Cái Chết Bất Thường

Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
Thi Thể Được Tìm Thấy

❊ ❊ ❊

“Dầu dắt tâm tư dẫu ngủ vùi,

Máu đào nào dễ chảy suông xuôi.”

Chapman, Nước mắt người góa phụ

“Anh biết không, Wimsey, tôi nghĩ cậu vừa mò trúng tổ tò vò đấy,” ngài Parker phản đối. “Tôi không tin là có chút lý do nào để cho rằng cái chết của người đàn bà tên Dawson có gì là mờ ám cả. Cậu chẳng có gì trong tay ngoài ý kiến của một tay bác sĩ trẻ kiêu ngạo cùng mấy lời đồn đại vớ vẩn.”

“Anh mang tư duy của một viên chức nhà nước, Charles,” người bạn đáp lại. “Niềm đam mê bằng chứng mang tính công quyền đang dần gặm nhấm trí tuệ xuất chúng của anh và bóp nghẹt bản năng của anh mất rồi. Anh bị hiện đại hóa quá mức, rắc rối của anh nằm ở đó đấy. So với anh, tôi đúng là một đứa con của tự nhiên. Tôi sống giữa những lối mòn hoang vắng bên những nguồn suộc của dòng Dove, một thiếu nữ mà (tôi rất lấy làm tiếc phải nói rằng) có rất ít người ca ngợi, cũng như rất ít người yêu thương, điều đó có lẽ cũng tốt thôi. Tôi biết có điều gì đó không ổn trong vụ án này.”

“Bằng cách nào?”

“Bằng cách nào ư?—thì, cũng giống như cách tôi biết có điều gì đó không ổn với chai rượu Lafite ’76 nổi tiếng mà cái tên khốn Pettigrew-Robinson đó đã cả gan đem ra mời tôi tối hôm nọ. Nó có một vị khó chịu.”

“Mặc xó cái vị ấy đi. Chẳng có dấu hiệu nào của bạo lực hay thuốc độc cả. Cũng chẳng có động cơ nào để ra tay sát hại cụ già đó. Và hoàn toàn không có khả năng chứng minh bất cứ điều gì chống lại bất kỳ ai.”

Lord Peter chọn một điếu xì gà Villar y Villar từ trong hộp, rồi châm lửa một cách đầy nghệ thuật.

45

“Này nhé,” anh nói, “anh có dám cá về việc này không? Tôi chấp anh mười ăn một rằng Agatha Dawson đã bị sát hại, hai mươi ăn một rằng Mary Whittaker chính là thủ phạm, và năm mươi ăn một rằng tôi sẽ lôi cổ được ả ra ánh sáng trong vòng một năm tới. Anh có dám chơi không?”

Parker cười lớn. “Tôi là một kẻ nghèo túng, thưa Tệ hạ,” anh lảng tránh.

“Thấy chưa,” Lord Peter đắc thắng nói, “bản thân anh cũng thấy lăn tăn còn gì. Nếu anh chắc chắn, anh đã phải nói rằng, ‘Cậu đang vứt tiền qua cửa sổ đấy, anh bạn già ạ,’ và nhận lời ngay tắp lự với niềm hy vọng tràn trề vào một thắng lợi chắc mẩm rồi.”

“Tôi đã chứng kiến đủ nhiều để biết rằng chẳng có gì là chắc chắn cả,” viên thám tử vặn lại, “nhưng tôi sẽ cá với cậu—bằng—những đồng nửa vương miện vậy,” anh nói thêm đầy thận trọng.

“Nếu anh nói là những cọc tiền lớn,” Lord Peter đáp, “thì tôi đã cân nhắc cái sự nghèo khó mà anh hay than vãn để tha cho anh rồi, nhưng bảy shilling sáu xu thì chẳng thể khiến anh giàu lên hay nghèo đi được đâu. Do đó, tôi sẽ tiến hành chứng minh những gì mình nói là đúng.”

“Và anh định thực hiện bước đi nào?” Parker hỏi với giọng mỉa mai. “Anh định nộp đơn xin khai quật tử thi và lùng sục tìm thuốc độc, phớt lờ cả báo cáo của nhà phân tích chắc? Hay là bắt cóc cô Whittaker và dùng cực hình theo kiểu người Gaul?”

“Không đời nào. Tôi hiện đại hơn thế. Tôi sẽ sử dụng các phương pháp tâm lý học tân tiến. Giống như những người trong Kinh thánh, tôi giăng bẫy; tôi bắt con người ta. Tôi sẽ để cho kẻ tình nghi tự tố cáo chính mình.”

“Thôi đi! Cậu đúng là một kẻ độc nhất vô nhị phải không?” Parker chế giễu.

“Quả thực là vậy. Đó là một sự thật tâm lý đã được khẳng định rằng tội phạm không bao giờ biết buông tha cho những việc đang yên đang lành. Bọn chúng—”

“Lại quay lại hiện trường vụ án à?”

“Đừng có ngắt lời, đồ khốn. Bọn chúng làm những việc thừa thãi để xóa dấu vết mà thực ra chúng có để lại đâu, và nhờ thế, chúng lần lượt rước lấy Sự nghi ngờ, Cuộc điều tra, Bằng chứng, Sự kết tội và Giá treo cổ. Những nhà văn pháp lý lỗi lạc—không, xin hãy khoan! Đừng có ném cái cuốn Thánh Augustine đó đi, nó quý giá lắm. Dù sao đi nữa, để không phí phạm những lời lẽ vàng ngọc của mình vào chỗ vô ích, tôi dự định sẽ đăng mẩu quảng cáo này lên tất cả các tờ báo buổi sáng. Chắc là cô Whittaker cũng phải đọc sản phẩm nào đó từ thời đại báo chí rực rỡ của chúng ta chứ. Bằng cách này, chúng ta sẽ một mũi tên trúng hai đích.”

46

“Ý cậu là đánh động hai con thỏ cùng một lúc chứ gì,” Parker càu nhàu. “Đưa đây nào.”

“Bertha và Evelyn Gotobed, trước đây từng làm việc cho cô Agatha Dawson, ở dinh thự ‘The Grove’, Đại lộ Wellington, Leahampton, được yêu cầu liên hệ với J. Murbles, luật sư, tại Staple Inn, để nhận được MỘT TIN VUI CÓ LỢI CHO HỌ.”

“Khá được đấy chứ, anh nghĩ sao?” Wimsey nói. “Đủ sức khơi gợi sự nghi ngờ trong cả những tâm trí ngây thơ nhất. Tôi cá là Mary Whittaker sẽ sập bẫy này cho mà xem.”

“Bằng cách nào?”

“Tôi không biết. Đó mới là điều thú vị chứ. Tôi chỉ mong không có chuyện gì tồi tệ xảy ra với cụ Murbles đáng mến. Tôi sẽ buồn lắm nếu mất cụ ấy. Cụ đúng là mẫu mực kinh điển của một luật sư gia đình. Dù sao thì, một người hành nghề này cũng phải sẵn sàng chấp nhận rủi ro chứ.”

“Ôi, nhảm nhí!” Parker nói. “Nhưng tôi đồng ý rằng việc tìm gặp hai cô hầu gái đó có lẽ cũng hữu ích, nếu cậu thực sự muốn tìm hiểu về gia đình Dawson. Lũ gia nhân lúc nào cũng biết tuốt mọi chuyện mà.”p>

“Đâu chỉ có thế. Anh không nhớ điều Y tá Philliter đã nói sao, rằng hai cô hầu gái đó đã bị sa thải ngay trước khi bà ấy nghỉ việc hay sao? Giờ thì, bỏ qua những hoàn cảnh kỳ lạ trong chính vụ sa thải của cô y tá—câu chuyện về việc cô Dawson từ chối nhận thức ăn từ tay cô ấy, điều mà hoàn toàn không đúng với thái độ của cụ già dành cho y tá của mình—chẳng phải rất đáng xem xét hay sao khi hai cô gái này lại bị tống cổ đi với một cái cớ nào đó chỉ khoảng ba tuần sau một trong những cơn kịch phát cuồng loạn của cô Dawson hay sao? Trông chẳng phải giống như thể tất cả những ai có khả năng nhớ bất cứ điều gì về sự việc cụ thể đó đều đã bị dọn đường cho biến mất rồi sao?”

“Thì, cũng có một lý do chính đáng để tống khứ hai cô hầu gái đó chứ.”

47

“Đồ gốm vỡ ư?—thì, thời buổi này đâu có dễ gì tìm được người hầu giỏi. Các bà chủ phải chịu đựng sự bất cẩn nhiều hơn hẳn so với những ngày tháng tốt đẹp đã qua không bao giờ trở lại. Rồi, về cái cơn phát bệnh đó nhé. Tại sao cô Whittaker lại chọn đúng cái khoảnh khắc mà cô y tá thông minh xuất chúng Philliter đi dạo để làm phiền cô Dawson về việc ký kết cái hợp đồng thuê nhà phiền phức nào đó chứ? Nếu việc kinh doanh có khả năng làm cụ già chao đảo, sao lại không có một người có năng lực túc trực bên cạnh để trấn an cụ cơ chứ?”

“Ơ hay, nhưng cô Whittaker là một y tá được đào tạo bài bản mà. Chắc chắn cô ta đủ năng lực để tự mình chăm sóc cho người dì chứ.”

“Tôi hoàn toàn chắc chắn cô ta thực sự là một người rất có năng lực,” Wimsey nhấn mạnh.

“Thôi được rồi. Cậu có thành kiến. Nhưng cứ đăng mẩu quảng cáo đó lên đi tùy cậu. Nó chẳng thể gây hại gì đâu.”

Lord Peter khựng lại ngay giữa động tác bấm chuông. Quai hàm anh lỏng ra, khiến khuôn mặt dài và hẹp của anh mang vẻ ngớ ngẩn và ngập ngừng thoắt ẩn thoắt hiện, gợi nhớ đến các nam chính trong tiểu thuyết của P. G. Wodehouse.

“Cậu không nghĩ là—” anh bắt đầu. “Ôi! vớ vẩn!” Anh ấn nút chuông. “Nó chẳng thể gây hại gì, như cậu nói đấy. Bunter, hãy đảm bảo mẩu quảng cáo này xuất hiện trên mục nhắn tin cá nhân của tất cả các tờ báo trong danh sách này, mỗi ngày cho đến khi có thông báo mới.”

Mẩu quảng cáo xuất hiện lần đầu tiên vào sáng thứ Ba. Không có gì đáng chú ý xảy ra trong suốt tuần đó, ngoại trừ việc cô Climpson viết thư tỏ vẻ phiền muộn khi cho biết cô Findlater út cuối cùng đã thành công trong việc thuyết phục cô Whittaker tiến hành các bước cụ thể đối với trang trại gia cầm. Họ đã cùng nhau đi xem một cơ ngơi kinh doanh mà họ thấy quảng cáo trên tờ Poultry News, và dự định vắng mặt trong vài tuần. Cô Climpson e rằng trong hoàn cảnh này cô sẽ không thể tiếp tục bất kỳ cuộc điều tra nào đủ tầm quan trọng để xứng đáng với mức lương hậu h hĩnh mà cô được nhận. Tuy nhiên, cô đã trở nên thân thiết với cô Findlater, người đã hứa sẽ kể cho cô nghe mọi việc họ làm. Lord Peter đáp lại bằng những lời trấn an.

Vào thứ Ba tuần tiếp theo, ngài Parker đang chật vật cầu xin bà lao công của mình—người có cái thói quen đáng ghét là luộc mấy con cá trích ăn sáng cho đến khi chúng trông giống như những miếng bọt biển ngâm muối đậm đặc—thì chiếc điện thoại reo lên đầy hung hăng.

48

“Đấy có phải anh đấy không, Charles?” giọng Lord Peter vang lên. “Này, Murbles vừa nhận được một thư về cô gái đó, Bertha Gotobed. Cô ta đã biến mất khỏi phòng trọ vào thứ Năm tuần trước, và bà chủ nhà trọ, bắt đầu thấy lo lắng và đã nhìn thấy mẩu quảng cáo, đang đến để kể cho chúng ta mọi chuyện bà ấy biết. Anh có thể qua Staple Inn lúc mười một giờ được không?”

“Không biết,” Parker đáp với vẻ hơi bực bội. “Tôi có việc phải giải quyết. Chắc chắn là cậu có thể tự mình xoay xở được mà.”p>

“Ôi, được chứ!” Giọng nói tỏ vẻ cáu kỉnh. “Nhưng tôi cứ nghĩ anh sẽ muốn hưởng chút niềm vui chứ. Cậu đúng là một tên vô ơn tồi tệ. Cậu chẳng thèm mảy may hứng thú với vụ án này tẹo nào cả.”

“Thì—tôi có tin vào nó đâu cơ chứ. Thôi được rồi—đừng có dùng thứ ngôn ngữ kiểu đó—cậu sẽ làm cô nhân viên tổng đài sợ chết khiếp đấy. Tôi sẽ xem mình có thể làm gì. Mười một giờ à?—được rồi!—Ơ này!”

“Tút!” tiếng điện thoại kêu.

“Cúp máy rồi,” Parker bực bội lẩm bẩm. “Bertha Gotobed. Hừm! Tôi dám cá là—”

Anh với tay sang bàn ăn lấy tờ Daily Yell đang được dựng vào hũ mứt cam, rồi bĩu môi đọc một đoạn tin với dòng tít in đậm cỡ lớn đã đập vào mắt anh ngay trước lúc xảy ra vụ gián đoạn món cá trích.

“NIPPY” ĐƯỢC TÌM THẤY ĐÃ CHẾT

TRONG RỪNG EPPING

—

Tờ 5 Bảng trong túi xách.

—

Anh nhấc ống nghe lên lần nữa và gọi đến số của Wimsey. Người hầu nam trả lời anh.

“Thưa ngài, ngài chủ đang tắm ạ. Tôi nối máy cho ngài nhé?”

“Làm ơn,” Parker nói.

Điện thoại lại kêu tút tút. Chẳng mấy chốc, giọng Lord Peter vang lên mơ hồ, “Alo!”

“Bà chủ nhà trọ có nhắc đến việc Bertha Gotobed làm việc ở đâu không?”

49

“Có—cô ta là nhân viên phục vụ tại Corner House. Sao bỗng dưng anh lại hứng thú thế nhỉ? Anh hắt hủi tôi khi tôi ở trên giường, nhưng lại ve vãn tôi lúc tôi đang tắm. Nghe giống như một bài hát quán tạp kỹ loại xoàng ấy nhỉ. Tại sao, ôi tại sao cơ chứ?”

“Anh không đọc báo à?”

“Không. Tôi để dành những trò nhảm nhí đó đến giờ ăn sáng. Có chuyện gì thế? Chúng ta bị điều đi Thượng Hải à? Hay họ vừa giảm sáu xu tiền thuế thu nhập vậy?”

“Im đi, đồ ngốc, chuyện nghiêm túc đấy. Anh muộn mất rồi.”

“Về việc gì?”

“Bertha Gotobed được tìm thấy đã chết trong rừng Epping sáng nay.”

“Lạy Chúa! Chết ư? Bằng cách nào? Do cái gì?”

“Chịu. Trúng độc hay gì đó đi. Hoặc suy tim. Không có dấu hiệu bạo lực. Không bị cướp. Không có manh mối. Tôi đang định tới Sở Cảnh sát đây.”

“Chúa tha tội cho tôi, Charles. Anh biết không, tôi đã có một cảm giác tồi tệ thế nào khi anh bảo mẩu quảng cáo đó chẳng gây hại gì. Chết rồi. Tội nghiệp cô gái! Charles, tôi thấy mình giống như một kẻ sát nhân quá. Ôi, khỉ thật! Mà người tôi lại đang ướt sũng nữa chứ. Nó cứ khiến người ta cảm thấy bất lực thế nào ấy chứ. Này, anh phóng mau đến Sở Cảnh sát và kể cho họ những gì anh biết đi, tôi sẽ nhập bọn với anh ở đó trong chớp mắt. Dù sao thì, bây giờ cũng chẳng còn nghi ngờ gì nữa rồi.”

“Ơ nhưng mà, nghe này. Có thể là một chuyện hoàn toàn khác thì sao. Chẳng dính dáng gì đến mẩu quảng cáo của cậu cả.”

“Lợn cũng bay được nữa là. Dùng cái sự khôn ngoan thông thường của anh đi chứ. Ơ này! Và này Charles, có nhắc gì đến người em gái không?”

“Có. Có một bức thư của cô ta trên thi thể, nhờ đó họ nhận dạng được. Cô ta đã kết hôn vào tháng trước và sang Canada rồi.”

“Thế thì cứu được mạng cô ta rồi đấy. Cô ta sẽ gặp nguy hiểm tột độ nếu quay trở lại. Chúng ta phải tìm cho bằng được cô ta và cảnh báo cô ấy. Rồi tìm hiểu xem cô ta biết những gì. Tạm biệt. Tôi phải mặc quần áo vào đã. Ôi, chết tiệt!”

Tút! Đầu dây lại im bặt, và ngài Parker, bỏ dở đĩa cá trích mà chẳng mảy may tiếc nuối, hớt hải chạy hộc tốc khỏi nhà, rẽ qua phố Lamb’s Conduit để bắt chuyến xe điện đi đến Westminster.

50

Cảnh sát trưởng Scotland Yard, Sir Andrew Mackenzie, là một người bạn rất thân của Lord Peter. Ông tiếp đón vị công tử đang bấn loạn nọ một cách niềm nở và chăm chú lắng nghe câu chuyện có phần rắc rối của anh về bệnh ung thư, di chúc, những tay luật sư bí ẩn và các mẩu quảng cáo trên mục nhắn tin tìm người.

“Đó là một sự trùng hợp kỳ lạ,” ông nhún nhường nói, “và tôi có thể hiểu tại sao cậu lại cảm thấy khó chịu về nó. Nhưng cậu có thể yên tâm được rồi. Tôi có báo cáo của bác sĩ pháp y đây, và ông ấy hoàn toàn tin rằng cái chết đó là hoàn toàn tự nhiên. Không hề có bất kỳ dấu hiệu xô xát nào. Tất nhiên họ sẽ tiến hành khám nghiệm, nhưng tôi không nghĩ có chút lý do nào để nghi ngờ có án mạng cả.”

“Nhưng cô ta làm gì ở tận rừng Epping chứ?”

Sir Andrew nhẹ nhàng nhún vai.

“Điều đó tất nhiên phải được điều tra rõ. Dù sao thì—giới trẻ hay lang thang lắm, cậu biết đấy. Đâu đó có một vị hôn phu. Hình như làm việc gì đó liên quan đến đường sắt. Collins đã xuống đó để phỏng vấn cậu ta rồi. Hoặc có thể cô ấy đi cùng một người bạn nào đó thì sao.”

“Nhưng nếu cái chết là tự nhiên, thì chẳng lẽ lại có ai bỏ mặc một cô gái đang ốm đau hoặc hấp hối như thế ư?”

“Cậu thì không đời nào làm thế rồi. Nhưng giả sử có chút đùa giỡn chạy nhảy nào đó—vài trò đùa nghịch—và cô gái ngã vật xuống chết, như những trường hợp bệnh tim thỉnh thoảng vẫn xảy ra. Người đi cùng rất có thể đã hoảng sợ và chuồn mất. Không phải là chưa từng có tiền lệ đâu.”

Lord Peter trông có vẻ chưa bị thuyết phục.

“Cô ta chết lâu chưa?”

“Khoảng năm hoặc sáu ngày, người của chúng tôi cho là vậy. Việc tìm thấy cô ta lúc này hoàn toàn là nhờ tình cờ thôi; đó là một khu vực rất hẻo lánh trong rừng. Một nhóm thanh niên đang đi khám phá cùng mấy con chó sục, và một trong những con chó đã ngửi thấy mùi và sục ra thi thể.”

“Nó nằm ở nơi quang đãng à?”p>

“Không hẳn. Nó nằm giữa mấy bụi cây—kiểu nơi mà một cặp đôi trẻ thích đùa nghịch có thể lui tới để chơi trốn tìm.”

“Hoặc nơi một kẻ sát nhân lui tới để chơi trốn tìm và mặc cho cảnh sát đi tìm,” Wimsey nói.

51

“Thôi nào, thôi nào. Tùy cậu nghĩ thế nào cũng được,” Sir Andrew mỉm cười nói. “Nếu đó là án mạng, thì chắc chắn phải là một vụ đầu độc, vì, như tôi đã nói, hoàn toàn không có dấu hiệu nhỏ nhất nào của vết thương hay cuộc vật lộn cả. Tôi sẽ gửi cho cậu báo cáo khám nghiệm tử thi. Trong lúc này, nếu cậu muốn xuống dưới đó cùng Thanh tra Parker, tất nhiên cậu có thể sử dụng bất kỳ phương tiện hỗ trợ nào cậu muốn. Và nếu cậu phát hiện ra điều gì, hãy cho tôi biết nhé.”

Wimsey cảm ơn ông, rồi kéo Parker từ căn phòng bên cạnh ra, nhanh chóng rảo bước dọc hành lang.

“Tôi không thích điều này chút nào,” anh nói, “tức là, tất nhiên, thật đáng mừng khi biết rằng những bước đi đầu tiên của chúng ta trong lĩnh vực tâm lý học đã dẫn đến hành động, có thể nói là thế, nhưng tôi cầu Chúa là nó đừng mang tính quyết định đến thế. Tốt hơn hết là chúng ta nên phóng thẳng tới Epping ngay lập tức, rồi gặp bà chủ nhà trọ sau. Nhân tiện, tôi vừa tậu một chiếc xe hơi mới, anh sẽ thích nó cho mà xem.”

Ngài Parker liếc nhìn con quái vật màu đen tuyền với phần thân dài sắc sảo cùng cặp ống xả kép bằng đồng đánh bóng, và ngay lập tức quyết định rằng hy vọng duy nhất để đến Epping mà không gặp rắc rối chính là trông thật ra dáng quan chức và vẫy cái thẻ cảnh sát của mình trước mắt mọi tên cảnh sát mặc đồng phục dọc đường. Anh tự nhét mình vào ghế ngồi mà không một lời phàn nàn, và còn cảm thấy hoảng hốt hơn là nhẹ nhõm khi thấy chiếc xe vọt lên vượt qua dòng xe cộ—không phải với tiếng gầm rú đinh tai nhức óc của động cơ xe đua thông thường, mà là trong một sự im lặng mượt mà đến kỳ quái.

“Dòng Daimler Twin-Six mới đấy,” Lord Peter vừa nói vừa khéo léo lướt vòng qua một chiếc xe tải mà dường như chẳng thèm nhìn đến nó. “Trang bị thân xe đua. Được chế tạo đặc biệt… có ích… nhiều món đồ chơi… không ồn ào—ghét sự ồn ào… giống như Edmund Sparkler… rất lo lắng sợ có sự ồn ào… Chuyện Tiểu Dorrit… hãy nhớ lấy… gọi cô ta là bà Merdle… vì lý do đó… lát nữa chúng ta sẽ xem cô nàng thể hiện thế nào.”p>

Lời hứa đó đã được thực hiện trước khi họ đến được nơi thi thể được tìm thấy. Sự xuất hiện của họ gây ra sự náo động đáng kể giữa đám đông nhỏ nhoi tụ tập vì công việc hoặc tò mò tại hiện trường. Lord Peter ngay lập tức bị vây hãm bởi bốn phóng viên và một hội đồng các nhiếp ảnh gia báo chí, những người mà sự hiện diện của anh đã thắp lên hy vọng rằng bí ẩn này rốt cuộc sẽ trở thành một bài báo giật gân chiếm trọn ba cột báo. Parker, đến là bực mình, bị chụp lại khoảnh khắc thiếu trang nghiêm khi đang chật vật tự gỡ mình ra khỏi “Bà Merdle.” Thanh tra trưởng Walmisley lịch sự đến giải cứu anh, khiển trách những kẻ tò mò, và dẫn anh tới nơi xảy ra vụ việc.

52

Thi thể đã được đưa đi nhà xác từ trước, nhưng vết lõm trên nền đất ẩm ướt vẫn phô bày rõ ràng nơi nó từng nằm. Lord Peter khẽ rên lên khi nhìn thấy nó.

“Mẹ kiếp cái thời tiết mùa xuân ẩm ương ấm áp này,” anh bực bội thốt lên. “Mưa tháng Tư—nắng và nước—chẳng còn gì tồi tệ hơn thế. Thi thể biến dạng nhiều không, thưa Thanh tra trưởng?”

“Chà, vâng, có chứ thưa ngài, đặc biệt là ở những phần cơ thể bị phơi bày. Nhưng việc nhận dạng thì không còn nghi ngờ gì nữa.”

“Tôi đoán là không rồi. Nó nằm ở tư thế thế nào?”

“Nằm ngửa, khá yên bình và tự nhiên. Trang phục không hề bị xộc xệch hay có gì bất thường cả. Chắc cô ta vừa ngồi xuống khi cảm thấy trong người không ổn rồi ngã ngửa ra sau thôi.”

“Hừm. Mưa đã xóa sạch mọi dấu chân hay dấu vết trên mặt đất rồi. Lại toàn cỏ nữa chứ. Đúng là thứ cỏ kinh tởm, phải không Charles?”

“Đúng vậy. Mấy cành cây nhỏ này hình như chẳng hề bị gãy tí nào cả, thưa Thanh tra trưởng.”

“Ồ, không,” viên sĩ quan nói, “không có dấu hiệu của một cuộc giằng co nào, như tôi đã chỉ ra trong báo cáo của mình rồi.”

“Không—nhưng nếu cô ấy ngồi xuống đây và ngã ngửa ra sau như anh phỏng đoán, anh không nghĩ trọng lượng của cô ấy phải làm gãy một vài chồi non này sao?”p>

Viên Thanh tra trưởng liếc sắc lẹm về phía người của Scotland Yard.

“Cậu không cho là cô ta bị mang đến và đặt ở đây chứ, thưa ngài?”

“Tôi chẳng cho là gì cả,” Parker vặn lại, “tôi chỉ muốn thu hút sự chú ý đến một điểm mà tôi nghĩ anh nên cân nhắc. Mấy vệt bánh xe này là gì thế?”

“Đó là xe của chúng tôi đấy chứ, thưa ngài. Chúng tôi lùi xe vào tận đây và khiêng cô ta lên theo lối đó.”

“Và toàn bộ mớ dấu chân giẫm đạp này cũng là do người của các anh tạo ra nốt chứ gì?”

“Một phần là thế, thưa ngài, và một phần là do nhóm người đã tìm thấy cô ấy.”

“Tôi đoán là các anh không nhận thấy dấu vết của bất kỳ ai khác nữa nhỉ?”

53

“Không, thưa ngài. Nhưng tuần qua trời mưa khá nhiều. Hơn nữa, thỏ chạy khắp nơi như cậu có thể thấy đấy, và cả những sinh vật khác nữa, tôi đoán thế. Chồn véc, hoặc thứ gì đại loại thế.”p>

“Ồ! Chà, tôi nghĩ tốt hơn là anh nên đi vòng quanh kiểm tra xem. Có thể có dấu vết gì đó ở xa hơn một chút thì sao. Hãy lập một vòng tròn tìm kiếm, và báo cáo lại bất kỳ điều gì anh thấy. Mà các anh không nên để cả đám đông người đó đứng sát gần thế chứ. Hãy giăng một vành đai bảo vệ và bảo họ giải tán đi. Anh đã xem đủ mọi thứ mình muốn chưa, Peter?”p>

Wimsey nãy giờ vẫn dùng cây gậy chọc ngoáy vẩn vơ vào gốc một cây sồi cách đó vài thước. Bây giờ anh cúi xuống nhấc ra một gói đồ bị nhét vào một hốc cây. Hai viên cảnh sát háo hức tiến lại với vẻ tò mò đầy háo hức, nhưng rồi sự hào hứng ấy cũng vơi đi đôi chút khi nhìn thấy chiến lợi phẩm—một chiếc bánh sandwich kẹp thịt nguội và một chai bia Bass rỗng, được gói ghém qua loa trong một tờ báo dính đầy dầu mỡ.

“Mấy kẻ đi dã ngoại,” Walmisley khịt mũi nói. “Chắc chẳng dính líu gì đến thi thể đâu.”

“Tôi nghĩ anh lầm rồi đấy,” Wimsey điềm tĩnh nói. “Chính xác thì cô gái biến mất khi nào?”

“À, cô ấy hết ca trực tại Corner House lúc năm giờ đúng vào một tuần trước ngày mai, tức là thứ Tư, ngày 27,” Parker nói.

“Và đây là tờ Evening Views ra ngày thứ Tư, 27,” Wimsey nói. “Số phát hành Cuối cùng Muộn. Mà số báo đó thì phải đến khoảng 6 giờ mới được phát hành trên phố. Cho nên trừ phi có ai đó mang nó xuống đây và ăn tối ở đây, thì có lẽ nó được mang theo bởi chính cô gái hoặc người đi cùng cô ấy. Chẳng mấy ai lại đến đây dã ngoại sau đó đâu, nhất là khi ở đó có một xác chết. Không phải là tử thi cứ nhất thiết phải cản trở sự thưởng thức món ăn của người ta đâu nhé. A la guerre comme à la guerre. Nhưng lúc này thì đâu có chiến tranh.”p>

“Đúng là thế thật, thưa ngài. Nhưng cậu đang giả định rằng cái chết xảy ra vào thứ Tư hoặc thứ Năm. Cô ta có thể đã ở một nơi nào đó khác—sống cùng ai đó trong thành phố hoặc bất cứ đâu.”

“Lại bị bẻ cổ lần nữa rồi,” Wimsey nói. “Dù sao thì, đó cũng là một sự trùng hợp kỳ lạ.”p>

“Đúng thế thật, thưa ngài, và tôi rất mừng vì cậu đã tìm thấy mấy thứ này. Cậu giữ chúng nhé, ngài Parker, hay để tôi?”p>

“Tốt hơn là cứ cầm lấy và để chung với mấy thứ khác,” Parker nói, đưa tay ra nhận chúng từ Wimsey—người có vẻ hứng thú với chúng đến mức bất thường. “Tôi cứ có linh cảm là ngài đây đúng và cái gói đồ này đã theo chân cô gái đến đây. Và điều đó chắc chắn trông có vẻ như cô ấy không đi một mình. Rất có thể tên người yêu trẻ tuổi của cô ta đã đi cùng cô ấy. Trông giống như câu chuyện muôn thuở ấy nhỉ. Cẩn thận cái chai đó nhé anh bạn, có thể có dấu vân tay trên đó đấy.”

“Anh cứ giữ cái chai đi,” Wimsey nói. “Mong sao chúng ta không bao giờ thiếu bạn hiền hay chai rượu để đãi bạn, như Dick Swiveller đã nói. Nhưng tôi thành khẩn cầu xin anh rằng, trước khi anh cảnh cáo viên nhân viên đường sắt trẻ tuổi đáng kính của anh ta rằng bất cứ lời nào anh ta nói đều có thể được ghi lại và dùng làm bằng chứng chống lại anh ta, xin anh hãy đảo mắt—và ngửi một hơi—vào chiếc bánh sandwich kẹp thịt nguội này.”

“Nó có vấn đề gì à?” Parker hỏi.

“Không có gì cả. Trông nó có vẻ được bảo quản tốt đến kinh ngạc, nhờ vào cái cây sồi tuyệt vời này. Cây sồi vững chãi—hàng thế kỷ nay là bức tường thành của nước Anh chống lại kẻ xâm lược! Thân tàu của chúng ta làm bằng gỗ sồi rắn chắc—không phải trái tim bằng gỗ sồi đâu nhé, nhân tiện đây thì câu này hay bị trích dẫn sai lắm. Nhưng tôi đang bối rối trước sự lạc điệu giữa chiếc bánh sandwich này và phần còn lại của bộ đồ nghề.”

“Nó là một chiếc bánh sandwich kẹp thịt nguội bình thường thôi chứ gì?”

“Ôi, các vị thần của bình rượu và bàn tiệc, đến bao giờ nữa đây? Đến bao giờ?—đúng là bánh sandwich kẹp thịt nguội thật đấy, đồ người Goth ạ, nhưng không phải loại bình thường đâu. Nó chưa từng đặt chân đến căn phòng bếp của Lyons, hay quầy hàng của chuỗi siêu thị nào, hay cửa hàng đồ muối nguội ở góc phố khuất nào cả. Con lợn bị hiến tế để tạo ra món ngon vật lạ này chẳng hề lớn lên theo cái kiểu buồn tẻ nào đâu, chưa từng biết đến khẩu phần máng lợn hàng ngày hay niềm vui buồn lẫn lộn của cái thùng rác gia đình. Hãy quan sát kết cấu dai chắc, màu nâu sẫm sâu thẳm của phần thịt nạc; lớp mỡ béo ngậy, vàng óng như má một người Trung Hoa; cái chấm đen nơi nước xốt mật mía thấm đượm vào, tạo nên một món ăn đủ sức dụ dỗ thần Zeus bước xuống từ đỉnh Olympus. Và hãy nói cho tôi nghe xem, cái con người thiếu sự tinh tế và chỉ đáng được nuôi bằng cá tuyết luộc quanh năm này, hãy nói cho tôi nghe tại sao cô nhân viên phục vụ nhỏ bé của anh và gã nhân viên đường sắt lại lặn lội xuống tận rừng Epping để tự thưởng cho mình những chiếc bánh sandwich làm từ thịt lợn muối Bradenham đen nhánh ngâm mật mía, loài từng một thời là những chú lợn rừng chạy nhảy tung tăng trong rừng thẳm, cho đến khi cái chết đưa nó bước sang một thân xác bất tử và vinh quang hơn? Tôi xin nói thêm rằng nó có giá khoảng 3 shilling một pa-ao chưa nấu—một lập luận mà anh phải thừa nhận là vô cùng nặng ký đấy.”

54

“Kỳ lạ thật đấy,” Parker nói. “Tôi tưởng chỉ có người giàu—”

“Chỉ có người giàu hoặc những kẻ sành ăn coi việc ăn uống là một bộ môn nghệ thuật,” Wimsey nói. “Hai tầng lớp này hoàn toàn không đồng nhất với nhau, dẫu thỉnh thoảng chúng vẫn có điểm chung.”

“Nó có thể rất quan trọng đấy,” Parker vừa nói vừa cẩn thận bọc lại các vật chứng. “Tốt hơn là chúng ta nên đi xem thi thể ngay thôi.”

Cuộc khám nghiệm không phải là một việc dễ chịu gì cho cam, bởi thời tiết ẩm ướt và ấm áp, lại thêm sự hiện diện chắc chắn của lũ chồn véc. Thậm chí, sau một cái liếc nhìn ngắn ngủi, Wimsey đã để mặc cho hai viên cảnh sát tự mình tiếp tục, còn bản thân anh thì dồn sự chú ý vào chiếc túi xách của cô gái xấu số. Anh lướt qua bức thư của Evelyn Gotobed—(bây giờ là Evelyn Cropper)—và ghi chép lại địa chỉ ở Canada. Anh lật tìm mẩu quảng cáo của chính mình ở ngăn trong cùng, và trầm ngâm một lúc lâu ngắm nghìn tờ tiền 5 bảng nằm gấp gọn gàng bên cạnh một tờ tiền ngân khố 10 shilling, 7 xu 8 đồng bạc lẻ, một chiếc chìa khóa nhà và một hộp phấn trang điểm.

“Anh đang cho truy vết tờ tiền này chứ, Walmisley?”

“Ồ có chứ, thưa ngài, chắc chắn rồi ạ.”

“Và chiếc chìa khóa nhà, tôi đoán là của phòng trọ cô gái.”

“Chắc chắn thế rồi. Chúng tôi đã yêu cầu bà chủ nhà trọ đến để nhận dạng thi thể. Không phải là có nghi ngờ gì về danh tính cô ấy, mà chỉ là theo thủ tục thôi. Bà ấy có thể cho chúng ta thêm chút giúp đỡ. A!”—Viên Thanh tra trưởng ló đầu ra khỏi cửa nhà xác—“Tôi nghĩ đây chắc là vị phu nhân đó rồi.”

56

Người phụ nữ mập mạp và có vẻ phúc hậu bước ra từ chiếc xe taxi dưới sự áp giải của một cảnh sát trẻ tuổi đã nhận dạng thi thể không chút khó khăn, giữa vô vàn tiếng nức nở, rằng đó chính là Bertha Gotobed.

“Một tiểu thư ngoan hiền làm sao,” bà khóc than. “Chuyện kinh hoàng gì thế này, ôi trời ơi! Ai mà nỡ nhẫn tâm làm ra cơ sự này chứ? Tôi cứ thấp thỏm lo âu suốt từ hôm thứ Tư tuần trước khi con bé không về nhà. Tôi dám cá là bao nhiêu lần tôi tự nguyền rủa giá như mình bị cắt lưỡi đi còn hơn là mang cái mẩu quảng cáo quỷ quái đó ra cho nó xem. À, tôi thấy các anh cầm nó ở kia rồi, thưa ngài. Thật là một chuyện kinh khủng khi người ta lại đi dụ dỗ những cô gái trẻ nhẹ dạ bằng mấy câu chuyện về một tương lai tốt đẹp hơn cho chúng cơ chứ. Đồ quỷ già tội lỗi—lại còn tự xưng là luật sư nữa chứ! Khi con bé mãi chẳng chịu quay về, tôi đã viết thư cho tên khốn đó, bảo rằng tôi đang đánh hơi theo gót hắn và sẽ đến lôi hắn ra trước pháp luật cho bằng được, thưa ngài, đời nào Dorcas Gulliver này chịu buông tha cho hắn—dù rằng tôi chẳng phải con mồi mà hắn đang tìm kiếm, vì năm nay tôi đã sáu mươi mốt tuổi tính đến đúng Ngày Hạ chí rồi—và tôi đã nói thẳng với hắn thế đấy.”

Sự nghiêm trang của Lord Peter có phần bị dao động trước tràng phàn nàn chửi rủa nhắm vào ngài Murbles đáng kính ở Staple Inn—người mà phiên bản tường thuật của chính ông về bức thư từ bà Gulliver đã được biên tập lại cho lịch sự. “Chắc cụ già nhà ta đã sốc lắm đây,” anh thì thầm với Parker. “Lần tới gặp cụ thể nào tôi cũng bị mắng cho tơi bời cho mà xem.”

Giọng bà Gulliver vẫn cứ rên rỉ không dứt.

“Cả hai đứa chúng nó đều là những cô gái ngoan ngoãn, và cô Evelyn thì đã kết hôn với cậu thanh niên tử tế người Canada đó rồi. Ôi chao, chắc con bé sẽ ngã quỵ mất khi nghe tin khủng khiếp này cho xem. Cả tội nghiệp John Ironsides nữa chứ, người lẽ ra đã cưới cô Bertha, tội nghiệp con bé, vào đúng dịp Lễ Hiện Xuống này cơ chứ. Một người rất điềm đạm và đáng kính—một nhân viên văn phòng hãng Southern, anh ta vẫn hay đùa rằng, ‘Chậm mà chắc, giống như hãng Southern vậy—tôi là thế đấy, bà G.’ Chẹp chẹp—ai mà tin nổi chứ? Và đâu phải là con bé thuộc cái loại lẳng lơ đâu cơ chứ. Tôi vui vẻ giao chìa khóa nhà cho nó, vì thỉnh thoảng nó phải làm ca đêm muộn, nhưng chẳng bao giờ có chuyện về quá giờ quy định cả. Đó là lý do tại sao tôi lại lo lắng đến thế khi nó không chịu về. Thời buổi này có khối kẻ sẵn sàng phủi tay mừng rỡ vì tống khứ được người ta, khi biết chúng có thể giở trò mèo gì. Không. Khi thời gian trôi qua mà nó vẫn chẳng thấy tăm hơi đâu, tôi đã tự nhủ, hãy nhớ lời tôi đây, tôi đã nói thế, rằng con bé đã bị bắt cóc rồi, tôi quả quyết thế, chính cái tên Murbles đó bắt cóc nó.”

“Cô ta ở với bà lâu chưa, thưa bà Gulliver?” Parker hỏi.

“Chưa đầy mười lăm tháng gì đâu, nhưng lạy Chúa, tôi đâu cần phải quen một tiểu thư tận mười lăm ngày mới biết được con bé có ngoan hiền hay không. Nhìn qua tướng mạo là người ta đã nhận ra rồi, khi đã có kinh nghiệm đầy mình như tôi.”

“Cô ta và em gái cùng đến với bà à?”

57

“Đúng thế. Chúng tìm đến tôi khi đang kiếm việc làm ở London. Và tôi có thể nói rằng chúng đã rơi vào hoàn cảnh còn tệ hơn rất nhiều nếu không gặp được tôi, hai đứa trẻ ở quê lên, lại còn tươi tắn và xinh xắn thế cơ chứ.”

“Chúng thật sự quá may mắn rồi, tôi chắc chắn thế, thưa bà Gulliver,” Lord Peter nói, “và chắc hẳn chúng đã cảm thấy vô cùng an lòng khi có thể tâm sự với bà và nhận được những lời khuyên nhủ hữu ích từ bà.”

“Chà, tôi nghĩ là có,” bà Gulliver nói, “không phải là giới trẻ ngày nay có vẻ mặn mà gì với việc nghe lời khuyên từ người lớn tuổi đâu. Dạy con từ thuở còn thơ để rồi nó bay đi mất, như Kinh Thánh đã dạy đấy thôi. Nhưng cô Evelyn, tức là bà Cropper bây giờ đấy—con bé vốn ôm ấp cái ý định lên London này trong đầu, và chúng kéo nhau lên với mộng tưởng được bước chân vào hàng quý tộc, dẫu trước đó chỉ đi làm người hầu, nhưng mà tôi chẳng thấy có gì khác biệt giữa việc phục vụ trong mấy quán trà để mặc cho đám người ô hợp sai bảo với việc phục vụ trong một gia đình quý tộc cả, ngoại trừ việc ở đó cô phải làm việc vất vả hơn và chẳng được ăn uống đàng hoàng bằng. Dù sao thì, cô Evelyn vẫn là đứa nhanh nhẹn hơn trong hai chị em, và phải công nhận là nó đã tự lo rất tốt cho bản thân, khi gặp được anh Cropper—người từng đều đặn ăn sáng tại Corner House mỗi buổi sáng và đã đem lòng cảm mến con bé theo cách đường hoàng nhất.”p>

“Thật là quá may mắn. Bà có biết điều gì đã nảy sinh cho chúng ý định lên thành phố không?”

“Chà, thưa ngài, thật buồn cười là ngài lại hỏi thế, bởi đó là điều mà tôi chưa bao giờ hiểu nổi. Người chủ cũ mà chúng từng làm thuê ở dưới quê ấy, chính bà ta đã nhồi nhét ý tưởng đó vào đầu cô Evelyn đấy. Này nhé thưa ngài, chẳng lẽ ngài không nghĩ rằng với cái thời buổi khó khăn mới kiếm được người hầu giỏi như thế, bà ta phải làm mọi cách để giữ chúng lại bên mình chứ? Thế mà không! Hôm đó hình như có chút rắc rối xảy ra vì chuyện con bé Bertha—còn cô gái tội nghiệp ở đây này, tội nghiệp con bé quá, đau thắt cả ruột gan khi nhìn nó ra nông nỗi này phải không thưa ngài?—chuyện con bé Bertha làm vỡ một cái ấm trà cổ—nghe thiên hạ đồn là có giá trị lắm, và bà chủ đã bảo nó rằng bà không thể chịu đựng nổi việc đồ đạc của mình cứ bị đập phá mãi được nữa. Thế là bà ta bảo: ‘Cô sẽ phải đi thôi,’ bà ta nói, ‘nhưng,’ bà ta nói thêm, ‘tôi sẽ viết thư giới thiệu rất tốt cho cô và chẳng mấy chốc cô sẽ kiếm được một chỗ làm tử tế thôi. Và tôi đoán là Evelyn cũng sẽ muốn đi theo cô,’ bà ta nói, ‘thế nên tôi sẽ phải tìm người khác làm thay vậy.’ Nhưng mà, bà ta lại nói: ‘Sao không lên London nhỉ? Các cô sẽ kiếm sống tốt hơn ở trỏng và có một cuộc sống thú vị hơn nhiều so với ở quê nhà chứ.’ Và kết quả là, bà ta vẽ ra đủ thứ chuyện về việc London tuyệt vời thế nào và những vị trí làm việc hoành tráng ra sao chỉ cần mở miệng xin là có, khiến chúng phát cuồng lên vì ao ước được đi, rồi bà ta còn tặng tiền cho chúng và đối xử rất hào phóng xét trên mọi phương diện.”

58

“Hừm,” Wimsey nói, “xem ra bà chủ nhà đó rất kỹ tính trong chuyện ấm chén nhỉ. Có phải Bertha là một chuyên gia đập phá đồ gốm không?”

“Thưa ngài, con bé chưa từng làm vỡ bất cứ thứ gì của tôi cả. Nhưng cô Whittaker này—tên cô ta là thế—cô ta là kiểu đàn bà bảo thủ, luôn khăng khăng bắt người khác phải nghe theo ý mình trong mọi chuyện. Tính khí dữ dằn ra phết, tội nghiệp Bertha kể thế đấy, dẫu cho cô Evelyn—người bây giờ là bà Cropper ấy—thì luôn có cảm giác có điều gì đó mờ ám ẩn sau lưng. Cô Evelyn vốn là đứa sắc sảo, có thể nói là thế. Nhưng mà thôi, thưa ngài, ai chẳng có những tính cách kỳ quặc của riêng mình, phải không ạ? Tôi chỉ tin chắc một điều là bà chủ đó vốn đã chấm sẵn một người do chính tay bà ta lựa chọn để nhét vào chỗ của Bertha—là con bé này đây—và cả Evelyn—bây giờ là bà Cropper rồi, ngài hiểu ý tôi chứ—thế nên bà ta mới cố tình kiếm cớ, như người ta vẫn nói, để tống khứ hai đứa chúng nó đi.”

“Rất có thể lắm chứ,” Wimsey nói. “Tôi cho rằng, thưa Thanh tra, Evelyn Gotobed—”

“Bây giờ là bà Cropper rồi ạ,” bà Gulliver sụt sùi đính chính.

“Bà Cropper, ý tôi là thế—đã được liên lạc chưa?”

“Ồ rồi chứ, thưa ngài. Chúng tôi đã gửi điện tín cho cô ấy ngay lập tức.”

“Tốt. Anh báo cho tôi biết khi nào nhận được tin từ cô ấy nhé.”

“Chúng tôi sẽ giữ liên lạc với Thanh tra Parker, thưa ngài, đương nhiên rồi.”

“Đương nhiên rồi. Này Charles, tôi sẽ để phần việc còn lại cho anh đấy nhé. Tôi có một bức điện tín phải gửi đây. Hay anh đi cùng tôi luôn?”

“Thôi, cảm ơn,” Parker nói. “Thành thật mà nói, tôi không thích cách lái xe của cậu chút nào. Đã mang danh là Cảnh sát, tôi thích đứng ở phía an toàn ngoài tầm gió hơn.”

“Nghe gió máy là biết anh nhát gan rồi đấy, Parker,” Peter nói. “Thế thì hẹn gặp lại anh ở Thị trấn nhé.”

59

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.