Ông Già Nhìn Ra Thế Giới

Lượt đọc: 162 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HOA KỲ - Bất an nhưng vẫn dẫn đầu

❊ ❊ ❊

Cán cân quyền lực đang thay đổi và thế giới đương đại sẽ không còn như xưa. Theo thời gian Mỹ sẽ gặp nhiều bất lợi hơn trong việc gây ảnh hưởng tại châu Á ở bên kia Thái Bình Dương và địa lý là điểm mấu chốt trong trường hợp này Trung Quốc lại có lợi thế hơn vì nằm ngay trong khu vực này và vì thế dễ dàng phô trương sức mạnh ở châu Á. Còn đối với Mỹ, việc gây ảnh hưởng từ khoảng cách 8.000 hải lý lại là một vấn đề hoàn toàn khác bởi nó tạo ra sự khác biệt đáng kể về mức độ quan tâm, về hậu cần và chi phí giữa hai bên. Chỉ riêng 1,3 tỉ người Trung Quốc so với 314 triệu người Mỹ cũng đã góp phần tạo nên thách thức lớn. Nhưng sự chuyển đổi quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do Mỹ vẫn đang giữ ưu thế vượt bậc về công nghệ. Người Trung Quốc dù có thể chế tạo tàu sân bay nhưng vẫn không thể sánh với công nghệ tàu sân bay của Mỹ với sức chứa 5.000 quân và lò hạt nhân. Nhưng về lâu về dài, những bất lợi Mỹ phải đối mặt do khoảng cách địa lý sẽ mang tính quyết định khiến họ phải điều chỉnh thế đứng và chính sách của minh trong khu vực này.

Năm 2011 chính quyền Obama tuyên bố Mỹ sẽ quan tâm mạnh mẽ hơn tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương và gọi đây là Sự xoay trục sang Thái Bình Dương. Ngoại trưởng Hillary Clinton đã giải thích tư duy đằng sau chính sách mới này trên tờ Foreign Policy: “Với Mỹ, các thị trường mở ở châu Á đem lại những cơ hội chưa từng có về đầu tư, thương mại và tiếp cận công nghệ tiên tiến... Về mặt chiến lược, duy trì hòa bình và an ninh ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cũng ngày càng mang tính sống còn với sự tiến bộ toàn cầu, dù là thông qua bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông, chống sự đe dọa của Triều Tiên hay đảm bảo tính minh bạch trong các hoạt động quân sự của các nước lớn trong khu vực.” Tháng 4 năm 2012, Mỹ đã triển khai 200 lính thuỷ đánh bộ đầu tiên tới Darwin, ức trong nỗ lực nhằm tăng cường sự hiện diện của mình trong khu vực.

Nhiều quốc gia châu Á hoan nghênh cam kết tái khẳng định này của người Mỹ. Sự hiện diện của Mỹ trong nhiều năm qua là một nhân tố quan trọng đem lại ổn định khu vực và kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì trạng thái ổn định và an ninh đó. Tầm vóc của Trung Quốc đồng nghĩa với việc chỉ có Mỹ - hợp tác với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các nước ASEAN - mới có thể đối trọng lại được.

Tuy nhiên, người Mỹ có thể biến ý định này thành cam kết lâu dài được hay không thì còn phải chờ xem bởi ý định là một chuyện, còn khả năng và năng lực lại là chuyện khác. Hiện nay Mỹ có quân ở úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và đảo Guam. (Người Philippines đã không khôn ngoan khi yêu cầu người Mỹ rời khỏi vịnh Subic năm 1992. Họ quên mất hậu quả lâu dài của hành động này để bây giờ phải thốt lên: “Hãy quay lại đi!”) Người Mỹ tin rằng sự dàn xếp quân sự trong khu vực như vậy cho phép họ cân bằng với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, vì vùng biển trong khu vực này tương đối nông nên Mỹ có thể theo dõi hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc, kể cả tàu ngầm. Nhưng lợi thế này có thể kéo dài bao lâu? Một trăm năm? Không thể nào. Năm mươi năm? Chưa chắc. Hai mươi năm? Có thể. Rốt cuộc, cân bằng quyền lực trở thành một hàm số phụ thuộc vào biển là nền kinh tế Mỹ trong một vài thập niên tới. Bạn cần một nền kinh tế vững mạnh mới có thể phô trương quyền lực, tức là đầu tư vào tàu chiến, máy bay và các căn cứ quân sự.

Khi Mỹ và Trung Quốc tranh giành vị trí bá chủ trên Thái Bình Dương thì các quốc gia yếu thế hơn ở châu Á sẽ buộc phải thích ứng với cục diện mới. Sử gia Hy Lạp Thucydides đã từng viết rằng “kẻ mạnh muốn làm gì thì làm còn kẻ yếu phải cam phận mà chịu đựng”. Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có lẽ không muốn phải cam phận chịu đựng như thế , nhưng trước những quan điểm cho rằng tầm ảnh hưởng của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương đang, suy giảm, các nước này sẽ phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những “sở thích sở ghét” của Trung Quốc khi nước này ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng quan trọng hơn là không để cho Trung Quốc làm mưa làm gió ở khu vực này. Dù gì tôi cũng không cho rằng Trung Quốc có thể hoàn toàn hất cẳng người Mỹ ra khỏi khu vực Tây Thái Bình Dương.

Việt Nam là một trong những quốc gia lo lắng nhất về sự bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Năm 1979, Đặng Tiểu Bình tấn công miền Bắc Việt Nam. Đây là bài học khó quên với người Việt Nam, và chính phủ nước này có lẽ đã bàn đến chiến lược làm thế nào thiết lập các mối quan hệ an ninh lâu dài với người Mỹ.

Tôi cũng cảm thấy đáng tiếc khi cán cân quyền lực lại dần thay đổi vì dù gì Hoa Kỳ cũng là một cường quốc hòa bình.

Singapore khá thoải mái với sự hiện diện của người Mỹ. Chúng tôi không biết Trung Quốc sẽ hung hàng hay hùng hổ tới mức nào. Năm 2009 khi tôi nói chúng ta phải cân bằng Trung Quốc thì họ lại dịch sang tiếng Trung thành “ngăn chặn”. Thể là cư dân mạng Trung Quốc nháo nhào phẫn nộ cho rằng sao tôi cũng là người Hoa mà lại dám nói như thế. Họ thật dễ tự ái. Và thậm chí sau khi tôi chỉ ra cho họ rằng tôi không bao giờ nói “ngăn chặn”, họ vẫn không nguôi giận. Thế mà thứ quyền lực non trẻ đó lại đang ngày một mạnh lên.

Trong bối cảnh đang thay đổi này, chiến lược tổng thể của Singapore là đảm bảo rằng ngay cả khi dựa vào bộ máy tăng trưởng của Trung Quốc thì chúng tôi vẫn không cắt đứt sợi dây liên kết với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Mỹ. Singapore vẫn còn quan trọng đối với người Mỹ vì có vị trí chiến lược nằm ngay trung tâm một khu vực quần đảo mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở châu Á - Thái Bình Dương. Và dù chúng tôi phát triển các mối quan hệ với người Trung Quốc thì họ cũng không thể ngăn cản chúng tôi duy trì quan hệ kinh tế, xã hội, văn hóa và an ninh mạnh mẽ với Mỹ. Người Trung Quốc biết rằng càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì càng đẩy các quốc gia này thân Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến neo đậu tại cảng của Singapore như người Mỹ đang làm, chúng tôi cũng sẽ chào đón họ, nhưng chúng tôi sẽ không ngả về phía nào theo kiểu cho phép bên này và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường có tính nguyên tắc mà chúng tôi có thể duy trì trong một thời gian dài.

Chúng tôi còn có mối liên hệ với phần còn lại của thế giới bằng ngôn ngữ. Chúng tôi may mắn được người Anh cai trị vì họ để lại tiếng Anh. Nếu như bị người Pháp cai trị như người Việt thì chúng tôi lại phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh thi mới kết nối được với thế giới. Đó hẳn sẽ là một sự chuyển đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore độc lập vào năm 1965, một nhóm người tại Phòng "Thương mại Trung Quốc đã đến gặp tôi để vận động cho tiếng Trung được chọn làm quốc ngữ. Tôi đã nói với họ: “Thế thì các ông sẽ phải chiến đấu với tôi đấy." Gần năm thập kỷ đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy khả năng nói tiếng Anh và giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore. Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Để quốc Anh đã truyền bá thứ ngôn ngữ này trên toàn thế giới, nên khi người Mỹ thay chân người Anh, đó là một sự chuyển đổi tương đổi liền mạch sang tiếng Anh kiểu Mỹ. Đó là một lợi thế to lớn của người Mỹ khi ở đâu trên thế giới cũng có người nói chuyện và hiểu được ngôn ngữ của họ.

Khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp diễn, Singapore có thể nâng cao chuẩn tiếng Trung trong nhà trường để học sinh của chúng tôi có lợi thế nếu sau này các em chọn làm việc hoặc kinh doanh với Trung Quốc. Nhưng tiếng Trung vẫn sẽ là ngôn ngữ thứ hai, bởi vì ngay cả khi GDP của Trung Quốc có vượt qua Mỹ, họ cũng không thể cho chúng tôi được những tiêu chuẩn sống mà chúng tôi đang hưởng ngày hôm nay. Đóng góp của Trung Quốc vào GDP của chúng tôi ít hơn 20%. Chính phần còn lại của thế giới mới giúp Singapore tiếp tục phát triển thịnh vượng - không chỉ là người Mỹ, mà còn là người Anh, Đức, Pháp, Hà Lan, Úc, v.v... Các nước này giao thương bằng tiếng Anh, không phải tiếng Trung. Thật ngớ ngẩn nếu có lúc nào đó trong tương lai chúng tôi lại xem xét chọn tiếng Trung làm ngôn ngữ công sở khi mà chính người Trung Quốc cũng phải cật lực học tiếng Anh từ mẫu giáo đến đại học.

CUỘC CẠNH TRANH CUỐI CÙNG

Nước Mỹ chưa xuống dốc. Uy tín của nước này đã tổn hại do việc đóng quân lâu dài và lộn xộn tại Iraq và Afghanistan cũng như do cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, nhưng các nhà sử học sâu sắc sẽ chỉ ra rằng một nước Mỹ tưởng như đang suy yếu và mỏi mệt đã từng bật ra khỏi những tình huống còn tệ hại hơn. Chỉ trong thế kỷ vừa qua thôi Mỹ đã đối mặt nhiều thử thách lớn: cuộc Đại Suy thoái, chiến tranh Việt Nam, sự trỗi dậy sau chiến tranh của các cường quốc công nghiệp Nhật Bản và Đức. Mỗi lần như vậy, Mỹ lại tìm thấy ý chí và sức mạnh để phục hồi vị thế dẫn đầu của mình. Mỹ đã từng vượt trội thế giới và chắc chắn nó sẽ hiện thực hóa điều này một lần nữa.

Thành công của Mỹ nằm ở nền kinh tế năng động, được duy trì bằng khả năng phi thường không chỉ ở việc sản xuất cùng một sản lượng với chi phí ít hơn mà còn là liên tục đổi mới sáng tạo, nghĩa là phát minh ra những hàng hóa và dịch vụ hoàn toàn mới mà cả thế giới chẳng mấy chốc đều mong muốn sở hữu như iPhone, iPad, Microsoft, Internet, những thứ được tạo ra ở Mỹ chứ không phải nơi nào khác. Trung Quốc có nhiều nhân tài không thua gì Mỹ nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu những ý tưởng sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và những ý tưởng lóe lên đó cho thấy người Mỹ rồi sẽ trình làng những sản phẩm sáng tạo đột phá giúp thay đổi cục diện, đưa họ về lại vị trí dẫn đầu.

Thậm chí nếu đúng là nước Mỹ đang trên đà xuống dốc thì ta vẫn phải nhớ rằng đây là một nước lớn và cần có một thời gian dài thì mới có thể suy thoái. Nếu Singapore là một nước lớn thì tôi sẽ không quá lo lắng nếu chúng ta đưa ra chính sách sai lầm, vì hậu quả từ từ mới biểu hiện ra, nhưng chúng ta lại là một nước nhỏ và một hành động sai lầm có thể đưa đến hậu quả kinh khủng trong một thời gian ngắn. Mặt khác, nước Mỹ giống như một con tàu lớn. Họ sẽ không thể chuyển hướng nhanh như một chiếc xuồng nhỏ. Nhưng tôi tin những người cho rằng Mỹ đang suy thoái đã nói sai. Mỹ sẽ không suy thoái. So sánh với Trung Quốc, Mỹ có thể trở nên ít uy lực hơn, khả năng phô diễn sức mạnh ở Tây Thái Bình Dương có thể bị ảnh hưởng và không thể sánh với Trung Quốc về dân số và GDP, nhưng lợi thế chính yểu của Mỹ - sự năng động của họ - sẽ không biến mất. Nước Mỹ, cho đến lúc này đây vẫn là một xã hội sáng tạo hơn Trung Quốc. Và việc nội bộ nước Mỹ đang tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không đã cho thấy đây là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng người khổng lồ này không hề ngủ quên trong vòng nguyệt quế trên đỉnh cao.

Tại sao tôi tin tưởng vào sự thành công lâu dài của Mỹ?

Thứ nhất, Mỹ là một xã hội hấp dẫn mà Trung Quốc không bao giờ có thể sánh bằng. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư có trình độ được cho phép định cư tại Mỹ và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nêu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương mình. Họ đem lại nguồn ý tưởng mới mẻ và tạo nên sự năng động trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Mỹ sẽ không thành công được như hôm nay nếu không có người nhập cư. Trong hàng thế kỷ, Mỹ thu hút những nhằn tài hàng đầu từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á - người Ấn, Trung, Hàn, Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Mỹ luôn chào đón người nhập cư, giúp họ hòa nhập và cho họ một cơ hội bình đẳng để đạt được giấc mơ Mỹ nên luôn có một dòng chảy nhân tài đóng góp cho quá trình sáng tạo công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới cho xứ sở cờ hoa.

Trung Quốc và các quốc gia khác cuối cùng sẽ phải áp dụng vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Mỹ sao cho phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ sẽ phải tìm người tài bên ngoài để về xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh cuối cùng. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc chạy đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng điều đó chỉ dẫn đến hủy diệt, nhưng vẫn còn những cuộc chạy đua về kinh tế và công nghệ mà trong đó tài năng là nhân tố quyết định.

Mỹ là một xã hội thu hút và giữ chân được nhân tài. Họ đã và đang chiêu dụ được những tài năng sáng giá nhất từ châu Á. Số lượng người Ân trong các ngân hàng và trường đại học của họ rất lớn, ví dụ như Vikram Pandit, cựu CEO của Citibank. Nhiều người Singapore cũng đang chọn ở lại Mỹ sau khi du học và đó là lý do mà tôi ủng hộ việc cho sinh viên học bổng đi du học Anh hơn vì tôi chắc rằng họ sẽ trở về Singapore. Tại Vương quốc Anh, bạn không ở lại được vì bạn không được chào đón. Và vì nền kinh tế của Anh kém năng động hơn nên ở đấy có ít công ăn việc làm hơn.

Một lý do khiến Trung Quốc luôn là cục nam châm kém sức hút nhân tài chính là ngôn ngữ. Tiếng Trung khó học hơn tiếng Anh. Nói tiếng Trung rất khó nếu như không học từ nhỏ. Đây là ngôn ngữ đơn âm tiết và mỗi từ có tới 4 hay 5 thanh. Không biết tiếng thì bạn không thể giao tiếp và đây là một rào cản rất lớn. Cứ lấy bản thân tôi làm ví dụ. Tôi đã vật lộn suốt 50 năm để học tiếng Trung và đến giờ mặc dù tôi có thể nói tiếng Trung và viết theo kiểu bính âm nhưng tôi vẫn không thể hiểu hết được thứ tiếng Trung toàn đặc ngữ. Mà tôi đã rất cố gắng rồi đấy Trung Quốc trở nên hùng cường trong tương lai không thay đổi thực tế là tiếng Trung cực kì khó học. Có bao nhiêu người đã đến Trung Quốc, ở lại và làm ăn ngoại trừ những người Trung Quốc, người châu Âu và người Mỹ muốn trở thành những chuyên gia về Trung Quốc? Người Trung Quốc cố gắng phổ biến ngôn ngữ của mình ra nước ngoài bằng việc thành lập các Viện Khổng Tử trên toàn thế giới, nhưng kết quả đạt được hết sức khiêm tốn. Người ta vẫn đến Hội đồng Anh và những cơ sở của Mỹ. Chính phủ Mỹ thậm chí không cần phải cố gắng. Một thời họ có lập ra Trung tâm Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ, nhưng rồi cũng đóng cửa nó vì không cần thiết nữa. Đã có hàng loạt ấn phẩm, chương trình truyền hình và phim ảnh làm hộ họ công việc đó. Nên nếu so về quyền lực mềm thì làm sao mà Trung Quốc có thể chiến thắng được.

Một nguồn lực cạnh tranh khác của Mỹ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước. Bờ Đông có Boston, New York, Washington, bờ Tây có Berkeley, San Francisco, và ở miền Trung thì có Chicago và Texas. Có rất nhiều trung tâm và mỗi trung tâm lại cạnh tranh với nhau không ai nhường ai. Khi người Texas biết rằng mình nằm ngay trên giếng dầu thì James Baker - cựu ngoại trưởng Mỹ và là người Texas - đã cố gắng thành lập ngay một trung tâm ở thành phố lớn nhất Texas là Houston để cạnh tranh với Boston hoặc New York. Jon Huntsman, cựu đại sứ Mỹ ở Singapore và Trung Quốc và là bạn của tôi, là một ví dụ khác. Gia đình ông có tiền sử ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy khi được thừa hưởng gia tài từ cha, ông liền mang những nhà khoa học giỏi nhất trong lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt về quê nhà ông là bang Utah để nghiên cứu bệnh này.

Mỗi trung tâm đểu tin rằng nó không thua kém gì các trung tâm khác miễn là có tiền và nhân tài, những thứ có thể tìm kiếm được. Không ai cảm thấy bắt buộc phải tuân theo Washington hay New York. Miễn có tiền là bạn có thể xây dựng một trung tâm mới. Chính vì thế xã hội Mỹ có sự đa dạng và một tinh thần cạnh tranh luôn sản sinh ra những ý tưởng mới và sản phẩm mới bền vững với thời gian. Trung Quốc dĩ nhiên lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi chính quyền trung ương vững mạnh thì đất nước mới giàu mạnh. Đây là não trạng, là mệnh lệnh yêu cầu mọi người phải tuân theo một trung ương duy nhất. Mọi người phải diễu hành theo cùng một điệu trống. Ngay cả Anh và Pháp cũng không thể cạnh tranh với Mỹ về mặt này. Ở Pháp những người giỏi đều theo học các trường lớn (grandes écoles). Ớ Anh thì đó là Oxbridge (Oxford và Cambridge). Những quốc gia này tương đối nhỏ, gọn do đó cũng đồng bộ hơn.

Kể từ cuối những năm 1970 đến những năm 1980, Mỹ mất vị trí dẫn đầu nền công nghiệp về tay Nhật Bản và Đức, những cường quốc kinh tế mới phục hồi. Họ bị vượt mặt về đổ điện tử, thép, hóa dầu và công nghiệp xe hơi. Đây là những ngành sản xuất quan trọng huy động nhiều lao động, kể cả những lao động phổ thông được công đoàn bảo vệ. Ở một số nước châu Âu, công đoàn chống cải cách lao động bằng cách đe dọa tổ chức đình công và khiển doanh nghiệp tổn thất nghiêm trọng chỉ trong thời gian ngắn. Nhưng ở Mỹ điều ngược lại đã xảy ra. Các tập đoàn mạnh tay thực hiện những biện pháp thay đổi khó khăn nhưng cần thiết. Họ giảm qui mô, giảm biên chế đồng thời cải tiến năng suất thông qua áp dụng công nghệ, bao gồm công nghệ thông tin. Nền kinh tế Mỹ lại gắm rống. Các doanh nghiệp mới được mở ra như Microsoft, Cisco và Oracle để giúp các công ty tối ưu hóa hệ thống công nghệ thông tin của mình. Sau một khoảng thời gian điều chỉnh đầy khó khăn, các công ty giờ đã có thể tạo ra nhiều việc làm mới trả lương tốt hơn. Họ không còn hào hứng với việc bấu víu vào những công việc kiểu cũ mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ đã nhìn thấy tương lai mà sự thịnh vượng không phải được tạo ra bằng việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, bằng sức sáng tạo, nghệ thuật, kiến thức và sở hữu trí tuệ. Mỹ đã trở lại cuộc chơi, giành lại vị thế nền kinh tế phát triển tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới. Tôi thật sự khâm phục sự năng động trong tinh thần khởi nghiệp của người Mỹ.

Ngày nay chúng ta vẫn tiếp tục chứng kiến điều đó. Người Mỹ vận hành một hệ thống tinh gọn hơn, có sức cạnh tranh cao hơn. Họ có nhiều bằng sáng chế hơn. Họ luôn phấn đấu tạo được thứ gì đó mới hoặc làm điều gì đó tốt hơn. Tất nhiên, điều này cũng có cái giá của nó. Chỉ số thất nghiệp của Mỹ cứ liên tục lên lên xuống xuống. Ở thời kỳ suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp từ 8 đến 10% là chuyện bình thường. Kết quả là một tầng lớp dưới đáy xã hội hình thành. Giữa những xa hoa, nhộn nhịp, những cửa hàng đẹp đẽ ở New York, ta vẫn có thể dễ dàng thấy người vô gia cư nằm bên vệ đường không có gì ngoài manh áo che thân và tấm bìa các tông làm vật ngả lưng. Một số người, bao gồm cả nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman, đã chỉ trích sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn này trong xã hội Mỹ.

Cuộc sống như vậy có chấp nhận được không? Tôi không dám đánh giá. vẫn có những tổ chức tôn giáo và từ thiện ra tay giúp đỡ, một số nhà hảo tâm còn thành lập những bếp từ thiện cho người thất nghiệp, v.v... Nhưng đâu ai dễ gì vẹn cả đôi đường. Nếu muốn có được sự cạnh tranh mà Mỹ đang có thì không thể tránh được việc tạo ra một khoảng cách đáng kể giữa tầng đỉnh và tầng đáy, và không thể tránh khỏi việc tạo nên một tầng lớp dưới đáy Còn nếu bạn chọn một nhà nước phúc lợi như châu Âu sau Thế chiến thứ hai thì tất nhiên bạn phải hy sinh sự năng động.

Cuối cùng, nước Mỹ có một nền văn hóa tôn vinh những người dám nghĩ dám làm. Khi họ thành công, họ được cộng đồng ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận lẫn vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn trung gian tự nhiên và cần thiết cho thành công về sau, vì vậy mọi người lại đứng lên và bắt đầu từ đầu. Nền văn hóa này khác biệt với Anh, một xã hội tĩnh hơn nơi mà mọi người biết thân biết phận. Nước Anh khá giống châu Âu về điểm này. Người Anh từng có nhiều khám phá vĩ đại như động cơ hơi nước, máy dệt và động cơ điện. Họ giành nhiều giải Nobel khoa học nhưng rất ít khám phá trở nên thành công về mặt thương mại. Vì sao lại thế? Những năm dài của hai thế kỷ đế quốc đã hình thành một xã hội nơi mà giới thượng lưu lâu đời và những quý tộc có ruộng đất được nể trọng còn “đám giàu xổi” bị xem thường. Các sinh viên trẻ ưu tú mơ ước trở thành luật sư, bác sĩ và trí thức - những người được ngưỡng mộ vì trí tuệ và đầu óc của họ hơn là vì làm ăn chăm chỉ hay lao động tay chân. Hoa Kỳ, trái lại, lại là một xã hội cởi mở không có khoảng cách tầng lớp. Ai nấy đều ngưỡng mộ việc làm giàu và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để khởi nghiệp và tạo ra của cải. Thậm chí ngay trong các công ty Mỹ, người trẻ cũng có tiếng nói thuyết phục hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.

NƯỚC MỸ VÀ NỢ NẦN

Mỹ có vấn đề nợ và thâm hụt ngân sách tương đối nhẹ nhàng nếu so với một số nước trong khu vực đồng euro. Mỹ có được vị trí dễ chịu này một phần vì đồng đô la Mỹ là đơn vị tiền tệ dự trữ của thế giới, có nghĩa là Mỹ có được chi phí đi vay thấp hơn các quốc gia khác. Nhưng nước Mỹ cũng không vội mừng vì chi tiêu của họ đang đi sai hướng. Trong vòng 30 năm tới chính phủ Mỹ sẽ không thể nào gánh nổi chi phí cho An sinh Xã hội và Bảo hiểm sức khỏe nếu không tiến hành cải cách cơ chế hiện tại. Điều này đe dọa sẽ bòn rút hết những khoản chi ngân sách chủ động của chính phủ. Nếu trong một thời gian dài các nhà lãnh đạo Mỹ chỉ ngồi nhìn mà không có giải pháp nào thì niềm tin vào đồng đô la Mỹ rồi sẽ sụp đổ. Bế tắc chính trị xung quanh mức trần nợ công và giảm thâm hụt ngân sách năm 2011 là rất đáng báo động đối với nhiều nhà quan sát trên thế giới. Mỹ đang tự phủ nhận vấn đề gặp phải, khi tổng thống và quốc hội không thể đi đến đồng thuận để kê một liều thuốc đắng cho nền kinh tế. Bên nào cũng chỉ hướng mắt tới cuộc bầu cử tiếp theo thay vì lưu tâm tới hậu quả lâu dài cho toàn nước Mỹ.

Vấn đề này đáng lo ngại nhưng tôi không cho rằng nó quá cấp bách. Cả hai bên đều biết rằng nếu không có một giải pháp, kinh tế quốc gia sẽ bất ổn, thậm chí có thể dẫn đến suy thoái. Vì vậy, tại một thời điểm nào đó, nhất định phải có giải pháp đột phá. Cử tri Mỹ đủ tỉnh táo để nhận ra điều này và họ sẽ thông qua lá phiếu để yêu cầu các lãnh đạo của mình quan tâm đích đáng đến các vấn đề về sự bền vững tài chính của quốc gia. Tổng thống Mỹ, dù là tại vị hay tương lai, rồi sẽ phải đứng ra giải quyết vấn để này và Quốc hội rồi sẽ phải có một sự đồng thuận về tương lai của nước Mỹ thay vì chỉ mải mê đấu đá chính trị. Có thể điều này sẽ xảy ra khi tổng thống đang ở nhiệm kì hai và không còn phải lo lắng về việc tái tranh cử. Dù sao thì giai đoạn hiện nay chỉ là tạm thời. Khi đến lúc quyết định, khi lợi ích và an ninh quốc gia bị đe dọa, cả Đảng Dân Chủ và Đảng Cộng Hòa sẽ phải tập hợp lại quanh một ngọn cờ để giải quyết vấn đề. Vì vậy, tôi không quan tâm nhiều đến những tranh cãi chính trị hiện tại bởi chúng sẽ không có ảnh hưởng lâu dài.

Tuy nhiên, Mỹ có một số vấn đề nghiêm trọng gây hậu quả về lâu dài nhưng lại chưa được xử lý cho đến nơi đến chốn. Một trong những thách thức lớn nhất của họ là giáo dục. Hàng nghìn sinh viên đổ xô tới Mỹ mỗi năm để vào các trường đại học bởi vì đây là các trường tốt nhất. Được nhận vào Harvard hay Stanford hay Princeton là giấc mơ của hàng triệu học sinh và các bậc phụ huynh trên khắp thế giới.

Nhưng Mỹ không chỉ cần nuôi dưỡng các nhà khoa học, các học giả, chuyên gia và doanh nhân hàng đầu mà còn cần một nguồn cung hên tiếp từ tầng lớp dưới vì những nhân tài tầm trung này sẽ tạo nên tầng lớp lao động chính trong nền kinh tế. Duy trì những đại học ưu tú là việc tốt, nhưng họ không thể đồng thời sản sinh ra những học sinh tốt nghiệp tiểu học và trung học rồi còn viết sai chính tả vì họ lơ là việc giáo dục cơ bản và dạy nghề. Ở một số trường công, ngân sách công vốn đã thấp giò lại còn bị xà xẻo vì khủng hoảng tài chính và hiện giờ vẫn chưa được hoàn lại. Và với tình hình ngân sách thắt chặt hiện nay, một số người cho rằng khoản tiền này sẽ chẳng bao giờ được như cũ. Ảnh hưởng của việc cắt giảm này sẽ không thể hiện ra trong một hoặc hai kỳ bầu cử tới, nhưng sẽ ảnh hưởng lâu dài đến sức cạnh tranh của Mỹ. Một phần vấn để chính là việc giáo dục thuộc trách nhiệm của chính quyền tiểu bang, không phải chính quyền liên bang. Nghĩa là muốn thay đổi bạn phải thuyết phục được cả 50 chính quyển tiểu bang khác nhau. Bạn không thể ngồi ở Washington mà ra lệnh. Tôi hiểu được lý do lịch sử khiến người Mỹ nghi ngờ việc trung ương xử lý các vấn để địa phương. Nhưng về mặt giáo dục, đây lại là một lỗi lớn nổi cộm lên trong hệ thống.

Một số vấn đề khác phổ biến khắp nước Mỹ là sự cần thiết phải có một cuộc nâng cấp hạ tầng cơ sở trên toàn quốc, rồi là chia rẽ giai cấp ngày càng lớn, vấn đề kì thị chủng tộc dai dẳng, và một quy trình bầu cử quá phụ thuộc vào tiền bạc và mất thời gian tới mức nó ngăn cản nhiều cá nhân tài năng tham gia vào cống hiến cho quốc gia. Đổng thòi cũng cần nhớ rằng trong khi người Mỹ có xu hướng phóng đại ưu điểm của mình thì đôi khi họ cũng thổi phồng các vấn đề gặp phải. Việc này có lợi cho truyền thông khi khai thác nó để thu hút đông đảo đối tượng nghe nhìn. Một kĩ năng tranh luận chính trị được đào tạo kĩ càng là tấn công đối thủ bằng cách thổi phồng những lỗi lầm của họ. Những nhà quan sát nước ngoài không quen với điều này lúc đầu sẽ thấy đáng ngại, nhưng rồi họ sẽ nhanh chóng học được cách tách luận điệu chính trị ra khỏi thực tế.

Gạt các luận điệu qua một bên thì người Mỹ về cơ bản tin rằng ngày mai sẽ là một ngày tươi sáng. Điều này giải thích xu hướng dám tiêu xài, dám vay mượn và lại tiêu xài không ngừng nghỉ của họ. Người Trung Quốc và người Nhật thì lại khác bởi họ luôn tin rằng sẽ có một trận động đất hay thảm họa nào đó bất ngờ xảy ra nên họ cảm thấy cần phải để dành tích cóp. Tôi ngưỡng mộ thái độ lạc quan này của xã hội Mỹ: một thái độ dám nghĩ dám làm, một niềm tin rằng mọi việc đều có thể được giải quyết nếu có đủ nguồn lực, rằng mọi thứ đều có thể được chia nhỏ ra để phân tích và tái định nghĩa. Nhưng tôi có lẽ sẽ không muốn sống ở Mỹ cả đời. Nếu trở thành một người tị nạn, như cựu thủ tướng miền Nam Việt Nam Nguyễn Cao Kỳ ở California, tôi có lẽ sẽ chọn nước Anh - đất nước tôi cho là ít áp lực hơn.

NƯỚC MỸ MÀ TÔI BIẾT

Lần đầu tiên tôi đến Mỹ là năm 1962, không lâu sau Thế chiến thứ hai. Hồi đó, nền kinh tế châu Âu đã phần nào sụp đổ, cường quốc Anh đi xuống và Trung Quốc chưa trỗi dậy, nước Mỹ đứng đầu thế giới. Những người Mỹ tôi gặp tại thời điểm đó rất tự tin. Người Anh đã bàn giao quyền lực thế giới cho họ. Cả hai đều là quốc gia nói tiếng Anh nên không có nhiều bất hòa và tranh chấp. Người Anh ý thức được họ không còn là đối thủ của Mỹ nữa. Họ được người Mỹ cứu khỏi người Đức với một cái giá là mất đế quốc và quyển cho thuê đất - toàn bộ tài sản đất đai của Anh ở Mỹ đã được bàn giao lại cho Mỹ, hoặc bán đi trả nợ cho các con tàu cũ họ đã mua nhằm bảo vệ nguồn tiếp tế từ vùng biển Đại Tây Dương của mình. Người Anh nhận thức rõ rằng mình đã hết thời và không thách thức gì vị trí số một của người Mỹ.

Nhưng lần này, sự khác biệt sẽ là người Mỹ không dễ dàng chấp nhận vị trí siêu cường của mình bị người Trung Quốc thách thức vì họ có thể nhìn thấy được trong sự trỗi dậy của Trung Quốc một đối thủ cạnh tranh tiềm tàng khó có thể kiềm chế. Trung Quốc sẽ có GDP vượt qua Mỹ vào năm 2035 và sẽ có một lực lượng quân sự đủ ngăn cản Mỹ thống trị Tây Thái Bình Dương. Đây là sự thay đổi trọng yếu. Khi người Đức thách thức trật tự thế giới bằng cách tiến hành chiến tranh ở châu Âu, người Anh cùng người Mỹ đã ngăn chặn họ. Liệu lần này người Mỹ, có lẽ với sự giúp đỡ của người Nhật, có thể ngăn chặn người Trung Quốc? Tôi nghi ngờ điều đó. Người Nhật sẽ không muốn dính líu tới Trung Quốc và biến Trung Quốc thành kẻ thù không đội trời chung với mình từ đó về sau. Nếu tôi là người Nhật, và tôi thấy 130 triệu dân nước tôi sống kể bên 1,3 tỉ dân Trung Quốc, tôi sẽ tự nhủ: “Tại sao phải đi biển họ thành kẻ thù?” Hơn nữa, Trung Quốc lại hoan nghênh các doanh nhân Nhật Bản và Hàn Quốc đến đầu tư ồ ạt tại nước này, thu hút họ về mặt kinh tế thông qua các nhân tố sản xuất giá rẻ và thị trường khổng lồ. Người Mỹ có thể chưa phải thỏa hiệp và chịu chung sống như vậy. Nhưng người Nhật và người Hàn Quốc vẫn muốn giữ mối quan hệ an ninh với Mỹ, ngay cả khi họ đang gắn chặt kinh tế với Trung Quốc.

Mối quan hệ Mỹ - Trung sẽ là mối quan hệ song phương quan trọng nhất trong thế kỷ 21. Hòa bình và hợp tác giữa hai người khổng lồ này sẽ mang lại ổn định cho khu vực châu Á. Một cuộc đụng độ khó có thể xảy ra vì cả hai đều là cường quốc hạt nhân. Một khi hai bên bắt đầu xung đột ở bất cứ cấp độ nào, xung đột đó thường sẽ leo thang và bên thua cuộc cuối cùng sẽ phải sử dụng vũ khí hạt nhân để hạn chế thiệt hại, đó là sự khởi đầu của diệt vong. Do đó cả hai bên phải làm mọi thứ có thể để tránh xung đột dù là nhỏ nhất. Mỹ, dù không ngừng cải tiến công nghệ quân sự, vẫn nên cố gắng khuyến khích và giúp Trung Quốc hòa nhập vào cộng đồng thế giới và đóng vai trò nào đó trong việc định hình trật tự quốc tế. Khi đó Trung Quốc mới thấy rất đáng để chấp nhận nghĩa vụ công dân toàn cầu của mình.

Trong những năm đầu thống trị, người Mỹ hay hành động khiếm nhã, thậm chí là ngạo mạn. Người Anh vận hành một đế quốc suốt hơn 200 năm và kết quả là đã phát triển một phong cách cai trị dày dạn kinh nghiêm và khôn khéo. Một công chức người Ấn làm việc cho người Anh từng thích thú kể với tôi rằng chỉ cần 200 công chức Anh có thể kiểm soát được 200 triệu người Ấn Độ. Đó là thời kì hoàng kim của đế chế Anh. Còn Mỹ mới trở thành cường quốc sau Thế chiến thứ hai.

Họ chưa có khoảng thời gian thống trị dài như Anh nên vẫn còn khiếm nhã trong việc bảo vệ vị thế mới giành được của mình.

Thứ tinh thần cải hóa đang tiếp tục ăn sâu vào chính sách đối ngoại Mỹ có lẽ cũng phản ánh sự thiếu thận trọng này. Chưa suy tính kỷ, Mỹ đã vội đem quân đến Afghanistan sau ngày II tháng 9 và cố xây dựng lại một quốc gia, bỏ qua sự thật rằng nơi đây không đúng nghĩa là một quốc gia trong suốt 30 đến 40 năm trước đó. Afghanistan là một tập hợp hỗn độn các bộ tộc luôn gây chiến với nhau, vùng đất này chưa từng có được hòa bình từ khi vị vua cuối cùng Mohammed Zahir Shah bị lật đổ vào năm 1973. Làm sao họ có thể ghép những mảnh vụn này lại được? Điều này là không thể. Lùi lại lịch sử hơn 100 năm trước, Rudyard Kipling từng viết trong bài thơ Người lính Anh trẻ rằng: Khi anh bị thương và bị bỏ lại trên đồng cỏ Afghanistan/ Những người phụ nữ bước tới để cắt xẻo những gì còn lại/ Hãy cố bò đến chỗ khẩu súng trường và bắn một phát vào đầu mình/ Rồi về với Chúa như một người lính. Tôi đọc bài thơ này cho Hillary Clinton nghe và nhẹ nhàng chỉ ra rằng Afghanistan hôm nay cũng không thay đổi gì so với thời của Kipling. Ngay cả với những kinh hoàng của ngày II tháng 9 thì việc đem quân đến Afghanistan vẫn là một sai lầm của người Mỹ. Nếu tôi ở vào vị trí của họ, tôi sẽ ném bom Afghanistan tơi bời để đây không còn là nơi ẩn náu của khủng bố nữa. Nhưng đem quân đổ bộ vào thì làm sao đưa được quân ra mà không tổn thất nhân mạng hay mất danh dự? Tổng thống Obama hiện có kế hoạch rút hết quân khỏi Afghanistan vào cuối năm 2014. Ông nên làm như vậy càng nhanh càng tốt vì Mỹ không bao giờ có thể hy vọng kiểm soát được Afghanistan.

Tổng thống George w Bush đưa quân vào Iraq là muốn có ý tốt. Saddam Hussein là một nhà độc tài mất trí, những hành động của ông ta gây bất ổn khắp khu vực và thế giới. Cẩn mạnh tay để hạ bệ ông ta. Nhưng khi Mỹ tuyên bố nguyện vọng dân chủ hóa Iraq, tôi đã phải nín thở. Đây là một tín hiệu của sự ngông cuồng. Tôi thầm nghĩ: “Đây là chuyện một xã hội 4.000 năm tuổi sắp sửa bị biến đổi bởi một xã hội mới có 400 năm lịch sử tính từ thời chiếc thuyền Mayflower”. Tổng thống Bush tiếp tục thực thi kế hoạch này sau khi bị những người theo chủ nghĩa tân bảo thủ thuyết phục rằng một nước Iraq dân chủ sẽ là chìa khóa mở ra hòa bình Trung Đông. Lập luận của họ dựa trên lời khuyên của những người nhập cư gốc Iraq, được Giáo sư Barnard Lewis, một học giả uy tín về đạo Hồi và Trung Đông ủng hộ, và được Natan Sharansky cổ vũ, ông này từng là người chống đối Liên Xô cũ, người vận động dân chủ đồng thời là thành viên của quốc hội Israel lúc đó. Đây là một sai lầm nghiêm trọng. Họ loại bỏ đi Saddam, nhà độc tài liên kết và cai trị được các lực lượng rời rạc của đất nước này lại, nhưng lại không tạo ra hay ủng hộ một nhân vật độc tài khác có thể thế chỗ Saddam, đó mới là điều lẽ ra họ nên làm. Và tệ hơn nữa, họ còn giải tán lực lượng cảnh sát và giải thể đảng Baath, thay vì sử dụng hai nguồn lực này để phục vụ chế độ mới.

Khi quân đội Nhật chiếm đóng Singapore trong Thế chiến thứ hai, họ bắt giữ binh lính nhưng vẫn để cảnh sát và các viên chức chính phủ tại chức vì họ biết họ cần sự giúp đỡ của đội ngũ này để cai trị. Thậm chí những người Anh đứng đầu các ngành điện, nước và khí đốt cũng vẫn được tại vị. Người Mỹ muốn xây dựng một chính phủ hoàn toàn mới ở Iraq và dân chủ hóa cả một dân tộc lâu đời. Việc thứ nhất là gần như không thể, việc thứ hai là hoàn toàn không thể.

Về mặt này, Trung Quốc có cách tiếp cận chính sách đối ngoại khôn khéo hơn. Họ tin rằng mình chẳng việc gì phải đi thay đổi hệ thống của nước nào. Họ đối phó với hệ thống đang có, khai thác bất cứ lợi thế nào có được từ hệ thống đó mà không tự gây khó cho mình. Vấn đề đối với người Mỹ là họ nhảy vào một đất nước nào đấy rồi tin rằng mình có sức mạnh để thay đổi hệ thống. Hết lần này đến lần khác, thời thể đã cho thấy họ đã sai. Họ chưa thay đổi được thế giới. Họ có thể thay đổi được Fiji hay Vanuatu, những nền văn minh còn non trẻ và chưa cắm rễ sâu, nơi mà họ có thể biến đổi chúng bằng Ki-tô giáo chẳng hạn. Nhưng liệu Mỹ có thay đổi được Trung Quốc hay Ấn Độ, những quốc gia có truyền thống rất lâu đời của riêng mình?

Hỏi: Khi nghĩ đến các vị tổng thống Hoa Kỳ đã gặp, ai là người đáng nhớ nhất hay làm ngài ấn tượng nhất?
Đáp: À, tôi đã không gặp được John F. Kennedy. Ông ấy được cho là người cho sức hút lớn. Nhưng mà một quan điểm khác lại cho rằng những chính sách ông ấy đưa ra chưa được suy nghĩ thấu đáo. Với Lyndon Johnson, tôi cho đây là một tổng thống mạnh mẽ. Sa lầy trong chiến tranh Việt Nam nhưng ông lại không chịu bỏ cuộc nên đã mất thời gian và nguồn lực cho chiến tranh vì không muốn tỏ ra yếu đuối, nhưng về đối nội, ông là một chính trị gia giỏi xuất thân từ Texas. Gerald Ford thì chỉ ở mức trung bình, nhưng ông ấy có nhiều Cố Vấn giỏi như Henry Kissinger và những bộ trưởng khác trong nội các giúp ông điều hành đất nước. Ông ấy có được một đội ngũ tham mưu giỏi mặc dù bản thân không quá xuất sắc. Richard Nixon là một chiến lược gia vĩ đại. Tiếc là vụ tai tiếng nghe trộm đảng đối lập đã làm ông bị hủy hoại thanh danh. Ông là người gây ấn tượng với tôi rất nhiều, Bản thân ông cũng là một nhà tư tưởng. Tôi rất ấn tượng bởi vì trước khi lên làm tổng thống, ông có lẫn đến Singapore, bỏ cả tiếng rưỡi đồng hồ nhặt nhạnh và ghi chép những ý tưởng của tôi. Để cho đơn giản, tôi bảo ông ấy rằng một số quốc gia giống như những cây lớn mọc thẳng và cao không cần hỗ trợ. Một số quốc gia khác thì như tầm gửi, phải phụ thuộc vào cây khác để leo lên. May cho tôi là ông chưa bao giờ công bố ý kiến này, nhưng tôi nghĩ là ông đã lưu ý đến nó.
Hỏi: Những cái cây mà ngài đang nghĩ đến lúc đấy là những quốc gia nào?
Đáp: À, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, thậm chí là Việt Nam.
Hỏi: Ngài nghĩ Nixon sẽ tiếp cận mối quan hệ Mỹ - Trung như thế nào nếu bây giờ ông ấy làm tổng thống?
Đáp: Nixon sẽ lôi kéo chứ không ngăn chặn Trung Quốc. Nhưng ông ấy cũng sẽ để phòng nếu như Trung Quốc không chơi theo các quy tắc của một công dân toàn cầu gương mẫu. Nếu điều đó xảy ra thì ở những quốc gia phải lựa chọn giữa hai bên, Nixon sẽ lo liệu để Mỹ giành được về phía mình Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN, Ấn Độ, úc, New Zealand và Nga.
Hỏi: Ngài nghĩ gì về Bill Clinton, người được xem là một vị tổng thống đầy cuốn hút?
Đáp: Ông ấy làm việc hiệu quả và là một diễn giả lịch lãm.
Hỏi: Còn Ronald Reagan - người được ngài nhắc đến đầy thiện cảm trong quá khứ?
Đáp: A, Ronald Reagan, tôi rất kính trọng ông ấy. Ông ấy không có cái đầu xuất chúng nhưng luôn tỉnh táo tiếp cận vấn đề. Va ông tập hợp quanh mình những chuyên gia giỏi nên ban hành được các chính sách tốt. Ông ấy biết cách trọng dụng người tài và khiến cho họ phục vụ mình.
Hỏi: Khi tổng thống Obama mới nhậm chức, ngài nói rằng ông Obama đã thu thập được những bộ óc xuất sắc nhất trong một đội ngũ cố vẻ vững chắc.
Đáp: Nhưng một số nhân vật nặng ký đã ra đi. Nói cách khác họ không đồng tình với chính sách của Obama. Không tổng thống nào toàn diện về kiến thức của minh mà họ phải dựa vào các cố vấn. Việc các cố vấn dày dạn kinh nghiệm rời bỏ tổng thống không phải là một dấu hiệu tốt. Nói cách khác là họ không thể thuyết phục được tổng thống.
Hỏi: Ngài nghĩ gì về hai cha con tổng thống Bush?
Đáp: Bush cha suy nghĩ thấu đáo hơn Bush con. Có thể dưới ảnh hưởng của ý thức hệ nên Bush con mới đem quân đánh Iraq và Afghanistan, kết quả là chịu rất nhiều tổn thất và cuối cùng cũng phải rút quân còn uy tín bị tổn hại nghiêm trọng. Tuy vậy, tôi vẫn về phe Bush con khi tôi tranh luận với một lãnh đạo của châu Âu. Người này cho rằng “Người châu Âu chúng tôi không thích việc Bush con dùng Chúa để biện minh cho cuộc chiến ở Iraq.” Và tôi bảo với người này rằng: “Khi ông đang chiến đấu với một kẻ cuồng tín tin rằng hắn đang đại diện cho Chúa, thì việc tin rằng Chúa đang ở bên phe của ông cũng giúp tinh thần ông thanh thản.” Khi Bush con thông báo ông đã ra lệnh tấn công vào Baghdad, tôi chưa bao giờ thấy một người đàn ông nào điềm tĩnh đến vậy Ông nói ngắn gọn vào micro rồi bước đi, không mảy may nghi ngờ nào trong tâm trí. Khi ấy tôi tự nhủ: “Đó quả không phải một vị chỉ huy tồi.”
Hỏi: Về đối ngoại, Singapore ủng hộ và giúp đỡ tổng thống Bush trong cuộc chiến Iraq. Ngài có hối hận về quyết định đó?
Đáp: Chúng ta là đối tác an ninh với Mỹ. Đổi lại, chúng ta có quyền mua những vũ khí mà họ không bán cho các nước khác. Vì thế, chúng ta buộc phải hỗ trợ họ.
Hỏi: Gần đây liên tiếp có những ý kiến cho rằng Mỹ sẽ tấn công các mục tiêu quân sự tại Iran nếu nước này không bắt đẩu hợp tác với cộng đồng quốc tế bằng cách lý giải rõ ràng chương trình hạt nhân của mình. Điều đó có đúng không?
Đáp: Nếu Iran thực sự sở hữu bom hạt nhân thì sẽ dẫn đến một tình huống rất bất ổn ở Trung Đông, vì người Ả-rập Xê-Út sẽ mua bom hạt nhân từ Pakistan, người Ai Cập cũng sẽ kiểm một quả. Và quả bom sẽ phá hủy tất cả các bên. Chỉ người tỉnh táo mới biết sợ điều này chứ tôi không chắc rằng ở Trung Đông có đủ tỉnh táo để kiềm chế sự hung hăng. Nếu có chuyện xấu xảy ra thì bụi phóng xạ có thể lan rộng khắp các châu lục. Nhưng khó có khả năng người Mỹ sẽ tấn công. Người Israel mới là những người phải lo lắng. Họ là mục tiêu bị đe dọa trực tiếp với việc Iran nói rằng mình sẽ trừng phạt Israel. Nếu người Mỹ muốn tấn công, khả năng là họ sẽ cung cấp vũ khí để Israel thay họ làm điều này.
Hỏi: Giờ chúng ta nói vê Jimmy Carter.
Đáp: Ông ấy thì tôi nói mãi rồi. “Tên tôi là Jimmy Carter và tôi đang tranh cử tổng thống.” Và sau đó ông trở thành tổng thống thật.
Hỏi: Có phải ngẫu nhiên khi ông dường như đánh giá cao các tổng thống của đảng Cộng hòa hơn?
Đáp: Có thể là vì họ chú trọng đến các chính sách đối ngoại hơn. Không phải là vi họ thuộc đảng Cộng hòa, mà vì họ nhận thức được trách nhiệm của một cường quốc và thể hiện vai trò của mình trong chính sách đối ngoại.
Hỏi: Ngài có nói khả năng thu hút người nhập cư của Mỹ là một phần lý do tại sao Mỹ có thể cạnh tranh trên toàn cẩu. Nhưng vấn đề nhập cư cũng gây ra nhiều phiền toái. Ví dụ cộng đồng người gốc Mỹ Latinh được dự báo sẽ tăng tỷ trọng lớn trên tổng dân số và có khả năng thay đổi bản chất của xã hội Mỹ.
Đáp: Đúng. Câu hỏi đặt ra là Mỹ có thể hội nhập văn hóa Mỹ Latinh vào văn hóa Anglo-Saxon không hay sẽ để văn hóa Mỹ Latinh lấn át. Nếu như người Mỹ Latinh cứ sống chung với nhau thành từng cụm thì đó sẽ là một thử thách thực sự đối với nước Mỹ.
Hỏi: Khi kinh tế Trung Quốc cứ ngày càng lớn mạnh, liệu có nguy cơ là các quốc gia Đông Nam Á có thể bị hút quá sâu vào nền kinh tế Trung Quốc, khi đấy thì bất kỳ đe dọa cắt quan hệ nào của Trung Quốc cũng sẽ trở nên quá đáng sợ đối với chúng ta, và chúng ta sẽ phải làm theo những gì Trung Quốc yêu cầu? Điều này không khác mây so với những gì xảy ra với Đài Loan, lãnh thổ sẽ phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc đến mức không thể hy vọng tuyên bố độc lập.
Đáp: Hai vấn đề này không hoàn toàn giống nhau. Đài Loan là vấn đề mang tính dân tộc và tình cảm. Lãnh thổ đó là một phần của Trung Quốc, một hòn đảo đẩu tiên mất vào tay người Hà Lan, rồi người Bồ Đào Nha, sau cùng là người Nhật. Họ luôn xem đây là nỗi nhục quốc thể và mong muốn lấy lại Đài Loan. Nhưng không có lý do lịch sử nào khiển họ muốn kiểm soát chúng ta cả.
Hỏi: Tuy nhiên, liệu chúng ta có nguy cơ bị hút quá sâu vào nền kinh tế' Trung Quốc không?
Đáp: Điều đó do chính chúng ta quyết định. Như tôi đã nói, tôi không cho rằng Singapore phải sống dựa vào nền kinh tế Trung Quốc. Nếu chỉ nói tiếng Trung, chúng ta sẽ không có được Singapore như hôm nay. Vậy có khác biệt gì nếu Trung Quốc có mạnh hơn gấp mười lần? Liệu nó có làm chúng ta mạnh hơn mười lần không? Không. Sự thịnh vượng của chúng ta đến từ các mối liên kết với thế giới.
Hỏi: Nhưng đó là quá khứ.
Đáp: Tương lai thì cũng vậy thôi. Chúng ta không phải đảo Hải Nam. Chúng ta không phải Hồng Kông, nơi mà khoảng cách gần gũi và bản sắc dân tộc không cho phép họ có những lựa chọn khác. Còn chúng ta nằm ở trung tâm của một quần đảo đầy đa dạng, tài nguyên thiên nhiên phong phú và thế giới sẽ đổ về đây.
Hỏi: Và nếu một lúc nào đó Trung Quốc phản đối việc đặt trung tâm hậu cần của Mỹ ở đây thì sao?
Đáp: Không, sao họ có thể bảo chúng ta như vậy được? Thế là thô lỗ. Nếu Trung Quốc yêu cầu chúng ta ngừng cung cấp trung tâm hậu cần, chúng ta sẽ trả lời họ rằng: “Các ngài cũng có thể sử dụng cơ sở hậu cần và đặt các thiết bị của mình ở đây”
Hỏi: Vậy chúng ta sẽ tiếp đón cả Mỹ lẫn Trung Quốc?
Đáp: Tại sao không?

Dịch giả: Lê Thùy Giang Nguồn text: SACHMOI.NET Thực hiện ebook: BT 2024 - Jan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.