị, thức ăn chưa được cất vào tủ lạnh. Điện thoại di động bị bỏ lại trong ô tô, theo lời ông chồng thì cô ta không bao giờ đi đâu mà không cầm theo điện thoại. Và có người hàng xóm nói với anh ta rằng bà ta trông thấy một gã đàn ông lảng vảng trong sân và trước cổng gara nhà anh ta như thể đang đợi ai đó. Người chồng không rõ trong nhà có mất gì không, chẳng hạn như đồ dùng vệ sinh cá nhân hoặc va li. Họ là tuýp người sở hữu cả căn biệt thự ở ngoại thành thành phố Nice và lắm tài sản đến nỗi có mất thứ gì cũng chẳng biết. Mọi người hiểu ý tôi chứ?”
“Ừm,” Harry đáp. “Đơn vị Tìm kiếm Người Mất tích nói sao?”
“Họ bảo rồi cô ta sẽ về. Họ gọi để cập nhật tình hình cho chúng ta thôi.”
“Được,” Harry nói. “Vậy ta họp tiếp.”
Từ lúc đó cho đến khi buổi họp kết thúc, chẳng ai nhắc đến vụ báo cáo mất tích nữa. Thế nhưng Harry cảm thấy nó vẫn còn vương vấn đâu đây, giống như tiếng sấm ì ầm ở đằng xa mà chẳng biết có lan đến gần hay không. Sau khi phân công nhau điều tra những cái tên có trong danh sách, mọi người rời văn phòng của Harry.
Harry quay lại cửa sổ và nhìn xuống công viên bên dưới. Trời cứ ngày một tối sớm; ngày trôi đi gần như có thể chạm thấy được. Anh nghĩ đến mẹ của Idar Vetlesen khi anh kể với bà ta về việc Vetlesen giúp khám bệnh miễn phí cho những cô gái bán hoa người da đen vào các tối. Và đó là lần đầu tiên bà ta trút bỏ lớp mặt nạ - không phải trong đau đớn mà trong giận dữ - gào thét rằng tất cả đều là dối trá, không thể có chuyện con trai bà ta thăm khám cho lũ điếm mọi đen. Giả như lúc ấy anh nói dối thì có lẽ tốt hơn. Harry nhớ đến điều anh nói với giám đốc Sở ngày hôm trước, rằng cuộc tàn sát đẫm máu tạm thời đã dừng lại. Trong bóng tối đang dần buông, anh chỉ lờ mờ trông thấy thứ ở bên dưới ô cửa sổ nơi anh đứng. Trẻ con mẫu giáo vẫn thường chơi ở đây, nhất là khi có tuyết rơi, như đêm qua chẳng hạn. Ít nhất thì anh đã nghĩ thế lúc trông thấy nó trên đường tới Sở vào sáng nay. Một người tuyết lớn màu trắng xám.
Nằm phía trên tòa soạn tạp chí Liberal ở khu Aker Brygge, tại tầng thượng trông ra vịnh Oslo, pháo đài Akershus và làng Nesoddtangen, tọa lạc căn hộ rộng 230 mét vuông có giá vào loại đắt đỏ nhất Oslo. Chủ nhân căn hộ chính là ông chủ và tổng biên tập của Liberal, Arve Støp. Hay gọi đơn giản là Arve như tấm biển gắn trên cánh cửa Harry vừa bấm chuông cho biết. Cầu thang và chiếu nghỉ được bài trí theo phong cách tối giản, nhấn mạnh công năng, nhưng hai bên cửa ra vào bằng gỗ sồi lại đặt hai chiếc bình gốm được vẽ thủ công. Harry chợt phát hiện mình đang nhẩm tính xem nếu cuỗm một cái đem bán sẽ thu về được bao nhiêu.
Anh nhấn chuông một lần, đợi mãi rồi cũng nghe thấy tiếng nói trong phòng. Một giọng ríu rít vui tươi, giọng kia lại trầm và điềm tĩnh. Cửa mở và tiếng cười lanh lảnh của phụ nữ vọng ra. Cô ta đội mũ lông trắng, Harry đoán là lông nhân tạo, suối tóc vàng óng đổ dài bên dưới chiếc mũ.
“Em mong lắm đấy nhé!” cô ta nói, quay người bước đi và lức đó mới trông thấy Harry.
“Xin chào,” cô ta nói bằng giọng xã giao, rồi khi nhận ra Harry, cô ta thay bằng câu chào niềm nở, “Ô, chào anh!”
“Chào cô,” Harry đáp.
“Anh khỏe chứ?” cô ta hỏi, và Harry thấy rằng cô ta vừa mới nhớ lại cuộc nói chuyện gần đây nhất giữa họ. Cuộc nói chuyện kết thúc với bức tường đen sì ở khách sạn Leon.
“Vậy ra anh và Oda quen nhau à?” Arve Støp đứng trên hành lang khoanh tay trước ngực. Ông ta đi chân trần, mặc áo phông có logo Louis Vuitton khó thấy, cùng với quần vải đũi màu xanh lá mà bất cứ gã đàn ông nào khác mặc vào trông cũng sẽ nữ tính phải biết. Được cái Arve Støp cao lớn gần bằng Harry, lại sở hữu khuôn mặt đáng mơ ước của một ứng cử viên tổng thống Mỹ: chiếc cằm cương nghị, cặp mắt xanh dương trẻ trung với những nếp nhăn nơi khóe miệng và mái tóc muối tiêu dày dặn.
“Chúng tôi chỉ chào hỏi thôi,” Harry nói. “Tôi từng tham gia chương trình đối thoại của họ một lần.”
“Tôi phải đi đây, các anh,” Oda nói, vừa đi vừa gửi những cái hôn gió. Tiếng chân trên cầu thang nghe cứ như thể cô ta đang chạy để thoát thân.
“Phải, tôi gặp cũng vì cái buổi trò chuyện chết tiệt đó đây,” Støp nói, ra hiệu mời Harry vào và bắt tay anh. “E rằng sở thích phô trương của tôi đang tuột dốc thảm hại. Lần này thậm chí chưa hỏi chương trình nói về chủ đề gì mà tôi đã đồng ý tham gia. Oda đến đây để khai thác thông tin. Anh trải qua rồi nên chắc cũng biết cách họ làm việc.”
“Trong trường hợp của tôi, họ chỉ gọi điện thôi,” Harry đáp, vẫn còn cảm thấy hơi ấm từ bàn tay của Støp trên da mình.
“Anh có vẻ rất nghiêm trọng khi nói chuyện trên điện thoại, Hole ạ. Liệu một tay nhà báo đáng thương như tôi thì giúp gì được cho các anh?”
“Chuyện là về vị bác sĩ và bạn cùng chơi bi đá của ông, Idar Vetlesen.”
“A ha! Vetlesen. Phải rồi. Ta vào thôi nhỉ?”
Harry cởi bỏ đôi bốt và theo Støp bước trên hành lang để tới phòng khách nằm thấp hơn hai bậc so với phần còn lại của căn hộ. Anh chỉ cần nhìn qua cũng đủ biết Idar lấy cảm hứng trang hoàng cho sảnh chờ ở phòng mạch của mình từ đâu. Ngoài cửa sổ ánh trăng tỏa sáng lấp lánh lên vịnh.
“Theo tôi hiểu thì các anh đang tiến hành điều tra kiểu priori?” Støp nói, chọn món đồ nội thất nhỏ nhất phòng - một chiếc ghế nhựa đúc nguyên khối - và thả mình xuống đó.
“Sao cơ?” Harry hỏi, ngồi xuống sofa.
“Các anh đi từ kết luận và điều tra ngược về đầu để tìm hiểu xem chuyện xảy ra như thế nào.”
“Priori nghĩa là thế à?”
“Biết chết liền, chỉ là tôi thích nghe tiếng Latinh nên nói thôi.”
“Ừm. Vậy ông nghĩ sao về kết luận chúng tôi đưa ra? Ông có tin không?”
“Tôi á?” Støp phá lên cười. “Tôi chẳng tin bất cứ thứ gì hết. Nhưng tất nhiên, nghề của tôi là phải như thế. Ngay khi xuất hiện điều gì đó mang dáng dấp của sự thật không thể lay chuyển, việc của tôi là phản bác nó. Chủ nghĩa tự do là vậy đấy.”
“Thế vụ này thì sao?”
“Ôi chà. Tôi không cho rằng Vetlesen có bất cứ lý do thỏa đáng nào để giết người. Hoặc điên rồ đến mức không thể giải thích theo cách thông thường.”
“Vậy ông không cho rằng Vetlesen là hung thủ?”
“Phản bác lại niềm tin trái đất tròn không đồng nghĩa với việc tin rằng nó phẳng. Tôi chắc là các anh có đủ bằng chứng. Anh dùng đồ uống có cồn nhé? Hay là cà phê?”
“Vâng, cho tôi cà phê.”
“Tôi đùa thôi.” Støp mỉm cười. “Nhà tôi chỉ có nước hoặc rượu vang. Không, tôi nói dối đấy, tôi có ít nước táo lên men ngọt của nông trại Abbediengen. Dù muốn hay không thì anh cũng phải nếm thử.”
Støp le te chạy vào bếp còn Harry đứng lên ngắm nghía xung quanh.
“Anh có một căn hộ khá ngầu đấy, Støp.”
“Thực ra là ba căn,” Støp nói to từ trong bếp. “Một căn là của ông chủ tàu ăn nên làm ra đã treo cổ tự tử vì buồn chán ở đâu đó quanh chỗ anh đang ngồi. Căn thứ hai, nơi tôi đang đứng đây, từng thuộc về một tay môi giới chứng khoán bị kết án vì tội giao dịch nội gián. Ông ta cảm thấy được giải thoát khi ở trong tù, bán lại căn hộ này cho tôi và quyên tặng toàn bộ số tiền cho người giảng đạo của Hội Truyền giáo Quốc nội. Nhưng đấy cũng là một kiểu giao dịch nội gián, nếu anh hiểu ý tôi. Dù vậy, tôi nghe nói gã đó bây giờ vui vẻ, hạnh phúc hơn nhiều, thế nên việc đó có gì là không tốt chứ?”
Støp quay lại phòng khách, cầm theo hai chiếc ly đựng thứ đồ uống màu vàng nhạt. Ông ta đưa một ly cho Harry.
“Căn hộ thứ ba thuộc về một tay thợ ống nước quê ở Østensjø, khi thấy có dự án xây dựng khu cảng Aker Brygge đã quyết định đó là nơi mình muốn sống. Kiểu như một dạng đổi đời ấy, tôi đoán thế. Sau mười năm thắt lưng buộc bụng - hoặc làm ăn ở chợ đen với giá cắt cổ - ông ta mua căn hộ này. Nhưng tốn kém tới mức ông ấy chẳng còn đủ tiền thuê công ty vận chuyển đồ nên ông ta tự xoay xở với vài người bạn. Ông ta có một cái két nặng đến bốn trăm cân. Tôi đoán là để cất giữ số tiền kiếm được ở chợ đen. Bọn họ khuân nó lên đến chiếu nghỉ cuối cùng rồi khi chỉ còn mười tám bậc nữa là đến nơi thì cái két đáng nguyền rủa bỗng trượt xuống. Tay thợ bị kéo theo nằm bẹp bên dưới két, gãy cột sống và bị liệt. Giờ thì ông ta sống tại một nhà dưỡng lão ở quê, trông ra hồ Østensjøvannet.” Støp dừng lại bên cửa sổ, vừa nhâm nhi ly nước vừa trầm ngâm dõi mắt nhìn ra vịnh. “Tuy chỉ là cái hồ thôi nhưng vẫn là một cảnh quan đẹp.”
“Ừm. Chúng tôi muốn biết mối liên hệ giữa ông và Idar Vetlesen.”
Støp điệu nghệ quay người lại, phong thái nhanh nhẹn như mới đôi mươi. “Mối liên hệ? Nói thế là hơi bị quá đấy. Anh ta là bác sĩ của tôi. Và chúng tôi tình cờ lại cùng chơi bi đá với nhau. Đúng hơn là mấy người chúng tôi chơi. Những gì Idar làm cùng lắm chỉ có thể nói là nâng bi và lau băng thôi.” Ông ta phẩy tay gạt đi. “Phải, phải, tôi biết anh ta đã chết, nhưng sự thật vẫn là sự thật.”
Harry đặt ly nước còn vẹn nguyên lên bàn. “Các ông nói những chuyện gì?”
“Chủ yếu là về cơ thể tôi.”
“Gì cơ?”
“Trời ạ, anh ta là bác sĩ của tôi mà.”
“Và ông muốn thay đổi bộ phận nào đó à?”
Arve Støp cười ngất. “Tôi chưa bao giờ cảm thấy có nhu cầu thay đổi gì hết. Dĩ nhiên tôi biết Idar chuyên làm mấy trò phẫu thuật chỉnh hình rồi hút mỡ linh tinh các kiểu, nhưng tôi đề cao phòng ngừa hơn chữa trị. Tôi chơi thể thao là vì thế, thanh tra ạ. Anh không thích nước táo à?”
“Trong đó có cồn,” Harry nói.
“Vậy sao?” Støp nói, quan sát ly nước của mình. “Tôi không ngờ đấy.”
“Các ông nói về bộ phận nào?”
“Khuỷu tay. Tôi mắc [2], nó khiến tôi khó chịu khi chơi bi đá. Anh ta kê cho tôi dùng thuốc giảm đau trước khi chơi, đúng gã ngốc. Vì thuốc giảm đau còn có tác dụng chống viêm. Thế nên lần nào tôi cũng bị giãn cơ. Chắc tôi không cần phải cảnh báo anh làm gì nữa vì gã bác sĩ chúng ta nhắc đến đã chết rồi, nhưng thực sự anh không nên dùng thuốc khi bị đau. Cảm giác đau đớn có lợi cho con người, không có nó thì chẳng thể sống sót được. Phải biết ơn nó mới đúng.”
“Thế ư?”
Støp gõ ngón trỏ lên tấm kính cửa sổ dày đến nỗi mọi thanh âm từ bên ngoài không thể vọng được vào trong nhà. “Tôi cho rằng cảnh này không giống với cảnh ở hồ nước ngọt. Hay là cũng như nhau hả Hole?”
“Tôi chưa thấy cảnh đó bao giờ.”
“Chưa ư? Vậy thì anh nên ngắm thử xem. Cảnh quan giúp ta mở mang tầm mắt đấy.”
“Nhân nói đến mở mang tầm mắt, Telenor đã cho chúng tôi danh sách cuộc gọi gần đây của Vetlesen. Hai người đã nói gì với nhau vào cái ngày trước khi anh ta chết?”
Ánh nhìn dò xét của Støp dán chặt vào Harry trong lúc ông ta ngửa cổ uống cạn ly nước. Sau đó ông ta hít một hơi dài đầy vẻ mãn nguyện. “Tôi gần như quên hẳn mình đã nói chuyện với anh ta, nhưng có lẽ là chúng tôi nói về cái khuỷu tay.”
Tresko từng giải thích cho Harry rằng tay chơi poker nào chỉ dựa vào trực giác để bắt bài đối thủ trong cuộc chơi thì đều cầm chắc phần thua. Đúng là con người thường vô tình phơi bày lời nói dối của chính mình thông qua những biểu hiện bề ngoài; thế nhưng đừng bao giờ hy vọng lật tẩy được một kẻ thấu cáy lão luyện trừ phi anh giữ được cái đầu lạnh và tính toán thật kỹ để sàng lọc ra tất cả những biểu hiện đó của từng người chơi, Tresko nghĩ vậy. Harry thường cho rằng cậu ta nói đúng. Vì thế anh không quy kết Støp đang nói dối khi chỉ căn cứ vào nét mặt, giọng nói hoặc ngôn ngữ cơ thể của ông ta.
“Ông đã ở đâu trong khoảng từ bốn giờ đến tám giờ hôm Vetlesen chết?” Harry hỏi.
“Này!” Støp nhướn một bên lông mày. “Này! Trong chuyên án còn điều gì khuất tất mà tôi hoặc độc giả cần được biết không đấy?”
“Lúc đó ông ở đâu?”
“Anh nói nghe cứ như các anh vẫn chưa bắt được gã Người Tuyết ấy nhỉ. Có thật là thế không?”
“Mong ông vui lòng để tôi đặt câu hỏi.”
“Thôi được rồi, tôi ở cùng…”
Arve đột nhiên im bặt. Thế rồi khuôn mặt ông ta sáng bừng lên với một nụ cười tinh nghịch.
“Ấy khoan. Anh đang ám chỉ tôi có thể dính dáng tới cái chết của Vetlesen. Tôi mà trả lời thì chẳng khác nào thừa nhận giả thuyết trong câu hỏi đó của anh.”
“Tôi có thể dễ dàng nhận thấy ông đã từ chối trả lời, ông Støp.”
Støp nâng ly như thể chúc mừng. “Đó là chiêu phản đòn quen thuộc. Giới báo chí chúng tôi ngày nào chẳng dùng. Vậy mới có câu Nhà văn nói láo, nhà báo nói hay. Nhưng xin lưu ý rằng tôi không từ chối trả lời anh, Hole ạ. Tôi chỉ tạm trì hoãn trong lúc này thôi. Nói cách khác là tôi đang cân nhắc thêm.” Ông ta trở lại bên cửa sổ và đứng đó gật gù. “Tôi không từ chối, chỉ là chưa quyết định được có nên trả lời hoặc đáp lại thế nào đó không thôi. Trong lúc này, anh đành phải đợi vậy.”
“Thời gian thì tôi có thừa.”
Støp ngoái lại. “Tôi không cố ý làm mất thì giờ của anh, nhưng trước đây tôi từng tuyên bố mọi vốn liếng và tư liệu sản xuất của Liberal đều đến từ một nguồn duy nhất, đó là sự chính trực của bản thân tôi. Tôi hy vọng anh hiểu rằng tôi, với vai trò là một nhà báo, có nghĩa vụ đi sâu khai thác vụ này.”
“Khai thác ư?”
“Trời đất, tôi biết mình đang nắm trong tay một tin sốt dẻo. Chắc hẳn chưa tờ báo nào được rỉ tai về chuyện cái chết của Vetlesen có mùi mờ ám. Nếu bây giờ tôi đưa ra câu trả lời có thể minh oan cho mình thì chẳng khác nào chơi bài ngửa. Lúc đó, dù có muốn thăm dò các thông tin liên quan thì cũng đã quá muộn rồi. Tôi nói đúng chứ, Hole?”
Harry có linh cảm anh biết ông ta đang nhắm đến điều gì. Và thằng cha Støp này quả là khôn ngoan hơn anh tưởng.
“Thứ ông cần không phải là thông tin,” Harry đáp. “Mà ông cần biết rằng ông hoàn toàn có thể bị truy cứu vì tội cố ý cản trở người thi hành công vụ.”
“Nói hay lắm.” Støp bật cười, tỏ ra hào hứng thấy rõ. “Nhưng với tư cách một nhà báo và là người theo chủ nghĩa tự do, tôi cũng có nguyên tắc của mình chứ. Vấn đề đặt ra ở đây là liệu một người công khai ủng hộ quan điểm [3] như tôi có nên tình nguyện cống hiến tâm sức của mình để giúp đỡ lực lượng hành pháp của giới cầm quyền hay không.” Ông ta không ngần ngại phun ra những lời lẽ đó một cách đầy mỉa mai.
“Vậy điều kiện cần của ông là gì?”
“Tất nhiên là độc quyền khai thác thông tin bên lề.”
“Tôi có thể cấp phép độc quyền,” Harry nói. “Kèm theo lệnh cấm tiết lộ những thông tin đó cho bất cứ ai.”
“Hừm, vậy là chẳng đi đến đâu cả. Tiếc thật.” Støp đút hai tay vào túi quần. “Nhưng dù sao tôi cũng có đủ căn cứ để đặt vấn đề liệu cảnh sát đã bắt được hung thủ thật sự hay chưa.”
“Tôi cảnh cáo ông đấy.”
“Cảm ơn. Điều đó anh đã nói rồi.” Støp thở dài. “Tuy nhiên, anh nên xem lại mình đang đối đầu với ai, Hole ạ. Thứ Bảy này chúng tôi sẽ tổ chức một bữa tiệc siêu khủng ở Plaza. Sáu trăm khách mời sẽ tham dự lễ kỷ niệm hai mươi lăm năm thành lập tờ Liberal. Đó là thành tích không tệ đối với một tạp chí luôn thách thức giới hạn quyền tự do ngôn luận và không ngừng đi sâu khám phá những góc khuất núp bóng chính quyền. Hai mươi lăm năm, và chúng tôi chưa bao giờ thất bại trong bất cứ phiên tòa nào. Vụ này tôi sẽ xin ý kiến luật sư của chúng tôi, Johan Krohn. Chắc cảnh sát cũng biết anh ta phải không Hole?”
Harry lầm lì gật đầu. Støp tế nhị ra dấu về phía cửa chính như muốn nói cuộc gặp gỡ đã kết thúc.
“Tôi xin hứa sẽ hỗ trợ trong khả năng của mình,” Støp nói khi hai người đứng trên hành lang trước cửa. “Nếu các anh cũng đồng ý giúp đỡ chúng tôi.”
“Ông thừa biết chúng tôi không thể đưa ra thỏa thuận như thế được.”
“Vậy là anh không biết chúng ta đã thỏa thuận với nhau những gì rồi, Hole ạ.” Støp mỉm cười và mở cửa. “Thật sự không biết. Tôi chắc rằng sẽ sớm được gặp lại anh thôi.”
“Anh không nghĩ sẽ được gặp lại em sớm đến thế,” Harry nói khi đứng đó mở cửa.
Rakel vội vã chạy lên mấy bậc thang cuối để tới căn hộ của anh.
“Không đúng,” cô nói, lao vào vòng tay anh. Rồi cô đẩy anh vào trong nhà, lấy gót giày gạt cho cửa đóng lại, ôm ghì lấy đầu anh và hôn anh đầy cuồng nhiệt.
“Em ghét anh,” cô vừa nói vừa tháo thắt lưng của anh. “Anh biết bây giờ em không thể để chuyện này xen vào cuộc sống của em mà.”
“Vậy em về đi,” Harry nói, cởi áo khoác rồi đến áo sơ mi của cô. Chiếc quần cô đang mặc có khóa bên hông. Anh kéo khóa và luồn tay vào trong, đặt lên hõm lưng cô, phía trên lớp vải nội y mát lạnh, mượt như lụa. Hành lang vắng lặng chỉ nghe tiếng thở của hai người và tiếng gót giày của cô chạm sàn một lần duy nhất khi cô nhích chân để đón nhận anh.
Lúc sau, khi nằm trên giường hút chung một điếu thuốc, Rakel trách móc anh, nói anh không khác gì kẻ buôn ma túy.
“Chẳng phải đó là cách chúng vẫn làm hay sao?” cô nói. “Cho không biếu không mấy liều đầu tiên. Đến lúc người ta không dứt ra được nữa.”
“Và thế là kẻ nghiện phải trả giá,” Harry nói, nhả khói thuốc lên trần nhà thành hai vòng tròn một lớn một nhỏ.
“Rất đắt,” Rakel nói.
“Em đến đây chỉ để giải tỏa ham muốn thể xác thôi đúng không?” Harry hỏi. “Nói đi để anh biết.”
Rakel vuốt ve ngực anh. “Dạo này anh gầy quá Harry à.”
Anh không đáp. Chỉ im lặng chờ đợi.
“Chuyện với Mathias không tốt lắm,” cô nói. “Đúng hơn là, anh ấy rất tốt. Rất hoàn hảo. Chỉ em là không được như thế.”
“Vậy vấn đề là gì?”
“Giá mà em biết. Khi nhìn Mathias em đã nghĩ rằng, người đàn ông trong mơ của mi đấy. Và em nghĩ, anh ấy khơi lên ngọn lửa trong mình, mình cũng sẽ cố gắng đáp lại, gần như nhảy xổ vào anh ấy vì muốn được thỏa mãn chút dục vọng. Em nói vậy anh có hiểu không? Đáng lẽ chuyện đó phải rất tuyệt vời mới đúng. Nhưng em không thể làm được…”
“Ừm. Điều này với anh hơi khó hình dung, nhưng anh nghe những gì em nói đây.”
Cô kéo dái tai anh một cái thật mạnh. “Việc chúng ta luôn thèm khát nhau không đủ bảo chứng cho mối quan hệ này đâu, Harry.”
Harry nhìn vòng khói nhỏ đuổi kịp vòng khói lớn và kết hợp lại thành hình số 8. Có, có chứ, anh thầm nghĩ.
“Gần đây em bắt đầu bới lông tìm vết để bao biện,” cô nói. “Ví dụ như đặc điểm bất thường về thể chất mà Mathias thừa hưởng từ bố anh ấy này.”
“Đặc điểm gì?”
“Cũng chẳng có gì đặc biệt, nhưng nó làm anh ấy hơi xấu hổ.”
“Thôi nào, nói anh nghe.”
“Không, không, thực sự không có gì to tát cả đâu, mới đầu em còn nghĩ cái vẻ ngượng ngùng ấy thật đáng yêu. Nhưng bây giờ em lại bắt đầu cảm thấy khó chịu. Cứ như thể em đang bới bèo ra bọ với Mathias để bào chữa cho việc… việc…” Cô bỗng im lặng.
“Đến đây,” Harry nói nốt.
Cô ôm chặt lấy anh. Sau đó ngồi dậy.
“Em sẽ không quay lại nữa đâu,” cô bĩu môi nói.
Lúc Rakel rời khỏi căn hộ của Harry thì đã gần nửa đêm. Màn mưa như rây bột lặng lẽ rơi khiến mặt đường nhựa sáng loáng bên dưới những cột đèn. Cô rẽ sang phố Stensberggata nơi cô đỗ xe. Sau khi vào trong ô tô, đang định nổ máy thì cô chợt thấy một mảnh giấy viết tay kẹp dưới cần gạt nước. Cô mở hé cửa, giật lấy mảnh giấy và cố gắng đọc cho được dòng chữ đã bị cơn mưa xóa nhòa gần hết.
Chúng ta sắp chết rồi, con điếm.
Rakel giật mình. Nhìn quanh. Nhưng chỉ có mình cô. Thứ duy nhất cô trông thấy trên phố là những chiếc ô tô đang đỗ. Trên mấy cái xe đó có mảnh giấy nào như thế này không nhỉ? Nhưng cô không thấy gì cả. Chắc là tình cờ thôi; ai mà biết được xe nào là của cô. Cô hạ cửa kính xuống, nhón tay cầm mảnh giấy rồi thả ra, nổ máy và lên đường.
Khi gần đến cuối phố Ullevålsveien, đột nhiên cô cảm thấy như có ai đó đang ngồi trên ghế sau nhìn mình chằm chằm. Cô nhìn và trông thấy khuôn mặt của một cậu bé. Không phải Oleg mà là một bé trai xa lạ. Cô đạp mạnh chân phanh và lốp cao su rít lên chói tai trên mặt đường nhựa. Sau đó là tiếng còi xe vang lên tức tối. Ba lần. Cô vừa nhìn gương vừa thở dốc. Và trông thấy khuôn mặt đầy vẻ hãi hùng của người đàn ông trẻ tuổi đang lái chiếc ô tô phía sau cô. Cô run rẩy cho xe chạy tiếp.
Eli Kvale đứng sững ra đó trên hành lang như thể bị ghì chặt xuống sàn. Tay cô vẫn đang cầm ống nghe điện thoại. Hóa ra không phải cô tưởng tượng, không hề.
Chỉ đến khi Andreas gọi tên cô hai lần thì cô mới sực tỉnh.
“Ai vậy em?” chồng cô hỏi.
“Không ai cả,” cô đáp. “Nhầm số ấy mà.”
Khi hai vợ chồng đi nằm, cô muốn xích lại gần Andreas, nhưng không thể. Cô không sao làm được. Cô là người đàn bà nhơ nhuốc.
“Chúng ta sắp chết rồi, con điếm,” người trong điện thoại đã nói như thế. “Chúng ta sắp chết rồi, con điếm.”
❀ ❀ ❀
[1] Tây Oslo và Đông Oslo là hai khu vực có sự phân biệt giàu nghèo rất rõ. Khu Tây có điều kiện sống tốt hơn hẳn so với khu Đông và cũng là nơi ở của giới nhà giàu ở Oslo.
[2] Hội chứng khuỷu tay tennis là tên thường gọi của tình trạng viêm, tổn thương hoặc rách gân cơ duỗi tại chỗ bám vào mỏm lồi cầu phía ngoài khuỷu tay, thường gặp ở những người chơi tennis hoặc thường xuyên cử động, gập duỗi tay quá nhiều.
[3] Kháng chính thống là quan điểm chống lại các nguyên tắc chính trị, kinh tế và xã hội truyền thống.