Tam O' The Scoots

Lượt đọc: 38 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
Kẻ Phá Luật Và Sự Khủng Bố

❊ ❊ ❊

Có một luật bất thành văn trong mọi binh chủng không quân rằng khi một cỗ máy của địch bốc cháy giữa lúc không chiến, kẻ tấn công đã gây ra thảm họa ấy nên để yên cho đối phương và cho phép kẻ bất hạnh đang rơi xuống được yên thân.

Trung sĩ—nhầm, Trung úy Callendar, đang trên đường trở về sau một chuyến càn quét lớn và đầy hứng khởi, thì chạm trán ba chiếc trinh sát cơ tốc độ cao của Không lực Hoàng gia Đức. Cậu bắn hạ được một chiếc thì súng bị kẹt đạn. Cậu nghiêng cánh lượn vòng rồi chúi xuống để né tránh sự săn đón từ chiếc máy bay địch dẫn đầu, nhưng lại trúng một viên đạn lạc, thùng xăng bị thủng và cậu bỗng thấy mình chìm giữa những ngọn lửa gầm rú phát ra tiếng "Hoo-oo-oo!".

Khi cậu rơi xuống, thật kinh ngạc và tức giận làm sao, một trong những kẻ địch đã lao theo phía sau cậu, khẩu súng máy kêu lách cách như cúc lục lạc. Tít trên cao phía trên các chiến đấu cơ, chiếc máy bay thứ tư và thứ năm—một chiếc của Anh và chiếc kia thuộc liên đội Mỹ—đang xé gió lao xuống. Kẻ đang bẻ lái truy đuổi chợt nhận ra mối nguy, liền quăng mình lượn vòng và phóng thốc về nhà, khi mà đồng đội của hắn ta đã lên đường từ trước.

"Anh chẳng phải quý tộc gì cả," Tam lạnh lùng nói, "và tao sẽ càn chú mày!"

May mắn cho kẻ phá luật hàng không ấy, gánh xiếc của von Bissing đang bay biểu diễn những vòng lượn uy nghi trên bầu trời, và vì gánh xiếc của von Bissing gồm mười chiếc phi cơ tốc độ cực cao, Tam liền quyết định rằng đây chưa phải thời điểm thích hợp để báo thù; cậu bẻ ngoặt lái theo hình chữ U ngay khi von Bissing ra tín hiệu: "Tấn công!"

Tam quay trở về sân bay và phát hiện ra rằng Callendar, dẫu bị bỏng đôi chút nhưng vô cùng hào hứng, đang chủ trì một cuộc họp phản đối với chủ đề thảo luận là "Trò chơi và cách thức chơi sao cho đúng luật".

"Tên khốn đó thừa biết là tớ sắp đâm sầm xuống. Thật là một chuyện quái đản!"

"Trước sau gì chúng ta cũng phải gặp những tên như thế thôi," Đại đội trưởng Blackie, chỉ huy liên đội, triết lý nói. "Ta đoán là số lượng quý ông thì có hạn, nên bọn chúng đang nhét cả mấy thứ rác rưởi vào phi đội. Một trong số các cậu hãy thả một mảnh giấy xuống sân bay của chúng và hỏi xem quái quỷ gì mà chúng lại làm thế chứ. Cậu có thấy hắn không, Tam?"

"Tôi có thấy," Tam đáp; "thằng nhãi Hoon đó thoát được kiếp nạn là nhờ những hoàn cảnh ngoài tầm kiểm soát của tôi. Tôi đang bám sát đuôi nó; đôi mắt xanh sáng ngời của tôi đang liếc dọc theo đường ngắm khẩu súng Lewis mạ bạc của mình, thì tôi chợt thấy gánh xiếc hoành tráng của ngài MacBissing đang chờ sẵn để biểu diễn."

Tam lắc đầu.

"Tôi đang hy vọng," cậu nói, "rằng đó chỉ là một hành động lầm lỡ nhất thời, rằng đó là lần rơi máy bay đầu tiên của hắn; và vì quá phấn khích lẫn nhiệt tình trong khoảnh khắc ấy, tên nhãi con đã lầm đường lạc lối. Tôi đang hy vọng rằng sự trừng phạt đang chờ hắn phía trước."

"'Hindenburg bé nhỏ của trẫm,' ngài MacBissing nghiêm nghị và tàn nhẫn cất lời, 'ta có thấy ngươi cư xử theo kiểu có nguy cơ làm nhục lây đến Binh chủng Không quân Hoàng gia và Tối cao của Đức Hoàng Cao ngạo và Lắm lời của chúng ta không? Hoch! Hoch! Hoch!'"

"Hindenburg con cúi gằm cái đầu."

"'Thưa Nam tước,' hoặc 'thưa ngài,' tùy từng trường hợp, hắn đáp, 'con sẽ không dám nói dối ngài đâu ạ. Lúc đó con không được tỉnh táo! Giọt rượu sauerkraut nhỏ cuối cùng ấy đã làm con phấn khích rực rỡ như một rạp chớp bóng vậy! con chẳng biết đầu mình đang ở trên cổ hay ở chỗ nào khác nữa; con xin nhận cáo buộc và xin cúi đầu phó mặc cho lòng khoan dung của tòa án.'"

"'Đưa roi da cho ta,' MacBissing nói với vẻ mặt tái mét nhưng đầy quyết đoán, và chỉ vài phút sau, một kẻ qua đường hẳn đã phải giật mình đến mức suýt bị bắt giam hay thậm chí kết án tử hình bởi những tiếng rên rỉ buồn bã và kỳ quái vọng ra từ sở chỉ huy."

Rằng "Hindenburg bé nhỏ" đã không hề hành động sơ suất, mà đó là một phần trong kế hoạch dịu dàng của hắn nhằm càn quét những kẻ đã bị càn quét—một hành động tương tự như việc đá một người đang ngã ngựa—đã được chứng minh rõ ràng vào sáng hôm sau, bởi khi Thornton rơi ngoài tầm kiểm soát, bốc cháy từ động cơ đến tận đuôi, một phi công Đức—chính xác không lẫn vào đâu được là kẻ đã tự bêu danh vào ngày hôm trước—đã lao xuống bám theo đuôi cậu, xả một trừng đạn xối xả vào phần thân máy bay, dù hắn hoàn toàn có thể tiết kiệm công sức ấy, bởi cả Thornton lẫn người quan sát là Freeman từ lâu đã chiến đấu qua trận chiến cuối cùng của đời mình.

Lại một lần nữa Tam chứng kiến cảnh tượng ấy, và lại một lần nữa, tựa như cơn bão cuồng nộ, cậu lao vút vào kẻ phá luật để rồi lại một lần nữa bị đám trinh sát Đức cảnh giác ngăn cản không cho thực hiện ý nguyện trả thù.

Tam mới nhận được từ quê nhà một lô văn phẩm kha khá—đó là niềm vui đặc biệt của cậu. Tối hôm đó, sau cuộc phiêu lưu thứ hai với viên phi công vô lễ, cậu ngồi trong căn lán nhỏ của mình, lật tấm bìa sặc sỡ của cuốn "Bảy lời cảnh báo: Câu chuyện về sự báo thù của một chàng cao bồi", rồi thoải mái tận hưởng "buổi đọc sách thật đã đời", niềm vui lớn nhất và cũng là duy nhất của cậu. Cậu bắt đầu đọc bên chiếc bàn gỗ thông nhỏ. Rồi cuộn tròn người trên chiếc ghế bọc nệm lớn—vớt vác từ gác mái của lâu đài dở dang vì bom đạn Château d'Enghien. Cậu kết thúc tác phẩm vĩ đại ấy trong tư thế ngồi khoanh chân trên giường, và chính sự bồn chồn mà câu chuyện khơi gợi lại là minh chứng chắc nịch cho sức hút lôi cuốn của nó.

Và khi đọc xong cuốn tiểu thuyết mỏng ba mươi hai trang ấy, cậu lật giở lại để đọc ngấu nghiến từng phần một lần nữa—một lời khen ngợi tột đỉnh dành cho vị tác giả rụt rè và khiêm nhường. Cậu gấp sách lại với một tiếng thở dài dài, ngồi thừ trên giường nửa tiếng đồng hồ rồi quay lại chiếc bàn gỗ thông, lấy từ đống lộn xộn trong ngăn kéo ra một lọ mực, một cây bút và ít giấy viết thư, rồi cặm cụi viết một cách thận trọng, kết thúc bảy, tám dòng chữ bằng hình vẽ một chiếc đầu lâu xương chéo trông vô cùng lịch sự.

Viết xong, cậu kéo chiếc phong bì lại gần và ngồi ngắm nó suốt năm phút. Cậu gãi đầu, gãi cằm rồi đặt bút xuống.

Đã mười một giờ đêm, và phòng ăn sĩ quan hẳn vẫn đang ngồi bàn tán rôm rả. Cậu thổi tắt đèn và dò dẫm băng qua sân bay chìm trong bóng tối.

Blackie nhìn thấy cậu ở phòng đợi, bởi Tam vẫn luôn được đặc quyền ra vào bất cứ lúc nào.

"Tên hắn á? Thật kỳ lạ là cậu lại hỏi câu đó đấy, Tam," Blackie mỉm cười; "chúng ta vừa nhận được tin nhắn từ ngành Tình báo. Một tên trong liên đội của hắn vừa bị đám Creepers bắn hạ, và bọn chúng đang bực bội đến mức tên bị đám Creepers tóm được ấy đã khai tuốt tuột. Tên hắn là von Mahl, con trai của một gã bạn thân cực kỳ giàu có của Kaiser, và là một cặn bã chính hiệu."

"Von Mahl," Tam chậm rãi nhắc lại, "và tôi đoán là hắn thuộc toán ở Roulers phải không?"

Blackie gật đầu.

"Họ phàn nàn cay đắng rằng hắn chẳng phải là một quý ông chút nào," cậu nói, "và họ đã tống cổ hắn đi từ lâu nếu không vì hắn có chỗ dựa thế lực này. Sao cậu lại muốn biết làm gì?"

"Thưa ngài," Tam nghiêm trang đáp, "tôi đang ấp ủ một màn trình diễn hoành tráng."

Cậu quay về phòng và viết ngoài phong bì:

"Mr. von Mahl."

Sáng hôm sau, khi các thành viên danh giá thuộc Liên đội số 95 của Không lực Hoàng gia Đức đang làm những công tác chuẩn bị cuối cùng để cất cánh, một đốm đen xuất hiện trên bầu trời.

Đại úy Karl von Zeiglemann dùng ống nhòm Zeiss định vị đốm đen ấy và chửi thề.

"Đó là một chiếc máy bay Anh," hắn nói; "mấy tên lợn xứ Bavaria đó đã để nó lọt qua. Tìm chỗ ẩn nấp!"

Nhóm người trên sân bay tản ra tứ phía.

Hỏa lực pháo cao xạ Archie ngày càng dữ dội và bầu trời chi chít những cụm khói đạn pháo nổ tung, nhưng vị khách nhỏ bé vẫn cứ thế tiến về phía trước một cách chậm chạp và bất kham. Tiếp theo là ba tiếng nổ đinh tai nhức óc khi bom được thả xuống. Một quả rơi trúng góc nhà chứa máy bay và san phẳng nó. Quả thứ hai nổ ngoài bãi trống chẳng gây thiệt hại gì, nhưng quả thứ ba rơi trúng phóc vào giữa hai chiếc máy bay đang chờ cất cánh, khiến chúng vướng vào nhau và bốc cháy.

Đại đội trưởng người Đức nhìn chiếc máy bay nghiêng cánh lượn vòng và đồng thời thấy thứ gì đó đang lơ lửng rơi chậm chạp xuống mặt đất. Hắn gọi người hầu cận.

"Có một chiếc dù đang rơi bên ngoài khu vực Fritz. Đi lấy nó đi."

Hắn quay sang tên sĩ quan phó chỉ huy.

"Chúng ta sẽ thấy thôi, Müller ạ, vị khách này có mối liên hệ mật thiết không nhỏ với người bạn thân mến von Mahl của chúng ta đâu."

Cấp dưới của hắn làu bàu: "Tôi ước gì von Mahl nằm dưới quả bom đó. Chúng ta không thể làm gì để tống cổ hắn đi sao, thưa Đại úy?"

Zeiglemann lắc đầu.

"Ta đã đề nghị rồi và bị quất cho một trận đau điếng vì cái tội thọc mạch. Gã đó đang làm vấy bẩn tai tiếng của chúng ta đấy."

Năm phút sau, người hầu cận bước đến chỗ nhóm của Zeiglemann đang đứng vây quanh, trao cho hắn một chiếc dù bằng vải lanh nhỏ và một chiếc túi có buộc chì. Viên đại đội trưởng đang cắt sợi dây buộc miệng túi thì một giọng nói lanh lảnh vang lên:

"Thưa Đại úy, xin hãy cẩn thận; nhỡ có bom thì sao."

Có một tiếng cười khúc khích phát ra từ đám đông, và Zeiglemann trừng mắt nhìn kẻ vừa nói—một thanh niên cao gầy, có vẻ ngoài khó ưa với khuôn mặt đỏ bừng vì phấn khích.

Hắn gằn giọng với vẻ tàn bạo đậm chất Phổ: "Herr von Mahl, các binh chủng không quân không hạ mình dùng đến những trò tiểu nhân như vậy, và họ cũng chẳng nã đạn vào những cỗ máy đang bốc cháy."

Tên thanh niên lắp bắp: "Thưa Đại úy, tôi làm những gì mình cho làn bổn phận đối với Kaiser và Tổ quốc."

Hắn nghiêm cẩn chào kiểu quân đội.

Chẳng có câu trả lời nào cho hành động ấy, như hắn thừa biết, và Đại úy Zeiglemann lặng lẽ hoàn tất việc của mình. Chiếc túi được mở ra. Hắn thò tay vào lấy ra một bức thư.

"Ta biết ngay mà," hắn nói khi nhìn vào phần địa chỉ; "cái này là dành cho anh đấy, von Mahl." Hắn đưa nó cho tên thanh niên, kẻ đang xé toạc phong bì.

Họ xúm quanh hắn và đọc ké qua vai:

"ĐÂY LÀ LỜI CẢNH BÁO ĐẦU TIÊN

CỦA KẺ BÁO THÙ. HÃY RUN SỢ.

HÃY KHIẾP KINH!

Hãy vây quanh mình bằng lính với tường

Rồi trốn phía sau những cỗ đại bác

Và tự đào hố chôn mình xuống đất đi

Rồi ngươi sẽ phải hối hận vì ngày mình lọt lòng

Bởi Tam the Scoot đang bám theo vết bánh xe ngươi

Và chẳng mấy chốc cái đầu gối của ngươi sẽ bắt đầu nứt nẻ đấy!"

Bức thư được ký tên bằng hình một chiếc đầu lâu xương chéo.

Chàng thanh niên ngẩn ngơ nhìn người này rồi sang người khác. Khuôn mặt ai nấy đều nghiêm nghị.

"Cái—cái gì thế này?" hắn lắp bắp; "chẳng phải nó ngớ ngẩn lắm sao? Chẳng phải nó rất phù phiếm hay sao, thưa Đại úy?"

Hắn cười cái điệu cười lanh lảnh the thé của mình, nhưng chẳng một ai thốt lên một tiếng.

"Dĩ nhiên là chuyện này nghiêm túc rồi, von Mahl," Zeiglemann điềm tĩnh nói. "Dù đây là ân oán cá nhân của anh, toàn liên đội vẫn sẽ cố hết sức để cứu anh."

"Nhưng—nhưng thế này thì ngu ngốc quá," von Mahl vừa nói vừa hung tợn xé nát mảnh giấy thành từng mảnh nhỏ rồi vứt tung tóe xuống đất. "Tôi sẽ truy lùng tên này và tiêu diệt hắn. Tôi sẽ xử lý cái tay Herr Tam đó."

"Anh muốn làm gì thì tùy, Herr von Mahl, nhưng trước tiên anh phải nhặt những mảnh giấy đó lên, bởi quy định của tôi là sân bay lúc nào cũng phải sạch sẽ."

Tam lượn vòng bay vèo trở về sở chỉ huy kịp bữa điểm tâm và làm báo cáo.

"Lần tới mà cậu còn giở trò trên bầu trời Roulers, bọn chúng sẽ chờ sẵn để tẻo đời cậu đấy, Tam," Blackie lắc đầu nói. "Tôi khuyên cậu không nên lạm dụng cái trò cảnh báo đó quá."

"Thưa ngài," Tam đáp, "tôi chẳng có ý định mạo hiểm với tài sản của chính phủ đâu."

“Tôi không nghĩ đến chiếc máy bay, mà là nghĩ đến cậu cơ.”

"Tôi cũng nghĩ y chang vậy," Tam điềm nhiên nói. "'Đó sẽ là một thảm họa quốc gia. Tui nghi ngờ là ngay cả tờ Scotsman cũng sẽ chìm trong tang tóc—'Tình báo chuyển đến cho chúng ta,' tờ nhật báo vĩ đại của chúng ta đưa tin, 'từ Mặt trận phía Tây, mang theo nỗi buồn đến gần như mọi mái ấm Scotland mà tờ báo phát hành rộng rãi của chúng ta chạm tới, và thậm chí cả những nơi khác. Tam the Scoot, người phi công gan dạ, đã ra đi về miền cực lạc. Người anh hùng nhỏ bé đã một mình đương đầu với ba mươi lăm chiếc xe buýt của địch, cụ thể là gánh xiếc của ngài MacBissing, và ngã xuống làm nạn nhân cho chính sự cuồng nộ bất khuất và tính khí nóng nảy của mình, sau khi tiêu diệt được ba mươi mốt kẻ địch. Báo chí Glasgow (nếu có tờ nào) xin vui lòng sao chép lại bài này.'"

Rằng những lo lắng của Blackie là có cơ sở đã được chứng minh vào cuối buổi sáng hôm đó. Tam thấy con đường đến Roulers bị chặn bởi một loạt đạn pháo cao xạ Archie dày đặc mà nếu thách thức thì chẳng khác nào hành động ngu ngốc. Cậu liền quay về phía nam, tránh các khối mây dày, và có được sự thỏa mãn khi chứng kiến "gánh xiếc" lao vút xuống từ đám mây trắng theo một đội hình bao vây được tính toán kỹ lưỡng.

Tam quăng mình lượn vòng hướng thẳng về Ypres, nhưng lại chạm trán một đội hình phong tỏa khác.

Cậu lại quay đầu, lần này phi thẳng về nhà, thả túi bưu phẩm xuống (cậu đã ghi đúng địa chỉ và thừa biết nó sẽ được chuyển tới nơi), bắn hạ rơi tự do một chiếc máy bay địch đang chúi xuống phản kháng, truy đuổi một chiếc "máy bay trinh sát" chạy thục mạng xuống mặt đất, rồi vút qua các chiến hào Anh ở độ cao chưa đầy hai trăm thước so với mặt đất với đôi cánh bị bắn tơi tả như ruy-băng—bởi gánh xiếc đã kịp kéo đến trong tầm bắn của súng máy.

Một tuần sau, Trung úy von Mahl bay qua chiến hào Anh ở độ cao một nghìn rưỡi thước, thả bom xuống một khu nhà ở và một trạm xá dã chiến rồi thả một mảnh giấy xấc xược gửi cho "Kẻ Anh quốc Tamm". Hắn chẳng đợi câu trả lời—thứ vốn được đáp lại vào lúc một giờ sáng ngày hôm sau—một câu trả lời ầm ĩ và đáng sợ.

"Chuyện này không còn buồn cười nữa rồi," Đại úy von Zeiglemann chui ra từ hầm tránh bom của mình và đánh điện yêu cầu ba chiếc máy bay để thay thế cho số "bị địch phá hủy", đồng thời xin phê chuẩn một số biện pháp trả đũa. "Còn về cái tên chó chết von Mahl đó..."

"Hắn vừa nhận được lời cảnh báo thứ năm," tên cấp dưới với khuôn mặt không một nụ cười đáp, "và hắn đang chẳng vui vẻ gì cho cam."

Quả thực von Mahl hoàn toàn không vui. Viên chỉ huy tìm thấy hắn đang ngồi trong phòng với sắc mặt tái nhợt và run lẩy bẩy. Hắn vùng dậy khi von Zeiglemann bước vào, gót giày nện vào nhau lanh lảnh rồi đưa tay chào. Chẳng nói một lời, vị chỉ huy giật lấy bức thư từ tay hắn và đọc:

Nếu ngươi sang Đức ta sẽ bám theo.

Nếu ngươi về nhà với mẹ ta sẽ tìm ra tận nhà và thả bom.

Ta sẽ không bao giờ buông tha ngươi đâu, McMahl.

Tam the Avenger.

"Ra thế!" là lời bình luận của von Zeiglemann.

"Thật là vô lại! Thật là quái đản!" viên trung úy rít lên. "Nó đi ngược lại với luật lệ chiến tranh! Tôi phải làm gì đây, thưa Đại úy?"

"Bay lên tìm Tam và bắn hạ hắn đi," von Zeiglemann lạnh lùng đáp. "Đơn giản vậy thôi."

"Nhưng—nhưng—ngài nghĩ—ngài tin là...?"

Zeiglemann gật đầu.

"Tôi nghĩ hắn sẽ giữ lời hứa đấy. Đừng quên, thưa Trung úy, chính Tam là kẻ đã hạ sát von Müller, phi công vĩ đại nhất mà Tổ quốc từng sản sinh."

"Von Müller!"

Khuôn mặt chàng thanh niên tái đi thêm một tông. Câu chuyện về von Müller cùng mối thù hằn của ông ta với một phi công "Anh quốc" cùng kết cục thảm khốc của mối thù ấy là điều ai nấy ở Đức đều biết rõ.

Trên đường đi bộ trở về Sở chỉ huy, von Zeiglemann bày tỏ suy nghĩ riêng với người tâm phúc.

"Nếu Tam có thể dọa cho tên nhà giàu keo kiệt này trốn về Frankfurt, hắn sẽ lập cho chúng ta một công lớn đấy."

“Hắn vừa hỏi tôi xem tôi nghĩ nơi nào thì an toàn với hắn—hắn đang tính xin thuyên chuyển ra mặt trận phía đông,” trợ lý của Zeiglemann nói.

"Và anh đã bảo..."

"Tôi bảo hắn rằng nơi an toàn duy nhất chính là một trại giam của Anh."

"Xin Chúa ban ơn cho hắn đến được đó," von Zeiglemann sùng đạo nói, "nhưng hắn sẽ là một kẻ may mắn nếu còn sống sót trở về sau cuộc đấu với Tam đấy. Tôi ra lệnh cho anh, tuyệt đối không được để hắn bay một mình. Phải bảo vệ tên lợn này—giữ hắn ở trong đội hình."

Von Zeiglemann cất cánh trên chiếc phi cơ một chỗ ngồi gầm rú của mình và lùng sục bầu trời phía sau chiến hào Đức để tìm Tam. Do quá may mắn, hắn bị bắn hạ bởi một quả đạn pháo Archie lạc hướng và rơi xuống với cái mắt cá chân bị bong gân tại chiến hào hỗ trợ của Đức, đối diện với Armentiers.

"Đó là lời cảnh báo cho ta biết đường mà để mặc Mahl tự giải quyết ân oán của hắn," hắn lầm bầm khi khập khiễng bước ra từ chiếc xe hơi được cử đến đón mình.

Sẽ có lúc, với bất kỳ ai từng thấu hiểu ý nghĩa của sự sợ hãi, xuất hiện một khoảnh khắc nghi ngờ tinh tế về lòng dũng cục của chính mình—một sự sụp đổ niềm tin đến chóng mặt khởi đầu bằng những nỗi sợ bâng quơ và kết thúc trong cơn hoảng loạn mù quáng.

Von Mahl có lòng can đảm—một phi công không thể bị chối bỏ phẩm chất đó dù quốc tịch của anh ta có là gì đi nữa—nhưng đó chỉ là thứ dũng khí máy móc dựa trên niềm tin ngây thơ vào sự vượt trội của người Đức nói chung so với tất cả mọi người—dù là bạn hay đối thủ.

Hắn bước vào binh chủng không quân từ Binh đoàn Cận vệ; bước vào Binh đoàn Cận vệ từ bầu không khí của giới Tài chính Cấp cao, nơi người ta quy đổi mọi giá trị ra mệnh giá mác và định giá mọi đức tính bằng thứ tiền tệ của quốc gia tìm thấy đức tính đó.

Niềm tin tuyệt đối của hắn vào đồng mác đã bay hơi dưới bàn tay cai trị sắt đá của một viên đại tử sở hữu ba hồ nước cùng một dãy núi, và một viên sĩ quan phụ tá có tới bốn họ và dùng tất cả chúng cùng một lúc.

Niềm tin của hắn vào sự ưu việt của vũ khí Đức, vốn đã lung lay đôi chút tại Verdun, được hồi sinh sau khi hắn gia nhập không quân, đạt đến đỉnh cao vào khoảnh khắc hắn chuốc lấy sự ghét bỏ từ Tam, và kể từ giây phút đó cứ thế tụt dốc không phanh.

Sự xuống cấp về mặt tinh thần của một người lính là một quá trình phức tạp khó lòng miêu tả trọn vẹn. Có thể nói rằng nó khởi nguồn từ sự tôn trọng đối với kẻ thù và đạt đến điểm cực điểm khi ta khinh thường chính các đồng đội của mình. Trước khi chạm đến điểm đó, bạn đã vượt xa giai đoạn còn chút niềm tin nào vào bản thân.

Von Mahl đã rơi xuống cái tầng sâu của sự tha hóa ấy, khi hắn tự tách mình ra khỏi đồng đội và ngồi lầm lì suy tư, các khớp ngón tay tì lên hàm răng, tự nhẩm lại năng lực của bản thân và đếm nhẩm tất cả những sự bất công mà hắn từng phải gánh chịu.

Von Zeiglemann, quan sát hắn, đã phê chuẩn cho hắn nghỉ phép mười bốn ngày, và vị sĩ quan trẻ miễn cưỡng đón nhận đặc ân ấy.

Hắn tưởng tượng rằng hiểm nguy luôn có một sức hút vô cùng ngọt ngào. Hắn đã hai lần giao tranh với Tam và giờ đây gần như nắm rõ tường tận về Tam, chiếc máy bay lẫn chiến thuật của đối thủ.

Von Mahl lên đường tới Brussels trên hành trình đi Frankfurt và hai ngày sau đó, một trong những tai nạn kỳ quặc của chiến tranh lại xảy ra như thường lệ.

Tam được giao nhiệm vụ tham gia một đội đột kích hùng hậu có mục tiêu là một thị trấn nằm ngay bên kia biên giới Bỉ - Đức. Cuộc đột kích diễn ra thành công tốt đẹp và nhóm đang trên đường về thì Tam—với tư cách là một thành viên của lực lượng hộ tống chiến đấu—bị hai chiếc máy bay địch tấn công dữ dội, và cậu đã ép cả hai phải hạ cánh. Trong lúc giao chiến, cậu buộc phải hạ độ cao xuống cách mặt đất chưa đầy một nghìn thước và đang chuẩn bị lấy lại độ cao thì ngay phía dưới cậu, một đoàn tàu quân sự dài dằng dặc phóng ra từ một đường hầm. Tam không mang theo bom, nhưng cậu có hai khẩu súng máy tuyệt hảo, và cậu hân hoan lao xuống chiến trường.

Cách mặt đất vài thước, cậu kéo phẳng máy bay và, lao ngược hướng với chiều chuyển động của đoàn tàu, trút một cơn mưa đạn vào sườn các toa tàu.

Von Mahl, nhìn ra từ cửa sổ của một toa hạng nhất, thoáng thấy chiếc máy bay và viên phi công trong chớp mắt—rồi các ô cửa kính vỡ vụn thành hàng nghìn mảnh và hắn ngã quỵ xuống sàn với khuôn mặt tái mét và toàn thân run lẩy bẩy.

Hắn đến Frankfurt để rồi phát hiện ra người nhà đã chuyển đi Karlsruhe, thế là hắn lại lồng lộn đuổi theo. Đêm hắn đến nơi, Karlsruhe bị một liên đội Pháp ném bom... von Mahl chỉ nhìn thấy đâu đâu cũng là những bóng hình Tam đang lượn lượn báo thù. Hắn quay trở lại mặt trận với tâm hồn và dũng khí đã vỡ vụn. "Nơi duy nhất mà anh có thể được an toàn là một trại tập trung của Anh."

Hắn nhai ngấu nghiến các đốt ngón tay với vẻ tập trung dữ dội và nghiền ngẫm sự việc.

"Tôi đang trì hoãn lời cảnh báo thứ bảy của mình đây," Tam nói, "vì tôi không chắc là McMahl có còn ở đó không nữa. Tôi chẳng thấy cậu nhóc đó từ lâu lắm rồi."

"Nói thật nhé, Tam," cậu thanh niên Craig (người cuối cùng trong gia đình họ Craig, hai người anh của cậu đã bị bắn hạ trên bầu trời Lille) lên tiếng, "cậu có thực sự nghĩ rằng mình dọa được Fritz không?"

Tam vừa hút xì gà với vẻ mặt đau khổ, vừa kéo điếu Corona ra khỏi miệng, đưa mắt nhìn nó với cái bĩu môi đầy thất vọng, rồi hừ mũi khinh miệt trước khi trả lời.

"Thưa ngài," cậu nói, "thói quen của bọn Hoon, hay bọn Đức, đã trở thành đề tài nghiên cứu cả đời tôi. Thường thì vào ban đêm khi mấy quý ông ở phòng ăn đang phì phèo những điếu xì gà tồi tởm và chơi trò đỏ đen bridge-whist, thì Tam o' the Scoots lại đang miệt mài giải quyết những bài toán về tâm lý học Đức—tôi quên mất tiêu cái từ hay ho đó rồi. Cậu ta cứ ngồi lỳ ở đó, gã đàn ông bé nhỏ chẳng màng đến một điếu xì gà để bầu bạn—cảm ơn ngài, tôi sẽ không hút nó lúc này đâu, nhưng chắc chắn một trong những tay thợ máy khổ sở nào đó sẽ mừng rỡ nhận lấy—cứ thế Tam ngồi đó, thâm nhập vào tâm trí, hoặc thứ tương đương, của bọn Hoon."

"Nhưng cậu có thực sự tin là mình đã dọa sợ hắn không?"

Mắt Tam ánh lên vẻ tinh nghịch.

"Mister Craig, thưa ngài, điều gì khiến ngài sợ hãi nhất trên đời này?"

Craig ngẫm nghĩ một lát.

"Rắn," cậu đáp.

"Và nếu ngài muốn càn quét một gã nào đó hết mức có thể, ngài có ném hắn vào giữa bầy rắn không?"

"Tôi không thể tưởng tượng nổi còn cái gì kinh khủng hơn thế," Craig rùng mình.

"Bọn Hoon cũng y như vậy thôi. Chúng thích sự khủng bố bởi vì chúng sợ bị khủng bố. Chúng ném bom các thị trấn nhỏ vì sợ những thị trấn nhỏ của chính chúng bị ném bom. Chúng tin rằng chúng ta đang thấy hoảng loạn bởi vì bản thân chúng sẽ run như cầy sấy nếu chúng ta làm điều tương tự với chúng. Ngài lúc nào cũng có thể dọa sợ một tên Hoon—đó là lý thuyết của tôi, thưa ngài."

Craig chẳng còn cơ hội nào để thảo luận thêm về vấn đề này nữa, bởi sáng hôm sau cậu bị "chấn thương" giữa không trung và vẫn còn đủ tỉnh táo để hạ chiếc máy bay xuống mặt đất. Đen đủi thay, khu vực mặt đất đó lại đang tạm thời bị quân Đức chiếm đóng.

Thế là Craig đành triết lý bước vào cảnh tù đày.

Cậu được đưa đến Sở chỉ huy Đức và bàn giao cho không đoàn của von Zeiglemann "để chuyển giao đi nơi khác."

"Đây là Mr. von Mahl," Zeiglemann giới thiệu với vẻ nghiêm túc (họ đang trên đường vào ăn trưa); "anh chắc đã nghe danh."

Craig nhướng mày, bởi bản tính nghịch ngợm trong cậu trỗi dậy.

"Von Mahl," cậu nói với vẻ hoài nghi được giả vờ hoàn hảo; "chà, tôi cứ ngỡ là—à mà này, hôm nay là ngày mười sáu phải không?"

"Ngày mai mới là ngày mười sáu," von Mahl gầm gừ. "Chuyện gì xảy ra vào ngày mai thế, thưa người Anh?"

"Xin lỗi nhé," Craig lịch sự đáp; "tôi e là mình không thể nói cho anh biết được—làm thế thì bất công với Tam lắm."

Và von Mahl bước đi trong cơn vã mồ hôi vì sợ hãi.

Từ đâu đó trên bầu trời vọng lại tiếng kêu tựa như tiếng gầm của chiếc cưa máy đang nghiến vào khúc gỗ cứng. Tam, người đang đi dọc theo một con đường vắng vẻ, hai tay đút túi quần, chiếc mũ lưỡi trai đội lệch về phía sau, ngẩng đầu lên và đưa tay che mắt. Thứ gì đó to bằng con ruồi nhà, và đen sì như thế, đang di chuyển một cách chậm chạp đến đau đớn cắt ngang bầu trời.

Giờ thì, chỉ có duy nhất một loại máy bay tạo ra tiếng động hệt như chiếc cưa máy đang bận rộn làm việc của nó, đó chính là máy bay chiến đấu của Anh, và Tam thừa biết đây chính là một chiếc như thế.

Tại sao nó lại bay ở độ cao đó và theo hướng ngược lại với hướng của chiến tuyến lại là một điều bí ẩn.

Thông thường, một cỗ máy sẽ bắt đầu hạ độ cao khi nó bay tới chiến tuyến của chúng ta, ngay cả khi điểm đến của nó có ở tít tận phía sau các sân bay ngay sát hậu phương—thậm chí, như trong trường hợp này, khi nó đang bay thẳng hướng ra biển và bờ biển nước Anh. Việc một chiếc máy bay hướng về "Blighty" lại bắt đầu hành trình từ một điểm nằm sâu sau chiến tuyến của Đức cũng chẳng phải chuyện thường thấy. Tam đứng suốt năm phút liền để quan sát đốm nhỏ thong thả cất cánh hướng về phía tây; rồi cậu quay bước trở lại sân bay.

Cậu bắt gặp ngay lối vào một nhóm nhỏ các sĩ quan cũng đang tỏ ra vô cùng hứng thú.

"Cậu đoán xem đó là chiếc máy bay nào thế, Tam?" Blackie hỏi.

"Nó là của Anh," Tam thận trọng đáp.

Cậu chìa tay ra nhận chiếc ống nhòm mà Blackie đang đưa và hướng nó vào chiếc máy bay đang khuất dần. Cậu lặng lẽ quan sát nó suốt hồi lâu. Mặt trời lúc nãy còn bị mây che khuất, nhưng giờ đây một tia nắng bất chợt chiếu rọi vào chiếc máy bay trong chốc lát, biến nó thành một ngôi sao lấp lánh ánh sáng. Tam hạ ống nhòm xuống.

"Kia là máy bay của Mr. Craig," cậu khẳng định đầy ấn tượng.

"Máy bay của Craig ư? Sao cậu lại nghĩ thế?"

"Thưa ngài," Tam nói, "tôi nhận ra nó ở bất cứ đâu. Kia chính là chiếc 'xe buýt' của Mr. Craig, không trật đi đâu được."

Blackie quay ngoắt lại và chạy vụt về văn phòng. Cậu quay vòng quay điện thoại và bấm số.

"Cậu đấy hả, Calais? Có một chiếc Boche đang lái máy bay của chúng ta bay về hướng các cậu đấy—phải, chiếc đã hạ cánh xuống chiến tuyến của bọn chúng tuần trước. Một chiếc máy bay chiến đấu Fairlight. Nó đang bay ở độ cao mười sáu nghìn thước. Hãy cảnh báo Dover đi."

Cậu gác máy rồi quay trở lại.

Những du khách nghỉ mát tại một thị trấn ven biển nước Anh được một phen mục sở thị tình huống báo động.

Họ tụ tập trên bãi cát và trước bờ biển, dõi theo một tá máy bay Anh đang lượn vòng rộng bay vút lên cao cho đến khi chúng cũng chỉ là những đốm nhỏ lơ lửng trên bầu trời. Họ thấy chúng bất ngờ quay ngoắt lại và bay ra biển, rồi những ai sở hữu ống nhòm xịn liền nhận ra một đốm nhỏ mới xuất hiện từ phía đông, để rồi chẳng mấy chốc mười ba chiếc máy bay hòa quyện và rối tung lên với nhau, hệt như những vết ruồi bay xuất hiện trước mắt một kẻ đang mắc bệnh gan.

Từ mớ hỗn độn gồm các dấu chấm ấy, một chiếc từ từ hạ độ cao và những quan sát viên được huấn luyện đứng ở vị trí đắc địa liền reo hò vui sướng, bởi thứ trông có vẻ như một màn hạ độ cao chậm chạp ấy thực chất lại đang di chuyển nhanh gấp đôi chuyến tàu tốc hành nhanh nhất, hơn thế nữa, họ nhận ra qua một số dấu hiệu rằng nó đang rơi trong biển lửa.

Một chiếc tàu khu trục xám xịt, với ba ống khói nhả cuồn cuộn khói đen, rẽ sóng lao qua biển và lượn vòng quanh đống đổ nát của chiếc máy bay đang cháy. Một chiếc xuồng nhỏ chao lượn giữa những con sóng và một thanh niên được kéo lên từ đống vỡ nát, miệng thốt ra những lời oán hận kỳ lạ và cay đắng.

Họ đưa hắn xuống phòng ở của sĩ quan trên tàu khu trục và đỡ hắn ngồi vào chiếc ghế bọc nệm của hạm trưởng. Một vị bác sĩ tận tụy dùng i-ốt bôi lên hai vết cắt gớm ghiếc trên đầu hắn và khéo léo quấn một lớp băng quanh trán hắn. Một trung úy hoa tiêu chìa ra một ly whisky pha soda.

"Nếu cậu nói tiếng Anh, chàng trai dịu dàng của tôi," viên hạm trưởng nói, "xin hãy ban ơn cho chúng tôi biết cấp bậc, chức vụ và số hiệu chính thức của cậu đi."

"Von Mahl," tên thanh niên hằn học đáp, "Trung úy Cận vệ Hoàng gia Phổ."

"Cậu làm chúng tôi hết cả hồn đấy," hạm trưởng nói. "Cậu có thể giải thích tại sao mình lại lái một chiếc máy bay của Anh mang phù hiệu của phe Đồng minh không?"

"Tôi không giải thích gì sất," tên thanh niên gầm lên.

Trông hắn chẳng lấy gì làm dễ ưa cho cam, bởi cái đầu thì trọc lóc và phần trán thì lẹm về phía sau. Để không tỏ ra kém miếng về khoản khiêm nhường, chiếc cằm của hắn cũng mang đặc điểm lùi sâu tương tự.

“Trước khi tôi bàn giao cậu cho đám dã nhân thuộc Binh chủng Không quân Hải quân Hoàng gia—những kẻ mà tôi nghe nói là chuyên nuốt gọn mấy thứ nhóc con như cậu kèm bánh mì nướng, cậu có muốn đưa ra tuyên bố nào giúp mình thoát khỏi cái kết cục nhục nhã đang chờ đón tất cả những anh chàng anh hùng mới nổi cải trang thành những người Anh mới nổi không?”

Von Mahl chần chừ.

“Tôi đến đây—bởi vì tôi nhìn thấy chiếc máy bay—nó đã rơi xuống chiến tuyến của chúng tôi—đó chỉ là một phút bốc đồng.”

Hắn thò tay vào lớp áo tunic cài khuy kín mít và rút ra một bọc giấy dày bọc vải bố, khi mở ra, hóa ra đó là một tấm bản đồ tham mưu về nước Anh.

Hắn trải tấm bản đồ lên bàn ăn của phòng sĩ quan và viên hạm trưởng nhận ra rằng tại một số địa điểm nhất định đã được đánh dấu bằng những vòng tròn màu đỏ nhỏ xíu.

"Uppingleigh, Colnburn, Exchester," viên thuyền trưởng tàu khu trục đọc; "nhưng đây có phải là những địa điểm có tầm quan trọng về mặt quân sự đâu—chúng là các trại giam của Đức mà."

"Chính xác!" von Mahl đáp; "đó là nơi tôi sẽ đến."

Về điều này thì hắn đã nói thật, bởi cuối cùng hắn cũng đã tới được một trong những nơi đó.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.