Xã Hội Và Sự Cô Độc: Mười Hai Chương

Lượt đọc: 32 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hùng Bi.

❊ ❊ ❊

[54]

[55]

Các bậc thầy thanh nhạc thường có quan niệm rằng bất cứ ai biết nói đều có thể hát. Cũng vậy, có lẽ ai trong đời cũng có ít nhất một khoảnh khắc biết hùng biện. Tính khí của chúng ta khác nhau ở khả năng chịu nhiệt, hay nói cách khác, chúng ta sôi ở những mức độ khác nhau. Có người được đưa đến điểm sôi nhờ sự hứng khởi trong một cuộc trò chuyện ở phòng khách. Đương nhiên, nguồn nước ấy chẳng sâu cho lắm. Sự nhiệt tình của anh ta chỉ sâu tầm hai tấc, một thứ cảm xúc sôi sục trong chiếc chảo nhỏ. Người khác lại cần thêm hơi nóng từ một đám đông và một cuộc tranh luận công khai; người thứ ba cần một đối thủ, hoặc một niềm phẫn nộ sục sôi; người thứ tư cần một cuộc cách mạng; và người thứ năm, không gì ít hơn sự vĩ đại của những tư tưởng tuyệt đối, những vẻ huy hoàng cùng bóng tối của Thiên đường và Địa ngục.

Nhưng dẫu mỗi con người đều là một nhà hùng biện, dẫu họ có phải giữ im lặng lâu đến đâu đi nữa, thì một hội đồng con người lại càng dễ bị tác động hơn gấp bội. Hùng khí của một người kích thích tất cả những người còn lại, khiến một số đạt đến ngưỡng cất lời, và tất cả những người khác đạt đến mức trở thành những người tiếp nhận và truyền dẫn xuất sắc; để rồi khi trở về bên ngọn lửa gia đình, họ tự bù đắp cho sự im lặng buộc phải tuân thủ bằng cách trở nên cực kỳ ba hoa.

[56] Hoàn cảnh của những bộ óc điềm tĩnh này còn khá hơn những kẻ sôi sục sớm hơn thời hạn, thiếu kiên nhẫn phá vỡ sự im lặng trước khi tới lúc. Các đại hội hạt của chúng ta thường trưng bày một phong cách hùng biện kiểu "nồi nhỏ chóng sôi". Chúng ta không khỏi liên tưởng đến một thí nghiệm y học trong đó một loạt bệnh nhân đang hít khí cười. Từng bệnh nhân một lần lượt bộc lộ những triệu chứng tương tự nhau — mặt đỏ bừng, nói nhiều, khua tay múa chân dữ dãז, điệu bộ cuồng loạn, thỉnh thoảng dậm chân, mất đi một cách đáng báo động nhận thức về thời gian trôi đi, tận hưởng cảm giác ích kỷ của riêng mình và hoàn toàn dửng dưng trước nỗi thống khổ của khán giả.

Plato cho rằng hình phạt mà những người khôn ngoan phải chịu khi từ chối tham gia chính quyền, chính là phải sống dưới sự cai trị của những kẻ tồi tệ hơn; và một sự tiếc nuối tương tự cũng gợi lên cho tất cả thính giả như một cái giá phải trả cho việc không chịu cất lên tiếng nói — rằng họ sẽ phải nghe những nhà hùng biện còn kém cỏi hơn chính họ.

Nhưng niềm khao khát được cất lời ấy đánh dấu cảm giác phổ quát về năng lượng của cỗ máy, và sự tò mò mà con người cảm thấy khi muốn chạm vào các lò xo. Trong số tất cả các nhạc cụ mà con người chơi đùa, hội đồng công chúng là thứ có tầm vực và sự phong phú lớn nhất, từ đó, bằng thiên tài và sự nghiên cứu, người ta có thể rút ra những hiệu ứng kỳ diệu nhất. Một khán giả không chỉ đơn thuần là phép cộng của các cá nhân hợp thành. Sự đồng cảm của họ trao cho họ một cấu trúc xã hội nhất định, lấp đầy từng thành viên theo mức độ riêng của họ, và[57] nhất là đối với nhà hùng biện, giống như một cái bình trong bộ pin điện được sạc toàn bộ dòng điện của cả bộ pin ấy. Không ai có thể quan sát khuôn mặt của một đám đông đang phấn khích mà không nhận ra cơ hội mới để khắc họa bằng lửa tư tưởng con người, và bị lay động để rồi lay động người khác. Biết bao nhà hùng biện đang ngồi im lặng ở phía dưới kia! Họ đến để đòi công lý cho đôi tai và trực giác mà không một Chatham hay Demosthenes nào bắt đầu thỏa mãn nổi.

Bộ Tam kinh xứ Wales có câu: "Nhiều thay là bạn của chiếc lưỡi vàng." Ai có thể ngạc nhiên trước sức hút của Nghị viện, Quốc hội, hay tòa án đối với những thanh niên đầy hoài bão của chúng ta, khi mà những phần thưởng cao quý nhất của xã hội đang nằm dưới chân của nhà hùng biện thành công? Anh ta có được lòng tận tụy của thính giả. Mọi danh tiếng khác đều phải im bặt trước anh ta. Anh ta mới chính là vị chúa tể thực sự; bởi vì những kẻ ngồi trên ngai vàng chưa chắc đã là vua, mà những kẻ biết cách trị vì mới thực sự là vua. Những định nghĩa về tài hùng biện mô tả sức hút của nó đối với giới trẻ. Antiphon xứ Rhamnus, một trong mười nhà hùng biện của Plutarch, từng quảng cáo tại Athens rằng "ông có thể chữa lành những bệnh trạng của tâm hồn bằng lời nói." Không có sự thịnh vượng nào lại cao hay vững chắc đến mức chỉ cần hai ba lời nói là không thể làm cho nhụt chí. Không có thảm họa nào mà những lời nói đúng đắn không thể bắt đầu xoa dịu. Isocrates mô tả nghệ thuật của mình như "sức mạnh phóng đại điều nhỏ nhặt và thu nhỏ điều to tát" — một định nghĩa sắc sảo nhưng phiến diện. Giữa lòng người Sparta, nghệ thuật ấy mang hình hài của người Sparta, cụ thể là của một thứ vũ khí sắc bén nhất.[58] Socrates nói rằng: "Nếu ai muốn trò chuyện với người hèn m kém nhất xứ Lacedaemon, thoạt đầu anh ta sẽ thấy người đó thật đáng khinh trong giao tiếp; nhưng khi cơ hội thích hợp đến, chính con người này, giống như một tay ném lao cừ khôi, sẽ tung ra một câu nói đáng chú ý, ngắn gọn và khúc chiết, đến mức kẻ trò chuyện với anh ta sẽ thấy mình chẳng khác gì một cậu bé." Định nghĩa của Plato về nghệ thuật hùng biện là "nghệ thuật cai quản tâm trí con người." Kinh Koran có câu: "Núi non có thể đổi dời, nhưng con người thì không thay đổi bản tính"; thế nhưng mục đích của tài hùng biện há chẳng phải là — phải chăng là — thay đổi trong vài giờ đồng hồ, có chăng là trong một bài thuyết trình nửa tiếng, những niềm tin và thói quen của cả năm trời hay sao? Giới trẻ cũng vô cùng khao khát tận hưởng cảm giác quyền năng được bồi đắp và sự tồn tại tương thông được mở rộng này. Nhà hùng biện thấy mình là cơ quan ngôn luận của một đám đông, đồng thời là nơi tập trung dũng khí và sức mạnh của họ:

"Nhưng giờ đây máu của hai vạn người

Đã đỏ bừng trên gương mặt tôi."

Điều mà anh ta mong muốn, điều mà tài hùng biện phải với tới, không phải là sự khéo léo đặc biệt trong việc kể chuyện, hay tóm tắt chứng cứ một cách gọn gàng, hoặc biện luận logic, hay khéo léo khơi gợi thành kiến của hội chúng — không, mà là việc chiếm lĩnh hoàn toàn và tuyệt đối tâm trí khán giả. Ta gọi kẻ ấy là một nghệ sĩ, kẻ biết chơi đùa với một đám đông như một bậc thầy trên các phím đàn piano — kẻ, khi thấy dân chúng đang cuồng nộ, liền làm cho họ dịu xuống và bình tâm lại, biết lôi kéo họ, theo ý muốn của mình,[59] đến với tiếng cười và giọt nước mắt. Hãy đưa anh ta đến trước khán giả của mình, và dù họ là ai đi nữa — thô tục hay tao nhã, vui mừng hay khó chịu, hờn dỗi hay hung dữ, với những quan điểm được giao phó cho cha xứ hay được cất giấu trong két sắt ngân hàng — anh ta vẫn sẽ làm cho họ vui lòng và chiều theo ý muốn của mình; rồi họ sẽ mang theo và thực thi những gì anh ta sai bảo.

Đây chính là thứ chủ nghĩa chuyên chế mà các nhà thơ từng ca ngợi trong câu chuyện về "Khu rúc sáo ở Hamelin", người mà âm nhạc có sức hút tựa như lực hấp dẫn — lôi kéo cả binh lính và tu sĩ, thương nhân và những kẻ dự tiệc, phụ nữ và trẻ em, chuột cống và chuột nhắt; hay quyền năng của người ca sĩ xứ Meudon, kẻ đã khiến những người khiêng quan tài phải nhảy múa quanh cỗ linh cữu. Đây là một sức mạnh có nhiều cấp độ, đòi hỏi ở nhà hùng biện một phầm chất và kinh nghiệm vô cùng phong phú, đòi hỏi một con người tổng hợp vĩ đại mà Thiên nhiên hiếm khi tạo ra; để rồi trong trải nghiệm của mình, chúng ta buộc phải gom nhặt hình mẫu ấy qua từng mảnh vụn, tài năng này ở chỗ này, tài năng khác ở chỗ kia.

Khán giả là thước đo không đổi của nhà hùng biện. Có rất nhiều thứ khán giả trong mọi cuộc họp công khai, mỗi nhóm lại lần lượt chiếm ưu thế. Nếu có điều gì hài hước và thô tục được thốt lên, bạn sẽ thấy sự trỗi dậy của lũ trẻ con và những kẻ du côn, lớn tiếng và náo động đến mức bạn có thể tưởng tượng cả căn phòng ngập tràn những kẻ như thế. Nếu những chủ đề mới được khởi xướng, trang nghiêm và cao cả hơn, thì những kẻ la cà ấy lùi lại; một sự chú ý trong sáng và khôn ngoan hơn diễn ra. Bạn sẽ tưởng như đám trẻ đang ngủ say, và những người đàn ông thì mang trong mình mọi mức độ sâu sắc. Nếu[60] diễn giả thốt lên một tâm tư cao cả, sự chú ý càng trở nên sâu sắc hơn, một tầng khán giả mới và cao cả nhất lúc này đang lắng nghe, và những khán giả của sự giải trí, của các dữ kiện cùng trí tuệ thông thường đều bị làm cho câm lặng và kính sợ. Cũng có một điều gì đó tuyệt vời ở mọi khán giả — đó là khả năng hướng thiện. Họ sẵn sàng được thánh hóa. Họ biết nhiều hơn nhà hùng biện rất nhiều — và lại vô cùng công tâm! Có một tấm bảng ở đó chờ đón từng dòng chữ mà anh ta có thể khắc lên, dẫu anh ta có vươn lên những tầng cao nhất đi nữa. Những con người khiêm nhường cảm nhận được một luồng ánh sáng mới; những vầng trán hẹp giãn nở với những tình cảm lớn lao; những tâm hồn mong manh, bấy lâu nay vẫn vô danh đối với chính mình, bị che mặt và trùm kín bởi những số phận cơ cực nhất, giờ đây lần lượt nghe thấy tiếng mẹ đẻ của chính mình lần đầu tiên trong đời, và nhảy cồng lên vì vui sướng khi được lắng nghe. Nhưng tất cả những tầng lớp khán giả khác nhau ấy, lớp này chồng lên lớp kia, lần lượt xuất hiện để chào đón sự đa dạng của phong cách và chủ đề, thực chất đều được cấu thành từ chính những con người ấy; thậm chí, đôi khi chính một cá nhân lại đóng vai trò tích cực trong tất cả các nhóm ấy, hết lượt này đến lượt khác.

Biên độ của nhiều sức mạnh ở một diễn giả hoàn hảo, và của nhiều tầng khán giả trong một hội chúng, dẫn chúng ta đến việc xem xét các giai đoạn tiếp nối của nghệ thuật hùng biện.

Có lẽ đó là phẩm chất thấp kém nhất của một nhà hùng biện, nhưng trong rất nhiều trường hợp, nó lại có tầm quan trọng hàng đầu — đó là một sức khỏe thể chất cường tráng và rạng rỡ; hay — ta nên nói thế nào nhỉ? — một nguồn nhiệt lượng động vật dồi dào. Khi mỗi thính giả cảm thấy mình chiếm một phần quá lớn trong hội chúng, và rùng mình vì lạnh trước sự thưa thớt của buổi họp ban sáng,[61] cùng nỗi sợ rằng tất cả sẽ thất bại thảm hại chỉ vì một bài diễn văn tồi, thì thuần túy sự năng nổ và đằm thắm lúc ấy lại trở nên vô giá. Sự khôn ngoan và bác học sẽ trở nên khô khan và kém chào đón biết bao khi so sánh với một con người nồng hậu đích thực, đúng như người ta vẫn nói là làm bằng dòng sữa ngọt, một người sưởi ấm căn phòng bằng sự chân thật hiển hiện và ý tốt rõ ràng, cùng một phong cách diễn thuyết hô hào tràn ngập hội chúng bằng một trận lụt sinh khí động vật, khiến mọi thứ trở nên an toàn và chắc chắn, để rồi bất kỳ và mọi loại lời nói hay đều trở nên khả thi ngay lập tức. Tôi không đánh giá quá cao thứ hùng biện động vật này; thế nhưng, cũng như chúng ta phải được nuôi dưỡng và sưởi ấm trước khi có thể làm bất cứ công việc gì cho ra ngô ra khoai — dẫu là công việc tuyệt vời nhất — thì sự dồi dào bán động vật này, giống như một chiếc lò sưởi tốt, chính là nhu cầu thiết yếu hàng đầu trong một căn nhà lạnh giá.

Khí hậu có ảnh hưởng lớn đến điều đó — khí hậu và chủng tộc. Hãy bảo một người New England mô tả bất kỳ tai nạn nào xảy ra trước mắt anh ta. Sự ngập ngừng và dè dặt biết bao trong lời kể của anh ta! Anh ta khó khăn lắm mới kể lại được một vài chi tiết, rồi tìm cách nhanh nhất có thể đi đến kết quả, và dẫu không thể miêu tả chi tiết, anh ta vẫn hy vọng gợi lên được toàn bộ khung cảnh. Giờ hãy lắng nghe một phụ nữ Ireland nghèo khó kể lại một trải nghiệm nào đó của bản thân. Lời nói của bà tuôn trào như một dòng sông — thật tự nhiên, thật hài hước, thật bi cảm, biết bao sự công bằng dành cho mọi chi tiết! Đó là một sự biến thể thực thụ — sự kiện được chuyển hóa thành lời nói, đầy ấm áp, đầy màu sắc và sự sống, y hệt như khi nó vừa xảy ra. Người miền Nam nước ta hầu như[62] ai cũng là những diễn giả, và chiếm mọi ưu thế so với người dân New England — những người có khí hậu lạnh đến mức người ta đồn rằng chúng tôi chẳng mấу khi muốn há miệng rộng hết cỡ. Thế nhưng, cả người miền Nam ở Hoa Kỳ lẫn người Ireland đều không thể sánh được với cư dân sôi nổi ở miền nam châu Âu. Lữ khách đến Sicily chẳng cần một màn trình diễn kịch nghệ nào vui nhộn hơn những gì mà bàn tiệc chung tại quán trọ có thể mang lại qua cuộc trò chuyện của những vị khách vui tính. Họ bắt chước giọng điệu và dáng vẻ của người mà họ miêu tả; họ gáy, họ rít, họ khè, họ cục tác, họ sủa và họ thét lên như phát cuồng, và chỉ bằng sức mạnh thể chất bỏ ra để kể chuyện thôi, họ cũng đủ giữ cho bàn tiệc chìm trong sự phấn khích tột độ. Thế nhưng ở bất kỳ thể trạng nào, một mức độ sinh lực động vật lớn vẫn là điều cần thiết làm nền tảng vật chất cho các phẩm chất cao quý hơn của nghệ thuật ấy.

Nhưng tài hùng biện bắt buộc phải có sức hấp dẫn, nếu không nó chẳng là gì cả. Phẩm chất của sách là phải dễ đọc, và của nhà hùng biện là phải thú vị; và đây là một ân huệ của Tự nhiên; cũng như Demosthenes, vị học giả miệt mài nhất trong lĩnh vực đó, từng biểu thị ý thức về sự cần thiết này khi ông viết hai chữ "Vận Mệnh" làm châm ngôn trên chiếc khiên của mình. Như chúng ta đều biết, sức mạnh diễn ngôn của một số cá nhân đạt đến mức độ mê hoặc, dù nó có thể không mang lại hiệu lực lâu dài. Một phần chất ngọt này phải được hòa quyện vào đó. Tài hùng biện chân chính chẳng cần đến chuông để triệu tập người ta lại, cũng chẳng cần cảnh sát để duy trì trật tự. Nó lôi cuốn trẻ em khỏi trò chơi trốn tìm, người[63] già khỏi những chiếc ghế bành, người bệnh khỏi căn phòng ấm áp của họ: nó giữ chặt lấy người nghe; đánh cắp những bước chân của họ để họ chẳng thể bỏ đi — đánh cắp ký ức của họ để họ quên đi cả những bận rộn cấp bách nhất — đánh cắp niềm tin của họ để họ không mảy may dung thứ cho bất kỳ lập luận đối nghịch nào. Những bức tranh chúng ta có về nó trong những thời kỳ bán khai, khi nó có một số lợi thế nhờ thói quen giản dị hơn của con người, cho thấy đích ngắm của nó là gì. Người ta kể rằng các Khan, hay những người kể chuyện, tại Ispahan và các thành phố khác ở phương Đông, đạt được quyền lực chi phối đối với khán giả của họ, giữ chân họ suốt nhiều giờ liền chăm chú theo dõi những cuộc phiêu lưu kỳ quái và hoang đường nhất. Cả thế giới đều khá quen thuộc với phong cách của những kẻ ứng khẩu này, và mức độ mê hoặc của chúng qua các bản dịch "Nghìn lẻ một đêm" của chúng ta. Scheherezade kể những câu chuyện này để cứu mạng mình, và sự mê đắm của giới trẻ châu Âu và châu Mỹ đối với chúng chứng minh rằng cô hoàn toàn xứng đáng với điều đó. Và ai lại không nhớ trong thời thơ ấu của mình một nàng Scheherezade da trắng, da đen hay da vàng nào đó, nhờ cái tài kể những kỳ tích vô tận về các nàng tiên, phù thủy, cùng các vị vua và hoàng hậu, mà trở nên thân thương và kỳ diệu đối với một vòng tròn trẻ em hơn bất kỳ nhà hùng biện nào ở Anh hay Mỹ hiện nay? Bản tính lười vận động và giàu trí tưởng tượng hơn của các quốc gia phương Đông khiến họ dễ dàng bị ấn tượng mạnh mẽ hơn bởi những lời kêu gọi nhắm vào trí tưởng tượng này.

Những truyền thuyết này chỉ là sự phóng đại của các sự kiện có thật, và mọi nền văn học đều chứa đựng những lời ca ngợi cao cả ấy đối với nghệ thuật của nhà hùng biện và thi sĩ, từ người Do Thái và Hy Lạp cho đến chàng Glenkindie người Scotland, người đã

"gảy một con cá ra khỏi dòng nước mặn,

Hoặc nước chảy ra từ đá vòn,

Hoặc sữa tuôn từ ngực người trinh nữ

Chưa từng sinh con một thủa tròn."

Homer đặc biệt thích thú trong việc phác họa hình mẫu ấy. Bởi vì "Odyssey" nếu không phải là một lịch sử về nhà hùng biện, dưới phong cách vĩ đại nhất, được thực hiện xuyên suốt một loạt cuộc phiêu lưu mang đến những cơ hội rực rỡ cho tài năng của ông thì là gì? Hãy nhìn xem với bao nhiêu sự cẩn trọng và niềm vui, nhà thơ đưa ông lên sân khấu. Helen đang chỉ cho Priam thấy từ trên một ngọn tháp những vị thủ lĩnh Hy Lạp khác nhau. "Ông lão hỏi: 'Hãy nói cho ta biết, đứa con thân mến, kẻ có chiều cao thấp hơn Agamemnon trọn một cái đầu, nhưng lại có bờ vai và lồng ngực rộng hơn kia là ai vậy? Vũ khí của hắn nằm trên mặt đất, nhưng hắn, tựa như một vị thủ lĩnh, đang đi quanh các tốp người. Hắn trông đối với ta giống như một con cừu đực oai nghiêm, đi như một chúa tể của bầy đàn.' Đáp lại nàng, Helen, con gái của Jove: 'Đây là Ulysses thông thái, con trai của Laertes, người lớn lên tại xứ sở Ithaca hiểm trở, am tường mọi mưu kế và lời khuyên khôn ngoan.' Đáp lại nàng, Antenor thận trọng lại nói: 'Hỡi người phụ nữ, nàng đã nói đúng sự thật. Bởi vì có lần Ulysses thông thái đã đến đây trong một sứ mệnh ngoại giao, cùng với Menelaus, người được thần Mars yêu quý. Ta đã tiếp đón họ và khoản đãi họ tại nhà mình. Ta đã làm quen với thiên tài[65] và những phán đoán khôn ngoan của cả hai. Khi họ hòa mình vào đám đông người Troia đang tụ họp và đứng lên, bờ vai rộng của Menelaus nhô cao hơn người kia; nhưng khi cả hai cùng ngồi xuống, Ulysses lại ra dáng oai nghiêm hơn. Khi họ trò chuyện, đan xen những câu chuyện và quan điểm với tất cả mọi người, Menelaus nói năng vô cùng súc tích — ít nhưng rất ngọt ngào, vì ông không phải là kẻ ba hoa, cũng chẳng thừa thãi lời thừa, lại là người trẻ tuổi hơn. Nhưng khi Ulysses thông thái đứng dậy, nhô lên và nhìn xuống, dán đôi mắt xuống đất, không đưa vương trượng ra sau cũng chẳng tiến lên trước, mà giữ yên nó như một kẻ vụng về, ngươi sẽ tưởng hắn là một kẻ giận dữ hay dại dột nào đó; nhưng khi hắn cất tiếng vang lừng phát ra từ lồng ngực, và những lời nói của hắn rơi xuống như tuyết mùa đông, thì khi ấy chẳng một phàm nhân nào có thể tranh giành với Ulysses; và chúng ta, khi chứng kiến, sau đó không còn lấy làm kinh ngạc quá nhiều trước diện mạo của hắn nữa.'"[B] Thế nên ông không quên trang bị cho Ulysses ngay từ đầu sức mạnh này để vượt qua mọi sự chống đối bằng những lời đường mật của ngôn ngữ. Plutarch kể với chúng ta rằng Thucydides, khi Archidamus, vua của Sparta, hỏi ông rằng ai là đô vật giỏi nhất — Pericles hay ông, đã đáp rằng: "Khi ta vật ngã hắn, hắn nói rằng hắn chưa từng ngã, và hắn thuyết phục ngay cả những khán giả tin theo lời mình." Philip xứ Macedon đã nói về Demosthenes, khi nghe tường thuật về một trong những bài diễn văn của ông rằng: "Giả sử ta có mặt ở đó, hắn đã thuyết phục ta cầm vũ khí chống lại chính mình"; và[66] Warren Hastings đã nói về bài phát biểu của Burke trong phiên tòa luận tội ông rằng: "Khi lắng nghe nhà hùng biện, tôi cảm thấy trong hơn nửa tiếng đồng hồ cứ như thể mình là kẻ tội lỗi nhất trên đời."

Trong những ví dụ này, những phẩm chất cao cả hơn đã hiện diện; nhưng sức mạnh níu giữ đôi tai bằng lời nói du dương, và hướng đến trí tưởng tượng cùng sức tưởng tượng, thường tồn tại mà không cần đến những giá trị cao cả hơn thế. Bị tách rời như thế, vì sự mê hoặc của ngôn luận này chỉ nhắm đến mục đích giải trí, dẫu nó có tính quyết định trong hiệu ứng chớp nhoáng của nó, thì nó vẫn chỉ là một trò ảo thuật, chẳng có chút sức mạnh lâu bền nào. Nó được lắng nghe giống như một ban nhạc đang diễu hành qua các con đường, biến tất cả những người qua đường thành thi sĩ, nhưng rồi lại bị lãng quên ngay khi vừa rẽ qua góc phố tiếp theo; và trừ phi cái lưỡi được thoa dầu này có thể, theo cách nói của người Phương Đông, liếm bay cả mặt trời và mặt trăng, nếu không nó phải đứng chung hàng với thuốc phiện và rượu mạnh. Tôi chẳng biết phương pháp nào chữa trị được nó ngoài bông gòn, hoặc sáp mà Ulysses đã nhét vào tai các thủy thủ của mình để vượt qua các nàng Sirens một cách an toàn.

Có mọi mức độ sức mạnh, và những mức độ nhỏ nhất cũng có sự thú vị riêng, nhưng chúng không được phép bị nhầm lẫn. Có cái lưỡi trơn tru và sự tự chủ bình thản của người bán hàng trong một cửa hàng lớn, thứ vốn dĩ ai cũng biết là đánh gục sự thận trọng và quyết tâm của những chủ gia đình thuộc cả hai giới. Có sự lưu loát của một tay luật sư tồi, thứ đủ gây ấn tượng với những kẻ thiếu đi tài năng đó, dẫu cho trong rất nhiều trường hợp, nó chẳng qua chỉ là sự trôi chảy trong việc diễn đạt một cách chính xác và tốc độ những gì mà ai nấy đều suy nghĩ và nói ra chậm chạp hơn, chẳng có chút thông tin mới mẻ hay sự chuẩn xác nào trong tư duy — mà chỉ là một điều y nguyên như thế, không hơn không kém. Chẳng cần đến một sự thấu thị đặc biệt nào để biên tập một tờ báo địa phương của chúng ta. Thế nhưng bất cứ ai có thể tuôn ra trôi chảy, hết câu này đến câu nọ, những nội dung chẳng hay hơn cũng chẳng kém hơn những gì được in trên đó, sẽ tạo ra ấn tượng sâu sắc đối với lượng dân chúng dễ dãi của chúng ta. Những kẻ ba hoa này thuộc tầng lớp phất lên, giống như vị giáo sư nổi tiếng nọ, nhờ việc chỉ đi trước học trò có đúng một bài học. Thêm chút mỉa mai, và những ám chỉ chớp nhoáng về các sự kiện đang diễn ra, thế là bạn có ngay một nghị sĩ Quốc hội đầy phá hoại. Một chút cay độc, một nét thô lỗ trong nghệ thuật hùng biện sẽ chẳng làm hại gì đến gã trước các khán giả của mình. Những tài năng này cũng cùng một loại, và chỉ hơn một bậc so với lời ve vẫn của người bán đấu giá, hoặc phong cách chửi rủa được miêu tả chính xác qua từ lóng đường phố là "cãi cọ". Những kiểu nói năng công khai và riêng tư này đều có công dụng và sự tiện lợi riêng đối với những kẻ hành nghề; nhưng chúng ta có thể nói chung về những thứ ấy rằng, thói quen hùng biện có xu hướng tước đi ở họ khả năng đạt tới sự hùng biện thực thụ.

Một trong các chính khách của chúng ta từng nói: "Lời nguyền của đất nước này chính là những kẻ hùng biện." Và người ta không khỏi ngạc nhiên trước sự bất an đôi khi thể hiện rõ ở những chính khách được đào tạo bài bản, với kinh nghiệm dày dặn về các vấn đề công cộng, khi họ quan sát thấy sự chênh lệch bất hợp lý được trao đột ngột cho tài hùng biện so với những cống hiến công cộng vững chắc và tích lũy lâu dài. Trong một Thượng viện hay ủy ban công tác nào đó, kết quả vững chắc phụ thuộc vào một số ít con người có năng lực làm việc. Họ biết cách đối phó với các dữ kiện trước mắt, đưa mọi thứ vào khuôn khổ thực tế, và họ chỉ đánh giá con người qua khả năng thúc đẩy công việc. Nhưng một nhân vật mới xuất hiện ở đó, hoàn toàn không có khả năng giúp đỡ họ chút nào, chẳng có tầm vóc gì và chẳng là ai trong ủy ban, lại có tài ăn nói. Trong cuộc tranh luận mở cửa, nhân vật quý giá này có một bài phát biểu, được in ra và đọc khắp toàn Liên bang, và anh ta lập tức trở nên nổi tiếng, chiếm lấy vị trí dẫn dắt trong tâm trí công chúng vượt lên trên tất cả những nhà điều hành thực tiễn kia — những kẻ, dĩ nhiên, vô cùng phẫn nộ khi thấy một kẻ chẳng có chút uyển chuyển hay kỹ năng nào, và bản thân hắn cũng thừa biết điều đó, lại được cất nhắc lên trên đầu họ nhờ cái quyền năng ăn nói mà họ vẫn thường khinh miệt.

Bỏ lại đằng sau những thứ khoe mẽ ấy, hay dở dở ương ương, để tiến lại gần hơn chút nữa với chân lý — tài hùng biện rất cuốn hút như một minh chứng cho phép màu của sự thống trị cá nhân — một quyền năng tổng hòa và kết quả, hiếm có, bởi vì nó đòi hỏi sự trùng hợp phong phú của nhiều năng lực: trí tuệ, ý chí, sự đồng cảm, các giác quan, và hơn hết thảy, là vận may trong chính nghĩa. Chúng ta mang trong mình niềm tin mong manh rằng sự tồn tại của một con người có khả năng cân bằng lại tất cả những con người khác là hoàn toàn khả thi. Chúng ta tin rằng có thể tồn tại một con người đủ sức đương đầu với mọi biến cố — một kẻ chưa từng gặp đối thủ — kẻ mà khi những người khác lao vào sẽ phải tan vỡ — một con người với nguồn lực cá nhân vô tận, kẻ có thể chấp bạn bất kỳ tỷ lệ cược nào và vẫn đánh bại bạn. Điều mà chúng ta thực sự khao khát là một trí tuệ tương xứng với mọi tình thế ngặt nghèo. Bạn được an toàn ở vùng quê của mình, hay nơi đô thành, giữa ban ngày, giữa lực lượng cảnh sát, và dưới ánh mắt của hàng trăm ngàn con người. Nhưng tình hình sẽ ra sao trên Đại Tây Dương, giữa cơn bão táp — liệu bạn có biết cách truyền sức mạnh lý trí của mình vào những con người đã tê liệt vì sợ hãi, và tự cứu lấy bản thân mình khi ấy không? — thế còn giữa bầy trộm cắp, hay giữa một đám đông phẫn nộ, hay giữa những kẻ ăn thịt người? Đối mặt trực diện với một tên cướp đường, kẻ có mọi cám dỗ và cơ hội để bạo lực và cướp bóc, liệu bạn có thể tự cứu lấy mình bằng sự ứng biến sắc sảo được thể hiện qua lời nói không? — một bài toán quá đỗi dễ dàng đối với Caesar hay Napoleon. Bất cứ khi nào một con người mang tầm vóc ấy xuất hiện, tên cướp đường đã tìm thấy bậc thầy của hắn. Thật là một sự khác biệt lớn lao giữa con người ở uy lực của ánh mắt! Một con người thành công bởi vì hắn có uy lực ánh mắt lớn hơn kẻ khác, và qua đó nịnh bợ hoặc làm cho kẻ đó bối rối. Các tờ báo, tuần nào cũng vậy, đưa tin về những cuộc phiêu lưu của một tên bịp bợm mặt dày nào đó, kẻ mà nhờ sự kiên định trong phong thái, đã lừa gạt cả những kẻ đáng lẽ phải khôn ngoan hơn thế. Thế nhưng bất kỳ kẻ lơ bịp nào mà chúng ta từng biết đều chỉ là những kẻ nghiệp dư và vụng về, điều đó được minh chứng qua tiếng tăm tồi tệ của chúng. Một uy lực gương mặt lớn hơn sẽ hoàn thành được bất kỳ điều gì, và cùng với phần chiến lợi phẩm còn lại, chúng sẽ quét sạch cả tiếng tăm tồi tệ ấy. Một uy lực thể hiện sự việc một cách kiêu hãnh và với sự tự tin hoàn hảo sẽ làm cho thương gia, chủ ngân hàng, thẩm phán, những kẻ có thế lực và quyền uy — cả thi sĩ lẫn tổng thống — phải bối rối, và có thể đứng đầu bất kỳ đảng phái nào, phế truất bất kỳ vị quân vương nào, và bãi bỏ bất kỳ hiến pháp nào ở cả châu Âu lẫn châu Mỹ. Người ta từng nói rằng một con người đã đạt được quyền lực to lớn chỉ trong một bước đi, khi hắn từ bỏ tình cảm đạo đức của mình, và tự định đoạt với bản thân rằng hắn sẽ không còn chùn bước trước bất cứ điều gì nữa. Người ta từng nói về Sir William Pepperel, một trong những nhân vật khả kính của New England rằng: "Đặt ông ở bất cứ đâu, ông đều nắm quyền chỉ huy, và thấy những gì mình muốn đều trở thành hiện thực." Julius Caesar từng nói với Metellus, khi vị tribún ấy can thiệp ngăn cản ông bước vào kho bạc La Mã: "Hỡi chàng thanh niên, việc ta tước đoạt mạng sống của cậu còn dễ hơn là nói ra điều đó"; và người thanh niên đã nhượng bộ. Trong những ngày đầu đời, ông bị bắt cóc bởi những tên cướp biển. Rồi sao nào? Ông tự lao lên con tàu của chúng, thiết lập những mối thâm giao kỳ lạ nhất, kể cho chúng nghe những câu chuyện, hùng biện trước mặt chúng; nếu chúng không vỗ tay tán thưởng các bài diễn văn của ông, ông đe dọa sẽ treo cổ chúng — việc mà sau đó ông đã thực hiện — và chẳng bao lâu sau, ông đã trở thành chủ nhân của tất cả mọi người trên tàu. Đây là một con người không bao giờ có thể bị làm cho bối rối, và do đó không bao giờ phải chơi lá bài cuối cùng của mình, mà luôn có một nguồn sức mạnh dự trữ khi ông đã đánh trúng đích. Với một gương mặt tĩnh lặng, ông lật đổ cả một vương. Những gì được kể về ông mang tính phép màu; nó tác động đến con người là thế. Niềm tin của con người dành cho ông là vô điều kiện, và ông thay đổi bộ mặt của thế giới, để rồi lịch sử, thơ ca và những triết học mới ra đời để lý giải về ông. Một vị thống soái tối cao ngự trị trên mọi đam mê và cảm xúc của chính mình; nhưng bí mật về quyền cai trị của ông còn cao cả hơn thế. Đó là sức mạnh của Tự nhiên tuôn chảy không chướng ngại từ bộ óc và ý chí vào đôi bàn tay. Đàn ông và phụ nữ chính là con mồi của ông. Ở đâu có họ, ở đó ông không bao giờ thiếu nguồn lực. "Bất cứ ai biết ăn nói giỏi," Luther từng nói, "đó là một con người." Chính những con người mang tầm vóc này là những người mà các Bang Hy Lạp thường hay thỉnh cầu Sparta cử làm tướng lĩnh. Họ không gửi sứ giả đến Lacedaemon để xin quân đội, mà họ nói: "Hãy cử đến cho chúng tôi một vị tướng"; và Pausanias, hay Gylippus, hay Brasidas, hay Agis, đã được các Ephor phái đi.

Thật dễ dàng để minh họa cho nhân cách áp đảo này qua những ví dụ về các binh sĩ và vị vua; thế nhưng có những con người chọn lối sống vô cùng hòa bình, và những nguyên tắc hòa bình, lại là những người được cảm nhận rõ ràng ở bất cứ nơi đâu họ đặt chân tới, tựa như cái nắng tháng Bảy hay cái rét tháng Mười Hai — những con người mà khi họ cất tiếng, người ta đều lắng nghe, dẫu họ chỉ thì thầm — những người mà khi hành động, họ hành động một cách hiệu quả, và những gì họ làm đều được noi theo; và những ví dụ như thế có thể được tìm thấy ở những bục phát biểu rất đỗi khiêm nhường cũng như ở những nơi cao sang.

Ở các quốc gia cổ kính, một giá trị tiền bạc rất cao được đặt vào dịch vụ của những người đã đạt được sự xuất chúng cá nhân. Kẻ nào có việc cần giải quyết thì phải thuê, không phải một vị luật sư khéo léo, mà là một nhân vật có uy quyền chỉ huy. Một luật sư bào chữa ở Anh nổi tiếng là kiếm được ba mươi hoặc bốn mươi nghìn bảng Anh mỗi năm khi đại diện cho các yêu sách của các công ty đường sắt trước các ủy ban của Hạ viện. Khách hàng của họ trả tiền không phải quá nhiều cho các kỹ năng pháp lý mà là cho các phẩm chất nam tính — cho lòng dũng cảm, hạnh kiểm, và một vị thế xã hội đầy quyền uy, những điều cho phép ông ta khiến các yêu sách của họ được lắng nghe và tôn trọng.

Tôi thừa biết rằng, giữa những con người điềm tĩnh và tính toán của chúng ta, nơi mỗi cá nhân đều tự canh chừng chính mình, nơi những cơn nhiệt huyết, sự hoảng loạn và sự buông thả hoàn toàn nằm ngoài hệ thống, thì có một lượng không nhỏ chủ nghĩa hoài nghi đối với những ảnh hưởng phi thường. Nói về một tâm trí có sức mạnh áp đảo sẽ khơi dậy sự ghen tị và thái độ thách thức y hệt như những gì người ta có thể quan sát thấy quanh một chiếc bàn nơi có ai đó đang kể lại những giai thoại kỳ diệu về thuật thôi miên. Mỗi thính giả đều đặt dấu chấm hết cho câu chuyện bằng cách thốt lên: "Liệu hắn ta có thôi miên được tôi không?" Cũng thế, mỗi con người lại thắc mắc liệu có nhà hùng biện nào có thể lay chuyển được niềm tin của chính họ hay không.

Nhưng có ai tự cho rằng bản thân hoàn toàn bất khả xâm phạm không? Liệu anh ta có nghĩ rằng không đời nào có một con người có thể đến và thuyết phục anh ta từ bỏ quyết tâm vững chắc nhất của mình hay không? — chẳng hạn, một công dân điềm đạm tốt tính như anh ta lại bị biến thành một kẻ cuồng tín, hoặc nếu anh ta keo kiệt, lại ném tiền qua cửa sổ cho một mục đích nào đó mà hiện tại anh ta ít ngờ tới nhất, hoặc nếu anh ta là một người thận trọng, chăm chỉ, lại từ bỏ công việc của mình và dành cả ngày lẫn tuần cho một mối quan tâm hoàn toàn mới? Không, anh ta thách thức tất cả mọi người, từng người một. À, anh ta đang nghĩ đến sự kháng cự, và một ngã rẽ khác biệt so với hướng đi của chính mình. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu có một kẻ xuất hiện cùng chung một ngã rẽ tâm trí như anh ta, và nhìn xa hơn anh ta rất nhiều trên con đường của chính anh ta? Một con người có sở thích giống tôi, nhưng với sức mạnh lớn hơn, sẽ cai trị tôi bất cứ ngày nào, và khiến tôi yêu mến kẻ cai trị mình.

[73] Do đó, điều mà chúng ta ưu tiên xem xét dưới từ ngữ hùng biện không phải là các kỹ năng ngôn từ, mà là sức mạnh vốn hiện diện để mang lại sự hoàn hảo cho chúng, và nếu vắng bóng, sẽ khiến chúng chỉ còn lại giá trị vô cùng nông cạn. Tài hùng biện là cơ quan ngôn luận thích hợp của năng lượng cá nhân đỉnh cao. Sự thống trị cá nhân có thể tồn tại cùng hoặc không cùng với tài năng tương xứng để diễn đạt nó. Nó được cảm nhận chắc chắn hệt như một quả núi hay một hành tinh; nhưng khi nó được trang bị thứ vũ khí là ngôn từ, nó dường như mới thực sự trở nên mang tính con người, hoạt động tích cực theo mọi hướng, và cung cấp cho trí tưởng tượng những nguyên liệu tuyệt vời.

Hoàn cảnh này hiện diện trong mọi đánh giá về quyền lực của các nhà hùng biện, và là chìa khóa cho mọi hiệu ứng của họ. Trong hội chúng, bạn sẽ thấy nhà hùng biện và khán giả nằm trong trạng thái cân bằng vĩnh cửu; và sự chiếm ưu thế của bên nào được biểu thị qua sự lựa chọn chủ đề. Nếu các tài năng diễn thuyết tồn tại, nhưng thiếu đi nhân cách mạnh mẽ, thì sẽ có những diễn giả giỏi, những kẻ tiếp nhận và thể hiện hoàn hảo ý chí của khán giả, và đám đông bình dân nhất cũng cảm thấy được nịnh bợ khi nghe cái tâm trí thấp kém của mình được phản chiếu lại với mọi thứ trang hoàng mà tài năng hạnh phúc có thể bồi đắp. Nhưng nếu nhà hùng biện có cá nhân tính, bộ mặt của vạn vật liền thay đổi. Khán giả bị đẩy vào thái độ của một học trò, noi theo như một đứa trẻ đối với người thầy của mình, và lắng nghe những gì anh ta muốn nói. Tựa hồ như giữa hội đồng nhà vua ở Madrid, Ximenes thúc giục rằng có thể giành được ưu thế trước nước Pháp,[74] và Mendoza rằng có thể kìm hãm Flanders, còn Columbus, khi được đưa vào yết kiến, bị tra hỏi liệu kiến thức địa lý của ông có thể giúp ích gì cho nội các hay không, và ông chẳng thể nói gì với bên này hay bên nọ, nhưng lại có thể chỉ cho thấy toàn bộ châu Âu có thể bị lu mờ và thu hẹp dưới quyền nhà vua ra sao, bằng cách sáp nhập vào Tây Ban Nha một lục địa rộng lớn bằng sáu hoặc bảy châu Âu.

Sự cân bằng giữa nhà hùng biện và khán giả được thể hiện qua cái gọi là sự thích đáng của diễn giả. Luôn luôn có một sự cạnh tranh giữa nhà hùng biện và hoàn cảnh, giữa những đòi hỏi của thời khắc hiện tại và sự cố chấp của cá nhân. Tình huống khẩn cấp đã triệu tập cuộc họp thường có tầm quan trọng lớn hơn bất cứ thứ gì mà những kẻ tranh luận đang ấp ủ trong tâm trí, và do đó trở nên bắt buộc đối với họ. Nhưng nếu một người trong số họ mang trong tim điều gì đó có tính chất cấp thiết tột độ, anh ta sẽ nhanh chóng tìm ra lối thoát cho nó, và với sự tán dương của hội chúng! Sự cân bằng này được quan sát thấy ngay cả trong những mối giao lưu riêng tư nhất. Tội nghiệp Tom chưa bao giờ biết đến thời điểm nào mà sự việc hiện tại lại tầm thường đến mức anh ta có thể nói ra những gì đang diễn ra trong tâm trí mình mà không bị quở trách vì nói năng sai lúc; nhưng hãy để Bacon cất lời, và những kẻ khôn ngoan thà chọn lắng nghe, dẫu cho cuộc cách mạng của các vương quốc đang diễn ra đi nữa. Tôi từng nghe kể về một vị linh mục hùng biện, người mà giọng nói vẫn chưa bị lãng quên tại thành phố này rằng, vào những dịp có tang tóc hoặc thảm họa bi thảm,[75] thứ bao trùm lấy hội chúng trong sự u ám, ông bước lên bục giảng với sự hân hoan hơn bình thường, và quay sang những bài học ưa thích về lòng biết ơn sùng kính và hoan hỉ — "Hãy ngợi khen Chúa" — đã kéo theo cả khán giả, những người chịu tang và nỗi tang tóc ấy đi cùng mình, và quét sạch mọi sự vô lối của nỗi đau riêng tư bằng những khúc hosanna và bài ca ngợi ca của ông. Pepys nói về Lord Clarendon (người mà ông “yêu đến phát cuồng”) khi trở về từ một buổi hội đàm: “Tôi chưa từng quan sát thấy việc một người nói năng dễ dàng đến thế nào khi anh ta biết toàn bộ những người có mặt đều ở dưới tầm của mình, thay vì ở ngang hàng với mình; bởi vì, dẫu ông ấy thực sự nói rất tuyệt vời, nhưng phong thái và sự tự do khi làm điều đó, tựa như ông đang chơi đùa với nó, và chỉ đang thông tin cho tất cả những người còn lại trong phòng, mới thực sự vô cùng xinh đẹp.”[C]

Sự cạnh tranh giữa nhà hùng biện và hoàn cảnh là điều không thể tránh khỏi, và hoàn cảnh luôn nhường bước trước sự xuất chúng của diễn giả; bởi vì một con người vĩ đại chính là hoàn cảnh vĩ đại nhất. Dĩ nhiên, lợi ích của khán giả và nhà hùng biện đồng điệu với nhau. Mọi chuyện chỉ tốt đẹp với họ khi ảnh hưởng của ông là trọn vẹn; chỉ khi ấy họ mới vô cùng hoan hỉ. Đặc biệt, ông củng cố quyền lực của mình bằng cách tự tạo ra thay vì nhận lấy chủ đề của mình. Nếu ông cố gắng dạy dỗ người ta về những điều họ đã biết, ông sẽ thất bại; nhưng bằng cách làm cho họ khôn ngoan hơn trong những điều ông biết, ông chiếm được ưu thế trước hội chúng trong mọi khoảnh khắc.[76] Chiến thuật hành quân vào góc của một đội quân của Napoleon, và luôn trình bày một sự vượt trội về số lượng, cũng chính là bí quyết của nhà hùng biện.

Những tài năng khác nhau mà nhà hùng biện sử dụng, những thứ vũ khí rực rỡ từng trang bị cho Demosthenes, Eschines, Demades — nhà hùng biện bẩm sinh, Fox, Pitt, Patrick Henry, Adams, Mirabeau, xứng đáng được liệt kê đặc biệt. Chúng ta không thể hoàn toàn bỏ qua việc kể tên những phần chính yếu.

Nhà hùng biện, như chúng ta đã thấy, phải là một nhân cách vững chắc. Trước hết, ông phải có sức mạnh trình bày — phải nắm rõ sự kiện và biết cách kể lại nó. Trong bất kỳ nhóm người nào trò chuyện về bất kỳ chủ đề gì, kẻ nào biết nhiều nhất về nó sẽ chiếm được đôi tai của hội chúng, nếu hắn muốn, và dẫn dắt cuộc trò chuyện — bất kể những người khác có mặt ở đó sở hữu thiên tài hay sự nổi bật nào; và trong bất kỳ hội chúng công khai nào, kẻ nào nắm giữ các sự kiện, có thể và sẵn sàng trình bày chúng, người ta sẽ lắng nghe, dẫu cho hắn ta có dốt nát về mặt khác, dẫu hắn khàn giọng và vô duyên, dẫu hắn có nói lắp hay thét gào.

Trong một phiên tòa, các bồi thẩm đoàn hoàn toàn vô tư; họ thực sự muốn sàng lọc các lời khai và biết đâu là sự thật. Và trong việc thẩm vấn các nhân chứng, thường xuất hiện hoàn toàn bất ngờ ba hoặc bốn từ ngữ cứng nhắc mang tính cốt lõi và định mệnh của vụ án, những thứ thấm sâu vào tai của tất cả các bên, bám chặt lấy đó, và quyết định vụ án. Tất cả những phần còn lại chỉ là sự lặp lại và giảm nhẹ;[77] và tòa án cùng hạt thực sự đã tề tựu lại để đi đến ba hoặc bốn biểu đạt đáng nhớ này, những thứ đã làm lộ rõ tâm trí và ý đồ của ai đó.

Trong bất kỳ hội nhóm nào, kẻ nắm giữ sự kiện cũng giống như hướng dẫn viên mà bạn thuê để dẫn đoàn người của mình leo núi, hoặc băng qua một vùng đất hiểm trở. Anh ta có thể chẳng sánh được với bất kỳ ai trong đoàn về mặt trí tuệ, giáo dưỡng, lòng dũng cảm hay tài sản, nhưng anh ta lại quan trọng hơn rất nhiều đối với nhu cầu trước mắt so với bất kỳ ai trong số họ. Đó là lý do chúng ta đến tòa án — để nghe trình bày sự kiện và loại bỏ một sự kiện chung, mối quan hệ thực chất của tất cả các bên; và chính sự chắc chắn rằng, bất kể trong vụ việc nào được xử lý tốt, sự thật đều đập vào mắt chúng ta xuyên qua mọi lớp ngụy trang được trùm lên nó — một lát cắt của đời sống con người quen thuộc — mới là điều tạo nên sự thú vị của phòng xử án đối với một khán giả thông thái.

Tôi nhớ rằng, từ rất lâu trước đây, tôi từng bị thu hút bởi danh tiếng của luật sư và tầm quan trọng địa phương của vụ án nên đã bước vào phòng xử án. Các luật sư bào chữa cho bị cáo là những luật sư cừ khôi và xảo quyệt nhất trong Thịnh vượng chung. Họ dồn luật sư đại diện cho bang từ góc này sang góc khác, tước đoạt các lý lẽ của ông ta, và đẩy ông ta vào sự im lặng, nhưng không phải sự quy phục. Khi bị dồn ép gay gắt, ông ta lại quay sang trả đũa thẩm phán bằng cách yêu cầu tòa án định nghĩa thế nào là tiền công cứu hộ tàu thuyền.[78] Tòa án, bị dồn vào chân tường như thế, bèn xoay sở bằng ngôn từ, nói tất cả những gì có thể nghĩ ra để kéo dài thời gian, đưa ra các giả định, và mô tả nghĩa vụ của các công ty bảo hiểm, thuyền trưởng, hoa tiêu, và các sĩ quan hàng hải đủ loại hiện có hoặc có thể có — giống như một giáo viên lúng túng trước một bài toán khó, đọc bối cảnh với vẻ nhấn mạnh. Nhưng toàn bộ dòng thác lời lẽ đó vẫn không đủ để con mực kịp phun mực tẩu thoát, trong khi con cá mập đáng sợ của viên công lý quận vẫn ở đó, nghiêm nghị chờ đợi với câu nói “Tòa án phải định nghĩa,” — tòa án tội nghiệp đành ngậm ngùi biện minh cho sự kém cỏi của mình. Tòa án cấp trên phải thiết lập luật pháp cho việc này, và vị thẩm phán đọc một cách đáng thương các phán quyết của Tối cao Pháp viện, nhưng đọc cho những kẻ chẳng có chút lòng trắc ẩn nào. Cuối cùng, vị thẩm phán buộc phải phán quyết điều gì đó, và các luật sư đã cứu được gã lưu manh của họ dưới màn sương mù của một định nghĩa. Các vai diễn được phân vai và phân biệt rạch ròi đến mức việc theo dõi nó trở thành một trò chơi vô cùng thú vị. Chính quyền được đại diện đầy đủ. Nó ngu ngốc, nhưng nó có ý chí mạnh mẽ cùng quyền kiểm soát, và bám trụ lấy điều đó cho đến cùng. Vị thẩm phán có một nhiệm vụ vượt quá sự chuẩn bị của ông, thế nhưng vị thế của ông vẫn mang tính thực tế: ông ở đó để đại diện cho một thực tại vĩ đại — công lý của các quốc gia, thứ mà chúng ta hoàn toàn có thể nhìn thấy đang sừng sững trên đầu ông, và chẳng có lời lẽ vớ vẩn nào của ông có thể tác động hay cản trở được, bởi vì ông hoàn toàn có ý thiện.

Tuy nhiên, việc trình bày sự kiện vẫn lu mờ trước việc trình bày luật pháp, thứ đòi hỏi những năng lực cao hơn vô kể, và là một ân huệ hiếm có nhất, vốn ở mọi bậc thầy vĩ đại đều là một và giống nhau — ở các luật sư, không có gì là kỹ thuật, mà luôn là một phần của lẽ thường tình, vừa thú vị đối với thường dân vừa hấp dẫn đối với các giáo sĩ. Phẩm chất của Lord Mansfield chính là phẩm chất của lẽ thường tình. Đó cũng là phẩm chất mà chúng ta ngưỡng mộ ở Aristotle, Montaigne, Cervantes, Samuel Johnson hay Franklin. Việc áp dụng nó vào luật pháp dường như hoàn toàn tình cờ. Mỗi phán quyết nổi tiếng của Mansfield đều chứa đựng một hoặc hai câu văn bình dị nhưng bắn trúng đích. Các câu văn của ông không phải lúc nào cũng bóng bảy về mặt hình thức, nhưng lại hoàn thiện về mặt tư duy. Các câu văn có vẻ lắt léo, nhưng một mệnh đề vững chắc được đặt ra, một sự phân biệt chân chính được vạch ra. Chúng xuất phát từ và hướng tới sự hiểu biết thông thạo của con người; và tôi đọc mà không lấy làm ngạc nhiên khi các luật sư chuyên nghiên cứu văn bản cổ thời đó đã nhạo báng những “phán quyết công bằng” của ông, cứ như thể chúng không hề uyên bác vậy. Quả thực, đó chính là mục đích của ngôn ngữ — để đưa ra lời tuyên bố; và tất cả những gì được gọi là tài hùng biện đối với tôi dường như có rất ít công dụng, phần lớn là thế, đối với những kẻ sở hữu nó, nhưng lại vô giá đối với những ai có điều gì đó để nói.

Đứng sau kiến thức về sự kiện và luật pháp là phương pháp, thứ cấu thành nên thiên tài và hiệu suất của tất cả những con người kiệt xuất. Một đám đông tụ tập tại Faneuil Hall; tất cả bọn họ đều khá quen thuộc với mục đích của cuộc họp; họ đều đã đọc các sự kiện trên cùng một tờ báo. Nhà hùng biện không sở hữu bất kỳ thông tin nào mà thính giả của ông chưa biết; thế nhưng ông lại dạy họ cách nhìn nhận sự việc bằng đôi mắt của chính ông.[80] Bằng cách sắp xếp lại vị trí, các hoàn cảnh có được sự vững chắc và giá trị mới. Mỗi sự kiện đều gia tăng tầm quan trọng qua cách ông gọi tên nó, và những điều vụn vặt bỗng trở nên quan trọng. Các biểu đạt của ông khắc sâu vào ký ức con người, và bay từ miệng người này sang miệng người khác. Tư duy của ông có một nguyên tắc trật tự mới. Nơi ánh mắt ông dừng lại, mọi thứ đều tự động bay vào đúng vị trí của chúng. Hơi thở tiếp theo ông sẽ nói gì? Hãy để con người này cất tiếng, và chỉ một mình con người này thôi. Bằng cách áp dụng những thói quen của một tầng tư duy cao hơn vào các vấn đề tầm thường của thế giới này, ông mang cái đẹp và sự tráng lệ đến bất cứ nơi nào ông đặt chân tới. Đó chính là sức mạnh của Burke, và thiên tài dạng này từng có những ví dụ rực rỡ trong số các nhân vật chính trị và pháp lý của chính chúng ta.

Hình ảnh. Nhà hùng biện phải, ở một mức độ nhất định, là một thi sĩ. Chúng ta là những sinh vật giàu trí tưởng tượng đến mức chẳng có gì tác động mạnh mẽ đến tâm trí con người, dã man hay văn minh, bằng một hình ảnh ẩn dụ. Hãy cô đọng một trải nghiệm hằng ngày thành một biểu tượng rực ngời, và cả hội chúng sẽ bị điện giật. Họ cảm thấy như thể mình đã sở hữu một quyền hạn và sức mạnh mới đối với một sự kiện, thứ mà họ có thể tách rời ra, và qua đó nắm bắt hoàn toàn trong tư duy. Đó là một sự trợ giúp tuyệt vời cho trí nhớ, thứ mang theo hình ảnh ấy và không bao giờ đánh mất nó. Một hội chúng công cộng, như Hạ viện, Viện Pháp quốc, hay Quốc hội Mỹ, bị thống trị bởi hai quyền năng này — đầu tiên là sự kiện, sau đó là kỹ năng trình bày. Hãy đặt lập luận vào một hình hài cụ thể, vào một hình ảnh — một cụm từ sắc sảo, tròn trịa và rắn chắc như một quả bóng, thứ mà họ có thể nhìn thấy, cầm nắm và mang theo về nhà — thế là vụ án đã thắng được một nửa.

Sự trình bày, phương pháp, hình ảnh, sự lựa chọn, trí nhớ bền bỉ, khả năng đối phó với các sự kiện, làm sáng tỏ chúng, lấn át chúng bằng sự mỉa mai hoặc sự chuyển hướng tư duy, khả năng khái quát hóa nhanh chóng, sự hài hước, tính bi cảm là những chiếc chìa khóa mà nhà hùng biện nắm giữ; thế nhưng những ân huệ tuyệt vời này không phải là tài hùng biện, và thường cản trở con người đạt được nó. Và nếu chúng ta đi đến tận cùng cốt lõi của bí ẩn ấy, có lẽ chúng ta nên nói rằng một nhà hùng biện chân chính là một con người minh mẫn với khả năng truyền đạt sự minh mẫn đó. Nếu bạn trang bị cho một người những thứ vũ khí phi thường của nghệ thuật này, trao cho anh ta sự nắm bắt về các sự kiện, sự uyên bác, trí tưởng tượng nhanh nhạy, sự mỉa mai, những điển tích lộng lẫy, những hình minh họa vô tận — tất cả những tài năng ấy, dẫu hùng mạnh và quyến rũ đến đâu, đều có sức mạnh ngang nhau trong việc mê hoặc và dẫn dụ cả thính giả lẫn nhà hùng biện. Tài năng của anh ta vượt quá tầm kiểm soát, những con ngựa của anh ta lồng lên và kéo lê anh ta đi; và mọi người luôn nhận thức được việc bạn đang cầm cương hay chính những con ngựa đang ngoạm lấy hàm bit và phóng cuồng cuồng. Nhưng những tài năng ấy lại là một chuyện hoàn toàn khác khi chúng được khuất phục và phục vụ anh ta; và chúng ta đến Washington, hoặc đến Westminster Hall, hay hoàn toàn có thể đi vòng quanh thế giới, để chiêm ngưỡng một con người biết cầm cương và không bị kéo lê đi — một con người, khi theo đuổi những hoài bão lớn lao, nắm quyền kiểm soát tuyệt đối các phương tiện để diễn đạt ý tưởng của mình, và chỉ sử dụng chúng để biểu đạt những điều đó; sắp đặt các sự kiện, sắp đặt con người; giữa sự nhẹ dạ khôn lường của loài người,[82] chưa từng có một khoảnh khắc nào bị bẻ cong khỏi sự ngay thẳng của mình. Đối với mỗi con người luôn tồn tại một sự trình bày khả dĩ về chân lý mà anh ta vốn miễn cưỡng tiếp nhận nhất — một sự trình bày khả dĩ vừa rộng lớn vừa sâu cay đến mức anh ta không thể trốn tránh, mà buộc phải hoặc cúi đầu trước nó hoặc chết vì nó. Nếu không thì chẳng có từ ngữ nào gọi là tài hùng biện cả, bởi vì đó chính là ý nghĩa của nó. Kẻ lắng nghe không thể che giấu với chính mình rằng một điều gì đó đã được phơi bày trước anh ta và toàn thế giới, thứ mà anh ta không hề muốn nhìn thấy; và vì anh ta không thể vứt bỏ nó, nó liền định đoạt số phận của anh ta. Lịch sử về các nhân vật và sự kiện công cộng ở Mỹ sẽ dễ dàng cung cấp những ví dụ bi tráng về thứ sức mạnh chí mạng này.

Đối với những chiến thắng của nghệ thuật này, vẫn cần phải có thêm một chút gì đó nữa, đó là sự hậu thuẫn con người từ các biến cố, nhằm mang lại sức mạnh kép của lý trí và định mệnh. Trong tài hùng biện siêu việt, luôn luôn có một cuộc khủng hoảng nào đó trong các vấn đề, đủ sức gắn kết sâu sắc con người với chính nghĩa mà anh ta biện hộ, và dồn toàn bộ nguồn sức mạnh to lớn ấy vào một điểm duy nhất. Để tạo ra những vụ nổ và sự phun trào, bắt buộc phải có những sự tích tụ nhiệt lượng ở đâu đó, những lớp than anthracite đang bốc cháy ở trung tâm. Và trong những trường hợp mà niềm tin uyên thâm đã được hình thành, nhà hùng biện đích thực không phải là một kẻ ăn nói hoa mỹ, mà là một kẻ say sưa từ trong tâm khảm với một niềm tin nào đó. Nó làm rung chuyển và xé toạc anh ta, và có lẽ suýt tước đi khả năng phát âm của anh ta. Khi ấy, nó trào ra từ anh ta như những tiếng thét ngắn ngủi, đột ngột, trong những dòng thác mang đầy ý nghĩa. Sự chiếm lĩnh của chủ đề đối với tâm trí anh ta quá toàn diện,[83] đến mức nó đảm bảo một trật tự biểu đạt chính là trật tự của Bản thân Tự nhiên, và do đó là trật tự có sức mạnh lớn nhất, thứ mà không một nghệ thuật nào có thể bắt chước được. Và sự khác biệt chính giữa anh ta với những diễn viên tài năng khác chính là niềm tin, được truyền tải qua từng từ ngữ, rằng tâm trí anh ta đang chiêm ngưỡng một tổng thể, và bị nung nấu bởi sự chiêm ngưỡng tổng thể ấy, đồng thời những từ ngữ và câu văn được anh ta thốt lên, dẫu tuyệt diệu đến đâu đi nữa, vẫn rơi xuống từ anh ta như những phần không màng tới của tổng thể kinh khủng mà anh ta nhìn thấy, và mà anh ta muốn bạn cũng phải nhìn thấy. Thêm vào sự tập trung đó một sự bình thản ngự trị, thứ mà trong mọi náo động, chưa từng thốt ra một âm tiết non nớt nào, mà giữ kín bí mật về phương tiện và phương pháp của mình; và nhà hùng biện đứng trước nhân dân như một quyền lực ma quái mà họ hoàn toàn không có chìa khóa để giải mã những phép màu của hắn. Sự nghiêm túc đáng sợ này đã minh chứng cho điều mê tín cổ xưa của người thợ săn rằng: viên đạn sẽ bắn trúng đích, miễn là nó được nhúng trước vào máu của chính xạ thủ.

Tài hùng biện phải được đặt nền móng trên những câu chuyện kể bình dị nhất. Sau đó, nó có thể tự làm nóng mình cho đến khi tỏa ra những biểu tượng đủ mọi thể loại và màu sắc, chỉ cất lời thông qua những hình thức thơ ca nhất; nhưng trước sau như một, nó vẫn phải nằm lòng ở phần cốt lõi một lời tuyên bố mang tính Kinh Thánh về sự kiện. Nhà hùng biện nhờ đó mà trở thành nhà hùng biện, bởi vì anh ta luôn giữ đôi chân mình đứng vững trên một sự kiện. Chỉ bằng cách đó anh ta mới là kẻ bất khả chiến bại. Không có tài năng nào, không có vẻ uyển chuyển nào, không có sức mạnh wit hay sự uyên bác hay minh họa nào có thể bù đắp cho sự thiếu vắng điều này. Mọi khán giả đều vô cùng công tâm đối với điểm này. Danh tiếng về giọng điệu hay nghệ thuật hùng biện sẽ chỉ lôi kéo mọi người đến nghe một diễn giả vài lần; nhưng họ sẽ nhanh chóng bắt đầu đặt câu hỏi: "Hắn ta đang nhắm tới điều gì?", và nếu con người này chẳng đại diện cho cái gì cả, anh ta sẽ bị bỏ rơi. Một người ủng hộ kiên định cho bất kỳ điều gì họ tin tưởng, một kẻ nói về sự kiện dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ được họ dõi theo dài lâu; nhưng sự ngập ngừng trong chính tính cách của diễn giả thực sự là một sự mất mát về sức hút. Vị linh mục liệt kê các tầng lớp con người, và tôi không tìm thấy vị trí của mình trong đó; khi ấy tôi nghi ngờ rằng chẳng có ai tìm thấy cả. Mọi thứ đều là họ hàng của tôi; và khi anh ta nói về những sự vật, tôi cảm thấy anh ta đang chạm đến một vài mối quan hệ của mình, và tôi cảm thấy bất an; nhưng khi anh ta chỉ xoay quanh những từ ngữ, chúng ta lại được giải thoát khỏi sự chú ý. Nếu bạn muốn nâng tôi lên, bạn phải đứng ở nền tảng cao hơn. Nếu bạn muốn giải thoát tôi, chính bạn phải được tự do. Nếu bạn muốn chỉnh đửa góc nhìn sai lầm của tôi về các sự kiện — hãy giơ trước mặt tôi chính những sự kiện đó trong trật tự đúng đắn của tư duy, và tôi không thể quay lưng lại với niềm tin mới ấy.

Sức mạnh của Chatham, Pericles, Luther, đều nằm trên sức mạnh tính cách này, thứ vốn dĩ không và không thể sợ hãi bất kỳ ai, nên chẳng coi trọng các đối thủ của họ là gì, và đôi khi trở nên vô cùng khiêu khích đối với những kẻ đó.

Chúng ta chỉ được trang bị rất ít giai thoại về những con người này, và chúng ta cũng chẳng thể nhờ cậy vào những cuốn sách nặng nề ghi chép lại các bài diễn văn của họ. Một số người trong số họ là nhà văn, như Burke; nhưng hầu hết thì không, và chẳng có ghi chép nào thực sự tương xứng với danh tiếng của họ còn tồn tại. Hơn nữa, điều tuyệt vời nhất đã bị thất lạc — cuộc sống sục sôi của khoảnh khắc ấy. Nhưng các điều kiện để có tài hùng biện luôn luôn tồn tại. Nó luôn tàn lụi ở những nơi danh tiếng, và xuất hiện ở những xó xỉnh. Bất cứ nơi nào các cực gặp gỡ, bất cứ nơi nào tình cảm đạo đức tươi mới, bản năng tự do và tinh thần trách nhiệm đứng ở thế đối lập trực tiếp với chủ nghĩa bảo thủ hóa thạch và lòng ham lam tài vật, thì tia lửa sẽ ló dạng. Sự phản kháng chống lại nô lệ ở đất nước này đã trở thành một vườn ươm trù phú cho các nhà hùng biện. Mối liên hệ tự nhiên qua đó nó thu hút về phía mình một loạt các cải cách đạo đức, cùng tổ chức đảng phái tuy mỏng manh nhưng đủ dùng mà nó mang lại, đã tiếp sức cho thành thị bằng dòng máu mới từ những khu rừng và ngọn núi. Những con người hoang dã, những Gioan Tẩy Giả, những Tông đồ Hermit Peter, những John Knoxes, cất lên thứ tình cảm man dại của Tự nhiên ngay giữa lòng các thủ đô thương mại. Họ gửi đến cho chúng ta mỗi năm một mảnh sức mạnh nguyên thủy nào đó, một khúc gỗ sồi cứng cáp của một con người không thể bị làm cho câm lặng, bị lăng mạ hay bị đe dọa bởi một đám đông, bởi vì bản thân hắn còn mang tính đám đông hơn cả bọn họ — một kẻ áp đảo cả đám đông — một anh chàng nhà quê cứng cỏi, kẻ mà chẳng có tiền tài, sự lịch thiệp, lời lẽ cay độc, trứng thối, những cú đấm hay gạch vụn nào có thể gây ra bất kỳ ấn tượng nào. Hắn ta thừa sức đối đầu với những gã khôn vặt và côn đồ ở quán rượu; bản thân hắn cũng là một kẻ khôn vặt và côn đồ, lại thêm một chút nữa: hắn là một bậc tốt nghiệp từ luống cày, cuốc đất, và phát quang bụi rậm; am tường mọi bí mật của đầm lầy và đống tuyết, chẳng có gì phải học hỏi thêm về lao động hay sự nghèo đói hoặc nỗi gian truân của nghề nông. Cái đầu cứng cỏi của hắn từng trải qua quá trình rèn luyện khắc khổ của chủ nghĩa Calvin từ thuở ấu thơ, với giáo lý và sự hành xác, để rồi hắn đứng giữa hội chúng New England như một mảnh tinh túy New England thuần khiết nhất hơn bất kỳ ai, và văng những lời mỉa mai sang trái sang phải. Hắn không chỉ có trong túi các tài liệu để phản bác mọi lời xoi mói và chứng minh mọi quan điểm của mình, mà hắn còn mang lý lẽ vĩnh cửu trong đầu. Con người này khinh miệt khước từ các tổ chức dân sự của các vị — hạt, hay thành phố, hay thống đốc, hay quân đội — tự hắn là hải quân và pháo binh của chính mình, là thẩm phán và bồi thẩm đoàn, là cơ quan lập pháp và hành pháp. Hắn đã học những bài học của mình trong một ngôi trường cay đắng. Thế nhưng, nếu học trò là kẻ có cấu chất chịu đựng được điều đó, trường đại học tuyệt vời nhất mà người ta có thể giới thiệu cho một con người của tư tưởng chính là găng tay của đám đông.

Kẻ nào muốn huấn luyện bản thân để đạt đến sự thông thạo trong khoa học thuyết phục này phải đặt trọng tâm của giáo dục, không phải vào các nghệ thuật đại chúng, mà vào tính cách và sự thấu thị. Hãy để anh ta thấy rằng lời nói của mình không tách rời khỏi hành động; rằng khi anh ta cất lời, anh ta không làm điều vô nghĩa, cũng không làm điều sai trái, mà đã tự thanh minh cho bản thân, đã dấn thân vào những nỗ lực lành mạnh. Hãy để anh ta coi sự chống đối như một cơ hội. Anh ta không thể bị đánh bại hay bị quật ngã. Có một nguyên tắc Phục sinh trong con người anh ta, một sự bất tử của mục đích. Con người ta thường né tránh và thù địch, cốt để mang lại giá trị cho lá phiếu của họ. Lỗi không phải ở đám đông vì đã không bị thuyết phục, mà là ở kẻ không thể thuyết phục được họ. Anh ta phải nhào nặn họ, với thứ vũ khí là lý lẽ và tình yêu, vốn cũng là cốt lõi trong bản tính của họ. Anh ta không đi để vô hiệu hóa sự chống đối của họ, mà là để biến họ thành những tông đồ rực lửa và những nhà truyền bá cùng một thứ trí tuệ ấy.

Bục cao nhất của tài hùng biện chính là tình cảm đạo đức. Đó là thứ được gọi là chân lý khẳng định, và có đặc tính tiếp thêm sinh lực cho người nghe; nó truyền tải một gợi ý về sự vĩnh cửu của chúng ta, khi anh ta cảm thấy bản thân được thuyết phục dựa trên những nền tảng sẽ vẫn trường tồn khi mọi thứ khác bị tước đoạt, và không hề mang dấu vết của thời gian, không gian hay đảng phái nào. Mọi thứ thù địch đều bị quật ngã trước sự hiện diện của những tình cảm ấy; sự uy nghi của chúng được cảm nhận bởi cả những kẻ chai sạn nhất. Người ta có thể quan sát thấy rằng, ngay khi một người hành động vì số đông lớn, yếu tố đạo đức sẽ và buộc phải được dung thứ, sẽ và buộc phải hoạt động; và những con người ít quen thuộc nhất với việc kêu gọi những tình cảm này cũng không thể tránh khỏi việc gợi nhắc lại chúng khi họ ngỏ lời trước các quốc gia. Thậm chí Napoleon cũng phải chấp nhận và sử dụng nó theo cách ông có thể.

Chỉ những cú đánh giản dị ấy mới mang lại quyền lực tối cao — khi một bàn tay con người yếu ớt chạm tới, từng điểm một, những thanh xà và cột trụ vĩnh cửu mà toàn bộ cấu trúc của Tự nhiên và xã hội được dựng lên trên đó. Giữa đại dương cuồng nộ của những ảo tưởng, chúng ta cảm nhận được đá tảng dưới đôi bàn chân mình; trong cõi vương quyền của sự ngẫu nhiên, chúng ta tìm thấy một nguyên tắc của sự trường tồn. Bởi vì tôi không chấp nhận định nghĩa của Isocrates rằng sứ mệnh của nghệ thuật ông là biến cái lớn thành nhỏ và cái nhỏ thành lớn; mà tôi trân trọng điều này như sự hoàn hảo của nó — khi nhà hùng biện nhìn thấu qua mọi lớp mặt nạ để đến với thang đo vĩnh cửu của chân lý, theo cách mà anh ta có thể giơ cao trước mắt con người sự kiện của ngày hôm nay một cách vững vàng trước tiêu chuẩn đó, qua đó làm cho cái lớn thực sự lớn, và cái nhỏ thực sự nhỏ, đó mới là con đường chân chính để làm kinh ngạc và cải cách nhân loại.

Tất cả các nhà hùng biện hàng đầu trên thế giới đều là những con người nghiêm nghị, dựa dẫm vào thực tại này. Các triết gia cùng thời với Demosthenes từng tìm thấy một tư tưởng xuyên suốt tất cả các bài diễn văn của ông — cụ thể là điều này: rằng “đức hạnh đảm bảo sự thành công của chính nó.” “Đứng vững trên đôi chân của chính mình” — Heeren tìm thấy đó chính là giai điệu chủ đạo trong các bài diễn văn của Demosthenes, cũng như của Chatham.

Tài hùng biện, giống như mọi nghệ thuật khác, dựa trên những quy luật chính xác và kiên định nhất. Đó là lời nói tuyệt vời nhất của tâm hồn vĩ đại nhất. Nó hoàn toàn có thể đứng vững như là biểu hiện của tất cả những gì vĩ đại và bất tử trong tâm trí. Nếu nó không trở thành một công cụ như thế, mà khao khát trở thành một cái gì đó tự thân, và lấp lánh để khoe mẽ, thì đó là thứ giả tạo và yếu đuối. Trong sự thực hành đúng đắn của nó, nó là một sức mạnh uyển chuyển, không bao giờ cạn kiệt — ai đã dò thấu, ai đã định lượng được nó chứ? — mở rộng cùng sự mở rộng của các lợi ích và tình cảm của chúng ta. Các bậc thầy vĩ đại của nó, dẫu họ trân trọng mọi sự trợ giúp để đạt được nó, và không cho rằng bất kỳ nỗi đau đớn nào là quá lớn nếu nó góp phần thúc đẩy nó theo bất kỳ cách nào; — giống như vị chiến binh Ả Rập nổi tiếng, người mang mười bảy thứ vũ khí trong thắt lưng, và trong các cuộc đấu tay đôi thỉnh thoảng sử dụng tất cả chúng; — thế nhưng vẫn khuất phục mọi phương tiện; chưa từng cho phép bất kỳ tài năng nào — dù là giọng điệu, nhịp điệu, sức mạnh thơ ca, giai thoại, sự mỉa mai — xuất hiện để khoe mẽ; mà họ là những con người nghiêm nghị, những người ưu tiên tính chính trực của mình hơn tài năng, và trân trọng mục tiêu mà họ vất vả vì nó, dù là sự thịnh vượng của đất nước, hay luật pháp, hay một cuộc cải cách, hay quyền tự do ngôn luận hoặc tự do báo chí, hay văn chương, hay đạo đức, vượt lên trên cả thế giới này, và cả chính bản thân họ nữa.

[90]

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.