Tam O' The Scoots

Lượt đọc: 38 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Những Chú Chó Con Trong Bầy

❊ ❊ ❊

Tam không phải là bậc thánh thần không bao giờ mắc lỗi, và việc hiện thực hóa những "ý tưởng lớn" của anh không phải lúc nào cũng chứng minh được sự tự tin mà anh đặt vào chúng. Ý tưởng về một chiếc "máy bay tàng hình" chẳng hạn, vốn định sơn màu xanh da trời để "hòa hợp với bầu trời xanh", đã không thành công, và kế hoạch tạo ra những đám mây nhân tạo của anh cũng chẳng mang lại kết quả đáng khích lệ nào. Nhưng bản "Đội hình tấn công các kho tàng địch" của Tam đã vinh dự được ấn hành, và được lưu hành một cách bảo mật bằng các thứ tiếng Pháp, Anh, Nga, Ý, Xéc-bi, Nhật và Ru-ma-ni.

Điều đáng tiếc là một bản tiếng Xốt-len lại không được soạn thảo bằng chính ngôn ngữ của Tam; và Đại úy Blackie, người đã trau chuốt những ghi chép thô sơ của Tam và cô đọng những mô tả lãng mạn nhất của anh thành vài dòng ngắn ngủi, đã đề xuất một ấn bản như thế để lưu hành nội bộ.

Nó hẳn sẽ bắt đầu đại loại thế này:

"Mấy tên Hung nô hay Giếc-man ấy là tay chiến đấu khá cừ, nhưng chúng lại hoàn toàn thiếu chủ động. Hắn ngước nhìn lên bầu trời buổi sáng và phát hiện ra một cỗ máy tuyệt đẹp bay là đà bên kia chiến tuyến của hắn.

"'Hừm!' hắn bảo, 'Ta nghĩ cái gã nhãi con kia là người Xốt-len đấy — hãy đi đi, Phrít, Hăng, Ca và Hai-rích, và giã cho tên khốn đó một trận.'

"'Dạ không,' tên trung úy dưới quyền đáp. 'Nein,' hắn nói, 'ngài không biết mình đang đòi hỏi cái gì đâu, ngài Trung úy ạ.'

"'Mày bị làm sao thế?' viên đại úy quát. 'Chúng mày là anh hùng nước Giếc-man hay chỉ là đám Áo-xtri hèn nhát mà lại đi sợ một đứa ranh con?'

"'Thưa Trung úy,' chúng thưa, 'gã kia chính là Tam xứ Scoots, Kẻ cướp trên các vì sao!'

"'Ái chà!' hắn kêu lên. 'Bay lên đi, một đứa trong tụi bay, và mời cậu ta xuống đây dùng chút trà với chúng ta — chúng ta phải giữ quan hệ tốt với Tam chứ!'"

Tất cả những điều này và nhiều hơn thế nữa suýt chút nữa đã trở thành chương mở đầu cho phiên bản đích thực về bộ quy tắc tấn công của Tam.

"Tam đúng là một gã kỳ cục," Đại úy Blackie nói bên bàn ăn sáng; "hắn vừa hạ được von Zeidlitz ngày hôm qua."

"Von Zeidlitz bị hạ rồi sao?" nửa tá giọng nói cùng vang lên, và Blackie gật đầu.

Cậu thanh niên Carter tiếc nuối nói: "Hắn ta là một chiến binh đàng hoàng và cao thượng. Anh nghe tin này khi nào vậy, thưa đại úy?"

"Sáng nay, qua cơ quan Tình báo của Bộ tư lệnh."

"Tam chắc sẽ khoái lắm đây," ai đó lên tiếng. "Hôm qua cậu ấy còn phàn nàn rằng cuộc sống ngày càng tẻ nhạt. Nhân tiện, chúng ta nên thả một vòng hoa cho lão von Zeidlitz tội nghiệp chứ nhỉ."

Blackie đáp: "Tam sẽ vui vẻ nhận việc đó thôi; cậu ta luôn quý mến von Zeidlitz — cậu ta gọi đối thủ là 'Fritz Fokker' kể từ ngày von Zeidlitz suýt chút nữa đã bắn trúng đuôi máy bay của Tam."

Một sĩ quan đứng bên cửa sổ với hai tay đút sâu trong túi quần liền ngoái đầu gọi lớn:

"Tam đến kìa."

Tiếng động cơ gầm rú và nổ lụp bụp của chiếc máy bay trinh sát vang lên mờ ảo khi cỗ máy nhỏ bé phi nhanh của Tam lướt qua bãi đất rộng của sân bay, và chỉ vài phút sau, Tam đã thong thả bước về phía văn phòng, vừa đi vừa lột găng tay.

Blackie bước ra đón anh.

"Chào Tam — có gì thú vị không?"

Tam xua tay — anh chẳng bao giờ chào kiểu quân ngũ.

Anh hỏi với vẻ đầy bí ẩn: "Cậu có muốn đi ngó qua mấy cái đồng hồ trên máy bay của tôi không?"

"Sao thế, Tam?"

"Có muốn không, thưa ngài?"

Đại úy Blackie bước đến bên chiếc máy bay và trèo lên buồng lái. Cảnh tượng đập vào mắt khiến ông phải há hốc mồm, và ông quay lại chỗ Tam đang đứng với vẻ tự mãn và đầy ý thức về chiến tích của mình.

Blackie ngạc nhiên hỏi: "Cậu đã bay lên tới độ cao hai mươi tám nghìn bộ cơ à, Tam? Chà, đó gần như là một kỷ lục đấy!"

Tam đáp: "Tôi nghi cái khí áp kế của mình lắm; nếu mà không phải là bốn mươi nghìn bộ, thì tôi đúng là một tên Boche."

Blackie phì cười.

"Cậu không phải là Boche, Tam," anh nói, "và cậu cũng chẳng lên tới bốn mươi nghìn bộ đâu — không con người nào có thể bay cao tới tám dặm cả. Lên được năm dặm rưỡi đã là một thành tựu tuyệt vời rồi. Sao cậu lại bay cao thế?"

Tam cười toe toét và đập hai chiếc găng tay dài vào nhau.

"Để tìm sự yên bình và tĩnh lặng," anh đáp. "Tôi bị ba mươi chiếc máy bay Hung nô rượt đuổi đến mức không kịp ăn sáng, thế là tôi cứ bay cao lên, cao lên mãi, và rồi có hai tên bám theo sau. Có một câu nói đùa cũ rích mà trước nay tôi chẳng tài nào hiểu nổi — 'càng cao càng ít' — bây giờ thì hiểu cái một."

"Dù sao thì cậu cũng đã trở về an toàn," Blackie nói.

Tam cất giọng đều đều như hát ngâm, thứ giai điệu luôn đi kèm trong mọi câu chuyện của anh: "Giữa không gian bao la và tĩnh lặng của vòm trời cao rộng, Kẻ Báo Thù Trẻ Tuổi của Những Tầng Mây, Tam phi công trinh sát, đã chiến đấu một trận ra trò. Bị tấn công bởi lực lượng áp đảo, bị đạn bắn xối xả cả trước lẫn sau, chàng trai trẻ dũng cảm vẫn không hề nao núng. Thầm lầm rầm một lời cầu nguyện ngắn — rất ngắn — mong cho lũ Hung nô đời đời kiếp kiếp bị giáng họa, cậu ta cứ thế trèo lên, trèo lên mãi cho đến khi có thể quẹt diêm vào mặt trăng. Bám theo sau cậu ta với đôi môi mím chặt và ánh mắt đằng đằng sát khí là những kẻ tàn phá khát máu của nước Bỉ, Xéc-bi và — tôi e là cả — Ru-ma-ni. Đạn của chúng réo vù vù quanh tai cậu ta nhưng,

"Mắt cậu ta sáng ngời,

Lòng cậu ta thảnh thơi,

Bởi Tam luôn sẵn máu đánh đời —

"Đó là một bài thơ nhỏ tôi tự sáng tác trong đầu, thưa Đại úy, ở độ cao hai mươi ba nghìn bộ. Tôi nghĩ đây là bài thơ cao nhất trên thế giới này đấy."

"Cậu nói không sai đâu — rồi chuyện gì đã xảy ra tiếp theo?"

Tam nghiêm giọng đáp: "Tôi về được đến nhà, và một trong mấy tên Hung nô kia thì không. Chà! Hắn mất khối thời gian mới rơi xuống được đến đất đấy!"

Anh đi ăn sáng, và lát sau, khi Blackie tìm đến, ông thấy anh đang nằm dài trên giường ngậm một điếu xì gà đen dài, mắt dán chặt vào từng trang truyện "Texas Tom, hay Sự trả thù của tên cướp đường".

"Tôi quên chưa nói với cậu, Tam," Đại úy Blackie lên tiếng, "rằng von Zeidlitz đã bị hạ rồi."

Tam thốt lên: "Bị hạ rồi á? 'Fritz Fokker' bị hạ rồi ư? Tội nghiệp chàng trai! Hắn ta là một tay chiến đấu cừ khôi — đứa nào đã tiễn hắn vậy?"

"Cậu đấy — hắn chính là kẻ mà cậu đã bắn rơi ngày hôm qua."

Ánh mắt Tam sáng ngời vì phấn khích.

Anh háo hức hỏi: "Cậu đang đùa tôi phải không? Không phải tôi đã tiễn hắn đấy chứ? Tội nghiệp lão Fritzie! Đó là một phát đạn thật đẹp và chuẩn xác đã hạ gục hắn. Dạo ấy hắn bay ở phía trên tôi, cậu biết không? 'À không nhé!' tôi tự nhủ. 'Mày đừng có giở cái trò cắn đuôi ấy ra với Tam,' tôi tự nhủ; 'không đời nào, Fritzie —!' Và tôi lượn lờ để né hắn. Tôi nện cho hắn một băng đạn ở cự ly gần và tội nghiệp gã ta lật nghiêng rồi cắm đầu lao xuống đất. Hóa ra là Fritzie thật á? Chà chà!"

"Chúng tôi muốn cậu mang một vòng hoa sang bên đó — hắn sẽ được chôn cất tại Ludezeel."

Tam hào hứng đáp: "Với niềm vinh hạnh lớn lao nhất, và nếu Đại úy không phiền, tôi muốn sáng tác một bài thơ nhỏ để bỏ vào trong hộp."

Suốt hai tiếng đồng hồ, Tam đã chật vật chiến đấu với tác phẩm của mình. Cuối cùng, với vẻ lúng túng và ngượng ngùng khác thường, anh chìa ra một bài thơ được viết bằng những nét chữ ngoằn ngoèo, với phần đề tặng:

Kính tặng ông von Sidlits

Bởi Tam phi công trinh sát

Tam bối rối nói: "Tôi xin đọc bài thơ này cho Đại úy Blackie, thưa ngài," và sau khi húng hắng ho mấy tiếng, anh bắt đầu đọc:

Một đám mây lớn lao cao cả

Là tấm vải liệm của anh hùng bay lượn

Người đã hy sinh lúc bảy giờ rưỡi kém

Và anh ấy hoàn toàn xứng đáng

Nơi Chúa Trời đã để dành sẵn

Cho những người ngã xuống chốn Thiên đường.

Tam nói: "Tôi đã ký tên là, 'Thân ái gửi lời chia buồn sâu sắc nhất đến những người thân yêu của anh ấy'. Tôi không nói là chính tôi đã bắn rơi hắn — làm thế thì thiếu tế nhị lắm."

Vòng hoa đặt trong một chiếc hộp thiết, được buộc dây thắt chặt và gắn vào một chiếc dù nhỏ, đã được xếp vào buồng lái của một chiếc Morane nhỏ — chiếc máy bay của chính anh lúc bấy giờ đang được thợ máy sửa chữa — và Tam trèo lên ghế lái. Chỉ năm phút sau, anh đã vút lên theo góc leo dốc đứng, mức độ tối đa mà một con người có thể điều khiển máy bay. Tam chẳng bao giờ dùng góc độ nào nhỏ hơn thế.

Anh đã nắm rõ cỗ máy của mình có thể làm được những gì, và anh bắt nó phải phát huy tối đa công suất ấy. Chẳng mấy chốc, anh đã bay qua chiến tuyến và hướng thẳng về Ludezeel. Pháo cao xạ chớp lóe và gầm rú quanh anh, để lại những vệt khói trắng đánh dấu đường bay; một chiếc máy bay trinh sát của địch từ trong mây lao ra nghênh chiến nhưng đã bị anh né tránh, bởi vì toàn phi đội coi việc không chiến khi đang làm nhiệm vụ kiểu này là một điều danh dự.

Hiển nhiên là chiếc máy bay địch đã nhận ra mục đích của gã phi công đơn độc người Anh này và chắc hẳn đã ra hiệu cho lực lượng mặt đất, bởi vì hệ thống pháo phòng không bỗng đột ngột ngừng bắn, và khi đến gần Ludezeel, Tam nhìn thấy một phi đội địch đang bay tập luyện, họ liền tản ra nhường đường và không hề gây khó dễ gì cho anh.

Tam bắt đầu lượn vòng hạ độ cao. Anh phát hiện ra nghĩa trang lớn có những đốm trắng và nhìn thấy một đám tang nhỏ đang tiến vào khuôn mặt đất đó. Anh hạ thấp độ cao xuống một nghìn bộ và thả chiếc dù của mình xuống. Anh thấy chiếc dù mở ra lững lờ trôi xuống mặt đất, rồi một ai đó dưới đó vẫy vẫy chiếc khăn tay trắng.

"Tốt," Tam lẩm bẩm, và bắt đầu quay đầu bay về căn cứ.

Hôm sau, động cơ của tên ác chiến lừng danh Nam tước von Hansen-Bassermann bỗng gặp sự cố, và hắn buộc phải lượn máy bay hạ cánh xuống sân bay Anh trong khi chiếc phi cơ đang bốc cháy ngùn ngụt.

Một tá thợ máy lao vào ngọn lửa và kéo tên lính Đức ra nơi an toàn, ngoài một bàn tay bị bỏng và bộ ria mép bị xém một chút, hắn hoàn toàn vô sự.

Trung úy Nam tước von Hansen-Bassermann là một thanh niên có vẻ ngoài bảnh bao. Hơn nữa, hắn còn là sinh viên trường Đại học Oxford nên tiếng Anh chuẩn xác đến hoàn hảo.

"Xui xẻo thật đấy, thưa ngài," Blackie nói, và vị nam tước mỉm cười.

"Đó là vận may nơi chiến trận. Tam đâu rồi?" hắn hỏi.

"Tam đang ở trên gác thì phải," Blackie đáp. Ông nheo mắt nhìn lên bầu trời xanh ngắt không một gợn mây. "Cậu ấy đi vắng được hai tiếng nay rồi."

Vị nam tước gật đầu mỉm cười lần nữa.

"Thế thì đích thị là Tam rồi! Tôi cứ nghĩ mình nhận ra phong cách của cậu ta — có phải cậu ta hay lộn vòng trên không để bày tỏ sự thỏa mãn không?"

"Đúng là Tam rồi còn gì!" một loạt giọng nói đồng thanh vang lên.

Vị nam tước tiu nghỉu nói: "Cậu ta cứ ngồi lỳ trong một đám mây ẩm ướt để chờ tôi. Nhưng mà gã người Pháp đi cùng cậu ta là ai thế?"

Blackie tỏ ra khó hiểu.

Ông hỏi lại: "Người Pháp nào cơ? Chẳng có chiếc máy bay Pháp nào trong vòng năm mươi dặm cả; hắn ta cũng tấn công anh nữa à?"

"Không — hắn ta chỉ lượn lờ xung quanh quan sát và tỏ ý tán thưởng thôi. Tôi cứ có cái cảm giác kỳ lạ rằng mình đang bị đem ra làm vật tế thần cho người Pháp vui chơi. Thật kỳ lạ làm sao khi người ta lại có những ấn tượng quái gở như thế trên không trung — nó giống như một giác quan thứ chín vậy. Tôi có cảm giác như Tam đang 'làm hàng' ấy — thực ra, chính vì lý do đó mà tôi biết chắc đó là Tam."

"Mau vào làm chút bữa sáng trước khi anh bị tống vào trại giam chung với lũ lính tráng cục cằn nào," Blackie nói, thế là tất cả cùng kéo nhau vào nhà ăn. Suốt một tiếng đồng hồ, căn phòng tràn ngập tiếng cười giòn giã, bởi vì cả vị nam tước lẫn Đại úy Blackie đều là những người kể chuyện cực kỳ duyên dáng.

Khi trở về, Tam chẳng mấy mặn mà khi nói về người đồng hành bí ẩn trên không trung của mình. Anh chỉ nghĩ đó là một "cậu nhãi người Pháp". Anh cũng chẳng có câu chuyện nào để kể về việc ép chiếc máy bay của vị nam tước phải hạ cánh. Anh chỉ có thể nói rằng mình "quen" vị nam tước và đã từng đụng độ chiếc Albatross của hắn trước đây. Anh gọi hắn là "Hoàng thái tử" bởi vì những chữ thập đen sơn trên cánh máy bay có kiểu dáng cầu kỳ hơn bình thường.

Trưởng liên đội nói: "Cậu nên ra gặp nam tước đi, Tam. Hắn sắp sửa bị đưa đến Trại giam rồi, và hắn muốn nói một tiếng 'Xin chào'."

Tam ra gặp người tù binh và bắt tay hắn với vẻ vô cùng trang trọng.

Anh thản nhiêm hỏi với thái độ điềm tĩnh đáng kinh ngạc: "Anh khỏe chứ, thưa ngài? Tôi hình như nhớ mặt anh dù chúng ta chưa từng gặp nhau — ngoại trừ việc bắn nhau, mà làm thế thì hỏng bét cơ hội làm quen với người ta rồi."

Vị nam tước nở nụ cười gượng gạo và đáp: "Tôi nghĩ chúng ta đã gặp nhau trước đây rồi. Ồ, trước khi quên, chúng tôi rất thích bài thơ của cậu, Tam ạ; có những câu đọc rất hay."

Tam đỏ bừng cả mặt vì sung sướng.

Anh lắp bắp: "Cảm ơn ngài. Ngài không thể làm tôi vui hơn được nữa đâu — ngay cả khi tôi bắn hạ ngài đấy."

Vị nam tước ngửa cổ cười lớn.

"Tạm biệt nhé, Tam — nhớ giữ gìn sức khỏe đấy. Sắp có một tay gộc mới đến chỗ chúng tôi, hắn sẽ gây cho cậu không ít phiền phức đấy."

Tam hào hứng hỏi: "Không phải là ngài MacMuller đấy chứ?"

Vị tù binh tò mò hỏi: "Ồ — cậu đã nghe danh Đại úy Müller rồi à?"

"Nghe danh á? Lạy Chúa — ý tôi là thưa ngài — ngài nhìn đây này!"

Anh thọc tay vào túi và lấy ra một chiếc ví da đã cũ. Từ đó, anh rút ra hai, ba mẩu báo và chọn lấy một mẩu có dòng tiêu đề: "Thông tấn xã Đức".

Tam đọc: "'Đại úy Muller, ngày hôm qua đã bắn hạ chiếc máy bay thứ hai mươi sáu của mình.'"

Người kia thận trọng nói: "Đúng là Müller đấy. Tôi không thể nói gì hơn với cậu nữa — ngoại trừ việc hãy tự lo cho bản thân mình đi."

Tam tự tin đáp: "Xin cứ yên tâm về chuyện đó, thưa ngài!"

Chiều hôm đó, anh cất cánh theo chỉ thị nhận được từ bộ tư lệnh là hãy "lùng sục vùng lãnh thổ của địch nằm ở phía tây tuyến đường từ Montessier đến St. Pierre le Petit."

Anh hoàn thành cuộc tuần tra và lượn máy bay mang theo bản báo cáo trở về khi mặt trời vừa chạm đường chân trời.

Anh phàn nàn: "Một chuyến đi thật tẻ nhạt, tôi cứ hy vọng được chạm mặt ngài MacMuller cơ, thế mà hắn lại ngủ say như chết — tôi nghe thấy tiếng ngáy của hắn vọng lên tận chín tầng mây khiến tim tôi quặn thắt lại vì nỗi thất vọng chán chường. 'Đến bao giờ,' tôi tự nhủ, 'đến bao giờ ngươi mới chịu né tránh số phận mà Tam phi công trinh sát đã định sẵn cho ngươi đây?' Chẳng có lời đáp lại nào cả."

Đại úy Blackie bước vào phòng ăn trước bữa trưa ngày hôm sau và nói: "Tôi đã phát hiện ra cạ cứng kỳ lạ của Tam rồi. Đó là Claude Beaumont thuộc Phi đội Mỹ — Lefèvre, trưởng liên đội, vừa bay lên hôm nay. Dường như Beaumont là một thanh niên cực kỳ giàu có, người đã tự trang bị cho cả một liên đội máy bay, nhà chứa cùng xưởng sửa chữa riêng, và cậu ta thích bay đâu thì bay. Ra mà xem kìa!"

Họ nhao nhao chạy ra ngoài mang theo bất kỳ chiếc ống nhòm nào vớ được để dán mắt theo dõi hai cỗ máy nhỏ xíu đang lượn vòng, lướt qua, trèo lên và nghiêng ngả quấn quýt lấy nhau.

Đầu tiên chiếc này sẽ vút đi và chiếc kia đuổi theo sau, rồi kẻ đuổi theo, như thể tuyệt vọng vì không thể bắt kịp con mồi, bỗng quay đầu ngược lại. Ngay lập tức, con "thỏ" sẽ quay ngắt lại và rượt đuổi ngược lại kẻ kia.

Blackie hỏi: "Các cậu đã bao giờ thấy hai chú chó con nô đùa với nhau chưa? Nhìn Tam đang tự đuổi theo cái đuôi của chính mình kìa — mà hai người đó chẳng quen biết gì nhau và thậm chí chưa từng nhìn thấy mặt nhau bao giờ! Kỳ lạ làm sao chứ? Đó chính là giác quan thứ chín của von Hansen-Bassermann đấy. Họ không thể nói chuyện — thậm chí còn chẳng thể nhìn rõ mặt nhau thế mà lại là đôi bạn thân — nhìn họ kìa. Tôi đã từng thấy những chú chó con trong bầy chơi đùa y hệt như thế."

"Thế rốt cuộc Tam đang làm cái quái gì thế nhỉ?"

"Cậu ta đang canh chừng toán trinh sát. Chút nữa Tam sẽ xuống và chúng ta sẽ hỏi David xem cậu ta làm thế nào mà gặp được Jonathan — chuyện này đã kéo dài cả mấy tuần nay rồi đấy."

Tam đã nhận được tín hiệu triệu hồi. Phía dưới, anh nhìn thấy hai chiếc máy bay "trinh sát" đang quay về tổ, bèn giơ tay chào người bạn thể thao của mình rồi quay ngoắt một vòng với bán kính chỉ hơn hai lần chiều dài thân máy bay một chút. Anh thấy bàn tay người bạn xa lạ giơ lên ra hiệu đáp lễ, rồi dõi theo hướng anh ta quẹo về phương nam. Tam bay thẳng thêm một dặm, rồi có cái gì đó thôi thúc anh ngoái đầu nhìn lại.

Phía trên đầu người bạn của anh là một con chuồn chuồn trắng lấp lánh, và vừa lúc anh nhìn thấy thì con chuồn chuồn đã lao bổ nhào xuống cái đuôi của chiếc máy bay Mỹ.

Tam kêu lên: "Hụt rồi!" và bẻ lái quay vòng. Anh đang lao đi với tốc độ tối đa theo chiều gió và có lẽ đã đạt tới một trăm hai mươi dặm một giờ, ngoại trừ việc anh đang phải leo lên ở góc độ cao nhất. Anh thấy con chuồn chuồn lộn vòng rồi trèo lên còn chiếc máy bay Mỹ thì quay ngoắt lại để phản công.

Nhưng chiếc máy bay của anh ta quá chậm — Tam thừa biết điều đó. Không có gì ngoài phép màu mới cứu nổi chiếc máy bay ở phía dưới, bởi vì kẻ địch lại chiếm được vị trí cao hơn rồi. Quá tập trung vào kế hoạch của mình nên tên địch không hề nhìn thấy Tam cho đến khi gã người Xốt-len lao đến tấn công một cách mù quáng — cho đến khi loạt đạn đầu tiên từ khẩu súng Lewis của Tam trút xuống cánh và thân máy bay địch. Tên Đức giật mình bẻ lái tránh đợt lao xuống và hụt mất con mồi chính. Tam đã ở ngay phía sau và phía trên hắn, nhưng không ở vào vị thế thuận lợi để tấn công. Anh hoàn toàn có thể, và đã nện thẳng một băng đạn vào gã kẻ thù đang hốt hoảng tháo chạy, nhưng chẳng có phát đạn nào trúng đích cả.

Tam rên rỉ: "Đập chết nó đi, pháo cao xạ ơi!", và như thể đám pháo thủ dưới mặt đất đã nghe thấy lời thỉnh cầu của anh, một màn đạn shrapnel nổ tung mọc lên ngay trước mũi con chuồn chuồn. Hắn vội quay đầu cắm đầu lao xuống với Tam bám riết ở phía sau, nhưng lúc này mũi máy bay của hắn đã hướng về nhà, và Tam, sau màn rượt đuổi năm dặm, cũng quay đầu bay về căn cứ. Gần đến vùng trời nhà, anh bắt kịp chiếc "máy bay Pháp" đang lượn vòng và nhận được lời cảm ơn từ đối phương — bốn ngón tay giơ lên giữa không trung — trước khi viên phi công ra hiệu, chọn một tuyến đường nằm trong chiến tuyến để vút bay về nhà.

Tam lắc đầu lẩm bẩm: "Phù!"

Blackie hỏi: "Cậu đang đuổi theo ai thế? Tay đó bayh vừa lẹ vừa dẻo phết nhỉ!"

Tam hất ngón cái về phía bầu trời phía đông và đáp: "Đó là MacMuller. Hắn ta là một gã khá dễ mến — nhưng hơi ranh mãnh một tí và bạo lực một tẹo. Đại úy Blackie, thưa ngài, ngài không kiếm nổi cho tôi một cỗ máy nào bay được ra hồn à? Chiếc xe đạp thồ nhỏ xíu của tôi trông chẳng khác gì một cỗ quan tài, nhưng tôi thì lại rất muốn cung cấp xác chết cho nó đấy."

Đại úy đáp: "Cậu đang có trong tay chiếc máy bay nhanh nhất nước Pháp rồi đấy, Tam."

Tam gật đầu thừa nhận.

"Rất có thể là thế — chỉ là dạo này nó chạy không được mượt lắm thôi. Nhưng mà, chà! Tên Müller đó ấy hả! Hắn ta là một tên Hung nô cừ khôi và tôi thực sự được khích lệ bởi những lời hay ý đẹp mà vị nam tước đã dành cho thơ của tôi đấy. Ái chà! Tôi đã kịp nảy ra một vần thơ tuyệt cú mèo trong đầu để chuẩn bị cho đám tang của ngài Muller rồi đây! Ngài có điếu xì gà nào dắt túi không, Đại úy Blackie? Tôi vừa đưa hộp xì gà của mình cho Công tước xứ Argyle mà ông ta vẫn chưa chịu trả lại."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.