Đó quả là một câu chuyện kỳ lạ, vị gia sư tư thục mở lời; một trong những biến cố quái đản và dặm vẻ kỳ quặc vẫn thường xảy đến với đời người. Tôi đã đánh mất cơ hội làm việc tốt nhất mà đời mình có lẽ sẽ chẳng bao giờ còn gặp lại, tất cả cũng vì chuyện ấy. Dẫu vậy, tôi vẫn thấy mừng vì đã đến Thorpe Place, bởi nơi đó tôi đã thu về—thôi, khi kể câu chuyện này, rồi anh sẽ biết tôi đã đạt được những gì.
Tôi không rõ anh có quen thuộc với vùng Midlands bị con sông Avon uốn khúc chảy qua hay không. Đó là miền đất đậm chất Anh nhất trên đất nước Anh. Shakespeare, bông hoa tinh tuyết của cả giống nòi, sinh ra ngay chính giữa vùng đất ấy. Nơi đây trải những đồng cỏ chập chùng, vươn cao dần về phía tây để rồi phình to thành dãy Malvern Hills. Chẳng có thị trấn nào lớn, bù lại là vô số những ngôi làng nhỏ, mỗi làng đều có một nhà thờ kiến trúc Norman cổ kính màu xám. Anh đã bỏ lại sau lưng những bức tường gạch của các hạt miền nam và miền đông, để bước vào một thế giới toàn bằng đá—đá xây tường, và những phiến đá phủ rêu xanh làm mái. Mọi thứ đều trầm mặc, vững chãi và bề thế, đúng với tâm hồn của một quốc gia lớn mạnh.
Chính giữa miền đất ấy, cách Evesham không xa, là dinh cơ tổ tiên mang tên Thorpe Place nơi Ngài John Bollamore sinh sống, và tôi đã đến đó để dạy học cho hai đứa con trai nhỏ của ông. Ngài John là một người đàn ông góa vợ—vợ ông đã qua đời ba năm trước—và ông ở lại cùng hai cậu con trai tám và mười tuổi, cùng một cô con gái cưng bảy tuổi. Cô Witherton, nay là vợ tôi, chính là gia sư của cô bé ấy. Còn tôi là gia sư của hai cậu nhóc. Liệu còn có khúc dạo đầu nào rõ mười mươi hơn cho một cuộc đính ước chứ? Giờ đây nàng quản thúc tôi, còn tôi dạy học cho hai cậu quý tử của chính chúng tôi. Nhưng thôi—tôi đãng trí tiết lộ mất những gì mình thu được tại Thorpe Place rồi còn gì!
Đó là một ngôi nhà rất, rất cổ, cổ đến khó tin—một phần có từ trước thời Norman—và dòng họ Bollamore tự hào rằng họ đã cư ngụ tại mảnh đất này từ trước cả cuộc Viễn chinh Norman. Cảm giác lạnh sống lưng chợt dội vào tim tôi ngay khi vừa đặt chân đến đó: những bức tường xám dày cộm, những hòn đá thô ráp mục nát, cùng mùi hương ngai ngái tựa loài vật ốm yếu tỏa ra từ lớp vữa trát đã lâu đời của tòa nhà cổ kính. Dẫu vậy, khu nhà mới xây lại sáng sủa và khu vườn được chăm sóc vô cùng ngăn nắp. Chẳng ngôi nhà nào có thể ảm đạm nổi khi bên trong có một cô gái xinh đẹp và bên ngoài ngập tràn sắc hồng của hoa kiểng.
Ngoài đội ngũ gia nhân tươm chu tất, gia đình chỉ có đúng bốn chúng tôi. Đó là cô Witherton, thời điểm ấy mới hai mươi tư tuổi và xinh đẹp—à, xinh đẹp hệt như bà Colmore bây giờ—còn tôi, Frank Colmore, tròn ba tuổi, bà Stevens, người quản gia, một phụ nữ kiệm lời và khô khan, cùng ông Richards, một người đàn ông cao ráo mang phong thái nhà binh, đảm nhận vai trò quản lý các điền trang của nhà Bollamore. Bốn chúng tôi luôn dùng bữa cùng nhau, trong khi Ngài John thường ăn một mình trong thư viện. Thỉnh thoảng ông mới nhập tiệc cùng chúng tôi vào bữa tối, nhưng nói chung, những lúc ông vắng mặt, chúng tôi lại thấy thoải mái hơn nhiều.
Bởi ông là một con người vô cùng đáng sợ. Hãy thử hình dung một người cao sáu thước ba inch [khoảng 1m90], vóc dáng đường bệ, khuôn mặt quý tộc với chiếc mũi cao, mái tóc điểm bạc, hàng lông mày rậm rạp, chòm râu nhỏ nhọn hoắt theo kiểu Mephistopheles, và những nếp nhăn trên trán cùng khóe mắt sâu hoắm như thể được khắc bằng lưỡi dao rọc giấy. Ông sở hữu đôi mắt xám, mệt mỏi, tuyệt vọng, vừa kiêu hãnh lại vừa não nề, ánh nhìn vừa khơi gợi niềm thương cảm lại vừa thách thức người ta bày tỏ sự xót xa ấy. Tấm lưng ông hơi còng vì đọc sách, nhưng xét toàn diện, ở tuổi năm mươi lăm—có lẽ vậy—ông vẫn là một người đàn ông đẹp mã bậc nhất mà bất cứ người phụ nữ nào cũng muốn ngắm nhìn.
Dù vậy, sự hiện diện của ông chẳng mấy vui vẻ. Ông luôn lịch thiệp, nhã nhặn, nhưng lại trầm tính và khép kín đến kỳ lạ. Chưa từng có ai sống chung lâu đến thế mà tôi lại hiểu ít về họ như vậy. Nếu ở trong nhà, ông sẽ dành thời gian hoặc trong phòng làm việc nhỏ ở Tháp Đông, hoặc trong thư viện ở khu nhà mới. Nếp sinh hoạt của ông đều đặn đến mức người ta có thể đoán chính xác ông đang ở đâu vào bất cứ giờ nào trong ngày. Mỗi ngày hai lần, ông sẽ ghé thăm phòng làm việc riêng, một lần sau bữa sáng và một lần vào khoảng mười giờ đêm. Người ta có thể chỉnh đồng hồ theo tiếng đóng sầm cửa nặng nề ấy. Suốt thời gian còn lại trong ngày, ông ở trong thư viện—ngoại trừ một hoặc hai tiếng buổi chiều để đi dạo hoặc cưỡi ngựa, cũng cô độc y như toàn bộ cuộc đời ông. Ông rất yêu thương các con, đặc biệt quan tâm đến tiến độ học tập của chúng, nhưng bọn trẻ lại có phần e sợ bóng dáng trầm lặng với hàng lông mày rậm rạp ấy, nên chúng cố tránh mặt ông bất cứ khi nào có thể. Thực ra, tất cả chúng tôi đều làm thế.
Phải mất một thời gian khá lâu tôi mới biết được những uẩn khúc trong cuộc đời Ngài John Bollamore, bởi bà Stevens lẫn quản gia Richards đều quá trung thành để có thể dễ dàng bàn tán chuyện của chủ nhân. Về phần nữ gia sư, cô ấy chẳng biết gì hơn tôi, và mối quan tâm chung ấy là một trong những sợi dây kéo chúng tôi lại gần nhau. Cuối cùng, một biến cố đã xảy ra, dẫn đến mối quan hệ gắn bó hơn với ông Richards cũng như giúp tôi hiểu rõ hơn về cuộc đời của người chủ mà tôi đang phụng sự.
Nguyên nhân trực tiếp không gì khác ngoài việc Cậu chủ Percy, học trò nhỏ tuổi nhất của tôi, ngã xuống mương nước nhà máy, đẩy cả tính mạng thằng bé lẫn tôi vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc, bởi tôi buộc phải lao mình xuống để cứu nó. Ướt sũng và kiệt sức—vì tôi đuối sức hơn đứa trẻ rất nhiều—tôi đang lê bước về phòng thì Ngài John, người đã nghe thấy cảnh tượng náo loạn bên ngoài, liền mở cửa phòng làm việc nhỏ và hỏi xem có chuyện gì xảy ra. Tôi thuật lại vụ tai nạn, đồng thời trấn an rằng đứa trẻ hoàn toàn bình an, trong khi ông lắng nghe với gương mặt rắn rỏi, bất động, nơi đôi mắt trũng sâu và đôi môi mím chặt đã bộc lộ trọn vẹn mọi cảm xúc mà ông đang cố giấu giếm.
Một phút nhé! Xin mời bước vào trong này! Cho tôi biết rõ ngọn ngành xem nào! ông nói, quay người bước ngược qua cánh cửa đang mở.
Và thế là tôi đặt chân vào căn phòng kín cổng cao tường ấy, nơi mà như tôi được biết sau đó, suốt ba năm trời chưa từng có một bước chân nào khác ngoài người hầu già vào dọn dẹp. Đó là một căn phòng tròn, mô phỏng theo hình dáng của ngọn tháp nơi nó tọa lạc, với trần nhà thấp, một khung cửa sổ hẹp duy nhất quấn đầy dây thường xuân, và món đồ đạc tối giản vô cùng. Một tấm thảm cũ, một chiếc ghế đơn, một chiếc bàn gỗ thông và một kệ sách nhỏ là toàn bộ những gì có trong phòng. Trên bàn đặt bức chân dung toàn thân của một người phụ nữ—tôi không chú ý kỹ các đường nét, nhưng nhớ rằng ấn tượng đọng lại là sự dịu dàng, phúc hậu toát lên từ nàng. Bên cạnh bức ảnh là một chiếc hộp sơn mài màu đen cỡ lớn cùng một hoặc hai bó thư, tài liệu được buộc bằng chun cao su.
Cuộc trao đổi diễn ra ngắn ngủi, bởi Ngài John Bollamore nhận ra tôi đang ướt sũng và cần phải thay đồ ngay lập tức. Dù vậy, sự cố này đã dẫn đến một cuộc trò chuyện vô cùng thú vị với Richards, người quản lý vốn chưa từng bén mảng tới căn phòng mà sự tình cờ đã hé mở cho tôi. Ngay chiều hôm đó, với vẻ đầy tò mò, ông ta đến tìm tôi, cùng tôi đi dạo dọc theo lối đi trong vườn trong lúc hai cậu học trò của tôi đang đánh quần vợt trên thảm cỏ ngay bên cạnh.
Cậu khó lòng nhận ra ngoại lệ mà ông chủ đã dành cho mình đâu, ông ta nói. Căn phòng đó từ lâu đã được giữ như một bí mật, và những chuyến ghé thăm của Ngài John đều đặn, nhất quán đến mức trong nhà đã dấy lên một thứ cảm giác hầu như mang tính mê tín về nó. Tôi đoan chắc rằng nếu tôi kể lại cho cậu nghe những lời đồn đại đang bay tứ tung ngoài kia, về những vị khách bí ẩn và những giọng nói lọt vào tai người hầu, hẳn cậu sẽ ngờ rằng Ngài John đã ngựa quen đường cũ.
Tại sao ông lại dùng từ 'ngựa quen đường cũ'? tôi hỏi.
Ông ta nhìn tôi đầy ngạc nhiên.
Lẽ nào, ông nói, quá khứ của Ngài John Bollamore lại là điều hoàn toàn xa lạ với cậu sao?
Hoàn toàn không biết gì luôn.
Cậu làm tôi kinh ngạc đấy. Tôi cứ nghĩ mọi người ở nước Anh này đều ít nhiều biết về gốc gác của ông ấy. Tôi sẽ không nhắc đến nếu cậu không phải là người trong nhà, và nhỡ đâu cậu lại nghe được những sự thật ấy từ miệng người khác với giọng điệu cay nghiệt hơn. Tôi cứ đinh ninh rằng cậu thừa biết mình đang làm việc cho 'Ác quỷ' Bollamore cơ đấy.
Nhưng tại sao lại gọi là 'Ác quỷ'? tôi hỏi.
À, cậu hãy còn trẻ và thế giới vận động rất nhanh, nhưng hai mươi năm trước, cái tên 'Devil' Bollamore là một trong những cái tên đình đám nhất ở London. Ông ấy là thủ lĩnh của giới ăn chơi trác táng, một gã võ biền, tay đua khét tiếng, con bạc, kẻ nát rượu—một tàn dư của thời kỳ cũ, tệ hại chẳng thua kém bất kỳ kẻ nào.
Tôi trân trân nhìn ông ta đầy kinh ngạc.
Cái gì! tôi kêu lên, con người trầm lặng, ham học hỏi và có gương mặt đượm buồn ấy ư?
Gã phá gia chi tử và kẻ hoác nghiệp tồi tệ nhất nước Anh! Chuyện này chỉ riêng chúng ta biết thôi đấy, Colmore. Nhưng giờ thì cậu đã hiểu ý tôi khi nói rằng tiếng đàn bà vang lên trong phòng ông ấy ngay lúc này cũng đủ dấy lên những ngờ vực rồi chứ.
Nhưng điều gì có thể khiến ông ấy thay đổi nhiều đến thế?
Chính là Beryl Clare bé nhỏ, khi cô ấy dám liều lĩnh trở thành vợ ông ấy. Đó chính là bước ngoặt. Ông ấy đã lún sâu đến mức chính đám bạn trác táng của mình cũng phải quay lưng. Cậu biết đấy, có một vực thẳm giữa kẻ hay uống rượu và một kẻ nát rượu. Bọn họ ai chẳng uống, nhưng họ bài xích một kẻ nát rượu. Ông ấy đã trở thành nô lệ của men cay—hoàn toàn tuyệt vọng và bất lực. Thế rồi nàng bước vào, nhìn thấy khả năng cứu vớt một người đàn ông tài hoa từ trong đống đổ nát, chấp nhận đánh cược số phận để kết hôn với ông dù nàng có thể chọn lựa giữa vô số người ưu tú, và bằng cách dâng hiến cả cuộc đời mình, nàng đã kéo ông trở về với nhân phẩm và sự đoan trang. Cậu cũng thấy đấy, trong nhà này tuyệt đối không cất giữ bất kỳ giọt đồ uống có cồn nào. Chưa từng có từ khi gót chân nàng đặt lên thảm ngạch cửa. Một giọt dính vào lúc này cũng giống như máu quăng trước mặt hổ đói vậy.
Thế nghĩa là sức ảnh hưởng của nàng vẫn còn chi phối ông ấy?
Đó mới chính là điều kỳ diệu. Khi nàng qua đời ba năm trước, tất cả chúng tôi đều ngóng chờ và nơm nớp lo sợ ông ấy sẽ ngựa quen đường cũ. Chính nàng cũng sợ điều đó, và ý nghĩ ấy gieo rắc sự kinh hoàng vào cái chết, bởi nàng tựa như một thiên thần hộ mệnh của người đàn ông ấy, sống chỉ vì một mục đích duy nhất. Nhân tiện, cậu có thấy chiếc hộp sơn mài màu đen trong phòng ông ấy không?
Có.
Tôi đoán nó chứa những bức thư của nàng. Mỗi khi có việc phải đi vắng, dù chỉ một đêm duy nhất, ông ấy nhất định mang theo chiếc hộp sơn mài đen ấy bên mình. Thôi nào, Colmore, có lẽ tôi đã nói hơi nhiều so với lẽ ra nên thế, nhưng tôi hy vọng cậu cũng sẽ chia sẻ lại nếu có điều gì thú vị lọt vào tai cậu.
Tôi có thể thấy vị quản gia đáng kính đang bị sự tò mò thiêu đốt và có chút hậm hực khi tôi, một kẻ chân ướt chân ráo đến đây, lại là người đầu tiên đột nhập vào căn phòng cấm kỵ đó. Dù vậy, sự việc này đã nâng tầm vị thế của tôi trong mắt ông ta, và kể từ đó, tôi nhận thấy mình được đối xử với sự tín nhiệm cao hơn.
Và giờ đây, bóng dáng trầm mặc và đường bệ của người chủ nhà càng trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của tôi. Tôi bắt đầu thấu hiểu ánh mắt mang đậm tính nhân văn kỳ lạ ấy, những nếp nhăn hằn sâu trên khuôn mặt hốc hác vì lo âu. Ông là một người đàn ông đang chiến đấu trong một cuộc chiến không hồi kết, dùng dằng chống trả từ sáng đến tối trước một kẻ thù khủng khiếp luôn chực chờ áp sát—một kẻ thù có thể vùi dập cả thể xác lẫn tâm hồn ông nếu nó tóm được ông trong móng vuốt thêm một lần nữa. Khi ngắm nhìn dáng người gù gù, khắc khổ đang lê bước dọc hành lang hay dạo bước trong vườn, mối nguy hiểm chực chờ ấy dường như hóa thành hình hài cụ thể, và tôi suýt tưởng tượng ra cảnh tên ác ma ghê tởm và hiểm độc nhất đang cúi rạp ngay bên bóng ông, tựa như một con thú nửa vời thu mình lẻo đẻo theo chủ, sẵn sàng chồm lên cắn xé cổ họng bất cứ lúc nào lơ đễnh. Và người phụ nữ đã khuất, người đã hiến dâng cả đời để xua đuổi mối hiểm họa ấy, cũng hiện hình trong trí tưởng tượng của tôi, hóa thành một bóng hình mờ ảo nhưng diễm lệ, luôn đứng chắn với đôi tay giang rộng để che chở cho người đàn ông mà nàng yêu thương.
Bằng một sự nhạy cảm tinh tế nào đó, ông đã thấu hiểu được sự đồng cảm mà tôi dành cho mình, và ông bộc lộ lòng biết ơn theo cách lặng lẽ rất riêng của ông. Thậm chí có lần ông còn mời tôi đi dạo buổi chiều cùng, và dẫu chẳng một lời nào được thốt ra trong suốt buổi hôm ấy, đó lại là một sự tín nhiệm mà trước nay ông chưa từng dành cho bất kỳ ai. Ông cũng nhờ tôi lập mục lục cho thư viện của mình (đó là một trong những thư viện tư nhân tuyệt vời nhất nước Anh), và tôi đã dành nhiều giờ đồng hồ vào buổi tối hiện diện trước mặt ông, dẫu không hẳn là trò chuyện cùng ông, khi ông đọc sách bên bàn làm việc còn tôi ngồi ở góc lõm bên cửa sổ để sắp xếp lại mớ hỗn độn giữa những chồng sách. Bất chấp mối quan hệ gần gũi ấy, tôi không bao giờ được mời bước chân vào căn phòng trên tháp pháo thêm một lần nào nữa.
Và rồi, sự thay đổi tâm lý trong tôi xuất hiện. Chỉ một sự kiện duy nhất đã quét sạch mọi niềm cảm thông, biến nó thành sự ghê tởm, và khiến tôi nhận ra rằng chủ nhân của mình vẫn mãi là con người ấy, đi kèm với tội ác chồng chất của sự đạo đức giả. Sự việc diễn ra thế này.
Một buổi tối, cô Witherton ghé xuống Broadway, ngôi làng lân cận, để hát trong một buổi hòa nhạc từ thiện, và tôi, giữ đúng lời hứa, đã đi bộ sang đón cô trở về. Con đường xe chạy uốn lượn bên dưới tháp pháo phía đông, và khi đi ngang qua, tôi để ý thấy căn phòng tròn đang sáng đèn. Đó là một đêm hè, và khung cửa sổ cao hơn đầu chúng tôi một chút đang mở toang. Chẳng ngờ lúc bấy giờ, chúng tôi đang mải mê chuyện trò và dừng chân lại trên bãi cỏ sát tháp pháo cổ kính, thì đột nhiên có âm thanh cắt ngang cuộc trò chuyện, kéo tư tưởng chúng tôi ra khỏi những bận tâm riêng.
Đó là một giọng nói—không còn nghi ngờ gì nữa, đó là giọng của một người phụ nữ. Âm lượng rất khẽ—khẽ đến mức chỉ trong bầu không khí đêm tĩnh lặng ấy chúng tôi mới nghe nổi, nhưng dù có nghẹn ngào đi chăng nữa, âm sắc nữ tính ấy là không thể nhầm lẫn. Giọng nói cất lên vội vã, đứt quãng trong vài câu rồi chìm vào yên lặng—một thứ âm thanh thảm thiết, hổn hển, tựa như đang nài nỉ van xin. Cô Witherton và tôi đứng chết trân nhìn nhau trong giây lát. Sau đó, chúng tôi rảo bước nhanh về hướng cửa chính.
Nó phát ra từ cửa sổ, tôi nói.
Chúng ta không được phép làm kẻ nghe lén, cô đáp. Phải quên đi chuyện từng nghe thấy nó.
Sự điềm tĩnh trong thái độ của cô đã gợi lên trong đầu tôi một ý nghĩ mới.
Cô từng nghe thấy nó rồi phải không? tôi thốt lên.
Tôi không tài nào tránh được. Phòng của tôi nằm ở tầng cao hơn cùng tòa tháp đó. Chuyện này xảy ra như cơm bữa.
Người phụ nữ đó rốt cuộc là ai chứ?
Tôi chịu. Tốt hơn là không nên bàn tới.
Chừng đó đủ để tôi đoán ra cô ấy đang nghĩ gì. Nhưng cứ cho là ông chủ của chúng tôi có một đời tư kép đầy mờ ám đi chăng nữa, thì mụ đàn bà bí ẩn này, kẻ bầu bạn với ông trong tòa tháp cổ ấy, là ai? Dựa vào lần đột nhập trước, tôi thừa biết căn phòng đó trống trải và lạnh lẽo đến nhường nào. Chắc chắn nàng không sống ở đó. Nhưng nếu vậy, nàng từ đâu đến? Hẳn không thể là ai trong số gia nhân. Tất cả đều nằm dưới tầm mắt cảnh giác của bà Stevens. Vị khách đó buộc phải đến từ bên ngoài. Nhưng bằng cách nào chứ?
Và rồi tôi sực nhớ ra ngôi nhà này cổ xưa đến nhường nào, và khả năng tồn tại những lối đi thời trung cổ là cao biết bao. Hầu như chẳng có lâu đài cổ nào lại thiếu đi một lối đi như thế. Căn phòng bí ẩn ấy nằm ở tầng trệt của tháp pháo, nên nếu có thứ gì đó tương tự, nó sẽ mở thông xuống sàn nhà. Xung quanh có rất nhiều ngôi nhà nhỏ nằm sát vách. Đầu kia của lối đi bí mật có thể ẩn giấu giữa đám bụi gai rậm rạp ở khu rừng nhỏ bên cạnh. Tôi không hé răng với bất kỳ ai, nhưng linh cảm rằng bí mật của ông chủ đã nằm gọn trong tầm tay.
Càng tin điều đó, tôi càng kinh ngạc trước cách ông ngụy trang bản chất thật của mình. Thường thì khi ngắm nhìn bóng dáng khắc khổ ấy, tôi tự hỏi liệu có thực sự tồn tại một con người đang sống hai cuộc đời như thế hay không, và cố tự nhủ rằng những ngờ vực của mình suy cho cùng chỉ là vô căn cứ. Thế nhưng, giọng nói của người phụ nữ kia vẫn tồn tại, những cuộc hẹn hò bí mật hàng đêm trong căn phòng tháp pháo vẫn diễn ra—làm sao những sự thật đó có thể mang một lời giải thích ngây thơ nào khác được chứ. Tôiâm ỉ sinh lòng ghê tởm người đàn ông ấy. Tâm trí tôi ngập tràn sự khinh bỉ trước màn kịch đạo đức giả thâm trầm và kiên định của ông.
Chỉ duy nhất một lần trong suốt những tháng ngày đó, tôi được trông thấy ông không đeo chiếc mặt nạ đượm buồn nhưng dửng dưng vẫn thường trưng ra trước mặt mọi người. Chớp nhoáng thôi, tôi đã bắt gặp ngọn lửa cuồng nộ đang bị nén chặt bên trong mà ông đã kìm nén bấy lâu. Nguyên nhân thật chẳng đáng là bao, bởi đối tượng hứng chịu cơn thịnh nộ của ông không ai khác chính là bà lao công già mà tôi từng nhắc đến như là người duy nhất được phép đặt chân vào căn phòng bí ẩn. Tôi đang rảo bước qua hành lang dẫn đến tháp pháo—vì phòng tôi nằm hướng đó—thì chợt nghe thấy một tiếng thét thất thanh, hòa lẫn trong đó là giọng gầm gừ khàn đẹt của một kẻ đang giận dữ đến nghẹn lời. Đó là tiếng gầm của một con dã thú hung hãn. Tiếp đó là giọng nói đầy phẫn nộ vang lên. Mày dám thế cơ à! ông thét lớn. Mày dám cả gan làm trái lời ta dặn à! Ngay khoảnh khắc sau, bà lao công lao vụt qua người tôi với gương mặt tái mét và đôi chân run lẩy bẩy, trong khi giọng nói khủng khiếp ấy vẫn gầm rú phía sau. Cút đi gặp bà Stevens mà lấy tiền công! Đừng bao giờ bén mảng đến Thorpe Place nữa! Bị sự tò mò nuốt chửng, tôi không kìm được mà đuổi theo bà ta, và bắt gặp bà đang nép người vào bức tường ở khúc cua, thở dốc hệt như một con thỏ sợ hãi.
Có chuyện gì thế, thưa bà Brown? tôi hỏi.
Là ông chủ! bà thở hổn hển. Ôi, ngài ấy dọa tôi chết khiếp! Cậu Colmore này, nếu cậu tận mắt nhìn thấy đôi mắt ngài ấy mà xem. Tôi cứ tưởng mình bỏ mạng đến nơi rồi ấy chứ.
Nhưng bà đã làm gì cơ chứ?
Làm gì đâu, thưa cậu! Chẳng làm gì sất. Ít ra là chẳng có gì đáng để làm rùm beng lên thế. Chỉ là tôi đặt tay lên chiếc hộp đen ấy của ngài ấy—còn chưa buồn mở ra cơ mà—thế mà ngài ấy sấn sổ bước vào rồi cậu biết ngài ấy lồng lộn thế nào đấy. Tôi mất việc rồi, mà nghĩ lại thì tôi cũng mừng, vì đời nào tôi dám bén mảng lại gần tầm tay ngài ấy nữa.
Hóa ra chiếc hộp sơn mài chính là nguyên nhân dẫn đến cơn lôi đình này—chiếc hộp mà ông kiên quyết không bao giờ rời nửa bước. Mối liên hệ nào, hay liệu có bất kỳ mối liên hệ nào giữa chiếc hộp này với những chuyến viếng thăm bí mật của người phụ nữ mà tôi từng nghe thấy giọng? Cơn giận dữ của Ngài John Bollamore vừa dai dẳng lại vừa dữ dội, bởi kể từ ngày hôm đó, bà lao công Brown đã biến mất khỏi tầm mắt chúng tôi, và Thorpe Place vĩnh viễn không còn thấy bóng dáng bà.
Và giờ đây, tôi muốn kể cho anh nghe về cơ duyên kỳ lạ đã giải đáp toàn bộ những thắc mắc oái oăm ấy, đồng thời giao nộp bí mật của ông chủ vào tay tôi. Câu chuyện có thể sẽ để lại trong lòng anh đôi chút hoài nghi rằng liệu sự tò mò của tôi có lấn át lòng tự trọng hay không, và liệu tôi có hạ mình làm kẻ chỉ điểm hay không. Nếu anh chọn cách nghĩ như thế thì tôi cũng đành chịu, chỉ có thể cam đoan rằng, dẫu nghe có vẻ vô lý đến mức nào, sự việc thực sự diễn ra đúng y như những gì tôi mô tả.
Chặng đầu tiên của cái kết này là việc căn phòng nhỏ trên tháp pháo bỗng trở nên không thể ở được nữa. Nguyên nhân xuất phát từ việc thanh xà gỗ sồi mục ruỗng chống đỡ trần nhà bất ngờ đổ sập. Mục nát vì năm tháng, nó gãy rụp ở chính giữa vào một buổi sáng, kéo theo một khối lượng vữa lớn rơi xuống. May mắn thay, Ngài John không có mặt trong phòng vào thời điểm ấy. Chiếc hộp quý giá của ông đã được cứu ra khỏi đống đổ nát và mang vào thư viện, kể từ đó được khóa chặt trong tủ giấy của ông. Ngài John không hề có động thái sửa chữa thiệt hại, và tôi cũng chẳng bao giờ có cơ hội tìm kiếm lối đi bí mật mà tôi từng phỏng đoán sự tồn tại của nó. Về phần người phụ nữ kia, tôi từng nghĩ chuyện này sẽ đặt dấu chấm hết cho những chuyến ghé thăm của nàng, nếu như tối nọ tôi không nghe thấy ông Richards hỏi bà Stevens rằng người phụ nữ trò chuyện với Ngài John trong thư viện là ai. Tôi không nghe rõ câu trả lời, nhưng qua thái độ của bà ta, tôi nhận ra đó không phải là lần đầu tiên bà ta phải đối mặt hoặc tìm cách né tránh câu hỏi tương tự.
Cậu từng nghe thấy giọng nói đó chứ, Colmore? vị quản lý hỏi.
Tôi thú nhận là có.
Và cậu nghĩ sao VỀ ĐIỀU ĐÓ?
Tôi nhún vai, đáp rằng đó chẳng phải việc của mình.
Thôi nào, cậu cũng tò mò chẳng kém gì đám chúng tôi đâu. Rốt cuộc đó có phải là đàn bà hay không?
Đích thị là phụ nữ rồi.
Cậu nghe thấy nó phát ra từ phòng nào?
Từ phòng tháp pháo, trước khi trần nhà sập.
Nhưng tôi nghe thấy nó phát ra từ thư viện ngay tối qua. Lúc đi ngang qua các cánh cửa để về phòng ngủ, tôi nghe rõ mồn một tiếng ai đó đang khóc lóc van xin hệt như lúc tôi đang nghe giọng cậu đây. Hẳn là một người phụ nữ——
Trời ạ, chứ còn gì KHÁC được nữa chứ?
Ông ta nhìn tôi chằm chằm.
Có muôn vàn thứ trên trời dưới đất này, ông ta nói. Nếu đó là phụ nữ, bằng cách nào nàng ta bén mảng vào được trong đó?
Tôi không biết.
Ừ, tôi cũng chịu. Nhưng nếu đó là thứ khác—mà thôi, với một gã làm kinh tế thực tế vào cuối thế kỷ mười chín thế này thì kiểu trò chuyện ấy nghe nhảm nhí thật đấy. Ông ta quay lưng bước đi, nhưng tôi thừa hiểu ông ta còn mang nặng nỗi bám chấp lớn hơn nhiều so với những gì vừa thốt ra. Nối dài chuỗi chuyện ma quỷ cũ kỹ của Thorpe Place, một câu chuyện mới đang dần hình thành ngay trước mắt chúng tôi. Đến thời điểm này, có lẽ nó đã chiếm một vị trí kiên cố, bởi dẫu cho lời giải đáp đã đến với tôi, nó lại chưa từng chạm tới những người khác.
Và lời giải đáp của tôi đến theo cách này. Đêm hôm đó tôi bị những cơn đau dây thần kinh hành hạ đến mất ngủ, và đến trưa thì tôi uống một liều chlorodyne nặng để xoa dịu cơn đau. Vào thời điểm đó, tôi đang hoàn thiện công việc lập mục lục cho thư viện của Ngài John Bollamore, và tôi có thói quen làm việc ở đó từ năm đến bảy giờ. Hôm ấy, tôi phải vật lộn chống lại tác dụng kép từ một đêm trắng và liều thuốc an thần. Tôi đã nhắc đến góc lõm trong thư viện, và đó là nơi tôi thường lui tới làm việc. Tôi cắm cúi tập trung vào nhiệm vụ, nhưng sự mệt mỏi đã đánh gục tôi, ngả lưng xuống chiếc ghế dài, tôi chìm vào giấc ngủ sâu.
Tôi ngủ bao lâu thì không rõ, chỉ biết lúc tỉnh dậy thì trời đã tối mịt. Vẫn còn chếnh choáng vì liều chlorodyne đã uống, tôi nằm bất động trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Căn phòng lớn với những bức tường cao ngút ngập tràn sách vở lù lù bóng tối bao bọc xung quanh. Ánh trăng mờ ảo hắt qua khung cửa sổ phía xa, và dựa trên nền sáng nhạt nhòa ấy, tôi nhìn thấy Ngài John Bollamore đang ngồi bên bàn làm việc. Đầu ông ngẩng cao cùng những đường nét góc cạnh nổi bật sắc nét trên khung vuông mờ ảo phía sau. Ông cúi người xuống khi tôi đang dõi theo, và tôi nghe thấy tiếng xoay chìa khóa lách cách cùng tiếng kim loại cọ xát vào nhau. Tựa như trong mơ, tôi mang máng nhận ra đó chính là chiếc hộp sơn mài đặt trước mặt ông, và ông vừa lôi từ trong đó ra một thứ gì đó lù lù, kỳ dị, nay đang nằm phơi bày trên mặt bàn. Tôi chưa từng nhận thức được—trong cái đầu mụ mẫm và đờ đẫn của mình, tôi chưa từng nghĩ rằng mình đang xâm phạm đời tư của ông, rằng ông cứ đinh ninh mình chỉ có một mình trong phòng. Và rồi, ngay lúc ý thức kinh hoàng ấy ập đến, khi tôi vừa chồm dậy toan lên tiếng thông báo sự hiện diện của mình, tôi nghe thấy một tiếng lách cách kim loại khô khốc kỳ lạ, rồi đến giọng nói.
Phải, đó là giọng của một người phụ nữ; không thể nhầm lẫn vào đâu được. Nhưng là một giọng nói đong đầy khẩn cầu và tình yêu thương da diết, nó sẽ vang vọng mãi trong tai tôi. Âm thanh vọng đến nghe xa xăm kỳ lạ, nhưng từng từ đều rành mạch, dù vô cùng yếu ớt—cực kỳ yếu ớt, bởi đó chính là những lời trăn trối của một người phụ nữ đang hấp hối.
Em thực sự chưa đi đâu cả, John, giọng nói mỏng manh, đứt quãng cất lên. Em vẫn ở đây, ngay bên khuỷu tay anh, và sẽ mãi như thế cho đến ngày chúng ta hội ngộ. Em nhắm mắt xuôi tay trong sự mãn nguyện khi nghĩ rằng sáng tối anh đều được nghe giọng em. Ôi John, hãy mạnh mẽ lên, phải thật mạnh mẽ lên cho đến ngày chúng ta gặp lại nhau nhé.
Tôi đã nói rằng mình chồm dậy để báo hiệu sự hiện diện, nhưng tôi không tài nào làm thế khi giọng nói ấy còn đang cất lên. Tôi chỉ có thể duy trì tư thế nửa nằm nửa ngồi, tê liệt, sửng sốt, lắng nghe những lời ca từ da diết và xa xôi ấy. Còn ông—ông chìm đắm sâu đến mức dẫu tôi có lên tiếng, chưa chắc ông đã nghe thấy. Nhưng cùng với sự im lặng bao trùm của giọng nói, những lời xin lỗi và giải thích lắp bắp bắt đầu bật ra trong tôi. Ông lao vút qua căn phòng, bật công tắc điện, và trong ánh sáng trắng lóa mắt ấy, tôi nhìn thấy ông, đôi mắt lóe lên vẻ giận dữ, khuôn mặt biến dạng vì cuồng nộ, hệt như cách bà lao công khốn khổ từng chứng kiến vài tuần trước.
Cậu Colmore! ông thét lên. Cậu ở đây! Chuyện này có nghĩa là gì hả, thưa cậu?
Với những từ ngữ đứt quãng, tôi thuật lại toàn bộ sự tình, về chứng đau dây thần kinh, thuốc an thần, giấc ngủ tai hại cùng lần tỉnh giấc kỳ cục ấy. Khi ông lắng nghe, ngọn lửa giận dữ trên mặt ông dần dịu xuống, và chiếc mặt nạ đượm buồn, dửng dưng lại khép hững hờ lên gương mặt ông lần nữa.
Bí mật của tôi giờ thuộc về cậu rồi, cậu Colmore, ông nói. Tôi chỉ tự trách mình vì đã lơi lỏng sự đề phòng. Nửa vời sự thật còn tệ hơn cả việc giấu nhẹm đi, thế nên cậu cứ biết hết đi vì dẫu sao cậu cũng đã biết quá nhiều rồi. Câu chuyện này muốn trôi dạt đi đâu tùy cậu sau khi tôi nhắm mắt xuôi tay, nhưng cho đến lúc đó, tôi đặt niềm tin vào danh dự của cậu rằng sẽ không một con người nào nghe thấy nó từ đôi môi cậu. Tôi vẫn kiêu hãnh—cầu Chúa phù hộ tôi!—hoặc ít nhất, tôi đủ kiêu hãnh để oán ghét sự thương hại mà câu chuyện này có thể giáng lên đầu mình. Tôi từng cười trừ trước sự đố kỵ, phớt lờ lòng căm thù, nhưng lòng thương hại là thứ vượt quá sức chịu đựng của tôi.
Cậu đã được nghe nguồn cơn phát ra giọng nói ấy—giọng nói mà theo tôi hiểu, đã khơi mào biết bao tò mò trong gia đình tôi. Tôi thừa biết những lời đồn đại mà nó dấy lên. Những đồn đoán ấy, dù mang tính scandal hay mê tín dị đoan, là những thứ tôi có thể phớt lờ và tha thứ. Thứ tôi không bao giờ tha thứ chính là hành vi nghe lén và rình rò đầy bất trung nhằm thỏa mãn một sự tò mò bất chính. Nhưng về điểm này, cậu Colmore, tôi miễn chấp cho cậu.
Khi tôi còn là một thanh niên, thưa cậu, trẻ hơn cậu bây giờ rất nhiều, tôi bước chân ra xã hội mà chẳng có lấy một người bạn hay cố vấn bên cạnh, kèm theo một hầu bao chỉ mang lại quá nhiều kẻ giả danh bạn bè và mưu sĩ quanh tôi. Tôi từng nốc cạn chén rượu cuộc đời—nếu còn ai trên cõi đời này uống cạn hơn tôi thì đó tuyệt đối không phải là kẻ khiến tôi phải ganh tị. Hầu bao tổn hại, nhân cách sụp đổ, thể chất rệu rã, các chất kích thích trở thành nhu cầu thiết yếu, tôi hóa thành một sinh vật mà chính ký ức của tôi cũng phải rùng mình né tránh. Và chính vào thời điểm ấy, thời kỳ suy đồi đen tối nhất cuộc đời, Chúa đã đưa vào cuộc đời tôi tâm hồn dịu dàng, ngọt ngào nhất từng giáng thế trong hình hài một thiên thần cứu rỗi. Nàng yêu tôi, dẫu tôi lúc bấy giờ chỉ là một gã tàn tạ, yêu tôi, và hiến dâng cả cuộc đời để tái sinh một kẻ từng tự đọa đày bản thân xuống ngang hàng với loài cầm thú thành một con người thực thụ.
Thế nhưng, một căn bệnh quái ác đã quật ngã nàng, khiến nàng héo mòn ngay trước mắt tôi. Trong khoảnh khắc đớn đau tột cùng ấy, nàng chưa từng nghĩ cho bản thân, cho những đớn đau và cái chết của chính mình. Tất cả những gì nàng bận tâm chỉ là tôi. Nỗi dằn vặt duy nhất mà số phận giáng xuống cuộc đời nàng chính là nỗi sợ rằng khi vắng bóng ảnh hưởng của nàng, tôi sẽ ngựa quen đường cũ. Mọi lời thề thốt rằng sẽ không bao giờ có một giọt rượu nào chạm môi của tôi đều trở nên vô nghĩa. Nàng quá hiểu gọng kìm mà con ác quỷ đang kìm kẹp tôi—chính nàng là kẻ đã chật vật tìm cách nới lỏng nó—và ý nghĩ rằng linh hồn tôi có thể lại rơi vào nanh vuốt của nó cứ ám ảnh nàng ngày đêm.
Chính từ những lời bàn tán phiếm của bạn bè trong phòng bệnh mà nàng nghe nói về phát minh này—chiếc máy hát—và với sự nhạy bén chớp nhoáng của một người phụ nữ yêu tha thiết, nàng nhận ra cách mình có thể tận dụng nó cho mục đích của mình. Nàng sai tôi đến London để lùng mua chiếc máy tốt nhất mà tiền bạc có thể đổi lấy. Bằng hơi thở cuối cùng, nàng đã thều thào vào đó những lời lẽ giữ tôi đi thẳng con đường chính đạo cho đến tận bây giờ. Cô độc và tan nát, tôi còn gì khác trên cõi đời này để bấu víu nữa đây? Nhưng chừng đó là quá đủ. Nguyện vọng của Chúa, tôi sẽ đối diện với nàng mà chẳng chút hổ thẹn khi Ngài rủ lòng đoàn tụ chúng tôi! Đó chính là bí mật của tôi, cậu Colmore, và chừng nào tôi còn sống, tôi giao phó nó lại cho sự bảo bọc của cậu.