"Văn phòng thám tử tư Michael."
Một nữ nhân viên trạc ba mươi tuổi, ăn mặc không mấy sành điệu, cất giọng uể oải, thiếu sức sống bắt máy.
Cô ngồi trong một gian văn phòng nhỏ hẹp, đối diện là cửa kính ra vào, bên tay phải là chiếc máy điều hòa cũ kỹ đang gầm rú phả ra những luồng khí chẳng mấy mát mẻ. Bên trái cô là chiếc tủ sắt, bên trong xếp la liệt mấy tập hồ sơ đã lâu không ai dọn dẹp, trên nóc tủ phủ một lớp bụi dày cộm.
Ngay sát sau lưng cô là một chiếc bàn khác, sau bàn có một gã đàn ông đang gục đầu chợp mắt, tiếng ngáy khe khẽ phát ra, dường như chẳng hề bận tâm đến tiếng chuông điện thoại réo rắt.
"Tôi muốn nhờ các người tìm giúp bé Lulu nhà tôi." Đầu dây bên kia truyền đến giọng một người phụ nữ đầy kích động.
"Lulu là người thân thế nào của bà? Mất tích bao lâu rồi?" Nữ nhân viên lúc này mới vực lại tinh thần, ân cần hỏi han.
"Lulu là con heo nhà tôi, sáng nay người giúp việc dắt nó đi dạo thì để lạc mất. Con heo đó tôi tốn không ít tiền mua đấy, lại còn là hàng nhập khẩu từ Pháp nữa chứ! Tôi đã dặn đi dặn lại là phải cẩn thận mà cô ta chẳng thèm nghe. Tôi bảo với chồng tôi là đứa giúp việc này làm ăn tắc trách quá, phải đuổi cổ đi, thế mà ông ấy lại tiếc rẻ, ông ấy nhìn thấy cái vóc dáng của ả..." Người đàn bà bên kia thao thao bất tuyệt.
Cô nhân viên cẩn thận bịt ống nghe lại, quay người lay lay gã đàn ông ngồi phía sau: "Có việc rồi này."
Nghe thấy có mối làm ăn, gã vội vực tinh thần ngồi thẳng dậy, xoa mạnh lên khuôn mặt ngái ngủ, hỏi cô nhân viên: "Ủy thác kiểu gì thế?"
Cô nhân viên gượng cười, có chút chột dạ đáp: "Là tìm heo cho nhà người ta."
Gã đàn ông vừa nghe xong, chút tinh thần vừa nhen nhóm lập tức biến thành ngọn lửa giận, giật phắt lấy ống nghe, lớn tiếng quát: "Tìm heo? Cái quái quỷ gì thế này? Người thời nay điên hết cả rồi sao, đến heo cũng nuôi làm cảnh!"
Nữ nhân viên lộ vẻ bất lực, dường như cũng chẳng biết phải làm sao với tình cảnh này.
"... Tôi thấy hai đứa nó tơ tưởng nhau từ lâu rồi, bao nhiêu lần tôi bắt gặp chúng nó liếc mắt đưa tình với nhau, tưởng tôi không biết chắc. Thực ra là tôi nhịn không nói đấy thôi..." Gã đàn ông cầm ống nghe lên thì thấy người đàn bà bên kia vẫn lải nhải không dứt.
"Bà muốn tìm heo thì ra nông trại, rồi đi mà vào siêu thị! Hoặc là đợi đến khi chồng bà thực sự theo gái bỏ trốn rồi hẵng đến tìm tôi!" Gã gầm lên thật to vào ống nghe rồi dập máy cái rầm, chẳng mảy may đoái hoài đến hạng người này. Đoạn, gã quay sang bảo cô nhân viên: "Lần sau có loại vụ án thế này thì cúp máy luôn, đừng gọi tôi nữa."
Cô nhân viên trưng ra bộ mặt đáng thương đáp: "Sếp à, tôi cũng đâu muốn nhận mấy cái vụ này. Nhưng chúng ta đã hơn nửa năm nay không có mối nào rồi, không nhận thì chết đói mất thôi."
"Chết đói? Cô nói năng kiểu gì thế hả? Tôi không trả lương cho cô chắc?" Gã đàn ông với bộ dạng như chưa ngủ đủ giấc lại thêm đói bụng, râu ria xồm xoàm khắp mặt, ngoài vóc dáng vạm vỡ ra thì thật khó để người ta tin gã là một thám tử tư chứ không phải kẻ vô gia cư đầu đường xó chợ.
Nghe nhắc đến chuyện này, sắc mặt cô nhân viên càng thêm khó coi, lí nhí đáp: "Sếp có trả lương, nhưng lần sau lại ít hơn lần trước. Người ta đi làm thì được tăng lương, chỉ có tôi là bị trừ lương thôi."
Gã cười gượng hai tiếng, ngượng ngùng nói: "Thì bây giờ kinh tế đang khó khăn mà."
"Câu này sếp nói cả trăm lần rồi, từ nửa năm trước khi sếp giảm lương tuần của tôi xuống còn một trăm năm mươi đồng đã nói thế. Cứ mỗi lần sếp mở miệng nói câu đó là lương tôi lại hụt đi một khúc. Bây giờ lương tuần của tôi còn chưa đầy tám mươi đồng, bà chủ nhà trọ bảo nếu tôi còn không trả tiền thuê thì cuốn gói hành lý ra đường mà ngủ." Nói đến đây, cô nhân viên chực trào nước mắt.
Thấy cô buồn tủi, gã vội vàng dỗ dành: "Đừng lo, chúng ta nhất định sẽ nhận được vụ lớn mà. Đợi nhận được vụ lớn rồi, tôi nhất định sẽ tăng lương cho cô, được chưa?"
Cô nhân viên nói: "Vụ lớn? Tăng lương? Trước đây sếp cũng nói thế. Nhưng bao nhiêu khách hàng đều bị cái tính khí của sếp dọa chạy mất dép rồi, đào đâu ra vụ lớn nữa?"
Gã nín thinh, sắc mặt chẳng mấy dễ coi.
Nỗi uất ức tích tụ bấy lâu nay của cô nhân viên một khi đã bộc phát thì không thể ngăn lại được, cô tiếp tục: "Tôi theo sếp bấy lâu nay là vì nghe sếp bảo trước kia từng là nhân vật ghê gớm gì đó ở CIA. Tôi cứ ngỡ sếp phải cừ khôi lắm, không ngờ sếp chẳng biết làm cái gì cả, chẳng giống chút nào với mấy đặc vụ CIA người ta đóng trên phim ảnh, truyền hình."
"Đó là phim." Gã nói.
"Tôi biết đó là phim, nhưng sếp việc gì phải nổi cáu với khách hàng? Như thế thì ai thèm tìm đến sếp nữa? Họ muốn tìm cái gì thì mình tìm giúp cái đó, miễn là có tiền kiếm là được rồi, quản chi nhiều chuyện thế." Cô nhân viên vẫn không quên khuyên gàn.
Gã sa sầm mặt mày, không hé nửa lời.
"Sếp đừng có im lặng như thế chứ." Cô nhân viên kêu lên.
Nhưng gã vẫn câm như hến.
Cô nhân viên thở dài một tiếng, nói: "Tôi cũng chẳng nỡ rời bỏ sếp đâu, nhưng nếu tôi không đi thì tôi sẽ mất luôn chỗ ở mất." Vừa nói, cô vừa mở ngăn kéo lấy ra một phong bì, đưa cho gã: "Xin lỗi, Michael, tôi không muốn trở thành kẻ không nhà để về." Cô đưa lá đơn từ chức đã chuẩn bị sẵn từ trước cho gã.
Michael nhận lấy bức thư, vẫn không nói lời nào, cúi gằm mặt không nhìn cô, cất giọng trầm đục: "Cô thực sự muốn đi sao?"
Cô nhân viên khẽ "dạ" một tiếng, nói: "Tạm biệt, Michael, anh tự bảo trọng nhé." Dứt lời, cô cũng chẳng buồn thu dọn đồ đạc gì, xách túi bước thẳng ra khỏi cửa.
Michael nhìn bóng lưng cô khuất dần, bèn mở bức thư ra liếc nhìn đôi ba dòng. Nội dung trong thư chẳng qua chỉ là mấy lời xin lỗi và vài lời khuyên nhủ, gã đọc được vài hàng rồi thôi, trong lòng bực bội ngổn ngang, dứt khoát vò bức thư ném thẳng vào sọt rác nơi góc tường.
Tay thám tử tư Michael này ở Los Angeles chẳng mấy tiếng tăm. Có người bảo gã là gã thám tử tư vô dụng, nghèo kiết xác và tệ hại nhất Los Angeles, cũng có người bảo gã căn bản không phải là miếng cơm của cái nghề này. Tính khí gã nóng như lửa, lại hay lên mặt trịch thượng, những vụ không kiếm được món hời hay không bõ công thì nhất quyết không chịu nhận. Đã vậy, bất kể khách hàng là ai, chỉ cần gã không vừa mắt là lập tức quát tháo om sòm, chẳng chút lễ độ, thành thử thanh danh ngày càng bết bát, đến mức chẳng còn ma nào thèm bén mảng tới.
Thế nhưng lai lịch của gã quả thực không hề tầm thường. Trước khi dấn thân vào nghề này, gã từng là đặc vụ cấp cao của CIA Mỹ, cũng từng một thời oanh liệt, phá được không ít vụ án chấn động. Nếu không phải lần trước khi vây bắt mấy tên mafia Nga mà suýt chút nữa khiến Tượng Nữ Thần Tự Do ở New York thành phế tích, thì có lẽ bây giờ gã vẫn còn yên vị ở CIA.
Tuy nhiên sau khi bị đuổi việc, gã lại rất giỏi tự an ủi bản thân. Gã nghĩ mình có bản lĩnh như vậy, dẫu không ở CIA thì vẫn có đất dụng võ, nhất định sẽ nhận được những phi vụ kinh thiên động địa để thi thố sở trường, một bước thành danh.
Gã luôn tự nhủ với lòng mình như thế, và cũng từng nói như vậy với cô thư ký vừa mới dứt áo ra đi.
Thư ký của gã — Mary, chính là người phụ nữ vừa từ chức bước đi kia. Có lẽ cô có chút cảm tình với gã, bằng không đã chẳng chịu thiệt thòi theo gã lâu đến thế. Thế nhưng, gã không biết, mà cũng chẳng buồn để tâm xem vì sao Mary lại chịu nhẫn nhục ở lại cái xó này suốt bấy lâu. Gã chỉ biết rằng vụ án lớn của mình rồi sẽ tới, và thứ gã đang chờ đợi chính là nó.
Mary đi rồi, đáy lòng gã có lẽ cũng gợn lên chút xót xa, nhưng với cái tính của gã, trừ phi đến cái ngày gã buộc phải chuyển nhà, bằng không gã thậm chí còn chẳng buồn đụng tới bàn làm việc của cô, mà việc gã mở lá thư ra đọc đã là chuyện hiếm có lắm rồi.
Gã khép cửa lại, quay người nhìn quanh văn phòng phủ đầy bụi bặm, hai chân gác thẳng lên bàn, lưng dựa vào tường, đôi mày cau chặt, lại tiếp tục gà gật.
Đúng lúc này, chiếc điện thoại di động đặt trên bàn bỗng reo vang. Gã giật bắn mình, suýt nữa thì ngã nhào khỏi ghế. Gã trố mắt nhìn chiếc điện thoại đầy vẻ khó tin một hồi lâu rồi mới nhấc máy.
Đầu dây bên kia "alo" một tiếng, sau đó là một giọng mang âm hưởng châu Âu đặc sệt, nghe vừa thô lỗ lại vừa xấc xược: "Michael Blade phải không?"
Michael lúc này tâm trạng đang tồi tệ, chỉ ậm ừ đáp bừa một tiếng: "Phải đấy..."
"Trong vòng nửa tiếng, đến phòng tổng thống khách sạn Beverly Hills ngay! Có việc giao cho anh làm." Giọng điệu trong điện thoại thô lỗ đến cực điểm.
Michael rất khó chịu trước thái độ vô lễ ấy, cố ý hỏi lại: "Xin lỗi, cho hỏi là khách sạn nào cơ?"
Gã kia càng gắt gỏng hơn: "Khách sạn Beverly Hills đấy, đồ ngu."
"Mẹ kiếp." Michael thầm nghĩ: "Thằng này đúng là đồ thô bỉ, phải cho nó biết tay mới được." Gã liền nói mát: "Khách sạn Beverly Hills à? Ồ! Có phải cái chỗ mấy đứa minh tinh hạng bét hay lui tới không?" Gã cố tình mỉa mai, đem khách sạn năm sao tráng lệ hạ thấp xuống thành chốn đàn đúm của phường hát rong tép riu.
Thực tế thì khách sạn Beverly Hills làm sao có cửa cho đám tiểu minh tinh bén mảng, đó là một trong những khách sạn cao cấp bậc nhất thế giới. Người bình thường muốn tiêu xài ở đây một lần có khi phải bay đứt cả tuần lương, tuyệt đối là chốn ra vào của giới thượng lưu quyền quý, ngay cả gã cũng chỉ mới nghe danh chứ chưa từng đặt chân tới.
Thế nhưng, câu khích của Michael quả nhiên phát huy tác dụng. Gã bên kia nghe xong tức đến nghẹn họng, gào thét liên hồi qua ống nghe: "Mày dám đem ông chủ chúng tao so sánh với cái lũ minh tinh ranh con đó hả? Mày có biết ông chủ tao là ai không?"
Michael nghe đối phương giận đến líu cả lưỡi, trong lòng không khỏi buồn cười, vờ như không có chuyện gì mà đáp: "Xin lỗi nhé, tôi làm sao biết ông chủ anh là thằng nào, ông ta có thèm nói với tôi đâu."
Gã kia quát lớn: "Ông chủ nhà tao là Chủ tịch Tập đoàn Kaufmann, ngài Tore Kaufmann! Nghe rõ chưa hả?"
"Tore Kaufmann?" Gã làm sao mà chưa từng nghe qua chứ, nhân vật này là đại phú hào bậc nhất thế giới, tiền của nhiều đến mức ăn tiêu một trăm năm mươi kiếp cũng không hết. Bất ngờ nghe thấy cái tên này, gã thực sự có chút sững sờ không nói nên lời.
Gã kia thấy Michael im bặt, liền đắc chí nói: "Ngài Kaufmann có việc giao cho mày làm, mau cút đến khách sạn ngay, nghe rõ chưa?" Nói dứt câu, chẳng thèm đợi Michael trả lời, đầu dây bên kia đã vang lên tiếng tút dài dập máy.
Michael buông điện thoại xuống, ngẩn người trong giây lát. "Tore Kaufmann", cái tên quen thuộc này mấy tháng trước vừa mới chễm chệ trên trang bìa của tờ tạp chí "Phong Vân Nhân Vật" — một ấn phẩm chuyên đưa tin về chuyện phong lưu của giới danh gia vọng tộc. Gương mặt toát lên vẻ nhung lụa xa hoa ấy quả thực rất khó để người ta quên được.
Gã vội vàng bới tung đống tạp chí cũ vứt xó nơi góc tường, tìm ra đúng số báo có bài viết về nhân vật đó.
Tore Kaufmann là một trong những tài phiệt giàu có nhất hành tinh, đồng thời cũng là tay chơi công tử phong lưu khét tiếng hàng đầu thế giới. Danh tiếng của gã trong giới thượng lưu châu Âu chẳng hề thua kém các vương tử nước Anh hay ông trùm tàu biển Onassis của Hy Lạp.
Tuy nhiên, tiếng tăm của gã không hoàn toàn do bản thân tạo dựng nên. Khi nhắc đến cái họ Kaufmann, điều người ta nhớ đến trước tiên vẫn là người cha đầy huyền thoại của gã.
Cha của gã — William Kaufmann, gốc gác người Nhật, thời Đệ Nhị Thế Chiến từng làm việc trong cơ quan cảnh sát mật của Đức Quốc Xã. Công việc chính của ông ta khi đó là thu thập các tin tức tình báo về sự phân bổ năng lượng toàn cầu cho quân đội Đức, ngoài ra còn phụ trách việc khai thác dầu mỏ.
Dầu mỏ là thứ vật chất chi phối huyết mạch kinh tế quan trọng nhất của nhân loại kể từ thế kỷ hai mươi trở lại đây, tầm quan trọng của nó còn vượt xa cả vàng ròng. Vàng tuy quý giá, nhưng thiếu nó loài người vẫn sống được, còn nếu thiếu dầu mỏ thì mọi sinh hoạt xã hội đều sẽ đình trệ.
Chí ít thì quy luật này tuyệt đối đúng trong suốt thế kỷ hai mươi và giai đoạn đầu thế kỷ hai mươi mốt. Thế nên dầu mỏ mới được xưng tụng là "vàng đen".
Nhiệm vụ mà William Kaufmann đảm trách chính là thăm dò, khai thác và vận chuyển dầu mỏ từ các vùng chiếm đóng ngoài lãnh thổ nước Đức để cung ứng cho cỗ máy chiến tranh khổng lồ đang tiêu hao năng lượng ghê gớm của quân đội phát xít.
Chiến tranh kết thúc, ông ta cũng biệt vô âm tín, không ai biết đã trốn đi đâu. Rất nhiều năm sau, ông ta bất ngờ xuất hiện trở lại, đúng vào thời điểm cơn sốt giá dầu toàn cầu bùng nổ dữ dội nhất. Thế nhưng ông ta lại tung hàng ra thị trường dầu thô với mức giá thấp hơn thị trường tới hai mươi phần trăm. Chẳng ai rõ ông ta lấy đâu ra nguồn dầu thô ấy, cũng không ai biết ông ta đã dùng thủ đoạn hay mối quan hệ nào mà có thể đạt được thỏa thuận với các quốc gia dồi dào dầu mỏ như Ả Rập, Iran, Iraq, cho phép ông ta khai thác dầu mỏ ngay trên lãnh thổ của họ và xuất khẩu một cách hợp pháp. Ngoài thị trường còn đồn đại rằng ông ta vẫn đang công khai hoặc lén lút khai thác dầu ở nhiều nơi khác nữa.
Chính nhờ cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần đó, ông ta đã tích lũy được một khối tài sản khổng lồ trong chớp mắt. Có người nói thời đó ông ta giàu ngang một quốc gia, câu nói ấy tuyệt nhiên không ngoa chút nào.
William Kaufmann dựa vào tài ngoại giao khôn khéo và nguồn năng lượng dường như vô tận của mình, chỉ trong vài năm ngắn ngủi đã kiếm được số của cải ăn tiêu trọn đời không hết. Mãi đến những năm tháng cuối đời, ông ta mới đưa cả gia đình sang định cư tại Thụy Sĩ rồi an hưởng tuổi già tại đó, thọ đến chín mươi chín tuổi.
Gia sản của ông ta chưa bao giờ được công bố chính thức. Trước khi ông ta qua đời, từng có người ước tính dè dặt rằng con số ấy vượt quá mười tỷ đô la Mỹ. Cuộc đời ông ta bao phủ trong bức màn bí ẩn, là một nhân vật mang đầy màu sắc huyền thoại.
Lão Kaufmann là một nhân vật lợi hại là thế, nhưng Tore Kaufmann cùng người anh trai của gã lại đích thị là hai tên phá gia chi tử không hơn không kém. Lúc sinh thời, lão Kaufmann kiếm tiền với phương thức và tốc độ khó tin bao nhiêu, thì sau khi ông ta nhắm mắt xuôi tay, hai anh em nhà này lại tiêu xài tiền của ông ta với tốc độ và cách thức khó tin bấy nhiêu.
Peter Kaufmann — anh trai của Tore Kaufmann, cũng có tính cách vung tiền như rác chẳng kém gì em trai. Chỉ có điều ngoài đàn bà ra, Peter còn có một niềm đam mê lớn hơn, đó là "bay lượn".
Gã mê bay lượn vì muốn tận hưởng cảm giác kích thích, thích tốc độ, và càng thích khoe mẽ hơn. Do đó, gã thường tự tay lái những phi cơ tối tân, bóng bẩy nhất để biểu diễn những màn nhào lộn trên không với độ khó cực cao. Mục đích chẳng có gì khác ngoài việc muốn thiên hạ phải ngước nhìn mình phô diễn.
Vài năm trước, gã tổ chức một màn biểu diễn bay lượn ngay trong trang viên của gia đình tại Thụy Sĩ, mời không ít danh lưu quý tộc đến thưởng lãm. Gã thường làm việc này, chuyến bay lần đó cũng chỉ là một màn biểu diễn thông thường, chẳng có gì to tát, nhưng mọi người vẫn nể mặt gã mà đến giao lưu, thắt chặt quan hệ.
Đúng vào lúc gã đang thực hiện động tác lao dốc bổ nhào như mọi bận thì cánh quạt trên máy bay bất ngờ bốc cháy. Một tiếng "oành" vang lên chấn động, toàn bộ quan khách có mặt tại hiện trường nháo nhào kinh hãi. Trong tình cảnh trên khoang hoàn toàn không có thiết bị cứu hỏa hay thoát hiểm, gã cùng chiếc phi cơ đã cắm thẳng xuống đất.
Cái chết của Peter Kaufmann từng có dạo bị dư luận bên ngoài nghi ngờ là cái bẫy do chính Tore Kaufmann giăng ra. Thế nhưng những người trong cuộc đều hiểu rằng chuyện đó tuyệt đối không thể xảy ra. Bởi lẽ Tore Kaufmann là một kẻ phá gia chi tử thực thụ, ngoài việc tiêu tiền ra thì gã chẳng có lấy một chút đầu óc kinh doanh nào. Bản lĩnh của người cha e rằng gã chưa thừa hưởng nổi một phần trăm, đối với chuyện buôn bán không những mù tịt mà còn chẳng có chút hứng thú đoái hoài, huống hồ là cái kế hoạch mưu sát anh ruột tinh vi như vậy.
Ngày Peter Kaufmann còn sống, ít ra còn có người đứng ra quản lý công việc của công ty. Nay Peter chết rồi, mọi chuyện lớn nhỏ đều đổ dồn lên đầu gã. Tore căn bản chẳng muốn nhúng tay vào mấy chuyện này, chỉ treo cái danh trùm dầu mỏ trên danh nghĩa, mặc kệ công ty tự sinh tự diệt, ngày ngày đắm chìm trong cuộc sống trụy lạc xa hoa.
Gia sản kếch xù cả chục tỷ rơi vào tay gã chỉ tổ hoang phí. Cụm từ "vung tiền như rác" đã không còn đủ để miêu tả tốc độ xài tiền của gã, có lẽ phải dùng từ "đốt tiền" mới tạm sát nghĩa. Sau khi Peter chết, gã đã nhanh chóng ném qua cửa sổ phần lớn của cải, dẫu số còn lại chưa đầy một nửa nhưng vẫn là một con số khổng lồ. Thế nên tại Thụy Sĩ, gã vẫn sống một cuộc đời vô cùng vương giả. Gã là tay chơi khét tiếng trong giới giao tế châu Âu, tin đồn tình ái với các minh tinh màn bạc nóng bỏng cùng những người đẹp danh giá chưa bao giờ dứt đoạn, lại nổi danh nhờ thói chi tiền bạt mạng và phô trương thanh thế.
Tạp chí "Phong Vân Nhân Vật" dành lời bình luận cuối cùng cho Tore Kaufmann vỏn vẹn mấy chữ: "Một kẻ phá gia chi tử tuyệt đối."
Michael đọc xong bài báo, bất giác thở dài một tiếng. Gã tuyệt nhiên chẳng có chút hảo cảm nào với gã công tử bột thượng lưu này, nhưng trong thâm tâm gã tin chắc rằng Tore Kaufmann sẽ không đời nào thuê gã đi tìm một con heo hay một con thỏ. Nghĩ đoạn, gã vội vàng chộp lấy chiếc điện thoại di động trên bàn cùng chiếc áo khoác vắt sau lưng ghế, vừa mặc vào người vừa phóng như bay ra khỏi văn phòng.
Michael đã cố hết sức đạp ga cho xe chạy thật nhanh, nhưng tình trạng giao thông tồi tệ của Los Angeles chẳng khác nào một gã bệnh nhân bị liệt toàn thân. Michael chỉ biết trơ mắt nhìn dòng xe cộ chen chúc, ùn tắc ngang dọc trên đường mà chẳng thể làm gì được, lòng nóng như lửa đốt.
Vật lộn mất nửa ngày trời, mãi gã mới mò tới được khách sạn Beverly Hills. Thế nhưng gã đã trễ hẹn quá lâu, so với giờ hẹn đã lố hơn một tiếng đồng hồ. Khi gã vội vã lao vào đại sảnh thì một nhân viên khách sạn đã bước ra chắn đường.
"Thưa ngài, tôi có thể giúp gì cho ngài không?" Một nhân viên phục vụ cất giọng lịch thiệp, nhưng nét mặt thì chẳng có chút gì là lịch sự cả. Cặp mắt ti hí của hắn cứ đảo qua đảo lại đánh giá gã từ trên xuống dưới, như thể sợ bộ dạng râu ria xồm xoàm, lếch thếch của Michael sẽ làm vấy bẩn cả gian sảnh lộng lẫy này.
Khách sạn Beverly Hills không phải là cái thứ "khách sạn dành cho tiểu minh tinh" như miệng Michael vừa nói. Tại Los Angeles, đây là một khách sạn năm sao sang trọng bậc nhất, người lui tới đây đa phần đều là bậc quyền quý có địa vị, nếu không thì cũng là ngôi sao hay tài phiệt cộm cán, những du khách tạm trú tại đây cũng đều thuộc tầng lớp thượng lưu.
Michael giật mình khựng lại, thầm nghĩ: "Đến cả lũ phục vụ này cũng khinh người như rác, thảo nào cái thằng gọi điện lúc nãy lại hống hách, to mồm đến thế." Gã chẳng buồn đôi co với tên phục vụ mắt chó nhìn người thấp hèn này, liền nói: "Ngài Tore ở phòng tổng thống đang đợi tôi."
Tên nhân viên lộ vẻ kinh ngạc, bán tín bán nghi hỏi lại: "Ngài nói là ngài Kaufmann sao?"
Michael gật đầu.
Tên nhân viên với vẻ mặt đầy hoài nghi bảo gã: "Ngài đợi một lát, tôi đi hỏi lại đã." Nói rồi hắn rảo bước chạy về phía quầy lễ tân, ghé tai thì thào vài câu với một gã đàn ông mặc âu phục trông như quản lý.
Michael trong lòng bực bội, chẳng thèm để ý đến hắn, dứt khoát đưa mắt ngắm nghía xung quanh. Gã chưa từng đặt chân đến khách sạn cao cấp thế này bao giờ, không tranh thủ ngắm nghía một phen chẳng phải uổng công sao?
Gã đảo mắt nhìn khắp bốn phía, trần đại sảnh cao thông suốt bốn tầng lầu, hai chùm đèn pha lê rủ thẳng từ trên đỉnh xuống, từng hạt pha lê tròn trịa, trong suốt phản chiếu ánh đèn vàng kim tỏa ra luồng sáng bảy màu rực rỡ, càng tôn thêm vẻ nguy nga tráng lệ cho cả gian sảnh. Khách khứa nam nữ qua lại nơi đây, từng cử chỉ, bước đi đều toát lên vẻ ngạo nghễ khác hẳn người thường. Gã thầm lấy làm lạ: "Lắm kẻ lắm tiền thế không biết?"
Chuyện đời quả thực quá đỗi bất công, có kẻ vung tiền như nước chỉ cho một đêm ở chốn xa hoa này, trong khi bao nhiêu người ngoài kia ngay cả ba bữa cơm lót dạ cũng thành vấn đề nan giải.
Đúng lúc này, giữa dòng người qua lại tấp nập, gã bỗng bắt gặp một bóng hình quen thuộc. Đó là một người Trung Quốc, nước da ngăm đen, mái tóc cắt ngắn, thần sắc sáng ngời, nhưng sâu trong đôi mắt tinh anh rạng rỡ ấy lại phảng phất nét phong trần, lõi đời của kẻ đã trải qua bao sóng gió cuộc đời.
"Diệp Diệc Thâm! Diệp Diệc Thâm!" Gã hắng giọng gào lớn, khiến không ít người xung quanh phải ngoái nhìn.
Người kia vừa từ bên ngoài bước vào, nghe thấy có tiếng gọi tên mình liền vội đưa mắt nhìn sang.
Quả nhiên là Diệp Diệc Thâm! Có những người giữa biển người mênh mông, bạn chỉ cần liếc mắt một cái là nhận ra ngay, và Diệp Diệc Thâm chính là hạng người như thế.
"Michael Blade?" Diệp Diệc Thâm nhìn thấy Michael thì lộ vẻ khó tin nhưng vô cùng mừng rỡ chạy lại. Anh ta đang vận một bộ đồ thể thao, trên vai khoác chiếc túi đựng vợt tennis, trông như một du khách đang trong kỳ nghỉ dưỡng.
Diệp Diệc Thâm nở nụ cười rạng rỡ sải bước tới, siết chặt tay Michael: "Michael, lâu lắm rồi không gặp! Cậu biến đi đằng nào thế hả? Tôi tìm cậu mấy lần mà chẳng thấy đâu." Nét mặt anh ta tràn đầy niềm hân hoan và ngạc nhiên tột độ.
Michael cũng lộ vẻ mặt tương tự, đủ thấy cả hai đều vô cùng vui sướng trước cuộc hội ngộ bất ngờ này. Michael cất giọng: "Là ai tìm không thấy ai cơ chứ? Cậu suốt ngày chạy ngược chạy xuôi, chẳng có lấy một chỗ ở cố định, chốc thì ở châu Phi, thoắt cái đã sang châu Âu. Tôi hỏi cậu, ai mà tìm cho ra cậu được?"
Diệp Diệc Thâm bật cười sảng khoái: "Cậu lại chơi trò vừa ăn cướp vừa la làng đấy phỏng?"
Michael nói: "Tôi vừa ăn cướp vừa la làng á? Cái thứ bạn như cậu lẽ ra tôi phải gạch tên khỏi danh bạ từ lâu rồi mới phải." Gã đùa cợt.
Diệp Diệc Thâm ngắm nghía Michael một hồi, cảm thấy gã dường như già đi trông thấy, liền hỏi: "Lâu lắm không gặp cậu rồi, cậu còn làm ở chỗ cũ không đấy?" Ý anh ta muốn ám chỉ CIA.
Michael thở dài một hơi, đáp: "Thôi rồi, tôi nghỉ việc ở chỗ đó rồi, bây giờ tự mở một văn phòng thám tử tư."
Diệp Diệc Thâm lúc này mới biết gã đã rời khỏi CIA, nhưng anh ta vẫn vui vẻ nói: "Thế cũng tốt mà, tự mình làm chủ."
Michael xua xua tay: "Đừng nói thế, tôi thế này mà làm chủ nỗi gì? Kiếm miếng cơm qua ngày thôi."
Diệp Diệc Thâm nhận ra khi thốt ra những lời này, gã dường như chất chứa rất nhiều nỗi niềm cay đắng, bèn chuyển chủ đề: "Phải rồi, cậu đến đây làm gì thế? Lát nữa có rảnh không, tôi mời cậu đi uống một ly hoặc ăn bữa cơm."
Michael lúc này mới sực nhớ mình còn phải đi gặp Kaufmann, liền nói: "Gặp lại cậu mừng quá suýt nữa thì quên khuấy mất, tôi đến đây nhận một phi vụ."
"Ồ, nhận vụ án à! Khá lắm." Diệp Diệc Thâm giơ ngón tay cái lên, mỉm cười tán thưởng.
Michael cũng hỏi lại: "Thế còn cậu? Sao cậu lại ở đây?" Gã nhìn bộ trang phục của Diệp Diệc Thâm, hỏi tiếp: "Cậu ở khách sạn này à?"
"Làm sao tôi ở đây được?" Diệp Diệc Thâm cười cười, lấy tay che nửa miệng: "Chỗ này đắt đỏ thế, tôi làm sao kham nổi?"
Michael cũng bật cười theo: "Ha ha, tôi cứ tưởng cậu phát tài rồi chứ."
Diệp Diệc Thâm cười nói: "Tôi á? Phát tài ư? E là khó lắm, dân làm nghệ thuật có mấy ai giàu nứt đố đổ vách được đâu?"
Michael cười một hồi rồi hỏi: "Thế sao cậu lại tới đây?"
Diệp Diệc Thâm giải thích: "Tôi có một nhà tài trợ tranh nghệ thuật đang ở đây, ông ấy bảo muốn chơi tennis, vừa hay tôi cũng thích món này nên mới chạy sang."
Diệp Diệc Thâm mở một phòng triển lãm tranh ở New York, phần lớn tác phẩm nghệ thuật bên trong là do anh ta lặn lội đi khắp thế giới thu thập về, cũng có không ít là do những người đam mê nghệ thuật nhiệt tình quyên tặng.
Diệp Diệc Thâm nhìn đồng hồ, bảo Michael: "Cậu để lại số điện thoại cho tôi đi, lát nữa đánh bóng xong tôi gọi cho cậu, tối nay cùng đi ăn bữa cơm nhé."
Michael liếc nhìn thời gian, thấy mình đã trễ quá lâu, không biết cái tên ngạo mạn trong điện thoại lúc nãy sẽ xỉa xói mình thế nào, nhưng lại sợ lỡ mất cơ hội liên lạc với Diệp Diệc Thâm, bèn vội vàng ghi lại số di động và số văn phòng cho anh ta rồi mới chia tay.
Sau khi Diệp Diệc Thâm rời đi, tên nhân viên phục vụ lúc nãy cùng người đàn ông dáng dấp quản lý mới bước lại gần, bảo Michael: "Thưa ngài Michael, ngài Kaufmann mời ngài lên thẳng trên đó, phòng của ngài ấy ở tầng áp mái."
Michael lên đến tầng áp mái, vừa bước chân ra khỏi thang máy đã thấy một gian sảnh ngoài bài trí vô cùng tao nhã. Toàn bộ cách bài trí đều mang đậm phong cách Hy Lạp, ngay lối vào đặt hai pho tượng nữ thần Hy Lạp một đen một trắng, bộ sô pha da thật thủ công của Ý màu trắng muốt, trên sàn trải lớp thảm lông trắng tinh mềm mại êm ái, nền nhà lát đá cẩm thạch trắng đen xen kẽ, toát lên vẻ cao quý và vương giả.
Bốn phía căn phòng đều là những ô cửa kính sát đất cỡ lớn, tầm nhìn cực kỳ khoáng đạt, cảnh sắc phồn hoa của toàn thành phố thu trọn vào tầm mắt. Ánh nắng ban chiều xuyên qua sảnh ngoài, khiến Michael trong thoáng chốc ngỡ như mình đang đứng bên bờ biển Aegean, đón từng cơn gió biển mát rượi tận hưởng kỳ nghỉ dưỡng.
Bất chợt, một giọng nói khàn đặc như lệnh vỡ kéo tuột Michael về với thực tại: "Mày là Michael?" Một gã đàn ông lực lưỡng, mặt đầy thịt ngang đứng sừng sững bên cạnh chiếc sô pha, gầm lên với gã.
Michael quay đầu nhìn hắn, khẽ gật đầu.
"Mày có biết mày đến muộn bao lâu rồi không hả?" Gã hộ pháp kia cao hơn Michael hẳn một cái đầu, bờ vai rộng gấp đôi gã, vóc người thô kệch, cơ ngực cuồn cuộn, Michael suýt nữa thì tưởng đó là một con gấu mặc âu phục.
Michael vừa nghe giọng đã nhận ra ngay đây chính là kẻ gọi điện đến văn phòng. Gã chẳng có chút cảm tình nào với tên này, lúc ở trong điện thoại đã muốn chửi cho một trận, giờ nhìn thấy tận mắt dĩ nhiên cũng chẳng buồn cho sắc mặt tử tế. Tuy nhiên, gã quả thực đã trễ hẹn quá lâu, đành phải gật đầu thêm lần nữa.
Gã hộ pháp thô lỗ vô cùng, bước lại gần dùng đôi mắt ti hí đảo qua đảo lại quét lên người Michael một hồi, rồi thình lình giơ tay đẩy mạnh vào vai Michael một cái, miệng quát: "Mày làm cái trò gì thế hả? Đến muộn ngần ấy thời gian, định để ngài Kaufmann phải đợi mày chắc?"
Michael nể tình hắn là khách hàng nên không thèm so đo, chỉ lùi lại một bước, đưa tay phủi nhẹ chỗ áo vừa bị đẩy.
Thấy gã không đánh trả cũng chẳng buồn cãi lại, gã hộ pháp được đằng chân lân đằng đầu, lại bồi thêm một cú đẩy vào vai gã, quát: "Còn đứng đực mặt ra đấy làm gì, không mau cút vào trong?" Động tác ấy chẳng khác nào đang bắt nạt một đứa trẻ con.
Michael rốt cuộc không thể nhẫn nhịn thêm được nữa. Ngay khoảnh khắc bàn tay gã hộ pháp vung ra đẩy tới mà chưa kịp thu về, Michael đã nhìn chuẩn thế tay của hắn, khẽ vươn ra khóa chặt lấy khớp khuỷu tay đối phương, bẻ ngoặt khuỷu tay hắn vào trong, đồng thời nghiêng mình xoay chuyển một vòng, lướt thoăn thoắt ra sau lưng hắn.
Khuỷu tay bị chế ngự, Michael lại thừa thế lúc hắn xoay người theo quán tính, tung ra một cú đá nhẹ, chuẩn xác thúc thẳng vào nhượng chân gã hộ pháp! Tên hộ pháp lập tức đứng không vững, cả người mất đà nghiêng ngả. Chưa dừng lại ở đó, ngay khi hắn đang chúi nhủi quỳ sụp về phía trước, Michael lại bồi thêm một cú đẩy từ phía sau, khiến cả thân hình đồ sộ của hắn không tự chủ được mà đập sầm vào tường.
Michael phủi phủi vạt áo, cười khẩy: "Tao cứ tưởng mày là nhân vật ghê gớm cỡ nào, hóa ra lại yếu ớt chẳng chịu nổi một đòn thế này!" Dứt lời, gã cất tiếng cười hả hê, trong lòng sảng khoái vô cùng. Từ lúc bắt máy cho đến cái thói hống hách quát tháo của thằng này ban nãy, bao nhiêu cục tức gã đã trút sạch sành sanh trong một đòn vừa rồi.
Gã hộ pháp nằm bò dưới đất, vừa ngơ ngác vừa căm hận trừng mắt nhìn Michael. Nhưng Michael chẳng thèm đếm xỉa đến hắn nữa, sải bước tới trước cửa phòng, gõ lên cánh cửa gỗ chạm khắc dày dặn. Một lát sau, một người đàn ông trung niên người châu Âu đeo kính gọng vàng, mái tóc rẽ ngôi giữa chải chuốt bóng lộn mở cửa ra.
"Anh là Michael?" Người đàn ông trung niên mở cửa hỏi với vẻ mặt đạo mạo.
"Phải, chính là tôi." Michael đáp.
Michael đứng ở cửa nhìn vào trong, căn phòng tổng thống quả thực là một thế giới hoàn toàn khác biệt. Trước hết là phòng tiếp khách được bài trí xa hoa tột bậc, đồ nội thất bằng gỗ nguyên khối kiểu Pháp, từng đường vân gỗ bóng bẩy toát ra mùi hương thoang thoảng của danh mộc, viền ngoài khảm lớp chỉ vàng mỏng mang họa tiết hoa lá, lấp lánh thứ ánh sáng mê hoặc dưới ánh đèn chùm. Trên bàn bày đồ sứ cao cấp của Anh, trên những khay bạc sáng loáng là hoa quả tươi mọng theo mùa; chiếc đèn chùm pha lê chế tác thủ công từ Ý; lại thêm trần nhà hình vòm uốn cong tựa như thánh đường St. John, quả không hổ danh là phòng tổng thống của khách sạn cao cấp bậc nhất.
Một ban công toàn cảnh hình bán nguyệt rộng tới vài mét, trên ban công hoa cỏ um tùm, hệt như một khu vườn trên không trung, cảnh sắc Los Angeles thu trọn vào tầm mắt qua những tán lá râm mát. Michael nhìn thấy trên ban công có một người đàn ông trung niên hai bên thái dương đã điểm hoa râm đang ngồi trên chiếc ghế tựa lớn, đôi mắt trừng trừng nhìn ra bên ngoài, không rõ đang suy tính điều gì.
Người đàn ông trung niên mở cửa ra dấu tay bảo Michael đợi một lát, rồi quay người bước về phía ban công, nói với người đang ngồi trên ghế tựa: "Thưa ngài, tay thám tử tư đã đến rồi ạ!" Người kia hiển nhiên chính là Kaufmann.
Michael nhìn bộ dạng của ông ta, thấy khác xa so với trên tạp chí. Bản thân ông ta không những chẳng có chút vẻ hăng hái phong độ nào như trên mặt báo, mà trông còn có phần sa sút, ủ dột. Trên trán và khóe mặt hằn sâu rất nhiều nếp nhăn, rõ ràng là do thường ngày biểu cảm cơ mặt quá đà tạo thành; vóc dáng thì giữ khá chuẩn, chắc là nhờ kết quả của việc chăm chỉ tập luyện thể thao.
Kaufmann ngồi trên ban công không hề ngẩng đầu lên, cất giọng uể oải pha chút khàn đặc: "Xin lỗi anh, ngài Michael, dạo này tôi thấy trong người không được khỏe, thời tiết hai hôm nay ở Los Angeles tệ quá. Dick sẽ phổ biến cho anh về nội dung công việc."
Michael đáp một tiếng vâng. Kaufmann liền không thèm để mắt đến gã nữa, lại quay sang nhìn ra ngoài ban công.
Người đàn ông trung niên tên Dick kia đánh giá Michael một lượt, nở một nụ cười đầy tính xã giao rồi nói: "Chúng tôi đang gặp phải một chút rắc rối, có một người bạn giới thiệu anh với chúng tôi, bảo rằng anh có thể giúp được việc này."
Michael ừ một tiếng, gã lại một lần nữa bắt gặp cái vẻ mặt và giọng điệu này. Kể từ lúc đặt chân vào khách sạn tới giờ, ngoại trừ Diệp Diệc Thâm ra, dường như ai ai cũng dùng cái điệu bộ này để nói chuyện. Gã nén tính khí lại, hỏi: "Chuyện gì thế?"
Dick ngồi xuống, ra hiệu bảo Michael cũng ngồi theo, rồi cất giọng: "Chúng tôi muốn nhờ anh tìm giúp một người."
Michael gật đầu: "Đó là nghề của tôi." Đoạn gã hỏi tiếp: "Cần tìm ai?"
Dick lại nói: "Là... một người bạn thân của ngài Tore... đã mất tích."
Nghe thấy hai chữ "mất tích", chân mày Michael khẽ động đậy, rồi nhanh chóng hỏi lại theo đúng quy trình nghiệp vụ: "Mất tích à? Đã báo cảnh sát chưa?"
Dick lắc đầu: "Ngài Tore không muốn làm phiền đến phía cảnh sát..." Michael ừ một tiếng, không tỏ rõ thái độ đồng tình hay phản đối.
Dick nhìn gã, cất lời giải thích: "Anh biết đấy, ngài Tore là người nổi tiếng, những chuyện thế này nếu để lọt ra ngoài cho công chúng biết thì thanh danh của ngài ấy sẽ bị ảnh hưởng không tốt, đúng không?"
Michael liếc nhìn ông ta. Gã căn bản chẳng thèm bận tâm bọn họ có báo cảnh sát hay không. Gã xưa nay chưa từng để lũ cảnh sát vào mắt, hỏi câu đó chẳng qua là muốn biết xem bản thân có vướng phải rắc rối nào khác hay không mà thôi. Michael gật đầu, lại nói: "Được rồi, đã như vậy thì phiền ông kể lại chi tiết đầu đuôi câu chuyện cho tôi nghe." Gã móc chiếc máy ghi âm nhỏ ra, bắt đầu ghi lại toàn bộ cuộc trò chuyện của bọn họ.