5. Con đường thênh thang
Cùng với danh tiếng ngày càng lừng lẫy, uy tín được nâng cao, công việc của Cổ Trường Thư cũng ngày càng thuận buồm xuôi gió. Anh cảm nhận rõ rệt rằng con đường hoạn lộ vô cùng thênh thang, trải đầy hoa tươi, khiến anh cẩn trọng hơn bất kỳ giai đoạn nào trước đây. Anh hết lần này đến lần khác tự nhủ không được để xảy ra bất kỳ sai sót nào trong các vấn đề chi tiết của cuộc sống. Khoảng thời gian này, anh rất ít khi liên lạc với Triệu Cầm. Thỉnh thoảng, khi tan sở đi cùng đường với Hạ Kiến Quân, Hạ Kiến Quân lại nói: "Đằng nào cậu cũng chỉ có một mình, cứ qua nhà tôi ăn đại chút gì đi." Cổ Trường Thư không từ chối lời mời của bí thư, bèn bước vào nhà của Bí thư Hạ. Khi ăn cơm, anh cố gắng duy trì trạng thái bình thường, không nhìn Triệu Cầm quá nhiều, cũng không nói chuyện nhiều với cô. Thật ra anh rất sợ ánh mắt của Triệu Cầm, trong mắt cô luôn mang theo một tia sáng rực rỡ, nhân lúc người khác không để ý lại liếc nhìn anh đầy tình cảm, chỉ có Cổ Trường Thư là hiểu rõ ý nghĩa tình cảm ẩn chứa bên trong. Sau đó, mỗi khi gặp lúc tan sở cùng lúc với Hạ Kiến Quân, anh đều cố tìm cớ để tránh đi chung.
Vì công việc quá bận rộn, Cổ Trường Thư đã lâu không gặp Cố Hiểu Ni. Hôm đó vừa tan sở về nhà, Cố Hiểu Ni gọi điện đến nói: "Huyện trưởng, đang bận gì thế?" Cổ Trường Thư đáp: "Đang trên đường về. Sao lúc này em lại nhớ đến anh thế?" Cố Hiểu Ni bảo: "Tối nay có rảnh không? Em muốn tìm anh trò chuyện." Cổ Trường Thư nói: "Được thôi, anh đợi em ở nhà."
Tối hôm đó, Cổ Trường Thư mang theo vài phần tài liệu về nhà, vừa xem tài liệu vừa chờ Cố Hiểu Ni. Chương trình "Tiêu điểm phỏng vấn" của đài trung ương vừa phát sóng xong thì tiếng gõ cửa vang lên, anh vội đứng dậy ra mở cửa. Nào ngờ người bước vào lại là Thường vụ Phó huyện trưởng La Khánh. Điều này quá ư bất ngờ. Sắc mặt Cổ Trường Thư chợt trầm xuống, nhưng rồi nhanh chóng chuyển thành một nụ cười, lên tiếng: "Sao lại là anh? Quý nhân giá đáo, sao không báo trước một tiếng?" La Khánh nói: "Không hoan nghênh à?" Cổ Trường Thư đáp: "Đâu có đâu có, mời còn chẳng được ấy chứ." La Khánh không đổi giày mà cứ thế bước thẳng vào nhà, ngồi xuống phòng khách. La Khánh bảo rằng ông đến lầu dưới tìm hiệu trưởng trường cấp hai để bàn chút việc, nhân tiện ghé lên thăm Cổ Trường Thư. Cổ Trường Thư ở lầu sáu, hiệu trưởng ở lầu bốn, thế nên ông mới không báo trước. Nếu anh không có ở nhà thì cũng coi như không đi công cốc.
Với tư cách là Thường vụ Phó huyện trưởng, La Khánh là nhân vật có thực quyền trong chính quyền huyện. Ông là Ủy viên Thường vụ Huyện ủy, là người nói năng có trọng lượng. Bình thường Cổ Trường Thư có phần coi thường ông, chê ông tầm thường, nhưng lại không thể không coi trọng ông. Trong tâm trí Cổ Trường Thư, huyện nhà chỉ có hai người là quan trọng nhất, một là Bí thư Huyện ủy Hạ Kiến Quân, hai là Huyện trưởng. Mảng công nghiệp do Cổ Trường Thư phụ trách, anh chỉ báo cáo trực tiếp với hai người bọn họ, còn những người khác như Phó bí thư thường trực hay Thường vụ Phó huyện trưởng, anh chưa từng đơn độc báo cáo công việc bao giờ. Ngoài mặt thì rất tôn trọng họ, nhưng trong lòng lại khinh miệt. Thế mà bây giờ La Khánh đã đến, anh vẫn phải tiếp đón cực kỳ lịch sự, mang ra loại trà ngon nhất và thuốc lá ngon nhất.
La Khánh lớn hơn Cổ Trường Thư hơn chục tuổi, đã gần năm mươi tuổi rồi. Trước mặt Cổ Trường Thư, ông đóng vai trò là một người anh lớn. Ông rất đánh giá cao tài năng cá nhân của Cổ Trường Thư cũng như tác phong làm việc nhanh chóng, quyết đoán của anh. Trước đây, trong mấy chiến dịch lớn của Cổ Trường Thư, La Khánh đều dốc toàn lực ủng hộ anh. Phàm là điều kiện do Cổ Trường Thư đưa ra, ông đều đáp ứng đầy đủ. Chẳng hạn như khi tiến hành kiểm toán tài chính doanh nghiệp, nhân lực của Cục Kiểm toán không đủ dùng, La Khánh đã kiên quyết điều động từ Cục Tài chính xuống hai mươi cán bộ cốt cán hiểu biết về tài chính để phối hợp kiểm toán. Cục trưởng Cục Tài chính là một kẻ cứng đầu, nếu không phải là lãnh đạo phụ trách trực tiếp thì hắn có một trăm lý do để phớt lờ, huống chi là một Cổ Trường Thư vừa mới nhậm chức. Những điều này, Cổ Trường Thư đều hiểu rõ trong lòng.
La Khánh nói nhiều, hơi giống một bậc trưởng bối, rất quan tâm đến đời sống của Cổ Trường Thư. Ông từ chuyện sinh hoạt đời thường bàn đến sản xuất công nghiệp, từ chế độ cán bộ bàn đến việc bổ nhiệm lãnh đạo, cứ huyên thuyên mãi không dứt. Cổ Trường Thư không thể không nghe, không thể không đáp lời. Trong lòng anh cứ nghĩ đến Cố Hiểu Ni, anh thà rằng Cố Hiểu Ni thất hẹn thì hơn. Nếu bây giờ cô ấy đến mà bị La Khánh bắt gặp thì phải làm sao đây? Anh muốn gọi điện bảo cô tối nay đừng đến nữa, nhưng gọi điện cũng chẳng tiện. Chiếc máy điện thoại được đặt ở cái bàn ngay sau lưng La Khánh. Nếu anh dùng điện thoại di động để gọi thì lại càng giống kiểu "giấu đầu hở đuôi", lạy ông tôi ở bụi này. Anh đành phải kiên nhẫn, lúc lạnh lùng lúc niềm nở trò chuyện với La Khánh.
Đồng hồ điểm tiếng chuông tròn giờ, La Khánh ngước nhìn lên, đã mười giờ rồi. La Khánh đứng dậy cáo từ, Cổ Trường Thư bảo cứ ngồi thêm lát nữa, La Khánh cũng bảo anh nghỉ sớm đi, đừng mệt quá. Nói đoạn liền bước ra ngoài, Cổ Trường Thư đi theo phía sau định mở cửa giúp, thì La Khánh đã tự tay mở cửa ra rồi. Ngay khoảnh khắc cửa vừa mở, tình huống nguy hiểm đã xuất hiện. Một bóng đen bước vào từ ngoài cửa, chính là Cố Hiểu Ni. Cố Hiểu Ni nhiệt tình nói lớn: "Anh đang đón em đấy à!"
Hành động bất ngờ này thật khiến người ta hoảng sợ. La Khánh sững sờ ngay tại chỗ, cứ lùi về phía sau, hất tay Cố Hiểu Ni ra. Trách cô đến không đúng lúc, mà La Khánh đi cũng chẳng đúng thời điểm. Cố Hiểu Ni bước đến trước cửa nhà Cổ Trường Thư định gõ cửa thì cửa bỗng mở ra. Cô tưởng người mở cửa là Cổ Trường Thư nên không nhìn rõ mặt, lúc sau mới phát hiện đó là La Khánh. Cố Hiểu Ni kinh ngạc thốt lên: "Chú La, sao lại là chú? Cháu đi nhầm cửa rồi."
Cổ Trường Thư vừa bực mình vừa buồn cười. Anh cũng nhanh trí xoay chuyển tình thế, nói với Cố Hiểu Ni: "Vậy em cứ đi nhầm thành đúng, vào ngồi chơi một lát đi."
Cố Hiểu Ni liền lách mình bước vào. Tuy mặt cô đỏ bừng nhưng không đến nỗi quá căng thẳng. La Khánh là bạn tốt của bố cô, dẫu sao cũng là bậc trưởng bối, gặp phải tình huống khó xử thế này, dù có hoài nghi đi nữa thì ông cũng không nói bừa đâu.
Ngược lại, La Khánh đâm ra ngại ngùng, ông nhìn Cố Hiểu Ni rồi lại nhìn Cổ Trường Thư, bảo với Cố Hiểu Ni rằng: "Không sao đâu, không sao đâu, chú cũng hay đi nhầm cửa lắm. Cháu cứ ngồi chơi nhé, chú đi trước đây." Nói xong, La Khánh liền nện từng bước chân huỳnh huỵch đi xuống lầu.
6. Chẳng có gì to tát cả
Cố Hiểu Ni và Cổ Trường Thư vội vàng bước vào nhà rồi đóng cửa lại. Cố Hiểu Ni nhìn Cổ Trường Thư, khúc khích cười lớn. Cô cười vì chuyện vừa rồi. Thấy cô cười như vậy, Cổ Trường Thư đâm ra sợ. Cổ Trường Thư bảo: "May mà em không nói là nhớ anh, chứ nếu nói nhớ anh thì hỏng bét rồi. Chú ấy không đi nói bậy chứ?" Cố Hiểu Ni đáp: "Sao lại thế được? Chú ấy với bố em thân nhau lắm mà." Cổ Trường Thư nói: "Ý anh là, chú ấy sẽ nghi ngờ giữa chúng ta có gì đó không?" Cố Hiểu Ni bảo: "Nghi ngờ có gì? Có nghi ngờ thì cũng chỉ giữ trong lòng thôi. Chú ấy không phải là loại người thích ăn nói tùy tiện. Chú ấy là Thường vụ Phó huyện trưởng, sự tu dưỡng mặt này rất cao đấy."
Tối nay Cố Hiểu Ni diện một bộ đồ rất tân thời, trông vô cùng quyến rũ. Cô mỉm cười dịu dàng với Cổ Trường Thư rồi ngồi xuống chiếc ghế sô-bìa đối diện anh. Cố Hiểu Ni lên tiếng: "Nhậm chức lâu thế rồi mà chẳng thèm gọi điện cho em lấy một cuộc?"
Cổ Trường Thư đáp: "Anh bận chứ bộ. Đến việc em gửi gắm anh còn chưa có cơ hội để thưa với Bí thư Hạ cơ mà."
Cố Hiểu Ni nói: "Em đang định hỏi anh đây, nhân sự Bí thư Đoàn đã chốt chưa?"
Cổ Trường Thư trả lời: "Anh thật sự không biết. Anh có phải là ủy viên thường vụ đâu, sao mà biết được chứ?"
Cố Hiểu Ni bảo: "Mấy vị huyện trưởng các anh ngồi lại với nhau mà không bàn về chuyện này à?"
Cổ Trường Thư nói: "Các huyện trưởng ngồi với nhau có mấy chủ đề tuyệt đối không được bàn tới. Thứ nhất là phụ nữ, thứ hai là đánh giá về lãnh đạo cấp trên, thứ ba là việc bổ nhiệm cán bộ. Những vấn đề này đều rất nhạy cảm. Người dân thì khác, họ cứ việc tha hồ bàn tán và chửi bới."
Cổ Trường Thư có chút lơ đễnh, chuyện vừa rồi đã làm hỏng tâm trạng của anh. Cố Hiểu Ni nôn nóng muốn thành công ngay, lại nhắc đến chuyện thăng chức. Cô nói: "Anh nhất định phải nhanh chóng tìm cơ hội nói giúp em với Bí thư Hạ nhé. Nếu em mà được làm Bí thư Đoàn thì cũng có lợi cho anh mà." Cổ Trường Thư đáp: "Anh sẽ giúp chứ. Nhưng em cũng không thể quá nôn nóng được."
Cổ Trường Thư quả thực không muốn vội vàng tìm Hạ Kiến Quân để nói chuyện này. Về nguyên nhân, ngoài việc nói năng bất tiện ra, thì mấu chốt là chuyện này chẳng liên quan gì đến công việc do anh phụ trách. Trong các cơ quan cấp huyện, Đoàn Thanh niên thoạt nghe thì quan trọng, nhưng thực ra lại là cơ quan kém quan trọng nhất, cũng là nơi khó triển khai công việc nhất. Để tạo ra thành tích là điều vô cùng khó khăn. Không giống như việc nắm bắt kinh tế, hiệu quả bày tỏ rõ rành rành, những con số chính là minh chứng tốt nhất. Tính co giãn trong công việc của Đoàn Thanh niên quá lớn, rất khó tìm ra lối đi mới, rất khó vươn lên tầm cao mới. Nếu Cố Hiểu Ni không đủ năng lượng đảm nhận, thì công việc của Đoàn Thanh niên rất khó có khởi sắc. Xét từ góc độ này, Cổ Trường Thư vẫn phải cân nhắc từ đại cục. Nhưng yêu cầu của Cố Hiểu Ni thì anh cũng không thể từ chối, muốn làm quan chẳng phải là sai trái gì. Anh vẫn dự tính vào thời điểm thích hợp sẽ nhắc đến cô trước mặt Hạ Kiến Quân để giới thiệu đôi chút. Cổ Trường Thư bảo cô: "Hiện tại em đang tạm quyền phụ trách công việc Đoàn Thanh niên, trong giai đoạn này em phải liều mình làm việc cho tốt. Lập được thành tích rồi thì chiếc ghế bí thư tự khắc sẽ là của em thôi. Có lẽ Huyện ủy muốn lợi dụng khoảng thời gian này để thử thách năng lực và thái độ làm việc của em đấy."
Cố Hiểu Ni đầy vẻ mông lung nói: "Nhưng vấn đề là, có người làm ra thành tích cũng chẳng được cất nhắc, còn kẻ không làm nên tích sự gì thì lại được thăng chức."
Cổ Trường Thư đáp: "Em không thể so sánh với họ được, đừng để tâm lý bị so sánh làm cho méo mó. Nếu so sánh quốc gia lớn nhỏ với Trung Quốc thì mấy nước nhỏ kia giải thể quách cho rồi; nếu so tài sản với Bill Gates thì triệu phú đều phải xấu hổ chết đi được; nếu so quyền lực với tổng thống thì các Tỉnh trưởng, Thị trưởng đừng làm nữa; nếu so học vấn với Quách Mạt Nhược thì hiện nay nhiều giáo sư học giả chỉ là học sinh tiểu học mà thôi. Thế nên anh khuyên em đừng so sánh nữa, cứ sống cuộc đời của chính mình, miễn sao sống đúng với bản chất của mình là được."
Cố Hiểu Ni cười khúc khích, thấy Cổ Trường Thư nói cũng có lý. Nhưng cô vẫn khăng khăng: "Mấy kẻ chẳng làm gì cả mà vẫn được cất nhắc đấy thôi, bọn họ chẳng phải đang sống rất phơi phới đó sao? Làm quan vẫn cứ là sướng rơn và đầy hương vị."
Cổ Trường Thư bỗng sầm mặt lại, nói: "Được rồi, vậy em cứ đi mà so sánh với bọn họ đi. Nói cho em biết nhé Cố Hiểu Ni, cho dù em không phải là đảng viên, không phải là Phó bí thư Đoàn, thì em cũng phải làm việc bằng lương tâm, phải xứng đáng với đồng lương đó chứ! Những thứ em ăn, những thứ em mặc đều là mồ hôi nước mắt của người nộp thuế đấy!"
Cố Hiểu Ni nhận ra Cổ Trường Thư đã nổi giận, cô cũng tức tối theo, cự nự: "Anh hung dữ với em làm gì thế? Chúng ta chẳng phải đang trò chuyện thôi sao? Làm gì mà nghiêm túc thế."
Cổ Trường Thư nói: "Anh ghét nhất cái loại người chẳng chịu làm việc chính đáng, suốt ngày chỉ chăm chăm mong tổ chức cất nhắc!"
Cô gái từ nhỏ đã được bố mẹ chiều chuộng này làm sao từng nghe qua những lời lẽ thế này. Cố Hiểu Ni tức đến mức muốn phát khóc. Cô vùng đứng dậy bỏ đi, hất mái tóc dài, nghiến răng nghiến lợi thốt lên: "Cổ Trường Thư, nói cho anh biết nhé, chưa có ai mắng mỏ tôi kiểu này bao giờ. Anh chẳng qua chỉ là một tên phó huyện trưởng thôi chứ gì? Chẳng có gì to tát cả!" Đoạn ù té chạy mất dạng.
7. Cục trưởng Trần
Cố Hiểu Ni bỏ đi rồi mà Cổ Trường Thư thẫn thờ hồi lâu vẫn chưa định thần lại được. Nghĩ kỹ lại thì cũng là do mình không đúng, quá mức nghiêm túc với bạn bè. Dù có là bạn bè tốt đi chăng nữa, anh nói năng kiểu đó thì người ta cũng sẽ chạnh lòng. Nhưng dụng cụ của anh quả thực là tốt mà, Cố Hiểu Ni còn trẻ, nên làm việc cho đàng hoàng ở vị trí của mình. Khắt khe với cô ấy một chút cũng có ích thôi. Tính cách của Cổ Trường Thư vốn dĩ là thế, anh không muốn làm kiểu người gặp người nói tiếng người, gặp ma nói tiếng ma, đã quen thẳng thắn trực tính rồi. Sẩy chân một cái liền mạo phạm đến Cố Hiểu Ni.
Ngay ngày hôm sau, Cổ Trường Thư đã muốn giải thích với Cố Hiểu Ni đôi lời, nhưng ngẫm lại thôi khỏi giải thích nữa, một số vấn đề cứ để cô ấy tự mình chiêm nghiệm đi. Kết quả là đến ngày thứ năm, Cố Hiểu Ni lại gọi điện đến, lên tiếng: "Đại nhân huyện trưởng ơi, hôm đó em bỏ chạy rồi, anh giận lắm phải không?"
Cổ Trường Thư đáp: "Em tưởng anh là ai chắc, anh là em đấy à. Không dễ gì mà chạnh lòng thế đâu."
Cố Hiểu Ni bảo: "Hôm đó em đúng là có giận thật. Nhưng mà, hết giận nhanh lắm."
Cổ Trường Thư hỏi: "Sao mà hết giận nhanh thế?"
Cố Hiểu Ni nói: "Anh thì cái nết y chang vậy đó! Thỉnh thoảng nói chuyện chẳng thèm nghĩ đến cảm nhận của người khác gì cả."
Cổ Trường Thư bảo: "Bây giờ không giận nữa là được rồi."
Cố Hiểu Ni khúc khích cười giòn giã.
Cục trưởng Trần của Cục Công nghiệp thành phố Kim An đến huyện công tác, ông ấy là thủ trưởng cũ của Cổ Trường Thư, đồng thời cũng là thủ trưởng đương nhiệm, tuy không quản trực tiếp chức vụ của Cổ Trường Thư, nhưng tình nghĩa xưa vẫn còn đó, dĩ nhiên Cổ Trường Thư phải nhiệt tình tiếp đón. Phương thức tiếp đón của nhân vật chốn quan trường cơ bản là quy củ đã thành thói quen, lãnh đạo đến thì dùng lãnh đạo cùng cấp đi kèm tiếp tiệc, điều này dường như đã trở thành một thứ đãi ngộ chính trị ngầm hiểu với nhau. Buổi chiều, Cổ Trường Thư đặc biệt gọi điện cho Hạ Kiến Quân, hỏi xem ông có thời gian không, cùng đi tiếp Cục trưởng Trần, coi như tiệc gió tẩy trần cho Cục trưởng Trần, Hạ Kiến Quân không hề từ chối. Sau bữa cơm, họ bắt đầu bàn chuyện công việc, Cục trưởng Trần nói với Hạ Kiến Quân: "Vô cùng cảm ơn anh đã ủng hộ sản xuất công nghiệp, anh cũng đã trọng dụng một người đắc lực như Cổ Trường Thư. Cậu ấy sinh ra là để làm công nghiệp. Nếu huyện nào cũng được như huyện Đại Minh của các anh, thì sản xuất công nghiệp toàn thành phố chẳng phải lo nghĩ gì nữa."
Hạ Kiến Quân đáp: "Mấu chốt là cậu ấy đấy chứ, tôi chỉ là người ủng hộ đứng sau hậu trường thôi. Mọi việc cụ thể đều do cậu ấy làm cả."
Chữ "cậu ấy" mà Hạ Kiến Quân nhắc đến chính là chỉ Cổ Trường Thư. Cổ Trường Thư liền tiếp lời: "Bí thư Hạ nói quá khiêm tốn rồi. Sự ủng hộ của Huyện ủy chính là hậu phương vững chắc của tôi. Thực ra mấu chốt vấn đề của sản xuất công nghiệp thì ai cũng biết cả, các đời lãnh đạo phụ trách công nghiệp đều biết rõ, chỉ là xem ai thực sự dám ra tay phẫu thuật những vấn đề đó mà thôi. Anh là Bí thư Huyện ủy, anh bảo muốn phẫu thuật cho ngành công nghiệp, thì tôi mới dám động dao kéo. Anh mà không bảo phẫu thuật, thì dĩ nhiên tôi chẳng dám hành động rồi."
Cổ Trường Thư phát biểu như vậy, vừa là nói lời thật lòng, lại vừa là những lời êm tai. Cổ Trường Thư thừa hiểu, Hạ Kiến Quân hễ gặp ai cũng kể về thành tích của anh, điều đó không chỉ đơn thuần là sự ghi nhận thông thường, mà là sự tin tưởng và khen ngợi hết mực dành cho anh. Trọng lượng của điều này anh dư sức hiểu rõ.
Hạ Kiến Quân cho rằng, nhiệm vụ chấn hưng công nghiệp của một huyện đã trải qua qua tay biết bao đời huyện trưởng. Đời đầu tiên lo phát triển, mở rộng quy mô, dựng lên nền tảng công nghiệp, rồi sau đó được cất nhắc điều đi nơi khác. Những đời tiếp theo đều duy trì không nổi, doanh nghiệp thì cái thì mục nát, cái thì sập tiệm. Những cái còn sống sót do quản lý kém nên cũng ngàn cân treo sợi tóc. Mấy năm nay, năm nào cũng hô hào chấn hưng công nghiệp, khẩu hiệu năm sau vang dội hơn năm trước, nhưng doanh nghiệp thì hỏng bết với tốc độ năm sau nhanh hơn năm trước. Cổ Trường Thư chỉ dùng nửa năm, chặt giọt nước cắt đứt tơ vò, kết quả là đã xoay chuyển được cục diện thua lỗ. Cho nên, suy cho cùng, đó là vấn đề tinh thần trách nhiệm của người lãnh đạo, là vấn đề có dám ra tay hay không. Cục trưởng Trần liên tục gật đầu tán thưởng.
Hạ Kiến Quân bảo Cổ Trường Thư: "Cậu không chỉ làm, mà lại còn làm rất tốt. Giao cho cậu quản lý công nghiệp quả thật từ đầu đã không chọn nhầm người."
Cục trưởng Trần tiếp lời: "Huyện Đại Minh các anh trước đây là nơi lạc hậu nhất, bây giờ lại trở thành đơn vị cờ đầu trong sản xuất công nghiệp của toàn thành phố rồi. Xem ra hễ dùng người thuận tay rồi thì mọi việc đều xuôi chèo mát mái."
"Công tác kinh tế của huyện Đại Minh, lực lượng chủ chốt chủ yếu đặt vào công nghiệp và nông nghiệp, Huyện ủy không ủng hộ thì còn ai ủng hộ nữa?" Hạ Kiến Quân nói: "Vẫn mong Cục trưởng đây ra sức giúp đỡ nhiều hơn."
Cục trưởng Trần cười: "Tôi không dám nhận là giúp đỡ đâu, đó vốn là bổn phận trong trách nhiệm của tôi mà."
Hạ Kiến Quân ăn xong liền rời đi, nhưng Cổ Trường Thư vẫn phải ở lại tiếp tiếp. Đến nhà khách, hai người bắt đầu chính thức bàn chuyện công việc. Cổ Trường Thư bày tỏ, lần trước đi siêu thị ở trên thành phố, anh thấy có bày bán rau dại miền núi từ nơi khác chuyển đến, chẳng hạn như rau dương xỉ, rau xoan, v.v.. Anh đã mua mấy túi về ăn thử thấy rất ngon. Huyện Đại Minh chúng ta vốn là vùng đồi núi Tần Ba điển hình, hai loại rau này mọc nhiều vô kể, hơn nữa lại là thực phẩm xanh chính hiệu, nhà mình đang sở hữu bao nhiêu bảo vật chưa được khai thác, thế mà lại phải bỏ tiền túi ra mua của người khác về ăn. Bản thân đã nghèo rồi, lại còn phải dâng tiền cho các vùng phát triển, sự lưu chuyển ngược dòng tư thế này chính là biểu hiện điển hình của kinh tế lạc hậu. Do đó, anh muốn triển khai một dự án khai thác rau dại miền núi tại huyện Đại Minh, quy mô đầu tư rất nhỏ, nhưng tài nguyên phong phú, chi phí chế biến lại cực kỳ thấp, hơn nữa còn tìm ra con đường làm giàu cho người nông dân. Anh không có dã tâm chiếm lĩnh thị trường toàn quốc, ít nhất cũng phải để người dân bản địa được ăn rau dại miền núi của chính quê hương mình, chiếm lĩnh vững chắc thị trường trong phạm vi thành phố Kim An là được rồi.
8. Tâm lý chung của kẻ thống trị
Cổ Trường Thư là tuýp người nói là làm ngay, không thích khoác lác đầu môi chót lưỡi. Khi trò chuyện với Cục trưởng Trần, anh chỉ mới thả tiếng gió thăm dò, vậy mà Cục trưởng Trần vừa đi khỏi là anh đã đem ý tưởng này báo cáo ngay với Bí thư Huyện ủy Hạ Kiến Quân, và Hạ Kiến Quân vô cùng đồng tình với suy nghĩ của anh. Xét về mặt thủ tục công việc, phó huyện trưởng phụ trách công nghiệp chỉ nắm đại cục, không quản đến các công việc cụ thể. Nhưng Cổ Trường Thư làm việc cực kỳ cẩn trọng, anh sợ người khác làm không tới nơi tới chốn, bèn tự tay phác thảo một bản báo cáo luận chứng tính khả thi, sau đó giao cho Cục Công nghiệp huyện, yêu cầu cục công nghiệp đưa ra phương án thực thi cụ thể. Có người không hiểu chuyện, cho rằng dự án này chẳng có hàm lượng khoa học công nghệ gì sất, muốn làm thì phải làm những dự án có tiền đồ và điểm sáng kia.
Cổ Trường Thư liền bảo họ: "Cái vùng nghèo nàn này của chúng ta, tiền bạc chẳng có, kỹ thuật cũng không mà đòi làm sản phẩm công nghệ cao cái nỗi gì, mấy chuyện xa vời thực tế đó chúng ta không làm đâu, đã làm là làm cái dự án sờ tay vào là ra tiền ngay ấy. Thế nào là tiền đồ, thế nào là điểm sáng? Chúng ta đây là tựa lưng vào núi thì ăn núi, có thể khiến người dân kiếm được tiền, có thể bố trí công việc cho một số công nhân thất nghiệp, đó mới chính là tiền đồ, là điểm sáng. Tôi chẳng màng màng gì đến hàm lượng công nghệ cao đâu. Làm mấy cái khác thì chúng ta kém, chứ làm sản phẩm đặc sản thủ công thì kiểu gì chúng ta cũng gỏi chứ nhở?"
Chỉ mấy câu ngắn ngủn đã khiến kẻ đó câm nín chẳng nói được câu nào. Ngược lại, càng khiến nhiều người thấu hiểu Cổ Trường Thư hơn, cảm thấy anh là người làm việc thiết thực, là một người thực sự biết nghĩ cho lợi ích của quần chúng nhân dân. Ít ra thì ngót nghét hơn chục năm nay, trong các bài phát biểu của cán bộ lãnh đạo các cấp, ai nấy đều đồng thanh nhắc đến vấn đề hàm lượng công nghệ cao của các dự án công nghiệp, có người còn miêu tả cực kỳ hay ho, phác họa lên biết bao bức tranh hoành tráng cho tương lai của huyện Đại Minh, thế nhưng từng nhiệm kỳ ban bệ cứ thế trôi qua, nào thấy bóng dáng dự án có hàm lượng công nghệ cao nào xuất hiện đâu. Có một đời chính quyền còn đặc biệt quy hoạch đất đai ở vùng ngoại ô thị trấn huyện lỵ, khoanh vùng hẳn một khu công nghiệp cao và khu phát triển mới nổi, mời hẳn phó chủ tịch tỉnh lúc bấy giờ về làm lễ động thổ vô cùng hoành tráng, lại còn rót vào ba triệu tiền vốn khởi động giai đoạn đầu, làm rùm beng náo nhiệt suốt nửa năm trời rồi đâu lại vào đấy. Về sau người nông dân tận dụng mảnh đất đó làm trang trại nuôi heo, cái tấm biển xi măng ghi chữ "Động thổ" nằm phơi thây phẳng lì ngay trước cửa chuồng heo, bị lũ heo giẫm đạp qua lại mỗi khi ra vào. Những hôm trời mưa, tấm bản xi măng vừa cứng vừa trơn trượt, lũ heo đi qua cứ hay bị té ngã ở đó. Chỉ có mỗi lúc móng chân con heo dẫm vào hai chữ "Động thổ" thì mới không bị trượt ngã. Bởi vì mấy chữ đó bị lõm xuống, lại hơi nhám nhám, nên móng heo mới có điểm bám chống trượt. Để đảm bảo an toàn cho búa heo cưng, ông chủ trang trại đã phải mang theo khoan sắt và búa tạ, đập phá tấm biển xi măng ấy thành chi chít hố to hố nhỏ, mặt mũi biến dạng hoàn toàn, thế là heo lớn heo nhỏ đi lại trên đó vững như kiềng ba chân, coi như giải quyết triệt để vấn đề. Lần đầu tiên Cổ Trường Thư đến trang trại nuôi heo, nhìn thấy tấm biển nằm sõng soài trước cửa là lại buồn cười, anh cảm thấy mấy vị lãnh đạo thời đó quá ư nóng vội gặt hái thành quả, quá khát khao thành tích chính trị, mà cái bộ óc xem chừng cũng chẳng khác gì óc heo là mấy.
Cổ Trường Thư cứ thế cắm đầu cắm cổ lao vào dự án mới này. Kể từ khi nhậm chức phó huyện trưởng phụ trách công nghiệp, anh luôn không ngừng đúc rút kinh nghiệm cho bản thân, đã nắm bắt được tư duy công việc cơ bản, chỉ cần cậu quản lý suôn sẻ toàn cục, không để xảy ra biến cố, duy trì sự ổn định, rồi sau đó có thể thoải mái tự tin dồn hết tâm trí vào các công việc khác. Người làm phó huyện trưởng, việc lớn việc nhỏ, tạp nham đủ thứ trên đời đều có cả, nếu cứ lơ lửng ở bề nổi thì muôn đời muôn kiếp làm không xuể những việc vặt vãnh, muôn đời muôn kiếp bận rộn với những cuộc giao thiệp xã giao. Có người suốt ngày kêu than mệt mỏi, mà quả thực là rất mệt, chỉ là chẳng thấy được kết quả của sự mệt nhọc đó đâu, bởi vì bản thân cứ mãi bận rộn với những việc vốn dĩ chẳng có kết quả. Tỷ như việc hết tốp này đến tốp khác tiếp đón lãnh đạo cấp trên, hết người này đến người khác lắng nghe cấp dưới báo cáo, cứ thế kéo dài mãi không dứt. Cổ Trường Thư sống rất minh bạch, cũng là một người thông minh, anh bắt buộc phải làm những công việc thực tế. Anh vạch ra trọng tâm công tác cho từng giai đoạn, xác định mục tiêu chủ công cho từng thời kỳ, nhờ thế mà công việc của anh luôn được tiến hành bận rộn mà không hề rối loạn, đạt chất lượng cao và hiệu quả tối ưu.
Trải qua một khoảng thời gian nỗ lực, dự án rau dại miền núi cuối cùng cũng được khởi động trong muôn vàn khó khăn. Từ khâu chọn địa điểm, đến việc rót vốn, rồi máy móc chế biến, bất kỳ công đoạn nào Cổ Trường Thư cũng phải kè kè bám sát từng li từng tí. Có khi mấy ngày liền anh cứ cắm chốt ở doanh nghiệp, chẳng thèm quay về chính quyền huyện, cũng chẳng về nhà. Mệt quá thì ngủ luôn tại xưởng, rảnh rỗi thì ngồi đó suy ngẫm vấn đề, viết lách các bài luận kinh tế. Đến dịp cuối tuần, Cổ Trường Thư lại về tổ ấm ở thành phố Kim An.
Cứ mỗi khi bận rộn xong xuôi công việc, Cổ Trường Thư lại ghé về chỗ bố để thăm nom ông. Bố sống lủi thủi một mình, hễ anh về là ông lại đối xử với anh như khách quý. Kể từ khi Cổ Trường Thư làm phó huyện trưởng, trông bố có vẻ trẻ ra được mấy phần, trước đây ông cũng suốt ngày đánh mạt chược, nhưng mỗi ngày chơi không quá nửa buổi. Còn bây giờ, có khi ông ngồi đồng cả ngày bên bàn mạt chược, thậm chí còn chơi thâu đêm suốt sáng. Cổ Trường Thư chẳng trò chuyện với bố được mấy câu, chỉ ngồi bầu bạn với ông chốc lát, rồi tống khứ bữa cơm qua loa với ông xong xuôi là anh lại về nhà.
Cổ Trường Thư bước vào căn hộ ba phòng ngủ một phòng khách ở khu tập thể giáo viên trường cấp hai, đưa mắt nhìn quanh thấy hai bên trống hoác, tĩnh lặng không một bóng người, khoảnh khắc ấy anh mới cảm nhận rõ sự cô đơn của một kẻ độc thân. Cổ Trường Thư có một thói quen khi đi ngủ, lúc ở nhà anh thường nằm phía mé ngoài giường, còn Tả Tiểu Lợi và con trai nằm ở phía trong. Kể từ ngày Tả Tiểu Lợi chuyển đi, anh vẫn luôn để trống khoảng không gian phía trong đó, một mình canh giữ góc quen thuộc của ngày xưa, chưa từng bao giờ lấn chiếm sang địa phận vốn thuộc về Tả Tiểu Lợi trước kia. Nhìn khoảng không trống trải đó, anh lại chạnh nhớ đến Tả Tiểu Lợi. Những lúc rảnh rỗi vào ban đêm, Cố Hiểu Ni lại sang trò chuyện bầu bạn với anh.
Hai người là đôi bạn cực kỳ thân thiết, rất thích quấn quýt bên nhau. Sự nghiêm khắc mang phong cách đại gia của Cổ Trường Thư, Cố Hiểu Ni cũng đã từng nếm mùi. Dù rằng lần trước cả hai đều có chút không vui, nhưng dẫu sao vẫn là bạn tốt của nhau. Cố Hiểu Ni lại cứ thích nghe Cổ Trường Thư nói chuyện, và Cổ Trường Thư cũng rất hào hứng chém gió khắp Đông Nam Tây Bắc. Anh bảo Nietzsche và Hitler từng đưa ra hai loại quan điểm đạo đức, một loại là đạo đức của kẻ mạnh và siêu nhân, loại kia là đạo đức của kẻ yếu. Thậm chí ngay trong cùng một con người, sâu thẳm trong một tâm hồn, cũng tồn tại cả đạo đức chủ nhân lẫn đạo đức nô lệ. Đạo đức nô lệ mang tính nữ quyền, đó là thứ đạo đức của sự yếu mềm và phục tùng. Đạo đức chủ nhân mang tính nam quyền, là thứ đạo đức của sự thống trị. Thế nhưng đứng trước người phụ nữ mà nam vương thống trị hết mực yêu thương, ý thức đạo đức này sẽ chuyển hóa. Ví dụ như trong đời sống tình ái phong lưu giữa Hitler và tiểu thư Geli, ông ta lại thích để tiểu thư Geli hành hạ mình, nguyện ý sắm vai một kẻ hạ miến quy phục. Khi Hitler ở bên tiểu thư Miller, ông ta lại thích tiểu thư Miller dùng chân đá mình, và tận hưởng niềm vui sướng khi bị ngược đãi từ đó. Là một đại độc tài kiêm bạo chúa một thời, Hitler đại diện cho tâm lý chung của rất nhiều kẻ thống trị, một mặt khao khát thống trị kẻ khác, đồng thời thực hiện hành vi bạo hành chính trị đối với họ; mặt khác, tận sâu thẳm tâm can lại tồn tại tâm lý thích bị ngược đãi. Thứ này hiện hữu trong con người của bất kỳ ai, chỉ khác nhau ở mức độ mạnh yếu mà thôi.
9. Tình thâm cốt nhục
Cố Hiểu Ni nghe xong ngơ ngác chẳng hiểu gì sất, cất lời hỏi sao anh lại biết mấy chuyện này? Cổ Trường Thư đáp, đây cũng là tri thức cả đấy. Hai người nằm trên giường vừa đắp chăn vừa trò chuyện. Cố Hiểu Ni học chuyên ngành văn học Trung Quốc, vậy mà lại chẳng đọc nhiều sách bằng Cổ Trường Thư. Cổ Trường Thư thuộc tuýp đọc từ sách chính trị cho đến kinh tế đủ thể loại, trong bụng anh thực sự chứa đựng khối lượng kiến thức kha khá. Cố Hiểu Ni bỗng đâm ra hổ thẹn tự thấy bản thân không bằng, cảm thấy con người này thông minh đến mức thừa thãi. Cố Hiểu Ni bảo, hèn gì hồi đại học lũ bạn toàn đặt cho cô biệt danh là "Ngốc Ni". Cổ Trường Thư liền nói: "Cái tên Ngốc Ni nghe cũng được đấy chứ, đó là một dạng biệt danh thân mật mà. Biệt danh của Tôn Trung Sơn mới gọi là khó nghe cơ."
Cố Hiểu Ni hỏi: "Biệt danh của Tôn Trung Sơn là gì thế?"
Cổ Trường Thư đáp: "Họ gọi là Tôn Đại Pháo."
Cố Hiểu Ni thốt lên: "Chuyện này là thật á?"
Cổ Trường Thư bảo: "Đương nhiên là thật rồi, biệt danh của lãnh tụ cách mạng thì ai dám nói bừa cơ chứ."
Khuôn mặt Cố Hiểu Ni rạng rỡ nụ cười tươi như hoa, cảm thấy con người Cổ Trường Thư thú vị hết chỗ nói, đến cả biệt danh Tôn Đại Pháo là gì mà anh cũng biết tuốt. Cố Hiểu Ni vỗ nhẹ lên má Cổ Trường Thư rồi bảo: "Anh đúng là một đứa trẻ đáng yêu!"
Cổ Trường Thư là nhân vật nhắm thẳng đến tiền đồ chính trị, hoàn toàn không muốn duy trì mối quan hệ quá mức mật thiết với Cố Hiểu Ni. Để giữ khoảng cách với các cô ấy, Cổ Trường Thư bắt buộc phải áp dụng biện pháp tự kiềm chế bản thân, anh nghĩ, nếu để trong nhà có thêm một đôi mắt, thì anh sẽ bị quản thúc. Thế là, vài ngày sau, anh đón người bố già về nhà mình ở, một là có thời gian để bầu bạn với cụ, hai là cụ có thể nấu cơm cho anh ăn mỗi mấy ngày. Mấy ngày đầu tiên trôi qua cũng khá suôn sẻ, tối nào đi làm về bố cũng cơm nước tinh tươm đâu ra đấy, Cổ Trường Thư vừa về nhà là có ngay cơm canh nóng hổi mà húp. Ăn cơm xong, hai bố con trò chuyện chốc lát, rồi Cổ Trường Thư đọc sách viết bài, còn bố thì xem tiệc tivi, mỗi người một phòng không ai phiền đến ai. Thế nhưng đây lại chẳng phải là lối sống của người bố, cụ vốn thích tụ tập với mấy ông lão hàng xóm, rảnh rỗi là lại đánh mạt chược, đi dạo. Thực ra, buổi sáng Cổ Trường Thư vừa đi làm là bố đã tót ra khỏi nhà quay về chỗ ở cũ để hẹn hò đám bạn già đánh mạt chược. Mạt chược đánh tuốt đến ba bốn giờ chiều, bố mới lững thững sang chỗ Cổ Trường Thư nấu cơm, tối đến cũng ngủ lại đó luôn. Lâu dần, đám bạn cạ cứng bắt đầu phàn nàn, bởi vì đa số mọi người thích đánh mạt chược vào ban đêm, cho dù có đánh ban ngày đi chăng nữa, thì họ cũng muốn đánh thời gian dài một chút mới đã cơn nghiện. Thế là, người bố liền gọi đám bạn già đến bày trận ngay tại nhà của Cổ Trường Thư.
Có một hôm, Cổ Trường Thư đi cơ sở về thì thấy bố cùng mấy ông lão đang đánh mạt chược trong nhà, khói thuốc mịt mù khắp căn phòng, bày bừa vừa bẩn vừa lộn xộn. Dĩ nhiên Cổ Trường Thư chẳng đời nào nổi giận, trái lại còn tiếp đón họ cực kỳ lịch sự, lần lượt chào hỏi từng người, lại còn cung kính châm thuốc mời họ. Mấy vị trưởng bối này trước đây đều là cán bộ nhà nước cả, hồi bố anh đi lượm ve chai, vỏ chai lọ ở nhà bọn họ đều cho không bố anh cả, bản thân Cổ Trường Thư cũng từng xin không ít vỏ chai từ nhà họ. Ân huệ xưa cũ này, Cổ Trường Thư khắc ghi trong lòng mãi mãi. Cho dù không có mối quan hệ này đi nữa, thì anh vẫn vô cùng tôn trọng bạn bè của bố. Cổ Trường Thư ngồi sau lưng bố xem chốc lát cảm thấy có chút mệt mỏi, bèn bước vào phòng tắm. Sau khi tắm rửa xong Cổ Trường Thư đánh một giấc tỉnh dậy thì thấy họ vẫn đang đánh bài. Thời điểm đã điểm một giờ sáng. Thấy Cổ Trường Thư đã ngủ dậy, mấy ông cụ kêu bụng đói meo, thế là không đánh nữa. Cổ Trường Thư thấy nhà chẳng có gì ăn, bèn mời họ ra khu chợ đêm đầu phố làm bữa khuya. Đánh mạt chược suốt cả ngày trời, đến cuối cùng lại còn được phó huyện trưởng tháp tùng đi ăn đêm, mấy ông lão cảm thấy vô cùng hãnh diện, người bố cũng cảm thấy cậu con trai đã vớt vát cho ông thừa thãi thể diện.
Nhưng kể từ dạo đó, bố anh bắt đầu chứng nào tật nấy không kìm lại được nữa, cứ cách ba ngày năm bữa lại gọi đám bạn nhậu đến nhà Cổ Trường Thư đánh mạt chược. Cổ Trường Thư đi làm vắng nhà, không ai quấy rầy, phòng ốc lại vừa rộng rãi vừa yên tĩnh, đúng là địa điểm lý tưởng để chơi bài. Tần suất diễn ra quá dày đặc khiến Cổ Trường Thư có chút khó chịu, cũng chẳng vì lý do gì khác, chủ yếu là căn phòng bị làm cho bẩn quá thể. Các cụ già đi tiểu rón rén từng giọt, sơ sẩy một chút là nước tiểu văng ra ngoài bệ xí, xung quanh bồn cầu là những vệt bẩn đen sì bám đầy, nhà vệ sinh hôi thối nồng nặc chẳng ngửi nổi. Tàn thuốc lá, giấy vệ sinh vứt vương vãi khắp nơi. Ngay cả phòng khách cũng thoang thoảng mùi khó chịu. Mỗi lần thấy Cổ Trường Thư đi làm về là bố lại có chút chột dạ, sau đó lủi thủi bước vào nhà vệ sinh dọn dẹp cho thật sạch sẽ.
Có hôm, Cổ Trường Thư lên tiếng: "Bố à, sau này đừng thường xuyên gọi bọn họ đến đây đánh bài nữa. Không hay ho gì đâu. Bố dọn dẹp cũng vất vả. Nếu bố thích đánh bài thì cứ ra ngoài mà đánh." Bố vừa nghe xong liền nổi đóa, lớn giọng: "Chẳng qua chỉ cho mấy lão bạn già chơi bời chút thôi mà! Tao còn phải kìm chế bản thân đấy chứ. Cứ theo cái nết của tao thì phải đánh suốt ngày ấy chứ. Đằng nào tao cũng rảnh rỗi chẳng có việc gì làm." Cổ Trường Thư nói: "Cứ ngồi lì suốt ngày thế này, bố cũng phải nghĩ cho sức khỏe chứ. Đừng có ngồi nhiều quá hỏng cả người ra." Bố đáp: "Tao biết rồi, ngày mai tao dọn đi luôn. Khỏi phải nấu cơm cho mày nữa." Cổ Trường Thư vội vàng cười làm hòa với bố, dỗ dành: "Bố ơi, bố đừng nghĩ ngợi linh tinh nhé. Con có bảo bố đi đâu cơ chứ."
Hôm sau, Cổ Trường Thư tan sở về nhà thì phát hiện bố đã dọn đi thật rồi. Cổ Trường Thư chẳng kịp ăn cơm, vội vã chạy sang chỗ của bố, và bố lại đang cùng mấy ông già khơi mào trận chiến mới trong căn phòng của mình. Cổ Trường Thư lên tiếng: "Bố, bố không giận đấy chứ?" Bố đáp: "Giận mày á? Không có thời gian đâu. Cứ nói đến đánh bài, chỗ tao ở sướng hơn chỗ mày nhiều." Cổ Trường Thư thấy trong nồi của bố vẫn còn ít cơm nguội, liền bỏ vào lò vi sóng hâm nóng lại, vừa ăn cơm vừa đứng nhai ngấu nghiến ngay bên cạnh bàn mạt chược. Cổ Trường Thư thực ra chẳng thèm muốn ăn cơm ở chỗ bố đâu, chẳng qua chỉ để làm cho bố vui lòng mà thôi. Cổ Trường Thư thừa hiểu, làm cha làm mẹ, được thoải mái ăn uống ở nhà con trai, họ sẽ cảm thấy hạnh phúc tột cùng. Suy cho cùng thì vẫn là máu mủ ruột thịt, chung quy lại vẫn là tình thâm cốt nhục.