Cái Chết Bất Thường

Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
Những Ngã Tư Đường

❊ ❊ ❊

“Kiên nhẫn — và xào bài lên nào.”

Don Quixote

Lord Peter đưa bà Cropper đến Christchurch rồi quay lại thành phố để hội ý với ông Parker. Viên cảnh sát vừa nghe xong câu chuyện của bà Cropper thì tiếng mở và đóng cửa căn hộ một cách kín đáo báo hiệu sự trở lại của Bunter.

“Có may mắn gì không?” Wimsey hỏi.

“Tôi vô cùng tiếc phải báo cáo với ngài rằng tôi đã mất dấu người phụ nữ đó. Thật ra, nếu ngài vui lòng châm chước cho cách dùng từ này, tôi đã bị lừa một vố đau đớn.”

“Tạ ơn Chúa, Bunter, cuối cùng anh cũng chỉ là một con người bằng xương bằng thịt. Tôi cứ tưởng không ai có thể qua mặt được anh chứ. Làm một ly đi.”

“Tôi rất đa tạ nhã ý của ngài. Theo đúng chỉ thị, tôi đã lục soát sân ga để tìm một người phụ nữ đội mũ đỏ và khoác áo lông thú xám, và cuối cùng tôi đã may mắn nhìn thấy bà ta đang đi ra lối cửa ga về phía sạp báo lớn. Bà ta đi trước tôi một đoạn, nhưng chiếcếc mũ rất dễ gây chú ý, và đúng như lời nhà thơ, nếu tôi được phép diễn đạt như vậy, tôi đã dõi theo ánh hào quang ấy.”

“Một tay cừ khôi.”

“Cảm ơn ngài. Người phụ nữ đó bước vào Khách sạn Nhà ga — nơi mà như ngài biết đấy, có hai lối ra vào, một lối ở sân ga và lối kia ở phía phố. Tôi vội vã đuổi theo vì sợ bà ta trốn mất, và bước qua cánh cửa quay vừa đúng lúc nhìn thấy tấm lưng bà ta khuất dần vào Phòng Nghỉ của Phụ nữ.”

“Nơi mà, với tư cách là một người đàn ông lịch thiệp, anh không thể đi theo. Tôi hoàn toàn hiểu.”

“Quả đúng vậy, thưa ngài. Tôi chọn một chỗ ngồi ở đại sảnh, ở vị trí có thể quan sát cánh cửa mà trông không có vẻ gì là đang để ý.”

“Và rồi phát hiện ra quá muộn rằng nơi đó có tới hai lối ra, tôi đoán thế. Thật bất ngờ và phiền phức.”

“Không, thưa ngài. Rắc rối không phải ở đó. Tôi ngồi canh chừng suốt ba phần tư giờ, nhưng chiếc mũ đỏ không hề xuất hiện trở lại. Ngài hãy nhớ cho là tôi chưa bao giờ nhìn thấy mặt người phụ nữ đó.”

Lord Peter rên rỉ.

“Tôi đoán trước được kết cục của câu chuyện này rồi, Bunter. Không phải lỗi tại anh. Cứ kể tiếp đi.”

“Đến cuối khoảng thời gian đó, thưa ngài, tôi buộc phải kết luận rằng hoặc người phụ nữ ấy đã bị ốm, hoặc có chuyện bất trắc gì đã xảy ra. Tôi gọi một nữ nhân viên tình cờ đi ngang qua đại sảnh và thông báo rằng tôi được giao gửi một lời nhắn cho một người phụ nữ có trang phục mà tôi đã miêu tả. Tôi nài nỉ cô ấy hỏi nhân viên trong Phòng Phụ nữ xem người đó còn ở đó không. Cô nhân viên đi đi và lát sau quay lại báo rằng người phụ nữ ấy đã thay trang phục trong phòng giữ đồ và đã rời đi từ nửa giờ trước.”

“Ồ, Bunter, Bunter. Anh không nhận ra chiếc va-li hay bất cứ thứ gì tương tự khi bà ta bước ra sao?”

“Xin lỗi ngài. Người phụ nữ đó đã đến từ sớm hơn trong ngày và gửi một chiếc cặp tài liệu cho nhân viên trông giữ. Khi quay lại, bà ta đã chuyển chiếc mũ và áo lông thú vào chiếc cặp đó, rồi đội một chiếc mũ phớt đen nhỏ cùng chiếc áo mưa mỏng mà bà ta đã chuẩn bị sẵn trong cặp. Thế nên trang phục của bà ta đã được giấu đi khi bước ra và bà ta xách theo chiếc cặp tài liệu, trong khi lúc đầu tôi nhìn thấy thì bà ta đi tay không.”

“Mọi thứ đã được tính toán trước. Thật là một người phụ nữ đáng gờm!”

“Tôi lập tức dò hỏi xung quanh khu vực khách sạn và nhà ga, thưa ngài, nhưng chẳng có kết quả gì. Chiếc mũ đen và áo mưa hoàn toàn không có gì nổi bật, và không ai nhớ là đã nhìn thấy bà ta cả. Tôi đến Ga Trung tâm để tìm xem bà ta có đi chuyến tàu nào không. Một vài phụ nữ có dáng vẻ phù hợp đã mua vé đi các điểm đến khác nhau, nhưng tôi không thể thu thập được thông tin cụ thể nào. Tôi cũng ghé thăm tất cả các tiệm sửa xe ở Liverpool, với cùng một sự thất bại. Tôi vô cùng đau lòng vì đã không làm tròn nhiệm vụ với ngài.”

“Không sao đâu. Anh đã làm tất cả những gì có thể rồi. Vui lên đi. Chớ vội nản lòng. Hơn nữa chắc anh đã mệt rã rời rồi. Cứ nghỉ một ngày và đi ngủ đi.”

“Tôi cảm ơn ngài, nhưng tôi đã ngủ rất ngon trên chuyến tàu về đây rồi.”

“Tùy ý anh thôi, Bunter. Nhưng tôi vẫn hy vọng thỉnh thoảng anh cũng biết mệt mỏi như những người khác chứ.”

Bunter mỉm cười kín đáo rồi lùi ra.

“Chà, dẫu sao chúng ta cũng thu được ngần này thông tin,” Parker nói. “Giờ thì chúng ta biết cô Whittaker này có điều gì đó cần giấu giếm, bằng chứng là cô ta phải dùng đến những biện pháp cẩn trọng như vậy để tránh bị bám theo.”

“Chúng ta còn biết nhiều hơn thế nữa. Ta biết rằng cô ta đang vô cùng sốt sắng tìm cách tiếp cận mụ đàn bà tên Cropper trước khi bất kỳ ai khác kịp gặp mặt, chắc chắn là để bịt miệng mụ ta bằng tiền hối lộ hoặc bằng những thủ đoạn tồi tệ hơn. Nhân tiện, làm sao cô ta biết mụ ta sẽ đi chuyến tàu đó cơ chứ?”

“Bà Cropper đã gửi một bức điện tín, và nó đã được đọc lên tại cuộc điều tra tử thi.”

“Khỉ thật mấy cái vụ điều tra tử thi này. Chúng tuôn ra toàn bộ những thông tin mà người ta muốn giữ kín, nhưng lại chẳng mang lại chút bằng chứng giá trị nào.”

“Chính xác,” Parker nhấn mạnh, “chưa kể đến việc chúng ta phải ngồi nghe một tràng những lời đạo đức giả từ viên Hạ thẩm về tệ khiêu vũ jazz và hành vi suy đồi của giới trẻ hiện đại khi dám trốn đi chơi một mình với các thanh niên tới Rừng Epping.”

“Thật tiếc là những kẻ nhiều chuyện này không thể bị kiện vì tội phỉ báng. Thôi khỏi bận tâm. Sớm muộn gì chúng ta cũng túm được cô nàng Whittaker thôi.”

“Luôn với giả định rằng đó chính là cô Whittaker. Rốt cuộc thì bà Cropper cũng có thể đã nhầm lẫn. Rất nhiều người thay mũ trong phòng giữ đồ mà chẳng hề có ý đồ tội phạm nào cả.”

“Ờ, dĩ nhiên rồi. Cô Whittaker đáng lẽ phải đang ở vùng quê với cô Findlater cơ mà, phải không? Chúng ta sẽ nhờ cô Climpson quý hóa gặng hỏi cô ta khi họ quay trở lại. Trong lúc này, anh nghĩ sao về câu chuyện của bà Cropper?”

“Chẳng có gì phải nghi ngờ về những gì đã xảy ra ở đó cả. Cô Whittaker đang cố dụ bà cụ ký một bản di chúc mà không hề hay biết. Cô ta nhét nó lẫn lộn vào giữa đống giấy tờ thuế thu nhập, hy vọng bà cụ sẽ đặt bút ký mà không thèm đọc. Chắc chắn đó phải là một bản di chúc, tôi nghĩ vậy, bởi vì đó là văn bản duy nhất mà tôi biết là sẽ vô hiệu trừ khi có hai người làm chứng ký tên trước mặt người lập di chúc và trước mặt nhau.”

“Chính xác. Và vì bản thân cô Whittaker không thể đứng ra làm chứng mà phải nhờ hai cô hầu gái ký tên, nên bản di chúc đó chắc chắn phải có lợi cho cô Whittaker.”

“Hiển nhiên rồi. Cô ta đời nào chịu bỏ từng ấy công sức chỉ để tước quyền thừa kế của chính mình.”

“Nhưng điều đó lại đưa chúng ta đến một rắc rối khác. Với tư cách là họ hàng gần nhất, dù thế nào đi nữa cô Whittaker cũng sẽ thừa hưởng toàn bộ gia tài mà bà cụ để lại. Thực tế là cô ta đã nhận được như vậy. Việc gì phải bận tâm đến một bản di chúc cơ chứ?”

“Có lẽ, như chúng ta đã nói lúc trước, cô ta sợ cô Dawson thay đổi ý định và muốn lập sẵn một bản di chúc trước khi—không, cách giải thích đó không ổn.”

“Không—bởi vì dù sao đi nữa, bất kỳ bản di chúc nào được lập sau đó cũng sẽ làm mất hiệu lực của bản di chúc trước. Hơn nữa, bà cụ đã cho gọi luật sư của mình đến một thời gian sau đó, và cô Whittaker không hề gây ra bất kỳ trở ngại nào ngáng đường bà ấy cả.”

“Theo lời Y tá Forbes, cô ta thậm chí còn vô cùng sốt sắng mong muốn mọi sự tạo điều kiện thuận lợi nhất.”

“Xét thấy cô Dawson không hề tin tưởng cô cháu gái của mình, thực ra thì cũng hơi ngạc nhiên khi bà ấy lại không đem tài sản cho người khác trong di chúc. Khi đó thì việc giữ cho bà ấy sống càng lâu càng tốt mới là có lợi cho cô Whittaker.”

“Tôi không nghĩ là bà ấy thực sự không tin tưởng cô ta — không đến mức dự tính rằng mình sẽ bị ám hại đâu. Bà ấy chỉ đang xúc động và lỡ lời nói quá lên những gì mình nghĩ thôi — chúng ta vẫn thường thế mà.”

“Đúng vậy, nhưng rõ ràng bà ấy nghĩ rằng sẽ còn những mưu đồ khác nhằm ép ký di chúc.”

“Sao anh lại suy luận ra thế?”

“Anh không nhớ giấy ủy quyền sao? Rõ ràng cụ già đã nghĩ kỹ chuyện đó và quyết định trao cho cô Whittaker quyền thay mặt ký mọi loại giấy tờ để sau này hoàn toàn không thể có bất kỳ trò gian lận nào liên quan đến giấy tờ nữa.”

“Tất nhiên rồi. Cụ già ranh mãnh thật. Chắc cô Whittaker ức chế lắm đây. Huống chi sau chuyến ghé thăm đầy hy vọng của viên luật sư nữa chứ. Thật là chưng hửng. Thay vì một bản di chúc như mong đợi, lại là một cú chọc gậy bánh xe được chuẩn bị vô cùng kỹ lưỡng.”

“Đúng vậy. Nhưng chúng ta vẫn vướng phải vấn đề: tại sao cứ phải là một bản di chúc?”

“Ừ nhỉ.”

Hai người rít tẩu thuốc trong im lặng một hồi lâu.

“Rõ ràng người dì có ý định để lại toàn bộ số tiền cho Mary Whittaker rồi,” cuối cùng Parker lên tiếng. “Bà ấy hứa hẹn điều đó rất nhiều lần — hơn nữa, tôi dám cá bà ấy là một cụ già công tâm, và nhớ rằng số tiền đó thực ra là gia tài nhà Whittaker vốn thuộc về bà ấy nhưng lại qua mặt mục sư Charles hay cái tên đại loại thế.”

“Ra vậy. Chà, chỉ có một điều duy nhất có thể ngăn cản chuyện đó xảy ra, đó là — ôi, lạy Chúa! anh bạn trẻ. Anh có biết điều này dẫn đến kết quả gì không? Câu chuyện xưa cũ muôn thuở mà mấy tay tiểu thuyết gia cực kỳ mê mẩn — người thừa kế mất tích!”

“Ôi chao, đúng vậy, anh nói phải. Khỉ thật, sao chúng ta lại ngốc nghếch không nghĩ đến điều này sớm hơn nhỉ. Rất có thể Mary Whittaker đã phát hiện ra còn một người họ hàng nào đó gần gũi hơn đang tồn tại, kẻ sẽ hốt sạch cả cơ ngơi. Biết đâu cô ta sợ rằng nếu cô Dawson biết chuyện, bà ấy sẽ chia đôi tài sản hoặc tước bỏ hoàn toàn quyền thừa kế của Mary. Hoặc có lẽ cô ta đã tuyệt vọng trong việc nhồi nhét câu chuyện đó vào đầu bà cụ, nên mới nảy ra ý định ép bà lập di chúc có lợi cho Mary mà không hề hay biết.”

“Anh sở hữu một bộ óc cừ thật đấy, Charles. Hoặc thế này, cô Dawson vốn dĩ đã biết tỏng mọi chuyện, một cụ già tinh ranh, và quyết định trừng phạt sự vội vã đáng xấu hổ của cô Whittaker trong chuyện lập di chúc bằng cách cứ nhắm mắt xuôi tay ra đi mà không để lại di chúc, qua đó nhường hết gia tài cho kẻ kia.”

“Nếu thực sự mụ làm vậy, thì mụ hoàn toàn xứng đáng với những gì mụ nhận được,” Parker nói với vẻ khá cay độc. “Sau khi bắt tội tội nghiệp cô gái phải rời bỏ công việc dưới lời hứa để lại cho của cải.”

“Dạy cho cô nàng một bài học là đừng có quá thực dụng,” Wimsey đáp lại với sự nhẫn tâm vui vẻ của một kẻ chưa từng phải túng thiếu một ngày nào trong đời.

“Nếu ý tưởng sáng giá này là chính xác,” Parker nói, “thì nó phá hỏng khá nhiều lý thuyết mưu sát của anh rồi đấy nhỉ? Bởi vì hiển nhiên Mary sẽ chọn cách giữ cho người dì sống càng lâu càng tốt, với hy vọng biết đâu bà ấy sẽ chịu lập di chúc.”

“Đúng thế thật. Đồ chết tiệt, Charles, tôi thấy vụ cá cược của mình tiêu tùng rồi đây. Lại còn là một đòn giáng mạnh cho anh bạn Carr nữa chứ. Tôi đã thực sự hy vọng sẽ minh oan được cho anh ấy và đưa anh ấy trở về làng trong tiếng kèn trống chào mừng dưới một chiếc cổng khải hoàn với dòng chữ ‘Hoan hô, Nhà Vô địch của Chân lý!’ được thắp sáng bằng những bóng đèn điện xanh đỏ trắng cơ đấy. Thôi kệ. Thà thua cược mà ngộ ra chân lý còn hơn là cứ sống trong u mê mà ảo tưởng giàu sang. — Hay là dừng lại đã! — tại sao Carr lại không thể đúng cơ chứ? Có lẽ chỉ là tôi chọn nhầm hung thủ mà thôi. A ha! Tôi thấy một kẻ phản diện mới, thậm chí còn nham hiểm hơn đang bước lên sân khấu. Kẻ thừa kế mới, được cảnh báo bởi đám tay sai—”

“Đám tay sai nào cơ?”

“Ôi, đừng có mà bắt bẻ mấy chuyện vụn vặt thế, Charles. Chắc là Y tá Forbes rồi. Tôi không ngạc nhiên nếu mụ ta ăn lương của hắn đâu. Tôi đang nói đến đâu rồi nhỉ? Ước gì anh đừng có ngắt lời.”

“Được cảnh báo bởi đám tay sai—” Parker nhắc tuồng.

“Ờ, phải — được đám tay sai cảnh báo rằng cô Dawson đang lai vãng với luật sư rồi bị dụ dỗ lập di chúc các thứ, liền sai bọn tay sai ấy thủ tiêu cô ta trước khi cô ta kịp gây ra rắc rối nào.”

“Ừ, nhưng bằng cách nào?”

“Thì bằng một trong những loại độc dược bản địa có thể giết người trong tích tắc và thách thức mọi kỹ năng của chuyên gia phân tích. Chúng quá quen thuộc với những cây bút viết truyện trinh thảm tầm thường nhất rồi. Tôi sẽ không để một chi tiết cỏn con như thế ngáng đường mình đâu.”

“Và tại sao cái vị quý ông giả định này lại chưa từng đưa ra bất kỳ yêu sách đòi tài sản nào cho đến tận bây giờ?”

“Hắn đang chờ thời cơ. Vụ lùm xùm quanh cái chết đã làm hắn hoảng sợ, và hắn đang ở ẩn cho đến khi mọi chuyện lắng xuống.”

“Hắn sẽ thấy việc tước quyền của cô Whittaker khó khăn hơn rất nhiều bây giờ khi cô ta đã nắm quyền kiểm soát. Anh biết đấy, chiếm hữu là mười phần của luật pháp.”

“Tôi biết chứ, nhưng hắn sẽ giả vờ như mình không hề có mặt ở đâu quanh đó vào thời điểm cô Dawson qua đời. Hắn tình cờ đọc được tin đó vài tuần trước trên một mẩu báo gói cá hồi, và giờ thì hắn đang vội vã trở về từ trang trại hẻo lánh ở xó xỉnh nào đó để tự xưng là Anh họ Tom thất lạc lâu ngày. . . . Ôi lạy Chúa! Chợt nhớ ra điều này.”

Hắn thọc tay vào túi và rút ra một bức thư.

“Thứ này đến sáng nay lúc tôi vừa chuẩn bị ra ngoài, và tôi gặp Freddy Arbuthnot ở trước cửa nên đút luôn vào túi mà chưa đọc kỹ. Nhưng tôi thực sự tin là trong thư có nhắc đến một người anh họ nào đó ở một xó xỉnh khỉ ho cò gáy nào đấy. Để xem nào.”

Hắn mở bức thư ra, được viết bằng nét chữ uốn lượn cổ điển của cô Climpson, và được trang hoàng bởi vô số những nét gạch chân cùng dấu chấm than đến mức trông giống như một bài tập về ký hiệu âm nhạc.

“Ôi trời!” Parker thốt lên.

“Ừ, tình hình còn tệ hơn bình thường phải không? — chắc chắn nó phải vô cùng khẩn cấp. May là nó tương đối ngắn.”

Lord Peter kính mến,

Sáng nay tôi vừa nghe được một điều CÓ THỂ rất hữu ích, nên tôi VỘI VÃ thông báo ngay!! Anh có nhớ tôi từng nhắc đến việc người hầu của bà Budge chính là EM GÁI của cô hầu gái hiện tại ở nhà cô Whittaker không? Chà!!! ĐÌNH CHÚC của hai cô gái này đã ghé qua thăm cô em gái bên nhà bà Budge chiều nay, và đã được giới thiệu với tôi — dĩ nhiên, với tư cách là một khách trọ tại nhà bà Budge, tôi đương nhiên trở thành tâm điểm chú ý của vùng — và, ghi nhớ những chỉ thị của anh, tôi đã khuyến khích điều này ở mức độ mà bình thường tôi sẽ không bao giờ làm!!

Xem ra người dì này rất quen thuộc với một cựu quản gia của cô Dawson — ý tôi là trước thời của mấy cô nhà Gotobed ấy. Người dì này là một người cực kỳ đáng kính với VẺ NGOÀI GÂY KẾP KINH! — đội một chiếc mũ chóp(!) và theo suy nghĩ của tôi, là một mụ đàn bà chuyên XÉT NÉT vô cùng khó chịu. Tuy nhiên! — Chúng tôi chuyển sang chuyện bàn về cái chết của cô Dawson, và người dì này — tên bà ta là Timmins — mím chặt môi lại và nói: “Không có vụ bê bối khó chịu nào có thể làm tôi ngạc nhiên về cái gia đình đó đâu, thưa cô Climpson. Họ có những mối quan hệ VÔ CÙNG BẤT HỢP VỆ SINH! Anh chị có nhớ không, bà Budge, rằng tôi đã thấy buộc phải rời đi sau sự xuất hiện của cái con người VÔ CÙNG KỲ DỊ tự xưng là họ hàng của cô Dawson.” Đương nhiên, tôi liền hỏi người đó là ai, vì trước giờ chưa từng nghe về bất kỳ người họ hàng nào khác! Bà ta bảo rằng kẻ đó, người mà bà ta miêu tả là một tên DA ĐEN BẨN THỈU đáng ghét(!!!) đã xuất hiện vào một buổi sáng, ăn vận như một MỤC SƯ(!) — và sai bà ta — cô Timmins — vào thông báo với cô Dawson rằng đó là Anh họ Hallelujah của bà ấy!!! Cô Timmins đã dẫn hắn lên lầu, dù rất không tự nguyện, mụ ta nói thế, bước vào căn phòng khách sạch sẽ, SẠCH SẼ! Cô Dawson, mụ ta kể, thực ra đã thân hành xuống gặp cái “sinh vật” này thay vì tống cổ hắn đi lo “việc đen tối” của hắn(!), và đỉnh điểm của sự bê bối là bà ta còn mời hắn ở lại ăn trưa! — “lại có cả cô cháu gái ở đó nữa chứ,” cô Timmins nói, và “cái tên da đen gớm ghiếc này cứ ĐẢO tròn mấy con mắt khủng bố nhìn cô bé.” Cô Timmins bảo rằng chuyện đó “làm cô ta lộn cả ruột gan” — đó là nguyên văn lời mụ ta, và tôi hy vọng anh sẽ châm chước — tôi hiểu rằng những bộ phận cơ thể này ngày nay thường xuyên được nhắc tới trong giới thượng lưu lịch sự(!) lịch sự đấy nhé. Thực tế là mụ ta đã từ chối nấu bữa trưa cho tên da đen tội nghiệp đó — (xét cho cùng, dẫu sao người da đen cũng là tạo vật của Chúa và tất cả chúng ta đều có thể da đen CHÍNH BẢN THÂN MÌNH nếu Ngài không vì lòng nhân từ vô biên mà ban cho chúng ta làn da trắng!!) — và bỏ thẳng ra khỏi nhà luôn!!! Thế nên thật không may là mụ ta không thể kể cho chúng ta thêm bất kỳ điều gì về sự kiện hy hữu này! Tuy nhiên, bà ta chắc chắn rằng tên “da đen” đó có mang theo một tấm danh thiếp, với cái tên “Mục sư H. Dawson” in trên đó, kèm theo một địa chỉ ở xứ sở xa xôi nào đó. Thật là kỳ lạ phải không, nhưng tôi tin rằng rất nhiều nhà truyền đạo bản địa được kêu gọi để làm những công việc tuyệt vời giữa đồng bào của họ, và chắc chắn một MỤC SƯ thì có quyền có danh thiếp chứ, ngay cả khi hắn ta da đen!!!

Vội vàng kính bút,

Thân ái,

A. K. Climpson.

“Chúa phù hộ cho tôi,” Lord Peter nói khi đã gỡ rối xong bức thư dài dòng này — “kìa người thừa kế của chúng ta đã xuất hiện sẵn sàng rồi kìa.”

“Với một bộ da đen đúa y như tâm can hắn, có vẻ là vậy,” Parker đáp. “Tôi tự hỏi vị Mục sư Hallelujah giờ đã dạt về đâu — và hắn từ đâu chui ra. Hắn — ừm — chắc không có tên trong cuốn ‘Crockford’ đâu nhỉ.”

“Chắc là có đấy, nếu hắn thuộc Giáo hội Anh,” Lord Peter nói với vẻ hoài nghi, vừa đứng dậy đi tìm cuốn sách tham khảo quý giá đó. “Dawson — Mục sư George, Mục sư Gordon, Mục sư Gurney, Mục sư Habbakuk, Mục sư Hadrian, Mục sư Hammond — không, chẳng có Mục sư Hallelujah nào cả. Tôi cứ sợ cái tên nghe không được chính thống cho lắm. Mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta có chút manh mối về việc vị quý ông này đến từ vùng nào trên thế giới. Từ ‘da đen’ qua miệng cô Timmins có thể ám chỉ bất cứ ai, từ một tu sĩ Bà-la-môn cao quý cho đến Sambo và Raustus ở rạp Coliseum — trong trường hợp bần cùng, thậm chí hắn có thể là một kẻ người Argentina hay người Eskimo.”

“Tôi đoán các giáo phái tôn giáo khác cũng có cuốn Crockford của riêng họ chứ nhỉ,” Parker gợi ý với chút hy vọng mong manh.

“Ừ, chắc chắn rồi — ngoại trừ có lẽ là những giáo phái mang tính độc quyền hơn — như phái Agapemonites và những kẻ chuyên tụ tập để tụng niệm OM. Có phải Voltaire là kẻ đã nói rằng người Anh có ba trăm sáu mươi lăm tôn giáo nhưng chỉ có đúng một loại sốt không?”

“Đánh giá qua mấy phiên tòa xét xử thời chiến,” Parker nói, “tôi cho rằng câu đó vẫn còn nói giảm nói tránh đấy. Rồi chưa kể đến nước Mỹ — một đất nước mà tôi được biết là cực kỳ dồi dào về các loại tôn giáo.”

“Quá chuẩn luôn. Đi mò một gã mục sư đơn độc trên đất Mỹ chẳng khác nào mò kim đáy bể. Dẫu vậy, chúng ta vẫn có thể tiến hành vài cuộc thăm dò kín đáo, và trong lúc này tôi sẽ lái chiếc xế hộp già khú đế này lướt tới Crofton đây.”

“Crofton ư?”

“Nơi cô Clara Whittaker và cô Dawson từng sinh sống. Tôi muốn đi tìm gã đàn ông mang chiếc túi xách đen nhỏ — viên luật sư kỳ lạ, đáng ngờ mà anh nhớ đấy, kẻ từng đến gặp cô Dawson hai năm trước và tỏ ra vô cùng sốt sắng giục bà ấy lập di chúc. Tôi láng mang tính rằng hắn biết tất cả những gì cần biết về Mục sư Hallelujah và yêu sách của lão ta. Anh có đi cùng không?”

“Không được — nếu không có sự cho phép đặc biệt. Anh biết tôi không chính thức tham gia vụ này mà.”

“Anh đang nhúng tay vào vụ Gotobed đấy thôi. Hãy báo với Sĩ quan Cảnh sát Trưởng rằng anh nghĩ chúng có liên quan với nhau. Tôi sẽ cần sự hiện diện kiềm chế của anh đấy. Chẳng có sức ép tầm thường nào ngoài lực lượng cảnh sát chính quy mới có thể khuất phục một tay luật sư gia đình khô khan chịu phun ra sự thật đâu.”

“Thôi được, tôi sẽ thử — nếu anh hứa lái xe với sự cẩn trọng hợp lý.”

“Dù anh có trinh bạch băng giá và có bằng lái trong trắng tựa tuyết ngà, anh cũng chẳng tài nào thoát khỏi lời vu khống đâu. Tôi không phải là một tay lái nguy hiểm. Nhanh lên và xin nghỉ phép đi nào. Sức mạnh mã lực trắng muốt đang sùi bọt mép và chiếc mũ xanh — trong trường hợp này là màu đen — theo mộth cách nói nào đó đã vượt biên giới rồi kìa.”

“Có ngày anh phóng xe hất tôi qua bên kia biên giới luôn cho mà xem,” Parker càu nhàu, rồi bước đi gọi điện cho Sir Andrew Mackenzie ở Scotland Yard.

Crofton là một ngôi làng cổ kính vô cùng xinh xắn nằm ẩn mình giữa mê cung những con đường nông thôn chằng chịt tạo nên tam giác với các đỉnh là Coventry, Warwick và Birmingham. Trong màn đêm buông xuống, “Mrs. Merdle” lướt đi một cách khéo léo quanh những khúc cua bị hàng rào che khuất tầm nhìn và dọc theo những con ngõ ngoằn ngoèo, hành trình tìm kiếm của họ chẳng dễ dàng gì khi Hội đồng hạt Warwick lại chọn đúng tuần đó để thực hiện một chiến dịch sơn lại các biển chỉ dẫn trên quy mô lớn, và vừa mới tiến hành đến giai đoạn phủ một lớp sơn trắng dày cộp sáng bóng lên toàn bộ các chữ cái. Thỉnh thoảng, anh chàng Bunter kiên nhẫn lại trèo ra từ ghế sau và leo lên một trong những cột chỉ đường kiệm lời ấy để dòm ngó bề mặt trống trơn của nó bằng một chiếc đèn pin — một quá trình gợi Parker nhớ đến nhân vật Alan Quartermain đang cố dò tìm các đường nét của những vị Vua quá cố xứ Kukuana dưới lớp vải liệm đá vôi của thạch nhũ. Một trong những chiếc cột hóa ra đang trong giai đoạn sơn còn ướt, điều này càng làm tăng thêm sự chán nản của nhóm người. Cuối cùng, sau bao phen nhầm đường, đâm vào ngõ cụt và phải lùi xe quay lại đường lớn, họ cũng đến được một ngã tư. Cột chỉ đường ở đây chắc chắn là cần được sửa chữa gấp, bởi vì các nhánh của nó đã bị tháo rỡ hoàn toàn; nó đứng đó, trơ trọi và ghê rợn — một ngón tay dài, tái ngợt giơ lên như một sự phản kháng điên cuồng trước bầu trời đầy dửng dưng.

“Trời bắt đầu mưa rồi đấy,” Parker nhận xét theo kiểu xã giao.

“Này Charles, nếu anh định giữ tinh thần vui vẻ và trở thành tâm hồn của chuyến thám hiểm này thì cứ nói toẹt ra một tiếng cho rồi. Tôi đang để sẵn một chiếc mỏ lết loại nặng ngay dưới ghế đây, và Bunter có thể giúp một tay để chôn cất cái xác đấy.”

“Tôi nghĩ đây chắc chắn là ngã tư Brushwood Cross,” Parker tiếp lời, tay đang đặt bản đồ trên đùi. “Nếu đúng là thế, và nếu đây không phải là khúc cua Covert Corner mà tôi tưởng chúng ta đã vượt qua từ nửa tiếng trước, thì một trong những con đường kia dẫn thẳng tới Crofton.”

“Điều đó sẽ vô cùng đáng khích lệ biết bao nếu chúng ta chịu biết mình đang đi trên con đường nào.”

“Chúng ta luôn có thể thử từng đường một, rồi quay lại nếu phát hiện ra đi nhầm hướng.”

“Người ta thường chôn những kẻ tự sát ở các ngã tư đấy,” Wimsey đáp lại với giọng đầy nguy hiểm.

“Có một người đang ngồi dưới gốc cây kìa,” Parker nói tiếp. “Chúng ta có thể hỏi anh ta.”

“Hắn ta cũng lạc đường rồi, bằng không thì chẳng đời nào lại ngồi lỳ ở đó,” người kia vặn lại. “Chẳng ai rảnh hơi ra ngồi phơi mưa cho vui cả.”

Vào khoảnh khắc đó, người đàn ông nhận thấy sự tiếp cận của họ liền đứng dậy, tiến ra đón với cánh tay giơ lên ra hiệu dừng xe.

Wimsey cho xe dừng hẳn lại.

“Xin lỗi,” người xa lạ lên tiếng, hóa ra lại là một thanh niên mặc đồ lái mô-tô, “nhưng các anh có thể giúp tôi một tay với chiếc xe được không?”

“Xe cậu bị sao thế?”

“Ừm, nó không chịu chạy.”

“Tôi đoán thế,” Wimsey nói. “Dù chẳng hiểu sao nó lại muốn nán lại một xó xỉnh thế này cơ chứ.” Hắn bước xuống xe, và cậu thanh niên liền chui đầu vào lùm cây, lôi “bệnh nhân” ra để kiểm tra.

“Cậu ngã ở đây hay dắt xe vào đây thế?” Wimsey hỏi, liếc nhìn chiếc xe với vẻ ghét bỏ.

“Tôi dắt vào đây đấy chứ. Tôi đạp cần khởi động cả tiếng đồng hồ rồi mà chẳng có gì xảy ra cả, thế nên tôi nghĩ thà ngồi đợi ai đó đi qua còn hơn.”

“Hiểu rồi. Chính xác thì nó bị bệnh gì?”

“Tôi không biết nữa. Nó đang chạy rất mượt thì bỗng nhiên lăn đùng ra chết máy.”

“Hết xăng à?”

“Ôi, không. Tôi chắc chắn trong bình còn đầy.”

“Bugi vẫn ổn chứ?”

“Tôi không biết.” Cậu thanh niên tỏ ra bối rối. “Các anh thấy đấy, đây mới là lần thứ hai tôi lái xe ra đường.”

“Ồ! Chà — chắc không có lỗi gì lớn đâu. Trước tiên chúng ta cứ kiểm tra cho chắc về lượng xăng đã,” Wimsey nói với vẻ phấn chấn hơn. Hắn vặn mở nắp bình xăng và rọi đèn pin vào bên trong bình. “Trông có vẻ ổn.” Hắn lại cúi người xuống, vừa huýt sáo vừa vặn lại nắp bình. “Cứ thử đạp thêm phát nữa xem vận may thế nào, rồi tính tiếp đến bugi.”

Cậu thanh niên, được cổ vũ như vậy, liền nắm lấy tay lái, dồn hết năng lượng của sự tuyệt vọng tung ra một cú đạp đủ sức làm hài lòng một con la trong quân đội. Động cơ gầm lên một tiếng sống động trong cơn cuồng nộ rung chuyển, rú lên đến xé lòng.

“Lạy Chúa!” cậu thanh niên thốt lên, “đúng là phép màu.”

Lord Peter nhẹ nhàng đặt tay lên cần ga và tiếng gầm đinh tai nhức óc dịu lại thành một tiếng gừ thỏa mãn.

“Anh vừa làm gì với nó thế?” cậu thanh niên giật mình hỏi.

“Thổi một hơi qua nắp bình xăng thôi,” ngài huênh hoang cười đáp. “Bị tắc khí trong đường dẫn nhiên liệu ấy mà, anh bạn trẻ.”

“Tôi thực sự biết ơn lắm lắm.”

“Không có gì. Này, cậu có thể chỉ đường cho chúng tôi tới Crofton được không?”

“Chắc chắn rồi. Cứ đi thẳng đường này. Thực ra tôi cũng đang định đến đó đây.”

“Tạ ơn trời đất. Cứ dẫn đường và tôi sẽ theo sau, như lời hiệp sĩ Galahad đã nói. Bao xa vậy?”

“Năm dặm.”

“Có quán trọ nào tươm tất không?”

“Bố tôi làm chủ quán ‘Fox-and-Hounds’. Ở đó được chứ nhỉ? Chúng tôi sẽ đãi các anh những món ăn vô cùng thịnh soạn.”

“Nỗi buồn tan biến, nhọc nhằn chấm dứt, sông Jordan đã qua. Biến đi thôi cậu thanh niên. Không, Charles, tôi sẽ không đợi anh mặc áo Burberry vào đâu. Lưng và sườn cứ để trần, cứ để trần, tay và chân cứ lạnh cóng, miễn là thần dạ dày ban cho chúng ta đủ bia ngon, dù là bia mới hay bia cũ.”

Bộ khởi động vo ve — cậu thanh niên leo lên xe và dẫn đầu chạy xuống ngõ sau một cú lạng tay đáng sợ — Wimsey cài côn và bám sát phía sau.

Quán trọ “Fox-and-Hounds” hóa ra là một trong những quán trọ mang phong cách cổ điển, dễ chịu, nơi mọi thứ đều được bọc nệm bằng lông ngựa và không bao giờ là quá muộn để thưởng thức một bữa ăn ngon gồm thịt thăn bò nướng lạnh cùng món salad nhà trồng. Bà chủ quán, bà Piggin, trực tiếp phục vụ những vị khách du lịch. Bà mặc một chiếc váy satin đen lịch sự và để mái tóc uốn xoăn theo mốt được Hoàng gia ưa chuộng. Khuôn mặt tròn trịa, vui tươi của bà ứng hồng dưới ánh lửa sưởi, trông như đang phản chiếu sự rạng rỡ của những thợ săn mặc áo đỏ đang phi nước đại, vượt rào và ngã nhào trên mọi bức tường thông qua một loạt tranh in thể thao. Tâm trạng của Lord Peter dịu lại dưới bầu không khí đó và thứ bia tuyệt hảo của quán, và thông qua một loạt câu hỏi hướng về mùa săn bắn vừa mới kết thúc, những gia đình lân cận cùng giá cược ngựa, hắn khéo léo lái câu chuyện chuyển sang chủ đề về cố cô Clara Whittaker.

“Ôi trời, vâng,” bà Piggin nói, “chắc chắn rồi, chúng tôi biết cô Whittaker chứ. Ai ở vùng này mà chẳng biết bà ấy. Một cụ già thật tuyệt vời. Vẫn còn rất nhiều ngựa của bà ấy ở vùng này đấy. Ông Cleveland đã mua phần lớn số gia súc đó, và đang phất lên nhờ chúng. Bà ấy gây giống được những con vật thuần chủng tuyệt vời, và mọi người vẫn thường nói bà là một phụ nữ có con mắt đánh giá vô cùng tinh tường về ngựa — hay thậm chí cả con người nữa. Chẳng ai có thể qua mặt được bà ấy lần thứ hai, và rất ít kẻ làm được ngay cả lần đầu.”

“À!” Lord Peter gật gù thông thái.

“Tôi nhớ rõ lắm, bà ấy vẫn tham gia cưỡi ngựa săn khi đã hơn sáu mươi tuổi,” bà Piggin kể tiếp, “và bà ấy cũng chẳng phải là tuýp người chờ đợi có khoảng hở mới dám xông lên đâu. Còn cô Dawson — người bạn sống chung với bà ấy — ở trang trại Manor phía bên kia cây cầu đá — thì có vẻ rụt rè hơn. Cô ấy thường đi đường vòng qua cổng, và chúng tôi hay nói đùa rằng nếu không vì quá quyến luyến cô Whittaker và không muốn rời xa mắt bà ấy nửa bước thì chắc cô ấy chẳng bao giờ thèm cưỡi ngựa đâu. Nhưng mà này, chúng ta đâu thể giống nhau được hết phải không thưa ngài? — và cô Whittaker quả thực là một người độc nhất vô nhị. Giờ làm gì còn ai được như bà ấy nữa. Không phải là những cô gái hiện đại ngày nay không giỏi xông pha đâu nhé, rất nhiều cô làm đủ thứ chuyện mà thời xưa sẽ bị coi là hư hỏng đua đòi, nhưng cô Whittaker còn có cả kiến thức uyên bác nữa cơ. Tự tay mua ngựa, chữa bệnh cho chúng, tự tay nhân giống mà chẳng cần xin lời khuyên của bất kỳ ai.”

“Nghe có vẻ là một cụ già tuyệt vời đấy chứ,” Wimsey hào hứng nói. “Tôi rất ước gì được quen biết bà ấy. Tôi có vài người bạn biết rất rõ về cô Dawson — khi cô ấy còn sống ở Hampshire cơ.”

“Thật thế không thưa ngài? Chà, lạ thật đấy nhỉ? Bà ấy là một người rất tử tế và tốt bụng. Chúng tôi nghe tin bà ấy cũng qua đời rồi. Có phải vì căn bệnh ung thư quái ác đó không? Thật là kinh khủng, tội nghiệp linh hồn xấu số. Và nghĩ đến việc ngài lại có quen biết với bà ấy qua lại như vậy đấy. Tôi đoán là ngài sẽ có hứng thú với vài bức ảnh về Cuộc săn Crofton của chúng tôi đấy. Jim?”

“Gì thế!”

“Mang ra đây cho các vị khách này xem mấy bức ảnh chụp cô Whittaker và cô Dawson đi. Họ quen biết với vài người bạn của cô Dawson dưới tận Hampshire đấy. Xin mời các vị bước lối này — nếu các ngài chắc chắn không dùng thêm gì nữa.”

Bes Piggin dẫn đường vào một quán bar riêng tư ấm cúng, nơi một số quý ông có dáng vẻ của thợ săn đang thưởng thức ly rượu cuối cùng trước giờ đóng cửa. Piggin, mập mạp và niềm nở y như vợ mình, bước lên để làm thủ tục tiếp đón.

“Các ngài dùng gì nào? — Joe, hai cốc bia mùa đông. Và nghĩ đến việc các ngài lại quen biết cô Dawson của chúng tôi chứ lị. Ôi chà, thế giới này quả thật nhỏ bé hệt như tôi hay nói với vợ mình vậy. Đây là bức ảnh chụp chung cuối cùng của họ, được chụp khi buổi tập trung săn bắn diễn ra tại Manor vào năm 1918. Dĩ nhiên các ngài cũng hiểu đấy, đó không phải là một buổi săn chính thức thường lệ, bởi vì vướng Chiến tranh và các quý ông đều vắng mặt cả, ngựa cũng vậy — chúng tôi không thể duy trì mọi thứ đều đặn như thời xưa được. Nhưng xét thấy lũ cáo ngày càng sinh sôi nhiều khủng khiếp, và bầy chó săn thì sắp tàn lụi cả lũ — ha! ha! — đó là điều tôi vẫn hay nói ở quầy bar này — đám chó săn đang xuống dốc thê thảm, tôi bảo thế. Rất hay ho, họ thường nghĩ thế đấy. Khối vị từng phì cười khi nghe tôi nói câu đó — lũ chó săn, tôi bảo thế, đang xuống dốc —

thôi thì như tôi vừa nói đấy, Đại tá Fletcher cùng vài vị cao niên lên tiếng, chúng ta phải tìm cách duy trì bằng được chứ, thế là họ tổ chức một vài buổi tụ họp ngẫu hứng như các ngài có thể gọi là thế, chỉ để ngăn bầy chó săn khỏi tan rã mà thôi. Và cô Whittaker liền bảo: ‘Hãy tổ chức buổi tập trung ở Manor đi Đại tá,’ bà ấy nói, ‘có lẽ đây là buổi tụ họp cuối cùng tôi còn được thấy.’ Và đúng là như vậy thật, tội nghiệp cụ bà, vì cụ đã bị đột quỵ vào dịp Năm mới. Bà mất năm 1922. Đó chính là bà ấy, đang ngồi trên chiếc xe ngựa kéo và cô Dawson ngồi ngay bên cạnh. Dĩ nhiên, cô Whittaker đã phải gác lại việc cưỡi ngựa săn từ vài năm trước đó. Bà đã có tuổi, nhưng vẫn luôn đi theo bằng xe ngựa kéo cho đến tận phút cuối cùng. Trông cụ già đường bệ lắm phải không thưa ngài?”

Lord Peter và Parker ngắm nhìn với sự hứng thú không nhỏ đối với cụ bà có vẻ ngoài khá nghiêm nghị đang ngồi thẳng lưng một cách cứng nhắc với dây cương trong tay. Một gương mặt già cỗi, khắc khổ vì sương gió, nhưng chắc chắn vẫn vô cùng đường bệ với chiếc mũi lớn cùng đôi lông mày rậm thẳng tắp. Và ngay bên cạnh bà, thấp người hơn, tròn trịa và nữ tính hơn, chính là Agatha Dawson — người phụ nữ có cái chết kỳ lạ đã dẫn đường họ đến chốn đồng quê yên bình này. Bà có một khuôn mặt hiền từ, mỉm cười — ít mang tính thống trị hơn người bạn đáng sợ của mình, nhưng lại tràn đầy khí chất và cá tính. Không còn nghi ngờ gì nữa, họ từng là một cặp cụ già vô cùng đặc biệt.

Lord Peter hỏi thăm vài câu về gia đình.

“Thưa ngài, tôi không dám chắc mình biết nhiều về chuyện đó. Chúng tôi vẫn luôn hiểu rằng cô Whittaker từng có điều mâu thuẫn với gia đình vì quyết định đến đây và tự lập một cơ nghiệp riêng. Thời đó việc phụ nữ rời khỏi nhà không phải là chuyện phổ biến như bây giờ. Nhưng nếu ngài đặc biệt quan tâm, thưa ngài, ở đây có một cụ ông có thể kể cho ngài nghe tất cả mọi chuyện về nhà Whittaker lẫn nhà Dawson, đó chính là Ben Cobling. Cụ ấy từng là người dắt ngựa cho cô Whittaker suốt bốn mươi năm, và cụ đã kết hôn với cô hầu gái của cô Dawson theo hầu từ Norfolk tới đây. Tròn tám mươi sáu tuổi vào dịp sinh nhật vừa rồi, nhưng cụ vẫn là một lão ông tuyệt vời. Ở vùng này chúng tôi rất kính trọng Ben Cobling. Hai vợ chồng cụ sống trong ngôi nhà nhỏ mà cô Whittaker để lại cho họ khi qua đời. Nếu ngày mai ngài muốn ghé qua thăm họ, thưa ngài, ngài sẽ thấy trí nhớ của cụ Ben vẫn nhạy bén chẳng kém gì xưa kia đâu. Xin phép ngài, đã đến giờ rồi. Tôi phải mời họ ra khỏi quán thôi. — Thưa các vị, đến giờ đóng cửa rồi! Ba xu tám xu, thưa ngài, cảm ơn ngài. Nhanh lên nào các vị ơi. Nào Joe, khẩn trương lên chứ.”

“Quả là một nơi tuyệt vời, Crofton,” Lord Peter lên tiếng khi anh và Parker chỉ còn lại một mình trong căn phòng ngủ rộng rãi, trần thấp, nơi những chiếc khăn giường thoang thoảng hương hoa oải hương. “Ben Cobling chắc chắn sẽ biết tường tận về vụ Mục sư Hallelujah. Tôi đang rất mong chờ được gặp Ben Cobling đây.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.