Đoạt Hãn năm mươi tuổi dắt ngựa, bước lên sườn đồi dăm sỏi thoai thoải, nhìn thấy biển xanh xám ở đằng xa.
Mặt trời hãy còn chưa mọc, ánh sáng ban mai lạnh lẽo, bãi bùn đen vừa mới rút triều, khắp nơi là những vũng nước đọng. Người phụ nữ khom lưng, bước cao bước thấp đi về phía trước, chốc chốc lại dừng bước, thọc những ngón tay vào vũng bùn loãng, móc ra một con nghêu rồi ném vào giỏ.
Đoạt Hãn có chút chần chừ, hắn không biết nên nói gì với người phụ nữ này, bèn đứng yên tại chỗ thêm một lát nữa. Chiến ngựa cúi đầu tìm kiếm thức ăn trong những kẽ đá kiềm phong hóa xốp lỗ chỗ, nhưng chẳng thu được gì, bèn thất vọng ngửa cổ khịt mũi một tràng vang dội.
Người phụ nữ nhặt nghêu nghe tiếng liền ngẩng đầu lên, phát hiện ra Đoạt Hãn trên sườn đồi, bỗng ngây người ra.
Đoạt Hãn nghĩ, có lẽ bà ấy không còn nhận ra mình nữa rồi. Dẫu sao bọn họ cũng chỉ gặp nhau vội vàng trong đêm của một năm trước, trò chuyện vài câu, chính xác mà nói, là hắn nói vài câu, còn bà ấy ngẩn ngơ lắng nghe.
Nhưng người phụ nữ bỗng vứt giỏ xuống, điên cuồng lao về phía hắn. Bà băng ngang qua bãi bùn đen, đôi chân trần đạp lên những hạt sỏi sắc nhọn, phi nước đại lên đỉnh đồi, thân hình gầy gò xiêu vẹo nhưng vẫn không chịu chạy chậm lại, chỉ có thể vụng về dang rộng hai tay để giữ thăng bằng. Chẳng mấy chốc bà đã đến sát bên, nhào tới túm lấy cổ tay Đoạt Hãn như sợ hắn chạy mất.
Người phụ nữ rất lùn, Đoạt Hãn mới mười lăm tuổi mà đã cao hơn bà hẳn một cái đầu. Bà thở hồng hộc đảo mắt nhìn quanh, không thấy bóng dáng ai khác, lại thò đầu ra nhìn ra sau lưng Đoạt Hãn, nhưng Đoạt Hãn đến một mình, điều này khiến bà thất vọng. Ánh mắt người phụ nữ lộ vẻ sầu khổ, giống như một kẻ câm đang khao khát được giãi bày. Đoạt Hãn bị bà nhìn đến mức mất tự nhiên, vội vàng móc túi tiền từ trong túi yên ngựa ra, đưa đến trước mặt bà.
Người phụ nữ từ từ buông tay. Bàn tay bà bị nước mặn ngâm đến sưng phù tái nhợt, từng đốt xương đều gồ lên xiêu vẹo, kẽ móng tay nhét đầy bùn ướt. Bà chần chừ chìa một bàn tay như thế ra, để Đoạt Hãn đặt chiếc túi nhỏ đựng đầy những đồng bạc vụn vào lòng bàn tay mình.
Bà nhìn túi tiền, lại nhìn hắn, nói gì đó bằng phương ngữ làng chài quận Lâm Kiệt, Đoạt Hãn nghe không hiểu, bà cứ lặp đi lặp lại mãi, hai tay vẽ vời hình dáng đứa trẻ giữa hư không.
"Hải Thị?" Đoạt Hãn thử dò hỏi.
Người phụ nữ liều mạng gật đầu: "Hải Thị, Hải Thị." Bà không biết nói quan thoại, chỉ có thể lặp lại bằng một điệu bộ kỳ lạ.
"Con gái của bà rất thông minh, ở Thiên Khải có người chăm sóc con bé, cũng có người dạy con bé đọc sách viết chữ, bà không phải lo lắng đâu." Đoạt Hãn nói.
Người phụ nữ nghe hiểu lời hắn, cười như vớ được báu vật.
Đúng, không sai, các người dạy con bé đọc sách. Đọc một cuốn sách bằng thép nguyên chất, chỉ có một trang, một mặt mài sắc, hình dáng giống hệt chiếc lá liễu. Các người dạy con bé dùng cuốn sách ấy để chém đứt đầu hình nhân cỏ. Nếu có kẻ muốn dùng ngón tay lật giở sách của con bé, thế nào cũng sẽ đổ máu đấy.
Lại là cái giọng nói ấy, nhẹ nhàng vang lên bên tai.
Ngươi cút ngay cho ta. Đoạt Hãn cau mày thật chặt, mắng trong lòng. Ta không muốn nghe thấy giọng nói của ngươi! Ngươi muốn ta cút sao? Nó cười, tiếng cười vo ve vang vọng trong đại não hắn, giống như một con ruồi liều mạng đâm đầu loạn xạ trong vò rượu trống không. Đừng lo, người phụ nữ này không nghe thấy ta, Phương Giám Minh không nghe thấy ta, ngoại trừ ngươi, không ai nghe thấy ta cả. Muốn ta biến mất, thực ra cũng có một cách — nó âm hiểm hạ thấp giọng — chính là tự vẫn vặn đứt cái đầu của chính ngươi đi.
Người phụ nữ hiểu lầm sự phẫn nộ trên mặt Đoạt Hãn, vội vàng đưa túi tiền về lại trước mặt hắn, lắp bắp nói: "Hải Thị, đọc sách, tiền." Toàn thân bà nồng nặc mùi mặn mòi của biển, ống quần vải thô xắn lên đến đầu gối, chỉ cần có chút biểu cảm, trên khuôn mặt ngăm đen xinh xắn đã chi chít những nếp nhăn gió sương li ti. Bà trông thô ráp nhường ấy, không hiểu sao lại khiến Đoạt Hãn nhớ tới người mẹ Tả Hãn có xuất thân cao quý của chính mình, nơi nào đó trong lợn lòng bỗng đau nhói lên.
Đoạt Hãn nhét mạnh túi tiền trở lại vào tay mẹ Hải Thị: "Cầm lấy, năm sau vẫn sẽ có người mang tiền đến cho bà. Ta... ta phải đi đây." Người phụ nữ ngẩn người, thấy hắn tung người lên ngựa, vội vàng muốn níu lấy dây cương. Đoạt Hãn thúc ngựa quay đầu, một roi đánh mạnh vào phía sau yên ngựa, chiến ngựa hí dài lao xuống sườn đồi, cất vó phi đi, mẹ Hải Thị tuyệt vọng đuổi theo phía sau. Cho đến khi quay đầu lại không còn nhìn thấy bóng người nữa, Đoạt Hãn vẫn có thể nghe thấy tiếng bà thê thiết gọi cái gì đó từ đằng xa, tựa như tiếng chim mòng biển kêu dài.
Một năm trước, khi mới gặp Hải Thị, con bé mới sáu tuổi, đang liều mạng bôn trốn trong núi hoang, phía sau có một đám quan binh cầm dao gươm đuổi theo.
Quận Lâm Kiệt từ xưa nổi tiếng với việc sản xuất ngọc trai, các thôn các trấn đều có định lệ nộp cống phẩm trân châu, nếu nộp không đủ số, quan binh sẽ lùng sục từng nhà, bán tất cả nam thanh nữ tú già trẻ thành quan nô. Cha của Hải Thị cùng vài người đàn ông trong thôn ra khơi mò ngọc, gặp phải cá mập, chỉ có một mình con bé sống sót trở về, mang theo một hộc trân châu nước mắt giao nhân. Thiếu nữ ôm báu vật quý hiếm vô giá trong lòng như thế, khiến đám quan binh đi thu cống phẩm sinh lòng tham lam, muốn tư túi nuốt trọn trân châu giao nhân.
Đoạt Hãn rút đao giết những tên quan binh đó, bảy tên, hay là tám tên, hắn không nhớ rõ nữa. Hải Thị ngã nhào trước cỗ xe ngựa của họ, rách rưới bẩn thỉu, trông giống như một con búp bê rách nhồi rơm.
Con bé không phải là người đầu tiên Đoạt Hãn cứu trong chuyến hành trình, và cũng còn lâu mới là người cuối cùng, những chuyện này đối với hắn chẳng qua chỉ là tiện tay làm ơn, Phương Giám Minh không hề cấm cản chuyện đó, cũng chưa từng lộ diện. Thiên hạ đều biết Thanh Hải công Phương Giám Minh đã chết, dung mạo của hoạn quan Phương Chư không tiện để người đời nhìn thấy, ngài ấy luôn yên lặng ở lại trong xe ngựa, cách qua hai lớp rèm dày nặng, có đôi lúc Đoạt Hãn thậm chí còn sinh ra ảo giác rằng ngài ấy đang cô độc một mình lên đường.
Chỉ là vào ngày hôm đó, Phương Giám Minh vén rèm xe, bước đi giữa những viên Dạ Minh Giao Châu lăn lóc khắp nơi trên mặt đất, đưa một bàn tay về phía đứa trẻ không ra hình người ấy.
Thực ra lúc đó bọn họ đến quận Lâm Kiệt, chỉ là để giải quyết một lão già. Lão già đó vốn là trọng thần triều đình từ thời Đế Tu, sau khi Đế Húc đăng cơ thì được triệu hồi về Thiên Khải phục chức, chẳng được hai năm lại dâng biểu xin quy ẩn, rồi trở về quê nhà mở thư viện. Dù là học đồng mới nhập môn, hay là thân hào nhân sĩ đã đến tuổi tứ tuần, thư viện đều không chối từ ai, ngoài mặt thì giảng học truyền đạo, trong tối lại xúi giục phản loạn. Đoạt Hãn vốn định theo sát Phương Giám Minh lẻn vào thư viện của lão già, nhưng lại đành phải dừng xe ngựa ở vùng biển hoang vắng không một bóng người, ở lại trên xe để trông nom đứa trẻ mới được thu nhận này.
Phương Giám Minh đi chừng nửa canh giờ là đã quay lại, trên mặt toàn là những vết bẩn đỏ au chi chít. Nhìn thấy vẻ mặt của Đoạt Hãn, ngài giơ tay khẽ ngửi y phục của mình, đôi mày ngay sau đó hơi nhíu lại đầy chán ghét.
Đoạt Hãn vươn tay cản lại: "Đừng qua đây, trên người toàn mùi máu tươi. Để em lấy cho." Vén rèm xe lên, thò người vào trong mở rương y phục, Đoạt Hãn liếc nhìn Hải Thị. Con bé vẫn cuộn mình ngủ say trong góc xe, khuôn mặt nhỏ nhắn vùi sâu vào bộ ngoại bào mà Phương Giám Minh vừa thay ra. Con bé sợ bóng tối, nhưng cũng rất dễ dỗ dành, chỉ cần để lại một chiếc đèn lồng lụa trắng ở bên cạnh, là có thể ngủ yên giấc.
Hắn gói y phục sạch sẽ thành một bọc nhỏ, đưa vào tay Phương Giám Minh.
"Ta ra bờ biển rửa sạch chút." Người đàn ông nói vậy, tháo gỡ tấm hộ thủ dính máu, vứt bỏ xuống đất, đi theo sườn đồi dăm sỏi hướng về phía biển lớn đang gầm thét trong đêm tối, vừa đi vừa cởi thắt lưng.
Có vật gì đó bay tới từ hướng của ngài, Đoạt Hãn giơ tay bắt lấy, hóa ra là một gói giấy dầu nhỏ, từ khe hở rỉ ra mùi hương ngọt ngào ngào ngạt.
Đoạt Hãn nhìn vào bên trong từ lớp niêm phong bằng giấy đỏ đã bị xé toạc từ trước: "Kẹo quế hoa? Mua từ lúc nào vậy?" "Đương nhiên là trước khi ra tay rồi, nghĩ rằng các tiểu tử các em thích ăn thứ này." Phương Giám Minh quay đầu mỉm cười.
Đoạt Hãn rút ra một thanh kẹo dài thòng lọng như chiếc quản bút, ngậm vào khóe môi, rồi cúi đầu nhìn kỹ lại, thứ được in trên lớp giấy dầu màu xám nâu hóa ra không phải là hoa, mà là một dấu tay màu đỏ son còn tươi ướt đẫm.
Đó là máu của ai vậy? Hắn đột nhiên nhổ thứ kẹo trong miệng ra.
Đúng tròn một năm sau, Đoạt Hãn vẫn nhớ như in vị của viên kẹo ấy, trong vị ngọt ngào có vương chút vị chua lạnh của máu, gần như không thể nhận ra. Bước chân của chiến ngựa chậm lại, hắn liên tục quất thêm bốn năm roi, thúc giục nó chạy nhanh lên, tựa như mẹ Hải Thị vẫn đang đuổi cùng giết tận.
Đoạt Hãn trở về thành Thiên Khải, bước chân vào Tễ Phong Quán lúc đã là đêm khuya. Hắn đến phòng ngủ của Hải Thị để xem con bé ngủ thế nào, nhưng trên giường lại trống không.
Hắn hoài nghi trong lòng, lại bước qua hành lang gấp khúc, đi về phía tiểu viện của Phương Giám Minh.
Lâm Kiệt vẫn là đầu thu, nhưng tiết trời hoàng thành thì đã sắp sang đông. Ở phía giáp mặt nước của dãy hành lang uốn lượn, hoa bèo trên hồ Sương Bình đã tàn lụi hết, cơn gió se lạnh thổi qua mặt nước như chuồn chuồn đạp nước, những gợn sóng dưới tán đài sen tàn liền xao động.
Trong viện nơi Phương Giám Minh ở một mình không nhìn thấy đèn đóm, thế nhưng trên bậc thềm lại có một bóng người nhỏ xíu.
"Trác Anh." Con bé ngẩng đầu lên rụt rè gọi hắn.
"Hải Thị?" Hắn bước tới, dưới ánh trăng sương muối phủ đầy mặt đất, cô bé đứng chân trần trên bậc đá, mái tóc đen bình thường búi thành hai bên nay xõa tung xuống vai.
Đoạt Hãn không nhịn được cau mày: "Làm cái gì thế hả? Về phòng của em đi." Vừa nói vừa định xách con bé lên.
Hải Thị lách người một cái, trơn tuột như con lươn: "Nghĩa phụ đi đâu rồi? Anh nói cho em biết, em liền quay về." Đoạt Hãn chớp tay chộp lấy cổ chân cô bé bảy tuổi, tiện tay nhấc ngược con bé lên, giơ ngang tầm mắt: "Trẻ con có tai mà không có điều, người lớn nói chuyện thì em nghe là được, đừng có hỏi đông hỏi tây." "Em có điều mà." Hải Thị lè lưỡi trêu hắn.
Hắn chẳng nói hai lời, trực tiếp quẳng con bé lên vai mình: "Đi, về phòng ngủ. Còn không ngoan nữa, phạt em sáng mai luyện kiếm thêm nửa canh giờ." Sải bước định đi, nhưng lại bị níu lại. Quay đầu nhìn lại, Hải Thị dùng cả hai tay ôm chặt lấy cột sơn son dưới hiên, nhất quyết không chịu buông lỏng.
"Em phải đợi người về." Cô bé mang khuôn mặt đầy bướng bỉnh.
"Đừng có ăn vạ." Đoạt Hãn giật giật chân con bé, Hải Thị mặc kệ hắn, chỉ chăm chăm ôm chặt lấy cột nhà, thân hình gầy gò như con trai suýt chút nữa căng thẳng thành một đường thẳng trong không trung.
Hắn không kìm được bật cười vì tức giận, buông cổ chân con bé ra, nhìn con bé nhẹ nhàng đáp xuống đất. "Em muốn làm gì?" hắn bất đắc dĩ hỏi.
"Em muốn đợi người về." Hải Thị cố chấp nói, những ngón chân cuộn tròn lại trên mặt đá Thanh Ly phủ đầy sương giá.
Đoạt Hãn bắt đầu thấy nhức đầu: "Ngài ấy mà đi một tháng không về, chẳng lẽ em định nhịn ngủ một tháng luôn à?" Hải Thị không trả lời, nhưng lại đưa ra một vấn đề mới: "Nếu... lỡ như ngài ấy không bao giờ quay về nữa thì sao?" Thấy vẻ mặt Đoạt Hãn hơi ngạc nhiên, con bé bồi thêm một câu, "Bên ngoài có nhiều kẻ xấu lắm." Đoạt Hãn hết cách đành ngồi xổm xuống, nhìn thẳng tầm mắt với con bé: "Không có chuyện đó đâu, ngài ấy làm xong việc là sẽ về ngay. Hơn nữa, con người ta đâu phải muốn chết là chết dễ dàng thế." Cô bé trầm mặc một hồi lâu, Đoạt Hãn cứ tưởng con bé đã bị thuyết phục, vươn tay định dắt con bé đi, nhưng vẫn bị né tránh. Con bé cúi đầu, ấp úng nói: "Nhưng mà, nhưng mà a-pa của em bỗng chốc là chết ngay được." Đoạt Hãn nghẹn lời. Đương nhiên hắn còn nhớ, vào tháng năm năm ngoái, lúc cứu con bé này khỏi tay quan binh, trên người con bé vẫn còn vương máu của người cha ruột. Hắn phiền muộn thở dài thườn thượt, đẩy cửa phòng Phương Giám Minh ra, hất cằm ra hiệu bên trong: "Vào đi." Trong lò đồng vẫn còn tàn tro, Đoạt Hãn không thèm châm đèn, chỉ bỏ thêm chút than mới, cầm lấy chiếc áo choàng gấm dày dặn trên lưng ghế, quấn Hải Thị lại từ đầu đến chân, đặt lên chiếc sập sưởi trong thư phòng, rồi chính mình cũng ngồi xuống bên cạnh con bé. "Yên tâm chưa?" hắn hỏi với vẻ bực dọc.
"Ừm... hơi hơi." Hải Thị vùi đầu vào áo gấm, hít sâu một hơi, "Cứ như thể ngài ấy vẫn chưa đi xa vậy." Đoạt Hãn thò tới ngửi ngửi, chỉ toàn là một mùi thuốc hắc nồng. Hắn xoa đầu Hải Thị: "Được rồi, ngủ đi, ngài ấy về anh sẽ gọi em." "Em không ngủ." Hải Thị liều mạng lắc đầu, "Em thức để đợi ngài ấy." "Thế thì anh ngủ đây." Đoạt Hãn cứ mặc nguyên y phục ngã người nằm lên sập, mặc cho Hải Thị lôi kéo, nhắm mắt là ngủ say sưa.
Nửa đêm về sáng, hắn bỗng mở trừng hai mắt trong bóng tối.
Tập trung lắng tai nghe, cửa viện đang kêu cọt kẹt trầm đục, Đoạt Hãn liếc nhìn Hải Thị, cô bé sớm đã địch không lại cơn buồn ngủ, cuộn mình trong áo gấm ngủ say sưa từ lúc nào. Hắn không tiếng động đứng dậy, lướt ra cửa sổ để kiểm tra, thấy dưới ánh trăng có một bóng người cao gầy lướt vào, lúc này mới thở phào nhẹ nhõm, biết là Phương Giám Minh đã trở về.
Châm đèn lên, hắn đẩy cửa phòng.
Phương Giám Minh mặc bộ y phục đen quen thuộc vào ban đêm, thấy hắn nghênh đón ra cửa, lại nhìn thấy một bàn tay và bàn chân nhỏ thò ra từ đống gấm vóc trên sập sưởi, trên khuôn mặt tái nhợt thoáng lộ vẻ hoài nghi: "Sao thế?" Đoạt Hãn ngáp một cái: "Không chịu ngủ, cứ nhất quyết đòi đợi ngài về." Qua một hồi lâu, Phương Giám Minh thở dài, nút thắt giữa đôi mày hơi dãn ra: "Em về phòng ngủ đi, lát nữa ta đưa con bé về phòng." Tiếng chân trần đập xuống mặt đá từ xa đến gần, Hải Thị đã bị tiếng trò chuyện của bọn họ đánh thức, lao vọt ra ngoài, đâm thẳng vào người Phương Giám Minh khiến ngài lảo đảo lùi lại. Cô bé ôm lấy eo ngài, hai tay không thể ôm vòng hết, chỉ có thể túm chặt lấy vạt áo đen của ngài, ngẩng đầu nở nụ cười rạng rỡ với ngài: "Nghĩa phụ." Người đàn ông cũng mỉm cười. "Sao đến giày cũng không mang." "Vừa nãy trời mưa à? Trên người ngài ướt sũng hết rồi." Trên mặt Hải Thị vẫn còn vương nét ngái ngủ chưa tan.
Phương Giám Minh sững sờ, vậy mà không thể đáp lời.
Hải Thị đăm đăm nhìn ngài, trên khuôn mặt nhỏ nhắn dần hiện lên vẻ nghi ngờ, cuối cùng buông vòng ôm ra, cúi đầu nhìn đôi bàn tay đang run rẩy nhẹ của chính mình, rồi đột nhiên ngẩng phắt đầu trừng trừng nhìn Phương Giám Minh, trong đôi mắt rạch ròi hai màu đen trắng tràn ngập sự sợ hãi.
Khoảnh khắc ấy, nhờ ánh nến trong tay, Đoạt Hãn phát hiện khắp tay Hải Thị toàn là màu đỏ gây sốc đến tận tâm can, thậm chí ngay cả một bên má cũng vấy vết máu. Bộ áo đen của Phương Giám Minh, hóa ra đã thấm đẫm máu từ trên xuống dưới, ướt dính nặng nề.
"Xin lỗi, làm em sợ rồi." Phương Giám Minh lập tức lùi tránh hai bước.
Hải Thị hoàn hồn lại, chộp lấy vạt áo ngài: "Ngài... có đau không?" con bé khẽ hỏi.
"Không sao, vết thương nhỏ thôi." Phương Giám Minh vươn tay chải mái tóc rối bời vì ngủ của cô bé, máu theo đầu ngón tay người đàn ông nhỏ giọt xuống, Đoạt Hãn nhìn thấy những ngón tay thon dài ấy vạch ra những vết hằn đỏ ướt át trong mái tóc đen của cô bé. "Cùng Trác Anh đi thay y phục, rửa tay và mặt sạch sẽ đi, chịu không?" Đoạt Hãn vươn tay muốn bế Hải Thị lên, cô bé lại xoay người nửa vòng như một chiếc đuôi, trốn ra sau lưng Phương Giám Minh.
"Sau này... vẫn phải đi nữa sao?" con bé hỏi, bàn tay nhỏ bé nắm chết góc vạt áo đen, giữa các kẽ ngón tay bóp ra đầy máu đầm đìa.
Phương Giám Minh quay đầu nhìn con bé, không đáp lời, chỉ trầm mặc rủ mi mắt xuống.
"Không thể không đi sao?" Cô bé lay lắc ngài, trong tiếng cầu xin nài nỉ đã mang theo tiếng khóc nức nở.
Ngài cười khổ nói: "Tổng phải có người đi chứ." "Vậy, để em đi thay ngài." Hải Thị nói xong, liền mím chặt môi, khuôn mặt non nớt vì thế mà trông có vẻ quyết tuyệt nực cười.
Vóc dáng con bé chỉ cao đến eo người đàn ông, ngài cúi đầu nhìn khuôn mặt con bé, mang theo chút kinh ngạc, vết sẹo nơi khóe môi vẫn cong ngược lên trên, tựa như một nụ cười mãi mãi không thể phai nhạt.
"Em rốt cuộc vẫn chỉ là một cô bé mà thôi." Giọng ngài trầm ấm tựa như một cơn gió xuân lướt qua mặt.
Nước mắt Hải Thị lăn dài, những nếp gấp vạt áo bên má bị rửa sạch thành những vệt đỏ ngang dọc hỗn độn: "Em không phải cô bé, em đã nói là muốn làm con trai của ngài mà. Em biết ngài đi giết người, em đi thay ngài." Trong mắt ngài cuối cùng cũng có ý cười nhạt: "Giết người đâu phải chuyện dễ dàng." "Thứ gì không biết, em có thể học." Hải Thị ngẩng đầu nhìn ngài, "Em học được rồi, ngài sẽ không phải đi nữa." Phương Giám Minh vén giùm con bé sợi tóc mai rủ trước mắt, ôn tồn nói: "Được, cảm ơn em." Ngài cúi người, nhẹ nhàng rút vạt áo dính máu ra khỏi tay Hải Thị, đẩy con bé về phía Đoạt Hãn. "Đi đi." Đoạt Hãn một tay cầm nến, một tay bế Hải Thị lên. Con bé còn nhỏ, nhẹ tựa lông hồng, tựa vào vai hắn, vẫn không ngừng ngoảnh đầu nhìn ngài.
Trong mắt Đế Húc không thể dung thứ dù chỉ một tia bóng tối, cấm thành sáng trưng rực rỡ suốt đêm, duy chỉ có Tễ Phong Quán là tuân theo ý muốn của Phương Giám Minh, ban đêm không thắp lấy một ngọn đèn thừa thãi. Hành lang sâu thẳm, rèm châu trướng gấm chồng chất vô tận, rủ rèm che khuất từng lớp, trong tay Đoạt Hãn bảo vệ đốm sáng mong manh ấy, bốn bề toàn là bóng tối không sao chiếu thấu.
Nghiêng người dùng vai đẩy mở cửa phòng Hải Thị, vừa định đặt chân nến xuống, Hải Thị liền áp sát bên tai hắn, khẽ gọi: "Trác Anh." "Lại sao nữa đây?" "Dạy em giết người được không?" Đoạt Hãn cứng đờ người, quay đầu đối mặt nhìn thẳng vào con bé. Đôi mắt của đứa trẻ chưa vấy bụi trần, dưới ánh đèn mờ ảo vẫn trong veo như nước lạnh, đong đầy tia sáng rực rỡ đầy mong chờ.
"Được không?" Hai cánh tay mềm mại ngắn ngủn của con bé vòng qua cổ hắn, giống như một con tiểu thú vừa quấn quýt vừa nhát gan.
Cơn phẫn nộ bỗng trào lên trong lồng ngực Đoạt Hãn.
Cung nhân sớm đã mang chậu đồng rửa mặt đựng đầy nước ấm vào trong phòng, lúc này nước đã nguội ngắt, Đoạt Hãn chẳng nói hai lời, xách Hải Thị đến bên chậu, lau rửa thay con bé.
Hải Thị vặn vẹo thân mình, muốn hất tay hắn ra, Đoạt Hãn mặc kệ con bé, dùng tay vục nước, thô bạo chà sạch những vết máu đông đặc trên mặt con bé.
"Lạnh chết mất lạnh chết mất." Hải Thị vô ích tránh né.
"Không phải muốn học giết người sao? Thế thì đừng kêu lạnh." Tay Đoạt Hãn vẫn không ngừng lại, "Máu tươi gặp nước ấm, sẽ để lại dấu vết trên móng tay và y phục. Sát thủ thực sự, cho dù có dùng chính cơ thể mình để làm tan nước tuyết, cũng tuyệt đối không kêu một tiếng phàn nàn." Thân hình nhỏ nhắn trong ngực bỗng không giãy giụa nữa, cũng không phát ra tiếng động nào. Đoạt Hãn buông con bé ra, con bé cũng không động đậy, chỉ cau mày thật chặt, kiễng cao chân, tự mình nhúng hai bàn tay đỏ hoe vào chậu nước lạnh cắt da cắt thịt, hết sức chà rửa, vô thanh vô tức run lẩy bẩy.
Đoạt Hãn không thể nhìn thêm được nữa, lao xông ra ngoài đứng sững một khắc, rồi sải bước đi thẳng về phía gian chính, đẩy cửa xộc vào.
Trong phòng Phương Giám Minh vẫn chỉ có một ngọn nến nhỏ, được bao bọc trong tấm bình phong thêu gấm của phòng ngủ, nhuộm ra một không gian hoàng hôn mờ ảo.
"Trác Anh? Có chuyện gì vậy?" Từ sau bình phong truyền ra giọng nói ôn hòa của người nọ.
Đường đường là một vị công hầu một nước, không lo làm một trọng thần rường cột cho tốt, thà rằng ẩn danh mai danh ẩn tích, nửa đêm lẻn ra khỏi cấm thành ám sát đồng liều... Giờ thì hay rồi, lại dùng cả mưu kế lên một đứa trẻ bảy tuổi." Đoạt Hãn cười nhạt, "Ngài không mệt sao?" Trầm mặc một thoáng, người sau bình phong cũng khẽ cười lên, tiếng nước theo đó mà dao động. "Bị hơn mười tên đại hán vây công, cũng chưa từng nghĩ đến việc khóc lóc cầu xin tha mạng, tay không tấc sắt mà vẫn giết được một tên quan binh. Trên đời này có mấy đứa trẻ như thế? Con bé sinh ra là để đi con đường này." Hai nắm đấm của Đoạt Hãn siết chặt ở bên người: "Con bé không tiếc tính mạng, không màng hậu quả, là vì muốn bảo vệ người mà nó quan tâm, chứ không phải để bán mạng thay cho ai. Ngài thừa biết con bé tận mắt chứng kiến cha nó chết ngay trước mặt..." Tiếng sột soạt nhỏ xíu của vải vóc vang lên một hồi, Phương Giám Minh từ phía sau bình phong vòng ra, khoác một chiếc áo đơn bằng lụa trắng rộng thùng thình, thần thái và giọng điệu vẫn bình thản thản nhiên như cũ: "Cho nên bây giờ ta đến làm cha của nó." "Đó là vì ngài biết nó từng mất đi một người cha, tuyệt đối không muốn mất đi người thứ hai. Chỉ cần nó coi ngài là cha, vì để bảo vệ ngài, nó cái gì cũng nguyện ý làm." Đoạt Hãn đứng sừng sững như một cây đinh tại chỗ, thấp giọng nói: "Ngài vẫn luôn là người tận dụng triệt để mọi thứ." Phương Giám Minh không nói gì, chỉ cười, thế nhưng vẻ mệt mỏi giữa hàng mày lại sâu đến mức không sao che giấu nổi.
Bên ngoài có người gõ cửa, Phương Giám Minh hờ hững gật đầu với Đoạt Hãn, khóe môi Đoạt Hãn giật giật, phẫn nộ quay đầu quát lớn: "Vào đi!" Mấy tên hoạn quan vâng lệnh nối đuôi nhau bước vào, hành lễ xong, liền thuần thục gấp tấm bình phong sang một bên, lộ ra chiếc bồn tắm bằng gỗ bách bọc bạc dài sáu thước ở phía sau. Tiết trời đã đến lúc thở ra khói thành sương rồi, thế nhưng trong chiếc bồn tắm vừa dùng qua lại không thấy chút hơi nước bốc lên nào, đó là một chậu nước đặc sệt màu đỏ lạnh lẽo bẩn thỉu. Bọn hoạn quan im lặng như một bầy súc sinh bận rộn làm lụng, khiêng bồn tắm lên, thu dọn khăn vải y phục, vội vã lướt qua bên người Đoạt Hãn đi ra ngoài.
Quay đầu nhìn lại Phương Giám Minh, trên vai chiếc áo trắng của ngài đã vô thanh vô tức rỉ ra vết máu, tà vạt áo khẽ phất phơ trong làn gió nhẹ. Không biết từ lúc nào, Đoạt Hãn đã cao bằng ngài, tầm mắt ngang nhau, không cần phải ngước đầu nhìn ngài nữa.
Tên hoạn quan trẻ tuổi đi cuối cùng trong hàng đang định lùi bước đóng cửa phòng lại, Đoạt Hãn liền chặn hắn ta lại, tự mình văng cửa bước ra ngoài.
Trong Tễ Phong Quán bốn bề toàn là thứ bóng tối nặng nề, đè ép lên ngực trước lưng sau, bám dính lấy từng bước chân không rời, khiến người ta thở không ra hơi. Bóng cây trông như những bàn tay đang giãy giụa, nâng đỡ lấy một vành trăng lưỡi liềm mờ ảo. Đoạt Hãn đi mãi đi mãi, dứt khoát cắm cổ chạy cắm đầu, thế nhưng vẫn không sao hất văng được cái cảm giác ngột ngạt bám riết lấy ấy. Hắn bám lên đầu tường, bước đi nhẹ nhàng.
Hừ, ngươi đang tức giận chuyện gì chứ? Giọng nói nho nhỏ từ đáy lòng cười đầy bất lương.
Chính ngươi là kẻ đưa đứa trẻ đó đến trước mặt ngài ấy mà... Ngươi thừa biết ngài ấy là một cái hố không đáy, những kẻ ở bên cạnh ngài ấy không một ai là không nằm trong sự tính toán của ngài ấy. Nhớ kỹ đấy, mặc kệ sau này đứa trẻ đó phải chịu bao nhiêu cay đắng, bao nhiêu giày vò, thì trong đó vĩnh viễn có một phần, là do ngươi mang đến cho nó.
Không, không phải ta! Nếu lúc đầu không cứu Hải Thị, con bé sẽ bị quan binh giết chết. Lẽ nào ta lại thấy chết mà không cứu? Đoạt Hãn tung người bám lên nóc nhà, tựa như một con mèo đi đêm, nhảy nhót không tiếng động giữa những mái ngói lưu ly. Trăng lưỡi liềm tựa như con dao chưa mài sắc, ánh sáng tù mù.
Thế bây giờ thì có thể thấy chết mà không cứu rồi sao? Giọng nói nhỏ chất vấn. Tại sao ngươi lại trơ mắt nhìn ngài ấy dụ dỗ con bé bước lên con đường đó, mà không nói gì, cũng không làm gì hết? Những chiếc đao hiên và sống mái nhà của cung điện uốn lượn chập chùng, ban ngày nhìn thì kéo dài mấy dặm nguy nga lộng lẫy một màu đỏ rực, đến ban đêm lại hóa thành màu xanh sương giá lạnh lẽo, trông giống như một vùng biển bị đóng băng, mặc sức cho hắn bôn chạy phía trên. Thế nhưng dù có chạy nhanh đến đâu, vầng trăng khuyết vẫn luôn hiển hiện trước mắt, cái giọng nói nhỏ âm hiểm kia cũng luôn bám riết lấy không rời, cứ văng vẳng bên tai mãi không thôi.
Đợi đến khi con bé biến thành một thanh kiếm giết người trong tay ngài ấy... thì việc cứu hay không cứu lúc ban đầu, còn có gì khác biệt nữa chứ?
Câm miệng, câm miệng, câm miệng, câm miệng. Đoạt Hãn bịt kín hai tai, ngồi xổm xuống, muốn vùi đầu vào giữa hai đầu gối. Ta có làm được gì đâu chứ. Hải Thị vẫn còn là một đứa trẻ, lại u mê ngưỡng mộ ngài ấy đến thế, cho dù có nói ra, con bé cũng sẽ không hiểu, chỉ uổng công khiến nó hận ta mà thôi.
Ngươi cũng là đứa trẻ của ngài ấy, là học trò của ngài ấy, nhìn ngài ấy, ngươi sẽ biết tương lai của mình trông như thế nào. Sẽ có một ngày, ngươi cũng sẽ trở nên giống như ngài ấy... vì những thứ mình muốn có, cho dù trên tay vẫn còn nhỏ máu, cũng có thể bình tâm tĩnh khí thốt ra những lời dối trá ngọt ngào.
Tiếng thì thầm dần nhạt đi, biến mất trong một tràng khúc khích cười trộm.
Đoạt Hãn thở hồng hộc, đứng trên đầu tường tiểu uyển phía Bắc, cúi xuống nhìn.
Tiểu uyển phía Bắc là nơi sinh sống của tất cả các thợ thủ công ngự dụng trong cung, tụ tập đủ mọi ngành nghề, giống như một khu chợ có quy mô khá lớn. Từng góc tiểu uyển vuông vắn, giống như một hộp đựng báu vật tinh xảo, bên trong nhồi đầy gỗ lặt vặt, hương liệu, mây tre đan, chim ưng chó mèo khỉ, những chiếc vạc lớn nhuộm vải, những khối ngọc thô to lớn như non bộ. Phòng đúc kiếm là nơi đẹp nhất trong số những ô nhỏ này, lò luyện kim của bọn chúng đỏ lửa quanh năm, mỗi khi tiếng bễ lò được kéo lên, ngọn lửa phập phồng hô hấp, căn phòng đá đó liền tràn ngập ánh sáng ấm áp, nhìn từ xa vào ban đêm trông giống như một trái tim đang đập rộn ràng.
Không biết là tên đồ đệ nào của thợ mộc nhớ nhà, đang nức nở thút thít như mèo trong căn phòng nhỏ xíu, sư phụ của hắn ta thì đang nói mớ đứt quãng trong phòng phía Tây, thỉnh thoảng lại nghiến răng kèn kẹt.
Ở đây, cái gì cũng vụn vặt, cái gì cũng đơn giản. Thợ thủ công làm xong việc thì bày rượu hóng mát, học trò làm hỏng việc thì ăn một trận đòn, kẻ nịnh hót xu nịnh tự nhiên cũng có, tranh tới tranh lui, cũng chỉ vì chút tiền bạc vải vóc. Khóc là khóc thật, cười cũng là cười thật, không cần phải bận tâm nhọc lòng tìm xem rốt cuộc đằng sau khóe mắt đuôi mày của kẻ khác ẩn giấu tâm tư gì.
Đoạt Hãn len lén chui vào một cây lựu có tán lá xum xuê như mây, tìm một chỗ ẩn mình giữa cành lá rậm rạp, lưng tựa vào thân cây, ngồi xuống đợi trời sáng. Ở đây ngâm mình, tay chân ấm áp, lồng ngực cũng không còn bức bối nữa, tựa như đã hít đầy thứ hơi người lộn xộn ấm áp, chẳng biết từ lúc nào, hắn đã chìm vào giấc ngủ sâu.
Thứ quái quỷ gì từ trên tán cây rơi bộp xuống, đập vào mặt Đoạt Hãn, làm hắn tỉnh giấc. Hắn sờ mặt mình, đưa vật đó lên trước mắt nhìn kỹ, hóa ra là một viên sỏi nhỏ.
Trời chỉ vừa hửng sáng, ngoại trừ dăm tiếng gà gáy, tiểu uyển phía Bắc chìm trong một cõi tĩnh mịch, cơn gió lạnh đầu thu cuộn xoáy trên con đường trống trải, cuốn lên lớp bụi mờ.
Người dưới gốc cây vẫn đang kiên trì ném đá lên trên, đánh cho lá khô rơi lả tả. Đoạt Hãn dụi mắt nhìn ra, thấy trên cành cây cách hắn không xa có vướng một tấm lụa giao mỏng manh trắng muốt. Kẻ ném đá nhắm quá kém, đến mép lụa giao cũng chẳng chạm tới được, tức đến mức đấm thình thịch vào thân cây, nhưng đường kính thân cây to đủ cho người ôm xuýt xoa, bị đấm mấy cú mà đến cả rung chuyển cũng chẳng rung chuyển là bao. Đoạt Hãn cúi xuống nhìn, hóa ra là một cô bé chừng mười tuổi, mặc bộ y phục vải thô trắng tinh, mày mắt thanh tú, trán lấm tấm mồ hôi lấp lánh.
Cô bé nhìn xung quanh không một bóng người, vội vàng thu vạt váy, quỳ hai gối xuống dưới gốc cây, lẩm bẩm khấn vãi: "Thụ nương nương, xin người đấy, hãy trả tấm lụa này cho em đi." Đoạt Hãn ngẩn người.
Cô bé vẫn lải nhải tự nói một mình: "Đây là cống phẩm của người Tây Lục, vừa đủ để may một chiếc váy trăm nếp cho Thục Dung Phi, thiếu một tấm cũng không được. Lát nữa sư phụ dậy, biết em phơi không cẩn thận để gió cuốn đi, chắc chắn sẽ phạt em. Sư phụ tuy không nhìn thấy, nhưng ngài ấy sờ một cái là biết ngay, không lấy thứ lụa khác giả mạo được đâu... Nếu như, nếu như người chịu trả nó cho em, ngày nào em cũng đến tưới nước cho người, lại còn cúng dường cho người bánh bao đậu đỏ ngon nhất..." Một cái cây thì ăn bánh bao gì chứ? Đoạt Hãn không nhịn được xì cười một tiếng, cô bé hoảng sợ ngước nhìn lên, nhưng chỉ thấy tán lá rậm rạp đung đưa theo gió. Con bé vừa nghi ngờ vừa sợ hãi, nghĩ ngợi một hồi, run rẩy nói: "Hay là... người thích bánh bao thịt?" Đoạt Hãn không dám cười thành tiếng, đành phải nín nhịn, lá cây bốn phía rung lên xào xạc. Hắn nghĩ, cứ tiếp tục thế này thì lộ tẩy mất, vội vàng kẹp viên sỏi vào kẽ ngón trỏ, ngón cái búng một cái, viên sỏi liền đánh gãy chiếc cành mảnh mai kia. Tấm lụa giao theo cành gãy trượt xuống, tựa như một dải mây mù nhẹ nhàng uyển chuyển bay múa, nương theo gió, lại chuẩn bị bay đi đằng xa.
Cô bé đứng dậy đuổi theo mấy bước, nhảy lên tóm lấy đuôi mây mù, ôm chầm lấy nó vào lòng như sợ bị gió giật mất lần nữa, vui mừng hớn hở chạy biến đi mất.
Đoạt Hãn nằm lại thân cây, nghĩ đến lại không nhịn được muốn cười. Bỗng hắn lại ngừng cười, bởi vì cô bé đó lại lon ton chạy trở về, hắt một bát nước vào gốc cây, đặt xuống thứ gì đó, chắp tay vái lạy vội vàng mấy cái, đến đầu cũng không dám ngoảnh lại, chạy trốn nhanh như chớp, thoáng cái đã rẽ vào viện của thêu sư.
Hắn nín thở lắng nghe, rồi lặng lẽ trượt xuống theo thân cây, cưỡi lên cành to gần mặt đất nhất, hai chân quấn lấy cành cây lộn ngược xuống, vươn tay vớt lấy vật kia, trong nháy mắt lại không tiếng động ẩn mình vào trong cành lá.
Gói giấy dầu được gấp vuông vắn gọn gàng, một sợi chỉ đỏ mảnh buộc chặt ở chính giữa, thắt một chiếc nút liên hoàn rất đẹp, thứ bên trong ấm áp mềm mại, sưởi ấm lòng bàn tay. Mở giấy dầu ra, là một chiếc bánh bao trắng phau tròn trĩnh, từng làn hơi nóng phả vào mặt. Cắn một miếng, đầy miệng thơm nức mùi thịt.
Kể từ ngày đó, mỗi độ rạng sáng, Đoạt Hãn đều ghé qua tiểu uyển phía Bắc một chuyến.
Mùa thu trôi qua rất nhanh, cái lạnh mùa đông ngày càng nặng nề, y phục của cô bé cũng dày lên, mặc vào trông giống như một củ bông gòn nhỏ. Có đôi khi con bé vừa đặt gói giấy dầu xuống, vị thêu sư mù lòa kia đã gọi tên con bé trong viện, con bé luôn dạ vâng "Con đến đây thưa sư phụ", tưới một bát nước vào gốc cây, rồi chạy vụt về. Con bé tên là Thạch Lựu, trùng tên với cái cây đó.
Những khi Thạch Lựu cho rằng xung quanh không có ai, con bé sẽ nói chuyện với Thụ nương nương.
Cha mẹ con bé đã qua đời từ sớm trong loạn năm Tám năm, khi thêu sư mù lòa lưu lạc dân gian, đã thu nhận con bé. Thêu sư tuy đôi mắt không thể nhìn thấy, nhưng đường kim mũi chỉ như thần, năm Thiên Thưởng thứ năm, bà lại được triệu vào cung. Chợ dệt mua ba mươi cô bé năm sáu tuổi từ dân gian, theo thêu sư học nghệ, Thạch Lựu trở thành người đứng đầu trong số các học đồ này, ngày nào cũng phải dậy sớm nấu cơm giặt giũ cho bọn chúng, đám tiểu cô tranh giành chơi một con con quay, cũng đánh nhau đến trước mặt Thạch Lựu.
Phiền muộn của con bé chẳng qua chỉ là những chuyệnn vụn vặt như thế, Đoạt Hãn tuyệt đối không thể chui ra trước mặt con bé rồi bỏ đi được, đành phải nằm trên cây chợp mắt, mơ màng nghe con bé càu nhàu. Đến khi con bé trút hết nỗi khổ, quay về làm việc, thì bánh bao cũng sớm nguội ngắt rồi, thế nhưng Đoạt Hãn vẫn sẽ ăn sạch nó trong hai ba miếng.
Mùa hè năm thứ hai, Thạch Lựu cao thêm được một tấc, trước ngực đã có độ nhô lên như mỏ non của chim non. Con bé là đệ tử có tay nghề xuất sắc nhất của thêu sư, đã có thể thay thế người sư phụ ốm yếu của mình làm một số việc, các cô bé trong xưởng thêu cũng bắt đầu hiểu chuyện, không cần con bé chăm sóc sinh hoạt hằng ngày nữa. Những lời phàn nàn của con bé ngày càng ít đi, đến nơi cũng thường xuyên không nói gì, chỉ lặng lẽ tựa lưng vào cây Thạch Lựu, ngồi lặng lẽ một lát.
Hải Thị cũng đang lớn lên. Kể từ ngày đầu tiên xuất hiện trong cung, con bé vẫn luôn ăn mặc theo kiểu nam trang, cung nhân chưa bao giờ được phép đến gần hầu hạ. Vào thời điểm Thạch Lựu đã hoàn toàn trưởng thành thành dáng vẻ thiếu nữ, Hải Thị vẫn gầy guộc thẳng tắp, giống như một ngọn giáo mảnh mai. Bất kỳ ai nhìn thấy con bé đều biết, thiếu niên trước mắt này là dưỡng tử thứ hai của Phượng Đình Tổng quản Phương Chư, không ai từng nhìn thấy dáng vẻ mặc nữ trang hồi nhỏ của con bé, chỉ sợ ngay cả bản thân con bé cũng đã quên mất rồi.
Buổi trưa mùa hè thường có những trận mưa rào chợt đến chợt đi, Đoạt Hãn cùng Phương Giám Minh trải chiếu bồ đề tím dưới hiên đánh cờ, nước mưa mái hiên róc rách rơi xuống, hội tụ thành màn rèm tuyến trắng kéo dài, rủ xuống hồ Sương Bình. Hải Thị thích mặc chiếc áo đơn lụa trắng rộng thùng thỉnh của con trai, nằm ì bên bàn cờ đọc một cuốn sách nhàn, ngáp ngủ liên miên, cuối cùng gục đầu ngủ thiếp đi trên đầu gối Phương Giám Minh, miệng vẫn ngậm nửa thanh kẹo quế hoa chưa ăn hết, người đàn ông luôn dịu dàng lấy thanh kẹo ra khỏi khóe môi con bé. Những trang sách giữa những ngón tay cô bé hé mở một nửa, bị cơn gió mát lạnh lật phật lật giở.
Những ngày không mưa, Đoạt Hãn sẽ luyện tập cùng Hải Thị ở võ trường, hắn đem tất cả đao kiếm võ nghệ truyền thụ cho con bé, thế nhưng tuyệt đối không để con bé tiếp xúc dù chỉ một chút với kỹ nghệ dùng độc.
Hải Thị thực ra rất sợ máu, khi con bé bóp chết con thỏ đầu tiên là lúc tám tuổi, Phương Giám Minh không cho phép con bé dùng đao, chỉ chuẩn bị dùng hai tay. Con thỏ trắng trẻo béo múp, lông xù xù, giãy giụa đạp cẫng giữa hổ khẩu hai tay cô bé, kêu chiêm chíp. Tay Hải Thị đang run rẩy, con thỏ dùng sức giãy giụa một cú, lật mình chạy vụt đi, đâm đổ một giỏ trứng bồ câu nhỏ ở góc phòng, thấy sắp sửa vọt ra khỏi nhà bếp. Phương Giám Minh không để ý đến con thỏ đó, vẫn đứng lặng lẽ ngoài cửa nhìn Hải Thị, tay cầm một chiếc quạt xếp bọc lụa màu ngọc bích, đến đầu mày cũng không hề động đậy một chút nào. Hải Thị cắn răng một cái, nhào xuống trước chân Phương Giám Minh, dùng hai tay ấn chặt thân thể ấm áp của con thỏ, tóm chặt nhấc bổng lên, dùng sức mạnh bạo quật mạnh xuống mặt sàn đá. Con thỏ lập tức bất động, đầu bếp tiến lên mang nó đi, lủng lẳng lắc lư, giống như một túi mỡ nhỏ được bọc bằng lông thú. Trên mặt đất nơi lòng trắng lòng đỏ trứng bồ câu chảy lênh láng, để lại một vũng máu to bằng đồng xu.
Đầu bếp dùng gừng vàng và ớt cay nhỏ hầm con thỏ, nước canh tươi đậm đà, là một món ăn ngon trong bữa tối. Mỗi khi ánh mắt Phương Giám Minh dời sang người Hải Thị, con bé liền đưa đũa gắp một miếng thịt thỏ đưa vào miệng, cố gắng nhai rồi nuốt xuống.
Đêm đến, Hải Thị lén lút lẻn vào phòng ngủ của Đoạt Hãn, chui vào nằm cạnh hắn. Đoạt Hãn tỉnh giấc, lật chăn ra cho con bé chui vào.
"Sao thế?" hắn thấp giọng hỏi.
"Cứ có cảm giác con thỏ đó vẫn đang quẫy đạp trong bụng em, có cảm giác... có cảm giác như nó vẫn còn sống vậy." Hai tay nhỏ nhắn của cô bé lạnh ngắt như đá, không biết đã ngâm trong nước lạnh bao lâu.
Đến lần thứ hai giết thỏ, con bé đã học được cách vỗ một chưởng vào sau đầu thỏ, dứt khoát gọn gàng khiến nó đứt hơi.
Bốn năm sau, Hải Thị bắt đầu cùng bọn họ ra ngoài vào ban đêm, có lúc một năm hai ba lần, có lúc một tháng một hai lần. Khi trở về Tễ Phong Quán, trong phòng ngủ của Đoạt Hãn luôn chuẩn bị sẵn một chậu nước lạnh trong vắt để hắn tẩy rửa vết máu, bất kể mùa nào lạnh hay ấm. Hắn biết phòng của Hải Thị cũng thế.
Mùa xuân năm Thiên Thưởng thứ mười hai, Hải Thị bị thương ở bạt vai khi luyện cung, Đoạt Hãn mang thuốc trị thương đến phòng con bé, bắt gặp con bé đang hơ lửa sấy một tấm lụa trắng vừa mới giặt sạch trên chậu than, lúc này mới chợt nhớ ra con bé đã mười bốn tuổi rồi.
Cũng trong năm này, vị thêu sư mù lòa ngã bệnh ngày càng nặng. Từ mùa thu năm trước, bà đã chỉ có thể nằm liệt giường, không còn thấy ra ngoài đi lại nữa. Thạch Lựu đã sớm qua tuổi cập kê, rất lâu không còn nói chuyện với Thụ nương nương nữa, thế nhưng cho dù Đoạt Hãn có đi vắng mười nửa tháng, khi trở về hắn vẫn có thể tìm thấy một gói giấy dầu còn hơi ấm dưới gốc cây.
Thạch Lựu thỉnh thoảng ngồi ngẩn người dưới gốc cây, các học đồ kiếm sư xách than vào buổi sáng sớm nhìn thấy con bé, mặt sẽ đỏ bừng lên, chân bước vấp váp, suýt chút nữa ngã lăn quay mang theo cả đòn gánh xuống đất. Đoạt Hãn nhìn xuống từ trên tán cây, thế nhưng chỉ có thể nhìn thấy ánh ban mai chải qua hàng mi rậm rạp rủ xuống của Thạch Lựu, giống như sắc màu ô kim của chính hắn.
"Sư phụ ngài ấy, có lẽ sắp không qua khỏi rồi." Thạch Lựu thấp giọng nói. Con bé ngửa đầu ra sau, tựa vào thân cây, ngơ ngác nhìn chằm chằm nơi Đoạt Hãn ẩn mình, con ngươi là màu trà trong vắt thuần khiết.
Trong khoảnh khắc, Đoạt Hãn cứ tưởng con bé đã nhìn thấy mình, nhưng hắn lập tức hiểu ra điều đó là không thể — mấy tầng lá rậm rạp đã che chắn hắn kín mít.
"Thụ nương nương, nếu như em cầu xin người, để sư phụ đừng chết, người có đồng ý không?" Thiếu nữ dừng lại một lát, không đợi được hồi âm, liền tự cười khổ một tiếng, "Người rốt cuộc cũng chỉ là một phàm nhân thôi nhỉ. Em mười bảy tuổi rồi, cũng biết là một cái cây chắc là sẽ không ăn bánh bao đâu. Người rốt cuộc... là ai vậy?" Câu hỏi này khiến Đoạt Hãn trở tay không kịp, tim đập dữ dội đến mức hắn gần như sợ Thạch Lựu sẽ nghe thấy tiếng nó đập loạn trong lồng ngực. Con bé đứng dậy, quay người ngước nhìn cây cổ thụ, Đoạt Hãn không khỏi căng cứng cơ thể, chú ý đến từng cử động của con bé.
Con bé biết mình không phải Thụ nương nương gì cả, mà chỉ là một kẻ lừa đảo. Trái tim Đoạt Hãn giống như bị vò nát thành một cục nhàu nhĩ. Con bé sẽ tức giận chứ... Con bé có sắp khóc không? Nhưng thiếu nữ chẳng làm gì cả, chỉ dang rộng hai tay, ôm lấy thân cây, áp trán vào lớp vỏ cây nứt nẻ.
Khắp cây hoa lựu đều đã căng mọng nụ, tựa như chỉ cần khẽ chạm vào, sẽ nổ tung ra một chuỗi hoa rực rỡ ồn ào.
"Cảm ơn người." Con bé khẽ nói.
Đêm hôm đó, Đoạt Hãn đứng trước giường thêu sư như một bóng ma, nhìn người trung niên gầy guộc hốc hác này. Bà đang đổ mồ hôi, toàn thân y phục chăn đệm đều ướt sũng dính bẹp vào người, hốc mắt trũng sâu thành hõm, làn da vàng vọt căng cứng bên ngoài xương cốt, hai bên má bừng lên sắc đỏ bệnh tật.
Học đồ đang sắc thuốc ở phòng khách nhỏ bên ngoài, chiếc quạt mo nhỏ quạt lửa vẫn còn treo trên đầu ngón tay, người đã ngủ thiếp đi rồi. Thêu sư đang sốt cao, thần trí mơ màng, cho dù có tỉnh lại, đôi mắt mù lòa xám xịt như dơi kia cũng không nhìn thấy Đoạt Hãn.
Chỉ tiêu tốn thời gian bằng một khắc, Đoạt Hãn đã xác định chắc chắn rằng bà không hề bị trúng độc hay thương tích, thứ đang gặm nhấm sinh mạng bà chỉ là căn bệnh thực sự. Ngự y trong cung đã bó tay chịu trói, hắn lại càng chẳng có phương thuốc hay nào.
Thêu sư khó nhọc thở dốc, mỗi một tiếng động phát ra đều tựa như cơn gió thổi qua khe đá thủng lỗ chỗ, phát ra tiếng rít kỳ quái.
Đoạt Hãn cúi đầu nhìn đôi bàn tay của chính mình. Hắn có hàng nghìn thủ đoạn giết người, thế nhưng lại chẳng có một kỹ nghệ nào có thể cứu mạng người. Việc duy nhất hắn có thể làm, chỉ là cầm chiếc khăn bên đầu giường, lau đi những giọt mồ hôi túa ra trên trán bà, rồi quay người rời đi.
Sáu ngày sau thêu sư qua đời, dáng vẻ lúc chết không hề tẩm đệm, trong phòng ngủ nồng nặc mùi hôi thối đại tiểu tiện lúc lâm chung. Thạch Lựu mang khuôn mặt tái nhợt, một mình xách một xô nước, thay y phục cho thêu sư, không cho mấy cô bé khác nhúng tay vào.
Cửa sổ phòng ngủ dán giấy trúc trắng sạch sẽ, lọc ra ánh nến ấm áp, tựa như đục khoét một cái lỗ không đáng kể trong màn đêm sâu thẳm. Đoạt Hãn ẩn mình trong bóng râm dưới mái hiên, lén nhìn qua khe cửa sổ.
Thạch Lựu nhúng chiếc khăn vào nước sôi sùng sục, vắt khô, cúi người nhẹ nhàng lau mặt và người cho thêu sư, lại kéo lấy những ngón tay lạnh ngắt cứng đờ của người chết, từ từ lau chùi, tựa như muốn sưởi ấm bà trở lại.
Thời tiết chực chờ bước vào mùa hè, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt, những giọt mồ hôi lăn từ mái tóc thiếu nữ xuống, chảy qua trán, rơi ở chóp mũi, con bé không rảnh tay, đành phải nghiêng đầu lau mồ hôi lên vai mình, làm rối bù cả mái tóc mai trắng mịn.
Lau rửa sạch sẽ tứ chi cho thêu sư xong, Thạch Lựu lại định lau lưng cho bà, nhưng thi thể đã cứng đờ. Con bé cắn chặt răng, dồn cả vai và tay, dùng hết sức lực muốn lật cái thân hình teo tóp của thêu sư lại. Thử đi thử lại nhưng vẫn hoài công vô ích. Con bé ngẩn người đứng một lúc, cuối cùng quỳ sụp hai gối xuống, quỳ rạp trước giường, vùi đầu nức nở khóc lóc như một đứa trẻ.
Đoạt Hãn không đành lòng trong lòng, suýt nữa thì vươn tay đẩy cửa sổ, gọi tên con bé.
Ngươi muốn nói gì với con bé? Giọng nói nhỏ xuất hiện từ hư không, lạnh lùng chế nhạo. Nói ngươi chính là cái cây đó? Nói ngươi đã lén nhìn con bé suốt sáu năm trên cây? Con bé là người có thể bước đi dưới ánh mặt trời rực rỡ, thế còn ngươi thì tính là cái thá gì? Con bé thậm chí còn chưa từng nhìn thấy mặt ngươi.
Thế còn ta, ta tính là cái gì chứ? Đoạt Hãn tự hỏi.
Hắn biết, số người phụng sự Phương Giám Minh trong cung không nhiều, chỉ độ vài chục người, nhưng những mật thỏ mai phục ngoài cung thì nhiều vô kể. Triều thần đều gọi bọn họ là Hắc Y Vũ Lâm, cho dù có bàn tán trong tĩnh thất của chính mình, cũng phải cẩn thận từng chút một, vừa sợ hãi vừa căm hận.
Đoạt Hãn cúi đầu, chỉ đem những đốt ngón tay đang siết chặt tì sát vào vách tường, đem toàn bộ sức lực vô thanh vô tức trút hết lên khối thổ thạch thô ráp vô tri ấy, hận không thể đấm từng quyền thật sã tay xuống. Ngoại trừ cải tử hoàn sinh, hắn vốn có thể làm bất cứ chuyện gì vì con bé, dễ như trở bàn tay... Thế nhưng tất cả những điều này bắt buộc phải giấu kín trong góc tối ẩm thấp, tuyệt đối không thể để con bé hay biết.
Hồi lâu sau, Thạch Lựu trong phòng cuối cùng cũng đứng dậy, dùng tay áo lau khô đôi mắt sưng húp, mở cửa đi ra ngoài gọi người đến giúp.
Nhìn bóng lưng con bé lần cuối, Đoạt Hãn rời khỏi khung cửa sổ mập mờ ánh sáng ấy, quay người trở lại với màn đêm tĩnh mịch.
Hôm sau, theo thủ lệnh của Phương Giám Minh, Đoạt Hãn cùng hai tên Kiểm Túc Lại trẻ tuổi đổi tên giả đến Uyển Châu, tìm kiếm chứng cứ mưu phản của bộ hạ cũ Cố Đại Thành.
Trong đời, những chuyện đáng để hối hận đếm không xuể, nhưng đây là điều mà sau này hắn ít muốn nhớ lại nhất.
Vào đúng ngày Đoạt Hãn rời khỏi cấm thành, vị thêu sư mù lòa cũng được đưa về quê nhà an táng, ba mươi mốt vị đệ tử dài quỳ dập đầu tống biệt ở cửa cung. Buổi chiều, từ Kim Thành Cung nơi Đế Húc sinh sống có một vị nội thần đến, biểu dương tinh thần tôn sư trọng đạo hiếu nghĩa của các đệ tử, đồng thời ban thưởng tại chỗ mỗi người một chén trà hạnh nhân, những nữ thêu nương trẻ tuổi uống chén trà hạnh nhân ấy đêm đó đều bị mù hết cả. Hoàng đế xưa nay vốn dĩ ngẫu hứng tùy tiện, trong cung không còn thêu sư mù lòa nữa, thì ngài ấy sẽ tự mình tạo ra một người.
Đoạt Hãn trở về kinh đô hai tháng sau đó, Phương Giám Minh phái hai người ở Tễ Phong Quán đi theo sát hắn. Khi Đoạt Hãn đẩy cửa bước vào tẩm thất của vị nội thần truyền chỉ vào lúc nửa đêm, hai người đó vẫn bám sát sạt bên cạnh, vẻ mặt vô cảm nhìn chăm chú.
Cái mũi của nội thần bị hai ngón tay Đoạt Hãn bóp chặt không cho thở khí, thế nhưng lại sợ hãi thứ bột kịch độc được đưa đến bên miệng, không dám dùng miệng để thở, đành phải co giật giãy giụa đầy đáng thương trong gọng kìm hai tay hắn, lúc chết nét mặt từ lâu đã tím tái.
"Các người nói xem, hắn là bị trúng độc mà chết, hay là bị nghẹt thở mà chết đây?" Đoạt Hãn buông tay, để thi thể trượt dài xuống đất.
"Đại công tử, xin ngài hãy dừng tay đúng mực." Một trong hai người thấp giọng nói.
"Hắn ta có nói với các người rằng, chỉ cần không giết hoàng đế, ta muốn lấy mạng ai cũng được phải không?" Đoạt Hãn khiêu khích trừng trừng nhìn bọn họ.
Hai người cùng mặc y phục màu đen giống hắn không ai đáp lời, nhanh nhẹn giật lấy tấm chăn trên giường tên nội thần, cuộn tròn thi thể lại rồi khiêng ra ngoài.
Khi Đoạt Hãn trở về Tễ Phong Quán, lại là ban đêm. Từ xa nhìn thấy ở võ trường thắp sáng hai hàng chậu lửa, Hải Thị giương một cây cung cứng sáu thạch, nheo mắt ngắm bắn còng cỏ cách đó trăm bước. Tính tình con bé quá nóng vội, vết thương ở bạt vai hồi mùa xuân vẫn chưa hoàn toàn lành hẳn, để đề phòng vết thương cũ tái phát, Phương Giám Minh đứng phía sau, tay trái giúp con bé giữ vững phần tay cầm của cung, tay phải nắm lấy bàn tay kéo dây cung của con bé. Kỹ thuật bắn cung của con bé là do Phương Giám Minh truyền thụ, hai người cùng giương một cây cung dài, giống như hình với bóng dính sát vào nhau, đến hơi thở cũng đều đặn hòa hợp làm một.
Vóc dáng thiếu nữ đã cao đến vai Phương Giám Minh, ánh lửa rực rỡ, càng điểm thêm một lớp sắc hồng phấn trên làn da màu mật ong của con bé, nam trang vừa khéo phù hợp với thân hình mảnh mai của con bé, trông như một thiếu niên sảng khoái anh khí ngời ngời.
Tháng bảy chính là mùa hoa thạch lựu nở rộ, gió đêm thổi hiu hiu, hoa rụng lả tả như mưa, rắc lên khắp đầu khắp vai người. Một cánh hoa tàn vừa vặn rơi trên chóp mũi Phương Giám Minh, Hải Thị mang tâm tính trẻ con, quay đầu nhìn thấy, không kìm được bật cười. Mũi tên hãy còn trên dây, con bé không rảnh tay, tinh nghịch ngẩng mặt lên, vút một hơi thổi bay chấm đỏ vụn vặt đó khỏi mặt ngài.
Mũi tên xé gió rời dây, thế nhưng lại không trúng đích.
Vai lưng Phương Giám Minh căng cứng, trên khuôn mặt ôn nhã vẫn còn lưu lại vẻ kinh ngạc và hoang mang của khoảnh khắc vừa rồi.
Đoạt Hãn biết đó là cảm giác gì.
Chính là cơ quan bị khóa chặt quanh co trong cơ thể bị tháo dỡ từng lớp, đầu ngón tay của ai đó khẽ chạm vào, gảy trúng sợi dây thép thanh tao ẩn giấu sâu kín nhất.
Chính là trong lồng ngực tràn đầy cơn gió lồng lộng bay bổng, tựa như có thể từ đó thoát khỏi cơ thể, nhẹ nhàng bay đi.
Chính là kể từ ngày đó trở đi, tất cả mọi thứ trên thế gian này đều khác biệt với ngày hôm qua.
Thế nhưng, cho dù hắn có dám đứng trước mặt Thạch Lựu đi chăng nữa, thì con bé cũng chẳng thể nhìn thấy hắn được nữa rồi.
Thuở ban đầu thu nhận Hải Thị, hắn từng hỏi Phương Giám Minh tại sao lại duy nhất giữ lại cô bé này, câu trả lời nhận được chỉ là một nụ cười.
Vào khoảnh khắc này, Đoạt Hãn biết rằng trên khóe môi mình cũng đang hiện lên một nụ cười tàn nhẫn y hệt.
Nghĩa phụ, ngài hối hận rồi sao?