Lời Hứa Tội Lỗi

Lượt đọc: 148 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15
Thúy Lâm Am

❊ ❊ ❊

Đêm trước uống không ít rượu, cơm canh chẳng ăn được mấy miếng. Khi tàn tiệc, tôi đã say đến bảy phần, bèn lờ đờ vào căn phòng bên cạnh nằm ngủ nguyên cả quần áo. Khi tỉnh dậy đã là sáng sớm, tôi ngồi dậy lấy lại tinh thần rồi bước ra sân. Bà lão hôm qua đang chăm sóc cây cảnh trong sân, thấy tôi ra liền hành lễ nói: "Phùng tiên sinh, anh tỉnh rồi. Lão gia nhà chúng tôi còn ở trên lầu, anh vào sảnh uống bát cháo nóng trước đã."

Tôi xua tay: "Không cần đâu, tôi còn có việc gấp. Nhắn lại với lão gia các người một câu, nói tôi cảm ơn sự tiếp đãi đêm qua của anh ta!" Nói đoạn, tôi đi thẳng ra cổng sân. Bà lão gọi với theo hai tiếng, thấy không ngăn được bèn vội vàng chạy lên lầu bẩm báo. Tôi cũng chẳng quan tâm nhiều, tự mở cổng rồi rời khỏi Lăng phủ, đi thẳng ra ngoài rừng trúc.

Kế hoạch hôm nay là đến am ni cô phía bên kia núi để điều tra bí mật về con "quái vật". Tôi nghĩ mình nên tìm một người dẫn đường, và về nhân tuyển, còn ai thích hợp hơn A Chùy? Tôi đi tìm một vòng đến gần ga tàu hỏa, cuối cùng cũng thấy bóng dáng A Chùy bên lề đường. A Chùy cũng nhìn thấy tôi, hắn chủ động tiến lại gần rồi hỏi ngay tắp lự: "Mạnh bà bà chết rồi — chuyện này là sao?"

"Cụ thể thế nào tôi cũng không rõ." Tôi hạ thấp giọng nói thêm, "Nhưng tôi nghi là do tên Lăng Mộc Phong làm."

A Chùy lập tức phụ họa: "Tôi cũng thấy không thoát khỏi liên can đến họ Lăng — hôm kia hai tên tay sai của hắn cứ lén lút ngoài sân, làm sao mà có ý tốt cho được?"

Tôi khẽ thở dài: "Tiếc là không có bằng chứng. Tên họ Lăng không biết dùng thủ đoạn gì mà chẳng để lại chút dấu vết nào. Hiện trường trông cứ như là..."

Tôi ngập ngừng, A Chùy bèn cướp lời: "Cứ như là hồn ma giết người?"

"Sao anh biết?"

"Cả trấn này đồn ầm lên rồi: nói là hồn ma Sở Hán Sơn và Đỗ Vũ Hồng hiển linh, không chỉ giết Mạnh bà bà mà sắp tới còn giết cả hai chúng ta nữa!" A Chùy vừa nói vừa trợn tròn mắt nhìn tôi như muốn xác nhận điều gì đó. Tôi đoán những lời đồn đó phần lớn là từ đồn cảnh sát tán ra, A Chùy nghe xong nửa tin nửa ngờ, trong lòng không khỏi run sợ.

Tôi cũng không thể phủ nhận, đành cười khổ: "Phải. Trên tế đàn ở hiện trường có một tấm linh bài, trên đó viết tên của ba người. Ngoài Mạnh bà bà ra, còn có tôi và anh."

A Chùy mếu máo nói: "Chúng ta với vợ chồng Đỗ Vũ Hồng không thù không oán, hồn ma đó việc gì phải làm khó chúng ta?"

"Chẳng phải đồ tế để gọi hồn là do hai chúng ta mua về sao?" Tôi giải thích, "Hồn ma đó cảm thấy Mạnh bà bà sắp nói ra bí mật năm xưa, điều này sẽ bất lợi cho Sở Vân. Họ nổi giận nên vơ cả hai chúng ta vào."

"Thối tha!" A Chùy vừa nghe đã cuống lên, "Hai chúng ta đã làm gì Sở Vân đâu. Nếu hồn ma nổi giận thì người đầu tiên họ tìm phải là Lăng Mộc Phong chứ! Sở Vân đã chịu bao nhiêu khổ cực dưới tay hắn? Không tìm hắn lại tìm chúng ta?"

"Anh chẳng phải từng nói sao: Lăng Mộc Phong là người đại phú đại quý, chúng ta sao so được?" Tôi dùng chính lời A Chùy từng nói để vặn lại hắn. A Chùy chán nản cúi đầu, im lặng. Tôi lại nói: "Cứ nhìn cái dinh cơ Lăng phủ đó, tựa sơn hướng thủy, rừng trúc bao quanh, cái đó gọi là Phúc Lộc Thọ toàn vẹn, là phong thủy bậc nhất. Hồn ma dù có muốn tìm hắn cũng không vào nổi cửa Lăng phủ đâu!"

A Chùy ngẩn ra một lát, hận thù nói: "Mẹ kiếp, sơn thủy thì mình không động vào được. Chứ còn rừng trúc đó, sớm muộn gì ông đây cũng đào tận gốc, xem hắn còn Phúc Lộc Thọ toàn vẹn kiểu gì."

Nhìn bộ dạng đó của hắn, tôi thầm cười thầm, bèn hỏi: "Rốt cuộc anh tin cái nào? Là họ Lăng ra tay độc ác, hay là hồn ma hiển linh hại người?"

A Chùy chớp mắt nói: "Tôi thấy vẫn là do họ Lăng làm. Bây giờ là thời Dân quốc rồi, trời cao đất dày, lấy đâu ra hồn ma bóng quế. Phùng thám tử, anh nói đúng không?"

Hôm kia khi A Chùy nói về vết bớt trên mông Sở Vân, hắn còn khăng khăng là linh hồn bé gái nhà họ Lăng nhập xác. Giờ lại nói chuyện thời Dân quốc, trời cao đất dày, đúng là tự mâu thuẫn. Tôi đoán thực ra hắn sợ hồn ma nhiều hơn, nên mới cố chứng minh chuyện này không liên quan đến ma quỷ để cầu chút bình an trong lòng. Với hạng người ngu muội này, tôi cũng chẳng muốn nói nhiều, bèn đối phó: "Tôi cũng không rõ. Tóm lại sống chết có số, tôi lười bận tâm."

A Chùy hậm hực nuốt nước bọt, không nói được gì thêm. Tôi bèn đúng lúc lái câu chuyện sang mục đích chính: "Dẫn tôi vào núi một chuyến đi."

"Đi đâu?"

"Am ni cô ở bên kia núi. Anh biết đường chứ?"

A Chùy nheo mắt hỏi: "Nơi Sở Vân ở lúc nhỏ đấy à?"

"Phải."

"Biết thì có biết—" A Chùy dùng ánh mắt dò xét nhìn tôi, "Anh đến đó làm gì?"

"Anh quản làm gì? Cứ nói có đi hay không thôi."

A Chùy nghênh cổ nói: "Không đi. Đi với anh chẳng có chuyện gì tốt, hôm kia đi một chuyến lên huyện mà mẹ kiếp đã bị leo lên linh bài rồi."

Tôi cũng không phí lời, móc ra một đồng bạc ném vào người hắn: "Đi không?"

A Chùy giơ tay đón lấy đồng bạc, thổi một cái rồi đưa lên tai nghe tiếng ngân, sau đó thở dài: "Haizz, anh đúng là cái loại chẳng biết sợ là gì, cái mạng già này của tôi sớm muộn gì cũng tàn theo anh thôi!"

Tôi quay đầu đi: "Đừng nói nhảm nữa, đi thôi."

A Chùy đút đồng bạc vào túi áo, rảo bước dẫn đường phía trước. Hai chúng tôi xuyên qua trấn về hướng Nam, nhanh chóng đến trước dãy núi. A Chùy chỉ vào ngọn núi trước mặt nói: "Phải vượt qua đỉnh núi này, không có hai ba tiếng thì không xuống được đâu." Tôi gật đầu. A Chùy bèn tìm một lối nhỏ lên núi, chính thức dẫn tôi bắt đầu hành trình băng rừng. Con đường đó không hề được tu sửa, hoàn toàn là do người leo núi dùng chân dẫm ra. Ban đầu đường còn dễ đi, nhưng càng lên cao lối nhỏ càng hẹp, cành lá bụi rậm hai bên dần dày đặc, nhiều lúc gần như phải phát lối giữa rừng rậm mà đi. Đi được hơn một tiếng, tôi thực sự thấy mệt, bèn gọi A Chùy dừng lại thở dốc.

A Chùy đắc ý khoe khoang: "Người trên trấn muốn lên núi đốn củi hay gì đó thường không đi đến tận nơi cao thế này đâu. Anh cũng là nhờ tìm được tôi, chứ đổi lại người khác là lạc cái chắc."

Tôi tựa vào một gốc cây, cởi cúc áo cổ cho thoáng, đồng thời hỏi: "Phía đối diện núi chẳng phải còn một thị trấn nữa sao? Hai trấn các người không qua lại à?"

A Chùy nói: "Ít qua lại lắm. Vả lại có qua lại thì người ta cũng đi vòng quanh chân núi, ai dở hơi mà leo qua đỉnh núi cho mệt xác? Có điều cái am ni cô đó vốn nằm ở lưng chừng núi, nếu đi vòng đến trấn kia rồi mới leo lên thì quá tội, thà vượt núi trực tiếp còn hơn."

Tôi "ồ" một tiếng, hiểu ý hắn. Đợi khi đã lấy lại sức, tôi hối thúc hắn tiếp tục lên đường. Hai chúng tôi gian nan xuyên qua rừng núi, mãi mới lên được đến đỉnh núi, cả hai đều mồ hôi đầm đìa. Tuy nhiên gió thu trên đỉnh núi mát rượi, thật là sảng khoái. Chúng tôi lại dừng lại nghỉ một lát, khi mồ hôi đã ráo mới bắt đầu đi tiếp. Lần này chúng tôi vượt qua đỉnh núi, đi xuống phía bên kia. Xuống núi không vất vả như lên núi nhưng đôi chân phải chịu lực lớn, đi nhiều sẽ có cảm giác bủn rủn không tự chủ được. Đi thêm khoảng một tiếng nữa, A Chùy bỗng giơ tay chỉ về phía trước: "Thấy chưa? Ở đằng kia kìa."

Tôi nhìn theo hướng ngón tay hắn, quả nhiên thấy thấp thoáng sau những tán cây rừng vài mảnh gạch xanh ngói đen. Ước tính quãng đường, đến đó tối đa chỉ còn mười phút đi bộ. Tôi vực dậy tinh thần, rảo bước nhanh xuống núi. Càng đến gần, con đường mòn càng trở nên rộng rãi phẳng phiu, rõ ràng là do có người thường xuyên đi lại quanh đây.

Sau khi vòng qua một khúc cua, cuối cùng chúng tôi cũng đến trước cửa am ni cô. Ngôi am trước mắt không lớn, trên mái hiên treo một tấm biển khắc ba chữ lớn: Thúy Lâm Am.

Hai chúng tôi bước qua ngưỡng cửa vào trong sân. Sân này chỉ rộng khoảng mười bước chân, chính diện là một tòa phật đường, hai bên trái phải mỗi bên có một căn phòng nhỏ. Một cây bách sừng sững giữa sân, dưới gốc cây có một tấm bia đá khá nổi bật. Tôi tiến lại gần nhìn kỹ, hóa ra là một tấm bia công đức. Trên bia khắc minh văn, đại ý kể về một người bị quân phỉ truy sát vào cuối thời Thanh, bị thương nặng lạc đến đây, may nhờ có Minh Tân sư thái ở Thúy Lâm Am cứu giúp. Nhiều năm sau người này quay lại Thúy Lâm Am tạ ơn, đặc biệt lập tấm bia này.

A Chùy không mấy quan tâm đến tấm bia đá. Hắn nhìn quanh không thấy bóng người, bèn nghênh ngang hét lớn: "Có ai không?" Lời vừa dứt, bỗng có tiếng chó sủa dữ dội vang lên. Hai chúng tôi đều giật mình, nhìn theo tiếng động thì thấy một con chó vàng to lớn đang từ hậu viện xông ra, nhe răng múa vuốt lao thẳng về phía A Chùy. A Chùy vội lùi lại hai bước, trốn sau lưng tôi. Thấy con chó vàng lao đến trước mặt, tôi nhanh chóng giơ một bàn tay ra, đồng thời miệng "lơ lơ" trêu đùa vài tiếng. Con chó lại tỏ ra thân thiện với tôi, ngay lập tức ngừng sủa, trái lại còn sán đến bên chân tôi cọ quậy ngửi ngửi.

A Chùy thấy vậy "hì hì" cười: "Hơ, chú mày trêu chó cũng có nghề đấy."

Tôi đưa tay xoa đầu con chó vàng, nói: "Chó là loài vật thông linh nhất, anh cứ giữ thiện niệm, đừng sợ nó, nó sẽ không có ác cảm với anh nữa."

Một giọng nói tiếp lời: "Thí chủ nói rất đúng." Tôi ngẩng đầu lên, vừa lúc nhìn thấy một ni cô từ trong phật đường bước ra, bà khoảng chừng ba bốn mươi tuổi, mặc áo nâu sồng đi giày vải, dáng vẻ đoan trang.

Tôi bước lên hai bước, cúi người chào, nói: "Sư thái hữu lễ." Vị ni cô chắp tay: "A di đà phật, bần ni pháp hiệu Tuệ Thanh." Sau đó bà nhìn tôi từ trên xuống dưới, rồi hỏi: "Thí chủ trông lạ mặt lắm, không biết có phải từ xa đến không?"

Tôi gật đầu: "Phải. Chuyến này tôi đến là muốn hỏi sư thái về một chuyện cũ."

Tuệ Thanh mỉm cười: "Bất kể vì chuyện gì, đã đến được Thúy Lâm Am thì đều là người có duyên. Mời thí chủ vào phòng khách ngồi."

Thế là tôi đi theo sư thái Tuệ Thanh vào phòng khách bên tay trái. A Chùy cũng định đi theo, nhưng con chó vàng thấy hắn bước tới liền lập tức sủa lên dữ dội. A Chùy đành rụt chân mắng: "Hừ, cái đồ súc sinh này! Chưa xong à!"

Tôi quay đầu bảo A Chùy: "Thôi, anh cứ ở ngoài đợi tôi đi."

A Chùy đành lủi thủi ra ngoài sân, vừa đi vừa lầm bầm: "Đúng là hạng súc sinh nịnh hót. Phi, chó cậy gần nhà!"

Tuệ Thanh thấy A Chùy đã đi xa, mỉm cười nói với tôi: "Con chó này không nịnh hót đâu. Chỉ là nó ở trong am lâu rồi, đã có phật tính. Thiện ác của khách đến, nó nhìn qua là biết ngay. Nó chịu thân thiện với anh, chứng tỏ thí chủ chắc chắn là người có tâm địa lương thiện."

"Ồ?" Tôi hứng thú hỏi, "Con chó này ở trong am bao nhiêu năm rồi?"

"Cũng phải mười bảy mười tám năm rồi đấy. Tính ra thâm niên còn cao hơn cả bần ni cơ! Lúc mới đến đây nó còn chưa cai sữa, giờ đã là lão già xế chiều rồi." Tuệ Thanh nhìn con chó vàng đầy cảm thán — so với tuổi thọ của loài chó, nó quả thực đã là một "lão nhân".

Tôi lại hỏi: "Sư thái ở đây bao nhiêu năm rồi?"

"Tôi xuất gia từ mười lăm năm trước." Trong lúc nói chuyện, chúng tôi đã vào phòng khách, nơi đây chỉ bày hai chiếc ghế gỗ và một bộ trà đơn sơ. Tuệ Thanh chỉ ghế mời: "Mời thí chủ ngồi, tôi đi pha chén trà."

Tôi vội xua tay: "Không cần không cần, tôi nói vài câu rồi đi ngay, không dám làm phiền lâu."

Tuệ Thanh gật đầu: "Nếu vậy thì tôi cũng không bêu xấu nữa — am nhỏ nghèo nàn, cũng chẳng có trà ngon."

Hai chúng tôi ngồi xuống, tôi hỏi xã giao: "Nơi này hương hỏa vẫn hưng thịnh chứ?"

"Nơi hẻo lánh, lại núi cao đường hiểm, bình thường ít người qua lại. Cứ ba năm ngày tôi lại xuống núi một chuyến, vào trấn dưới núi hóa duyên, miễn cưỡng duy trì được việc thờ phụng Phật tổ." Sau khi đáp xong, Tuệ Thanh đổi giọng hỏi: "Thí chủ chuyến này đến có việc gì?"

Tôi "ừm" một tiếng, vào thẳng vấn đề: "Nếu sư thái đã xuất gia từ mười lăm năm trước, vậy chắc hẳn phải biết trong am này từng có một bé gái sinh sống?"

Tuệ Thanh lập tức đáp lời: "Thí chủ đang nói đến Sở Vân phải không? Con bé là trẻ bị bỏ rơi được sư phụ tôi là Minh Tân sư thái nhận nuôi, đã sống ở am này nhiều năm. Sau này sư phụ tiên thệ, con bé mới trở về gia đình của mình. Nhà nó ở trấn Phong An bên kia núi. Nghe nói hai năm trước nó đã gả vào Lăng phủ ở Phong An, đó là hào môn lừng lẫy ở địa phương."

Tôi gật đầu: "Chúng tôi chính là từ Phong An đến."

"Ồ?" Tuệ Thanh tỏ ra hơi bất ngờ, liền hỏi thêm: "Con bé bây giờ sống có tốt không?"

"Chuyện này..." Tôi trầm ngâm một lát rồi nói: "Cô ấy mắc một căn bệnh kỳ lạ, tôi đến lần này là muốn tìm ra căn nguyên của bệnh."

Tuệ Thanh lộ vẻ quan tâm: "Bệnh gì?"

"Bệnh này gọi là 'tâm thần phân liệt', cụ thể là cô ấy thường xuyên cảm thấy mình là một người khác..."

Tôi vừa nói đến đây, Tuệ Thanh đã cắt ngang: "Tôi hiểu rồi."

"Sư thái hiểu rồi sao?"

"Phải, vả lại hôm nay anh tìm đến đúng chỗ rồi — tôi biết căn nguyên của bệnh này nằm ở đâu."

"Thật sao?" Tôi vội chồm người tới, "Phiền sư thái chỉ giáo."

Tuệ Thanh nói: "Con bé đó bị kẻ 'chụp bóng' (thợ ảnh) lấy mất hồn rồi."

"Chụp bóng" là cách gọi dân gian cũ cho việc chụp ảnh. Ngày xưa người ta mê tín, quả thực có quan niệm chụp ảnh sẽ bị lấy mất linh hồn. Nhưng căn bệnh quái ác của Sở Vân sao lại liên quan đến chụp ảnh? Tôi đuổi theo với vẻ thắc mắc: "Chụp bóng? Chuyện này là thế nào?"

Tuệ Thanh hồi tưởng lại: "Có một năm vào dịp gần Tết, sư phụ tôi đưa tiểu Sở Vân lên huyện đi chợ phiên. Không biết bà nghĩ gì mà lại cho Sở Vân chụp một tấm ảnh mang về am. Linh hồn trẻ con vốn dĩ đã yếu, sao có thể chụp ảnh được chứ? Tiểu Sở Vân từ đó về sau bắt đầu dần dần mất hồn mất vía, đầu tiên là cả ngày lẫn đêm cứ ôm khư khư tấm ảnh đó mà xem, rồi một ngày nọ liền giống như anh nói: nó cảm thấy mình là một người khác."

"Biểu hiện cụ thể của cô ấy như thế nào, sư thái có thể kể rõ hơn không?"

Tuệ Thanh gật đầu: "Chuyện này tôi nhớ kỹ lắm. Đó là một buổi chạng vạng, hôm đó tiểu Sở Vân lại ôm tấm ảnh ngồi xem ngoài sân. Tôi làm cơm tối xong liền ra gọi nó. Lúc đó tôi gọi tên tục của nó: Vân Vân. Đứa bé ngẩng đầu nhìn tôi một lát, đột nhiên nói: 'Con không phải là Vân Vân'. Tôi cứ tưởng nó trêu mình nên cười hỏi: 'Con không phải Vân Vân thì con là ai?'. Kết quả là nó thật sự nói ra một cái tên, cái tên mà tôi chưa bao giờ nghe thấy..."

Tôi ngắt lời hỏi: "Cái tên cô ấy nói có phải là Diệp Mộng Thi không?"

"Chính xác!" Nhờ sự nhắc nhở của tôi, Tuệ Thanh lập tức khẳng định: "Chính là Diệp Mộng Thi — lúc đó làm tôi sợ chết khiếp."

"Sư thái sợ cái tên đó sao?"

"Không phải, là biểu cảm của con bé lúc đó đáng sợ lắm. Trên mặt nó không có lấy một nụ cười; hai mắt đen láy sáng quắc như hai hố đen sâu không thấy đáy. Dáng vẻ đó hoàn toàn là như bị trúng tà, khiến người ta không dám nhìn đến lần thứ hai."

Một bé gái xinh đẹp mà lại có biểu cảm kỳ quái như vậy quả thực khiến người ta rợn tóc gáy. Tôi im lặng một lát, hỏi tiếp: "Sau đó thì sao?"

Tuệ Thanh kể: "Sau đó sư phụ tôi cũng chạy ra sân, bà giật lấy tấm ảnh từ tay tiểu Sở Vân, rồi bế con bé lên dỗ dành một hồi, tiểu Sở Vân mới hoàn hồn lại."

Chẳng lẽ vấn đề thực sự nằm ở tấm ảnh đó? Tôi không nhịn được hỏi: "Đó là một tấm ảnh như thế nào?"

"Chỉ là ảnh chụp một mình tiểu Sở Vân thôi. Chụp trông đẹp lắm, đẹp hơn cả người thật cơ."

"Vậy sau đó Sở Vân còn gặp tình trạng tương tự không?"

"Tôi chỉ thấy có mỗi lần đó. Kể từ sau chuyện ấy, sư phụ tôi đã giấu tấm ảnh đó đi. Sau này tiểu Sở Vân cũng hay ngồi thẩn thờ một mình, nhưng không còn nói mình là người khác nữa."

Xem ra, căn nguyên bệnh của Sở Vân đúng là bắt đầu từ Thúy Lâm Am, nhưng lúc đó chưa nghiêm trọng. Sau này phát bệnh ở trấn Phong An chỉ là sự tiếp diễn của sự kiện năm đó. Tôi suy ngẫm một lát, rồi hỏi thêm: "Lúc xảy ra chuyện đó Sở Vân bao nhiêu tuổi?"

"Tầm tám chín tuổi gì đó." Tuệ Thanh nghĩ đoạn nói thêm, "Năm sau thì sư phụ tôi mắc bệnh tiên thệ. Bệnh của bà phần lớn cũng vì sự thay đổi của Sở Vân mà ra. Một đứa trẻ đang ngoan ngoãn tự dưng bị trúng tà, ai mà không lo? Sư phụ tôi lại đặc biệt yêu thương Sở Vân, chắc chắn là vừa hối hận vừa tự trách nên mới đổ bệnh nặng."

Tôi thầm gật đầu. Bệnh lạ của Sở Vân có lẽ thực sự liên quan đến tấm ảnh, nhưng tôi tuyệt đối không đồng tình với quan niệm mê tín "lấy mất hồn". Chắc chắn có ẩn tình khác, và Minh Tân sư thái chính là một trong những người biết chuyện. Vì vậy bà mới có thể bốc thuốc đúng bệnh ở giai đoạn đầu, khống chế được tình trạng của Sở Vân. Sau này khi Sở Vân phát bệnh ở Phong An, Mạnh bà bà cũng có thể "gọi hồn" thành công, giữa hai việc này chắc chắn có điểm chung.

Tôi tin rằng cội nguồn của tất cả chính là bí mật về con "quái vật" đó. Tìm kiếm bí mật này mới là mục đích thực sự của tôi trong chuyến đi này.

Tuy nhiên chuyện này không dễ mở lời, tôi cân nhắc một lát, bèn đi đường vòng hỏi: "Sư thái, bà xuất gia từ mười lăm năm trước. Vậy lúc bà đến Thúy Lâm Am, Sở Vân đã sáu tuổi rồi phải không?"

Tuệ Thanh gật đầu: "Phải."

"Vậy trước khi bà đến, trong Thúy Lâm Am này ngoài Minh Tân sư thái và tiểu Sở Vân ra, còn có ai khác không?"

"Không có ai khác, chỉ có một con chó vàng lớn thôi." Tuệ Thanh vừa mỉm cười nói vừa nghiêng đầu nhìn xuống chân. Con chó vàng đang phủ phục bên chân bà, đôi mắt đen láy nhìn chằm chằm vào tôi. Những chuyện năm xưa, chắc hẳn con chó này cũng là người chứng kiến, chỉ tiếc là nó không thể nói được gì.

Tôi khẽ tằng hắng, hắng giọng một cái rồi bắt đầu đi sâu vào chủ đề mấu chốt nhất.

"Lần đầu tiên sư thái nhìn thấy tiểu Sở Vân, bà có thấy điểm gì bất thường không?"

Tuệ Thanh ngẩn ra, hỏi: "Bất thường gì cơ?"

"Là... bà có cảm thấy Sở Vân khác với những đứa trẻ bình thường không..." Thấy sắc mặt đối phương vẫn vẻ chưa hiểu, tôi đành nói toạc ra: "Bà có cảm thấy đứa trẻ đó giống như một con quái vật không?"

"Quái vật?" Tuệ Thanh bật cười thành tiếng, "Anh nói gì vậy? Sở Vân đúng là có khác với những đứa trẻ bình thường, nhưng đó là vì con bé quá đáng yêu, quá xinh đẹp. Sao nó có thể giống quái vật được?"

Xem ra bà ấy hoàn toàn không biết gì về chuyện đó. Tôi cân nhắc một lát, hỏi thêm một bước: "Vậy sư thái có biết trên mông Sở Vân có một vết bớt rất kỳ lạ không?"

Tuệ Thanh lắc đầu nói: "Không biết. Tiểu Sở Vân đều do sư phụ tôi đích thân chăm sóc sinh hoạt, không thân cận với tôi lắm. Những chỗ riêng tư như vậy tôi thực sự chưa từng nhìn thấy."

Đến đây, tôi biết có hỏi thêm cũng không thu hoạch được gì, bèn đứng dậy cáo từ.

"Hôm nay làm phiền sư thái nhiều quá, mong bà đừng trách." Tôi vừa nói vừa móc một đồng bạc đặt lên bàn trà, "Đây là chút tiền nhang đèn tôi thành tâm cúng dường Phật tổ."

Tuệ Thanh chắp tay, cúi người thật sâu: "Thí chủ quả là người lương thiện. Phật tổ nhất định sẽ phù hộ cho thí chủ một đời bình an." Khi bà đang nói, con chó vàng cũng đứng dậy khỏi mặt đất. Nó lim dim mắt nhìn tôi, cái đuôi vẫy liên hồi, dường như cũng đang cảm ơn lòng tốt của tôi.

Về đến trấn Phong An đã là buổi chiều. Sau một ngày leo núi lội suối, tôi đã mệt rã rời và đói bụng cồn cào. Việc đầu tiên tôi làm khi về đến trấn là lao ngay vào một quán ăn, gọi một bát mì lớn nóng hổi để lấp đầy cái bụng trước đã.

Đang ăn ngon lành, bỗng thấy một bóng người loáng qua. Ngẩng đầu lên, tôi thấy Trưởng đồn Ngô đã ngồi đối diện mình từ lúc nào. Miệng đầy mì, tôi chỉ có thể gật đầu chào hỏi.

"Cậu về rồi à?" Ông lão hỏi một câu thừa thãi. Ánh mắt lão nhìn tôi có chút do dự. Tôi đoán lão vừa muốn biết kết quả chuyến đi, nhưng trong lòng lại vừa lo sợ về điều đó. Tôi không vội mở lời, cứ thong thả ăn mì. Sau khoảng mười giây im lặng căng thẳng, ông lão cuối cùng không nhịn được mà hỏi: "Thế nào rồi?"

Lúc này tôi mới đặt bát đũa xuống, lắc đầu: "Chẳng có manh mối nào giá trị cả. Trong am có một vị Tuệ Thanh sư thái, là đồ đệ của Minh Tân sư thái năm xưa. Lúc bà ấy xuất gia thì Sở Vân đã sáu tuổi rồi, nên bí mật lúc Sở Vân mới chào đời bà ấy hoàn toàn không biết."

Ông lão "ồ" một tiếng, ra vẻ trút được gánh nặng. Lão sợ hãi bí mật đó đến mức căn bản không hy vọng tôi có thể phá giải được nó. Sau đó lão không hỏi thêm nữa mà chuyển chủ đề: "Hôm nay tôi lại đến nhà Mạnh bà bà, khám nghiệm lại hiện trường một lần nữa."

Đây là chuyện tôi khá quan tâm, tôi lập tức nhướng mày: "Có phát hiện gì không?"

"Hiện trường không tìm thấy bất kỳ dấu vết xâm nhập nào từ bên ngoài. Chuyện này thực sự kỳ quái vô cùng —" Trưởng đồn Ngô trầm ngâm nói, "Tôi nghĩ đi nghĩ lại, nếu không phải do linh hồn làm, thì chỉ còn một khả năng thôi..."

"Cái gì?"

Ông lão thốt ra hai chữ: "Tự sát."

"Tự sát?" Tôi cười khẩy khinh bỉ, "Ông từng thấy ai tự sát mà lại tự siết cổ mình đến chết không? Vả lại, Mạnh bà bà có lý do gì để tự sát? Cho dù bà ấy muốn chết, việc gì phải kéo tôi và A Chùy xuống nước?"

Trưởng đồn Ngô bất lực lắc đầu, chính lão cũng thấy giả thuyết này không vững.

Tôi một lần nữa nhắc nhở đối phương: "Chắc chắn là Lăng Mộc Phong làm. Ông cứ nhắm vào hắn mà tra, bảo đảm không sai đâu!"

Trưởng đồn Ngô nói: "Chuyện này cậu đừng bận tâm nữa, tôi tự có chừng mực." Nói đoạn, lão ném một tấm vé tàu hỏa ra trước mặt tôi: "Theo đúng thỏa thuận hôm qua của chúng ta, cậu phải đi rồi."

Tôi nhìn tấm vé tàu, ngập ngừng không nói. Đúng là chúng tôi có một thỏa thuận: Nếu không tìm thấy manh mối ở am ni cô, tôi phải rời khỏi trấn Phong An ngay hôm nay.

"Cậu bắt buộc phải đi, đây là vì an toàn của cậu." Ông lão nhấn mạnh giọng điệu đầy kiên quyết, "Vả lại cậu ở lại cũng không còn ý nghĩa gì nữa, chỉ làm vướng chân tôi thôi."

Tôi không phục tuyên bố: "Tôi cũng là một thám tử!"

Ông lão liếc nhìn tôi, ánh mắt vừa bất lực vừa mang chút giễu cợt. Sau đó lão hạ thấp giọng hỏi: "Phía trước bên trái cậu, bàn thứ tư sát tường, có một gã đội mũ ngồi đó. Cậu thấy không?"

Tôi nhìn theo hướng lão chỉ, quả nhiên thấy một gã đàn ông như vậy. Hắn ngồi nghiêng, trước mặt đặt một ấm trà nhưng không gọi rượu thịt.

Tôi thắc mắc: "Hắn là ai?"

"Người của Lăng Mộc Phong đấy!" Trưởng đồn Ngô cười lạnh thì thầm, "Chẳng biết đã bị bám đuôi bao lâu rồi — thế mà cậu còn dám xưng là thám tử?"

"Tôi... tôi làm việc ngay thẳng, không sợ những thủ đoạn tiểu nhân hèn hạ của hắn!" Tôi đỏ mặt vì ngượng, giận dữ nói. Tiện thể, tôi còn lườm gã đó mấy cái, nhưng hắn coi như không thấy tôi, vẫn ung dung uống trà.

"Thôi đi, không thấy xấu hổ à." Ông lão kéo tay tôi, lôi ánh mắt tôi quay lại. Tôi hậm hực "hừ" một tiếng.

Trưởng đồn Ngô nói tiếp: "Tôi đã dặn người ở đồn rồi, không cho họ nhốt cậu vào phòng giam nữa. Nhà Lăng Mộc Phong cũng không thể đến — hắn đã có chuẩn bị rồi, cậu đến đó là tự chui đầu vào lưới."

Tôi méo miệng: "Ông định tuyệt đường lui của tôi đấy à?"

"Phải." Ông lão nhìn tôi với vẻ đắc ý, "Đêm nay cậu không còn chỗ nào để đi đâu. Nếu cậu cứ ở lại Phong An, hãy đợi Lăng Mộc Phong xử lý cậu đi."

Tôi im lặng hồi lâu, cuối cùng thở dài một tiếng, cầm lấy tấm vé tàu: "Được rồi — tôi đi."

Ông lão mỉm cười hài lòng, lão rút đồng hồ quả quýt ra xem: "Còn hai tiếng nữa tàu mới chạy. Tôi ngồi tám chuyện với cậu thêm lát nữa, rồi tiễn cậu lên tàu."

Tôi cười khổ: "Ông không yên tâm về tôi đến thế sao? Nhất định phải đích thân áp giải tôi ra khỏi cái trấn này à?"

"Hừ!" Ông lão nheo mắt phàn nàn, "Cậu đừng có mà không biết điều, tôi làm vậy là vì an toàn của cậu. Tôi đường đường là một cảnh sát trưởng, người khác muốn tôi tiễn tôi còn chẳng thèm đâu!"

Tôi không còn gì để nói, chỉ biết hậm hực cúi đầu, một hơi lùa sạch số mì còn lại vào bụng.

Trưởng đồn Ngô nói được làm được, quả nhiên ngồi cùng tôi đến tận giờ tàu chạy. Lão đưa tôi lên tận toa tàu, rồi đứng cách cửa sổ vẫy tay chào tạm biệt.

Khi tàu sắp chuyển bánh, ông lão dặn dò lần cuối: "Tuyệt đối đừng quay lại Phong An một mình, có việc gì cứ lên huyện tìm tôi."

Tôi ậm ừ đáp lại, tâm trí đang để chỗ khác. Bởi vì sự chú ý của tôi đang tập trung vào lối vào ga nhỏ ở phía xa. Gã đàn ông uống trà trong quán lúc nãy hiện đang đứng đó, lén lút nhìn trộm chúng tôi. Mãi đến khi đoàn tàu hú còi chậm rãi khởi hành, hắn mới quay người biến mất ngoài ga.

Trưởng đồn Ngô đứng sừng sững trên sân ga, nhìn theo đoàn tàu chở tôi đi xa dần. Bóng dáng lão trong hoàng hôn cuối cùng trở thành một hình bóng nhỏ bé, trông gầy gò nhưng tư thế rất kiên định.

Họ đều nghĩ tôi đã đi — cả Lăng Mộc Phong lẫn Ngô Xuân Lỗi. Tay sai của Lăng Mộc Phong và đám cảnh sát ở đồn trấn đều có thể thở phào nhẹ nhõm để đón chờ màn đêm sắp tới.

Chỉ khi họ thả lỏng, tôi mới có nhiều cơ hội hơn để thực hiện kế hoạch của mình.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.