Ông Già Nhìn Ra Thế Giới

Lượt đọc: 147 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TRUNG ĐÔNG - ***
Xuân qua mà hè chưa đến

❊ ❊ ❊

Khi những xôn xao của Mùa xuân Ả rập qua đi, thế giới có lẽ sẽ nhận thức rõ ràng bộ máy điều hành trong khu vực này cũng vẫn chưa có gì chuyển biến. Dù những thay đổi này có vẻ lớn lao và giật gân như báo chí đưa tin thì nhiều thập kỷ sau nhìn lại, người ta vẫn ngờ rằng liệu có thay đổi nào là thực chất, là bền vững và trở thành xu thế chung trong khu vực. Mà cái chắc chắn hơn đó là những thử nghiệm của nền dân chủ này sẽ không kéo dài được lâu. Tôi cho rằng chẳng bao lâu nữa nhiều quốc gia bước chập chững theo hướng phổ thông đầu phiếu rồi sẽ quay lại với chế độ một người cai trị hoặc độc đảng. Nói cách khác, khi xuân đã qua thì hạ lại về, thu qua đông tới. Cuộc sống sẽ lại tiếp diễn như nó vẫn thế từ hàng nghìn năm qua.

Khu vực Trung Đông không có lịch sử bầu cử bằng phiếu bầu hay ra quyết định dựa trên cách thức đó. Họ không có truyền thống dân chủ dù là trong thời Hồi giáo cổ đại, trong lịch sử thuộc địa của thực dân gần đây, hay cả thời chủ nghĩa dân tộc hậu thuộc địa. Khi sự bảo hộ của Anh và Pháp kết thúc và khu vực này tách thành nhiều quốc gia thì tất cả các nước đều quay về chế độ một người cai trị, đây chẳng phải trùng hợp ngẫu nhiên mà nó bắt nguồn từ những lý do văn hóa và xã hội sâu sắc. Dĩ nhiên, người ta có thể lập luận rằng dù nến dân chủ là một hiện tượng tương đối mới trong lịch sử loài người, thì nó vẫn phải khởi nguồn ở một nơi nào đó trong từng khu vực, và nó hẳn đã bắt rễ ở nhiều quốc gia châu Á cho dù nơi đó không thể hiện ra truyền thống dân chủ. Nhưng ở Trung Đông có một sự khác biệt quan trọng. Bên cạnh việc thiếu kinh nghiệm về hình thức chính trị có người đại diện, Trung Đông còn thiểu các yếu tố xã hội quan trọng để hình thành nên nền tảng của nền dân chủ.

Đầu tiên là một cảm giác về quyền bình đẳng của công dân. Đó là tư tưởng mà bạn và tôi, bất chấp tất cả sự khác biệt của chúng ta về của cải, địa vị xã hội, thành tích, đặc điểm thể chất và tinh thần, v.v... đểu ngang hàng nhau ở một mức độ nào đó vi một lý do không gì khác hơn đó là chúng ta đều là công dân của một quốc gia cụ thể. Chúng ta có những quyền lợi và nghĩa vụ giống nhau mà quốc gia trao cho từng công dân của mình. Chúng ta đều bình đẳng về mặt pháp lý và đạo đức. Khái niệm này nhất thiết phải đi trước sự phát triển của các hoạt động và thiết chế dân chủ. Nó phải được chấp nhận không chỉ trong giới trí thức cấp tiến mà cả trong toàn xã hội.

Nhưng những gì chúng ta thấy ở nhiều nơi vùng Trung Đông lại là hệ thống bộ lạc hoặc phong kiến. Tại Ả Rập Saudi, lãnh đạo bộ tộc dâng quà đến nhà vua mỗi năm một lần. Cũng giống như ở Trung Quốc cổ đại, nhà vua tặng lại cho họ những món quà còn giá trị hơn. Sự trung thành nằm ở những con người bình thường đối với bộ tộc - chứ không phải trung với đất nước vì đất nước là khái niệm không tồn tại và chắc chắn cũng không phải trung thành với người dân xứ mình. Vài năm trước tôi có nói chuyện với một nhà ngoại giao Mỹ sau khi ông rời vị trí ở Ả Rập Saudi và ông cũng đồng ý với quan điểm này. Ông nói người Ả rập Saudi có hệ thống quản lý kiểu phong kiến. Tương tự như vậy, người Libya cũng khổng có một quốc gia thống nhất, cái mà họ có là sự kết hợp của nhiều bộ lạc với từng bộ lạc lại mang nặng chủ nghĩa địa phương. Trong các quốc gia dạng bộ lạc này, khi một chế độ sụp đổ, người ta sẽ chỉnh đốn lại các quy tắc tổ chức chính trị - ai được quyền quyết định điều gì và như thế nào - nhưng nền dân chủ sẽ không xuất hiện vì các đơn vị cơ bản trong chính thể không phải là công dân mà là bộ lạc.

Các nhà quan sát đã chỉ ra rằng một số nước Ả rập trở thành quốc gia theo cách hiểu hiện đại ngày nay - đáng chú ý nhất là Ai Cập, Morocco và Tunisia. Tuy nhiên, ngay cả trong những trường hợp này, có một thành phần thứ hai không kém quan trọng mà họ còn thiếu nhưng nó lại cần thiết để nền dân chủ trưởng thành và để nhân dân chấp nhận kết quả không chỉ của cuộc bầu cử đầu tiên sau cách mạng mà còn cả các cuộc bầu cử tiếp theo. Tôi gọi thành phần này là khả năng kiếm đủ tiền để tạo ra tiến bộ kinh tế thực sự.

Họ thiếu đi khả năng này đơn giản là vì họ luôn kìm hãm người phụ nữ. Xã hội Ả rập nói chung là do nam giới thống trị. Họ không cho phép phụ nữ được đến trường, được làm việc bình đẳng như đàn ông - điều cần thiết để giải phóng tiềm năng con người và để hiện đại hóa nền kinh tế. Họ viện hết cớ này đến cớ khác để kìm hãm người phụ nữ. Vấn đề này kéo dài từ thế hệ này sang thế khác vì những phụ nữ ít học sẽ nuôi dạy nên những đứa con ít học do đứa con ở với mẹ nhiều hơn ở với cha. Trái lại, một thế hệ những người mẹ có học thức chắc chắn sẽ nuôi dạy nên một thế hệ trẻ có nhân sinh quan và thế giới quan khác biệt.

Ngay cả ở những nước Trung Đông mà phụ nữ được đi học đại học theo tỷ lệ gần bằng với nam giới, thì họ lại bị ngăn cản theo những cách khác và không phát triển đầy đủ tiềm năng của mình. Thường là họ bị từ chối không cho theo các khóa học có uy tín như các ngành khoa học, kỹ thuật hoặc pháp luật, mà thay vào đó người ta mong họ học những nghề truyền thống “nữ tính” hơn như giảng dạy. Ngay cả khi họ tốt nghiệp hệ thống giáo dục một cách bình đẳng thì tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đối với nữ ở nhiều quốc gia Trung Đông vẫn thua xa nam giới vì những lý do khác nhau. Một số phải chịu sự phân biệt đối xử trong công việc từ lương bổng cho đến quấy rối tinh dục. Những người khác đơn giản chỉ thấy không bõ công hằng ngày phải chiến đấu với những yếu tố bất tiện như hạn chế phụ nữ không được đi một mình ở nơi công cộng hay với những yếu tố kỳ thị của xã hội đối với những phụ nữ đã lập gia đình nhưng lại không ở nhà chăm lo nội trợ.

Các chế độ dân chủ mới không thể tồn tại lâu dài nếu thiếu sự phát triển kinh tế thực sự. Suy cho cùng, nền dân chủ thì có nghĩa lý gì với một dân thường trên đường nếu như nó không mang lại cho anh ta những kết quả tai nghe mắt thấy? Họ cần một kết quả rõ ràng hơn việc cứ vài năm lại phải xếp hàng đi bầu, chờ đợi để đánh dấu một mảnh giấy chỉ trong vòng một, hai kỳ bầu cử, sẽ không tránh khỏi sự vỡ mộng về hệ thống, sau đó là sự trở lại một số hình thức cai trị độc tài nào đó. Tại Ai Cập, Tổ chức Anh em Hồi giáo - lần đầu lên nắm quyền - dường như hiểu được sự cấp bách của nhiệm vụ trước mắt và đã gửi các đoàn đại biểu tới các nước khác để học hỏi những gì có thể giúp họ phát triển, Đó là dấu hiệu cho thấy sự nghiêm túc của họ. Nhưng liệu họ có thể thành công? Những yếu tố cần thay đổi đã bám rễ quá lâu còn thời gian để tiến hành lại quá ngắn. Trong khi tìm cách để tạo ra những cải cách sâu rộng, họ cũng sẽ phải đối mặt với những trở ngại lớn là các yếu tố mà chế độ cũ để lại. Ví dụ như khu vực hành chính sẽ đầy những người được cựu Tổng thống Hosni Mubarak bổ nhiệm trước đây. Họ vẫn là một phần không thể thiếu của hệ thống chỉ đơn giản bởi vì hệ thống sẽ không hoạt động được nếu bị tháo dỡ hoàn toàn và phải xây dựng lại từ đầu.

Khi thế giới trở nên toàn cầu hóa, các chính phủ ở Trung Đông biết họ phải phát triển cùng thời đại, dù có chậm chạp. Tại Ả rập Saudi, một nơi có những cấu trúc xã hội nặng tính Hồi giáo, phụ nữ vẫn bị bắt phải ăn mặc che kín người nơi công cộng và không được phép lái xe. Nhiều khu vực công cộng bị tách thành những khu riêng cho nam và nữ. Nhưng ngay cả trong xã hội cổ xưa này, mọi thứ cũng đang thay đổi. Chẳng hạn, Đại học Khoa học và Công nghệ Quốc vương Abdullah (KAUST) thành lập năm 2009 với mục đích trở thành một vùng đất tự do trong một quốc gia bảo thủ sâu sắc. Trường đại học này thuê Giáo sư Shih Choon Fong, người từng làm phó hiệu trưởng của Đại học Quốc gia Singapore (NUS), làm hiệu trưởng. Trong phạm vi của nhà trường, nam và nữ được đối xử bình, đẳng và sinh viên có cuộc sống giống như trong các xã hội phương Tây. Đây là một bước tiến nhưng tôi không trông đợi các sinh viên tốt nghiệp KAUST lại có thể thay đổi được đất nước. Bạn không thể thay đổi một hệ thống phong kiến chỉ với vài người đàn ông và phụ nữ sáng láng và có học thức. Bạn đang đối phó với các giáo sĩ, các wahhabi, nhóm người mạnh nhất và bảo thủ nhất trong số các giáo sĩ ở thế giới Ả rập. Sức mạnh của họ được cố kết bởi mối quan hệ cộng sinh của họ với hoàng gia: hoàng gia được toàn quyền sử dụng nguồn của cải của đất nước trong khi các giáo sĩ có toàn quyền xử lý mọi vấn đề tôn giáo. Nhưng sau khi đã gặp Quốc vương Abdullah, tôi tin rằng hoàng gia ở Ả Rập Saudi hiểu rằng không thể nào giữ đất nước đóng băng mãi được. Họ sẽ cho phép phát triển diễn ra. Thay đổi là không thể tránh khỏi nhưng sự thay đổi đó sẽ diễn ra ở tốc độ nhanh hay chậm thì tôi không thể nói chắc. Có lẽ các chuẩn mực xã hội ở KAUST cuối cùng sẽ được mở rộng đến toàn bộ khu vực lân cận, sau đó đến toàn bộ các thành phố.

Nhưng hiện tại, con đường dài trước mặt Trung Đông có vẻ như đầy biển động. Sau khi những thử nghiệm về quyền biểu quyết và bầu cử lắng xuống, sẽ đến vấn đề duy trì tăng trưởng bền vững và công ăn việc làm tốt cho khoảng 350 triệu người. Đó quả là vấn đề trớ trêu trong một khu vực mà nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú. Tuy nhiên, nhiều nơi trong khu vực vẫn còn lờ đờ trì trệ.

Thách thức thực sự cho các nước trong khu vực này là làm thế nào để kết nối với thế giới khi các nguồn năng lượng hữu hạn của họ cạn kiệt. Họ cần phải chuyển đổi nền kinh tế giàu dầu mỏ thành các nền kinh tế có thể tự duy trì trong thời gian dài, và họ chỉ còn vài thập kỷ để làm điều đó. Họ sẽ phải nỗ lực để thay đổi nền kinh tế và tìm ra lợi thế cạnh tranh của mình trong các ngành công nghiệp không khai thác tài nguyên, có thể là trong các lĩnh vực như ngân hàng, hàng không, du lịch, sản phẩm tiêu dùng, hoặc kết hợp giữa các ngành trên. Một cách để họ có thể làm điều này là gửi các tài năng trẻ của mình đến làm việc trong các ngành công nghiệp này ở các thành phố Mỹ và châu Âu, sau đó trở về để xây dựng tiềm lực kinh tế tương tự ở nước mình. Thật không may, sự giàu có dựa trên dầu mỏ có xu hướng sản sinh ra những người dân tin rằng thế giới phải trả tiền cho họ. Chính phủ phải làm công việc không ai muốn đó là vận động nhân dân thoát khỏi quan niệm ỷ lại bạc nhược này. Họ phải thuyết phục người dân rằng sự giàu có bằng dầu mỏ sẽ không kéo dài mãi mãi, cho dù tất cả số tiền kiếm được được cất trong một quỹ đặc biệt và được đầu tư cẩn thận. Đây là nhiệm vụ khó khăn nhất.

Vài năm trở lại đây, một quốc gia Trung Đông đã gửi một số sinh viên tới học tập tại Singapore, mong rằng thế hệ trẻ này sẽ thay đổi tư duy. Điều đó đã không xảy ra. Các sinh viên đó không tới đậy để hấp thụ nền văn hóa hay cách thức làm việc của chúng tôi. Họ chỉ tới thăm thú vui chơi. Singapore là một nơi lạ lẫm đối với họ. Họ tự nhủ: “Hãy vui chơi ở đây rồi sau đó quay về.” Tại sao còn cần làm việc khi sự giàu có đã nằm sẵn dưới chân?

Trung Đông là một nơi tuyệt vời để tham quan với một nền văn hóa phong phú và một lịch sử lâu đời đẩy hấp dẫn. Một số quốc gia nằm gần phía nam châu Âu, chẳng hạn như Morocco và Tunisia, là nơi người dân có trình độ cao và ít khép kín hơn các quốc gia Trung Đông khác.

Khi tôi tới Iran theo lời mời của Shah Mohammad Reza Pahlavi trước khi ông bị lật đổ, tôi được sắp xếp ở một trong những cung điện của Shah. Tôi vẫn còn nhớ những tấm thảm - chúng đẹp tới nổi nếu tôi có một cái, tôi sẽ đem treo lên tường để ngắm chứ chẳng dám lót chân. Nhưng ở trong cung điện, bạn cứ thế bước lên chúng. Họ có nhiều thợ dệt. Khi Shah qua thăm Singapore, ông ấy đã tặng Tổng thống Benjamin Sheares một tấm thảm lớn và tặng tôi một tấm thảm nhỏ - cả hai đều có họa tiết giống nhau và dệt bằng lụa. Tấm của tôi giờ để ở nhà con trai, dùng để trải sàn. Nhưng mọi người khi đi lên nó cũng chỉ đi chân không, và sàn nhà luôn được lau sạch.

Quốc gia ở Trung Đông mà tôi biết rõ nhất là Ai Cập. Tôi từng ở một trong các cung điện của vua Farouk khi Tổng thống Gamal Abdel Nasser Hussein mời tôi đến thăm. Nasser là một nhà hiện đại hóa sống một cuộc sống khiêm tốn, mặc dù ông đã không thành công trong việc giải phóng nhân dân mình. Ông xây dựng đập Aswan với sự giúp đỡ của Nga, đó là một thành tựu tuyệt vời vì nó kiểm soát lũ lụt và tạo ra điện năng. Họ chở tôi đi thăm đập bằng máy bay riêng và tôi ở lại đó vài ngày - một nơi hoàn toàn khô ráo và yên tĩnh. Tôi cho rằng nếu bạn đi đến sa mạc Gobi hay Grand Canyon, bạn cũng sẻ có cảm xúc giống như vậy. Sự khác biệt duy nhất là khi rời khỏi sa mạc Gobi, bạn sẽ thấy một xã hội nhộn nhịp sống và làm việc, còn khi rời khỏi Grand Canyon thì giấc mơ Mỹ đang hiển hiện trước mặt.

Hỏi: Ngài có vẻ bi quan về Trưng Đông. Nhưng còn chuyện Thổ Nhĩ Kỳ là một mô hình quốc gia theo Hồi giáo nhưng vẫn dân chủ và mở cửa với thế giới thì sao?
Đáp: Không, tôi không nói rằng các nước Hồi giáo không có khả năng điều hành quốc gia của họ. Để chế Ottoman đã rất thành công và họ là người Hồi giáo. Thổ Nhĩ Kỳ không thực sự là một phần của thế giới Ả Rập. Họ là người Thổ, là con cháu của những người Ottoman tự coi mình là những người chinh phục người Ả rập. Họ phát triển đất nước tốt hơn những nước khác chỉ bởi vì họ là những người được giáo dục cao hơn.
Hỏi: Giờ chuyển sang vấn đề Mùa xuân Ả rập với nghĩa địa chính trị của nó, một số người tin rằng người Mỹ quá vội vàng bỏ rơi Tổng thống Hosni Mubarak của Ai cập, người vốn duy trì quan hệ chặt chẽ với Mỹ. Các nhà phê bình nhìn nhận sự việc này chỉ là một dấu hiệu khác cho thấy không nên quá dựa vào Mỹ làm bạn hay đồng minh.
Đáp: Làm thế nào họ có thể cứu được Mubarak? Họ có thể gửi quân đội không? Đậy là một cuộc nổi loạn trong nước. Họ sẽ đốt cờ Mỹ nếu Mỹ cố can thiệp. Vì thể điều đó không có nghĩa là người Mỹ ủng hộ anh thì anh sẽ được an toàn. Trường hợp ngoại lệ là Đài Loan, lãnh thổ mà Trung Quốc muốn thu hồi. Hạm đội 7 Hoa Kỳ đang đứng ở Eo biển Đài Loan giữa đảo này và lục địa Trung Quốc. Nhưng ngay cả điều đó cũng sẽ không kéo dài mãi mãi.
Hỏi: Xét chung lại thì ngài thấy rằng Mỹ là người thắng hay thua sau Mùa xuân Ả rập, xét về địa chính trị?
Đáp: Tôi không thể nói là thắng hay thua được. Dù gì thì ảnh hưởng của Hoa Kỳ cũng đang suy giảm vì các chế độ chính phủ mà họ ủng hộ đã mất đi cơ sở quyền lực. Nhưng những lãnh đạo độc tài mới lên sau một thời gian sẽ lại cần hàng tỷ đô la viện trợ của Mỹ để điều hành đất nước, thế nên sức ảnh hưởng của Mỹ có thể quay trở lại. Suy cho cùng, tiền viện trợ là phần rất quan trọng trong nguồn tài chính các nước này.
Hỏi: Vậy ngài nhận thấy tác động của các cường quốc lên khu vực này là gì? Liệu Trung Đông có thể trở thành một đấu trường cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ giống như châu Á trước đây?
Đáp: Những cường quốc liên quan là ai chứ? Thế lực địa phương duy nhất muốn và có thể thống trị khu vực là Iran. Người Trung Quốc không thể đến đó vì họ ở quá xa. Còn người Mỹ sẽ chứng kiến quốc kỳ bị đốt, đại sứ bị giết chết như những gì vừa xảy ra ở Libya.
Hỏi: Vậy ngài thấy rằng Hoa Kỳ đang mất đi mối quan tâm lẫn sức ảnh hưởng của nó trong khu vực này?
Đáp: Không, Hoa Kỳ sẽ luôn quan tâm đến khu vực này vì nơi đây có nhiều tài nguyên. Người Mỹ nói rằng họ đã tìm thấy dầu đá phiến ở trong nước, và họ sẽ trở thành quốc gia độc lập về nguồn năng lượng. Nhưng vẫn còn nhiều nước không có dầu đá phiến nên dầu mỏ vẫn sẽ tiếp tục là một mặt hàng quan trọng. Anh cần dầu cho máy bay tàu biển, cho hầu hết các hình thức vận tải.
Hỏi: Người Trung Quốc hẳn cũng muốn dự phần vào nơi đáy.
Đáp: Đúng thế, nhưng họ ở quá xa khu vực này. Họ sẽ không thể phô diễn sức mạnh của mình ở đó được. Họ sẽ đến, đầu tư và khai thác tài nguyên. Đó là những gì họ đang làm ở châu Phi. Họ giúp xây dựng các hội trường và cung điện để tạo ra thiện chí từ đó họ có thể mua được thêm dầu và các nguồn tài nguyên chính yểu khác.
Hỏi: Ngài cho rằng chính sách dài hạn của Mỹ ở Trung Đông là gì?
Đáp: Mỹ sẽ chờ xem ai là người nắm quyền rồi kết thân với người đó.
Hỏi: Ngay cả khi đó là các đảng phái Hồi giáo?
Đáp: Sau một thời gian thì đúng là như thế.

Xung đột giữa Israel và Palestine là vấn đề gây rắc rối lớn nhất ở Trung Đông, một vết thương đau nhức lúc nào cũng rỉ mủ. Để kết thúc xung đột này cần phải có một giải pháp hai nhà nước: một nhà nước cho người Israel và một cho người Palestine. Phía nhà nước Palestine cũng phải có nền kinh tế và chính trị khả thi. Người dân phải cảm thấy rằng họ có cơ hội để biến nước mình thành một quốc gia thành công - chỉ khi đó họ mới quan tâm đến việc gìn giữ hòa bình trong khu vực rối ren này.

Do các chính sách ủng hộ Israel mà giới vận động hành lang người Do Thái áp lên Mỹ thành công nên giới lãnh đạo Israel luôn giữ một lập trường cứng rắn. Điều này có thể gây ra những tác dụng ngược, không thể đảo ngược được bằng tiến trình hòa bình. Ví dụ như bằng cách xây dựng các khu định cư trong các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, Israel đang chậm rãi và chắc chắn thôn tính vùng đất đáng lẽ sẽ được bàn giao cho người Palestine nếu như hai bên đạt được bất kỳ thỏa thuận nào. Giới lãnh đạo bảo thủ cố chấp ở Israel tin rằng các khu định cư giúp Israel tiến lại gần hơn đường biên giới chính đáng của mình như đã được nêu trong Kinh thánh Hebrew. Họ tin rằng việc thu hồi đất là ý muốn của Chúa trời. Những khu định cư làm rối ren thêm cho hiện trạng vốn đã phức tạp. Những khu này đã khiến cho triển vọng của một thỏa thuận hòa bình trong tương lai trở nên xa xôi hơn bao giờ hết.

Trong những ngày đầu của phong trào phục quốc Do Thái, Anh quốc mới là người tích cực ủng hộ lý tưởng của người Do Thái. Họ ủng hộ việc thành lập một khu định cư cho người Do Thái ở Palestine với quan điểm là cuối cùng sẽ cho phép thành lập một nhà nước Do Thái. Tuyên bố Balfour năm 1917 đã chính thức nêu rõ sự chấp thuận của người Anh. Tuyên bố nói như sau: “Chính phủ của nhà vua đồng ý việc thành lập ở Palestine một nhà nước cho người Do Thái và sẽ nỗ lực hết sức mình để hỗ trợ thực hiện mục tiêu này.. ” Trước khi người Do Thái đổ xô vào Palestine, số lượng người Do Thái sống ở khu vực này không đáng kể. Sau nạn diệt chủng khiến sáu triệu người Do Thái bị giết hại, sự cảm thông của châu Âu với người Do Thái lên đến mức cao nhất và các chính sách của chính phủ đều nghiêng về phía họ. Tuy nhiên, với sự xuống dốc của đế quốc Anh, người Mỹ đã nhảy vào lấp chỗ trống và nhà nước Israel thành lập năm 1948 đã xoay sang Mỹ và coi đây là đồng minh chính. Từ đó trở đi, Mỹ liên tục ủng hộ Israel.

Với mỗi ngày trôi qua, một giải pháp dài hạn cho cuộc xung đột ngày càng trở nên xa vời. Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố các khu định cư của Israel vi phạm luật pháp quốc tế và mô tả chúng như là một âm mưu thôn tính dần dần”. Tuy nhiên, người Israel biết rằng các tuyên bố đó là vô dụng trừ khi chúng được người Mỹ nghe theo. Chẳng hạn như nếu người Mỹ chịu cắt viện trợ tài chính cho Israel - con số này đã lên tới 115 tỷ đô tính từ năm 1949 - cũng như cắt hỗ trợ chính trị và quân sự cho tới khi việc xây dựng các khu định cư ngừng lại, thì lúc đó Israel mới không có sự lựa chọn nào khác và buộc phải nghe theo. Nếu người Mỹ không gây áp lực lên Israel thì sẽ mâu thuẫn này sẽ không thể chấm dứt.

Về lâu về dài tất cả những điều này không giúp gì cho Mỹ. Nó làm xói mòn uy tín chung của siêu cường này và khiến cho toàn bộ thế giới Ả rập thù ghét Mỹ. Kết quả là họ sẽ gặp khó khăn hơn nếu muốn đạt được mục tiêu ngoại giao trong khu vực này. Xung đột này còn là lý do muôn thuở mà những kẻ tham gia thánh chiến khai thác để tuyên truyền thu hút những chiến binh trẻ. Trên khắp Trung Đông cũng như ở những nơi khác ở châu Á, ai cũng sẽ đổ lỗi cho Mỹ và Israel khi những hình ảnh truyền hình luôn trình chiểu cảnh đau thương của người Palestine.

Xung đột Israël Palestine là trung tâm của một mạng lưới phức tạp đầy bạo lực và bất ổn ở Trung Đông. Nó giống như một căn bệnh ung thư trong hệ thống quốc tế mà nếu loại bỏ được sẽ mở đường cho việc giải quyết nhiều vấn đề khác. Nó sẽ thay đổi bầu không khí chính trị của khu vực. Hòa bình giữa Palestine và Israel là một điều kiện cần thiết, dù chưa đủ, để mang lại một nền hòa bình rộng lớn hơn ở Trung Đông.

Nếu Mỹ có thể thể hiện thái độ trung lập mạnh hơn và sự nghiêm túc trong việc tìm kiếm giải pháp hai nhà nước thì chính phủ của nhiều quốc gia Ả rập khác - nhất là các quốc gia có đa số là người Sunni - sẽ sẵn sàng công khai hỗ trợ những chính sách của Mỹ trong khu vực này. Đây nên là ưu tiên hàng đầu của Mỹ trong khu vực.

Một quốc gia có khả năng gây nguy hiểm cho thỏa thuận hòa bình là Iran. Chính phủ Iran đã nhiều lần khẳng định quyết tâm phá hủy nhà nước Israel. Các quốc gia có đa số là người Shiite coi xung đột Israel - Palestine là cần thiết cho cuộc chiến với các nước Ả rập dòng Sunni để đảm bảo vị trí lãnh đạo tại Trung Đông của họ. Sự ly giáo giữa người Shiite và người Sunni đã kéo dài hơn một thiên niên kỷ. Các quốc gia Ả Rập dòng Sunni đang rất nghi ngờ Iran vì ảnh hưởng của nước này lên các nhóm người Shiite thiểu sổ sinh sống trên khắp khu vực này. Như cựu Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak đã từng nói: "Người Shiite gần như luôn luôn trung thành với Iran chứ không phải với các quốc gia nơi họ sinh sống.” Nước Iraq của Saddam Hussein từng là một đối trọng quan trọng với Iran trong khu vực, nhưng khi đối trọng này đã mất đi, Mỹ trở thành rào cản chính trong nỗ lực thống trị khu vực của Iran.

Các tham vọng của Iran một phần bắt nguồn từ cách nhìn nhận bản thần của họ - tự cho mình là một nền văn minh riêng biệt, hoàn toàn tách biệt với thế giới Ả rập. Người Iran rất tự hào về lịch sử dân tộc. Tôi ấn tượng trước câu trả lời của một bộ trưởng Iran trước một câu hỏi đặt ra trong một chương trình của BBC vài năm trước. Ông ấy nói: “Thực sự chỉ có hai nền văn minh ở châu Á đáng nói: Trung Quốc và Ba Tư.” Điều đó phản ánh cách nghĩ của người Iran. Họ khao khát có lại những năm tháng vinh quang của đế chế xưa.

Cuộc đấu tranh địa chính trị này tác động rất lớn lên hòa bình thế giới, vì Iran tỏ vẻ rất mong muốn phát triển vũ khí hạt nhân và rất có thể sẽ gây ra một cuộc chiến tranh hạt nhân, không thì ít nhất cũng là một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân. Nếu Iran có một quả bom hạt nhân, Ai Cập cũng sẽ muốn có một quả - và họ có thể nhận được một quả từ người Pakistan. Điều đó sẽ dẫn đến tình hình rất bấp bênh ở Trung Đông, với bốn cường quốc hạt nhân - Ai Cập, Ả rập Saudi, Israel và Iran. Nó cũng sẽ làm tăng khả năng các nguyên liệu hạt nhân và sức mạnh hạt nhân được bán cho các nước ở những nơi khác trên thế giới, hay thậm chí là những vùng lãnh thổ chứ không phải quốc gia.

Tôi không tin rằng Israel có thể ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân. Người Mỹ có thể làm công việc này, những chỉ khi họ sẵn sàng tấn công trên mặt đất, một khả năng khó xảy ra khi mới gần đây họ lại rút quân ra khỏi Iraq. Điều này đồng nghĩa với việc thế giới trở nên thiếu ổn định hơn khi một tính toán sai lầm nào đó có thể dẫn đến viễn cảnh đáng sợ. Chúng ta rất có thể sẽ thấy việc tái sử dụng vũ khí hạt nhân sau Thế chiến thứ hai ngay tại khu vực này.

Có lẽ điều an ủi duy nhất đó là nếu như vũ khí hạt nhân được dùng đến, các đám mây phóng xạ của nó sẽ không kéo tới được khu vực Đông Nam Á này. chúng sẽ bao phủ phần lớn Trung Đông và có thể kéo tới châu Âu. Còn chúng ta nếu có cũng chỉ vài giọt mưa mây.

Hỏi: Tổng thống Obama đã nói rằng ông muốn sửa đổi luật quyền góp chính trị để hạn chế sức mạnh của các nhóm vận động hành lang nhiều tiền. Liệu điều đó có thể phẩn nào thay đổi tình hình?
Đáp: Điều đó sẽ không xảy ra. Cho dù ông ấy muốn làm điều đó thì cũng sẽ rất khó khăn để nó được Thượng viện và Hạ viện thông qua.
Hỏi: Sự đồng cảm của cháu Âu đối với người Palestine đang tăng lên, Điều đó có ý nghĩa gỉ không?
Đáp: Cảm thông thì có nghĩa lý gì? Cứ mỗi ngày đất đai của họ lại bị lấy đi. Cảm thông có giúp gì được cho họ không?
Hỏi: Về vấn đề Iran và bom hạt nhân, ngài sẽ không loại trừ khả năng là người Iran khi đã sở hữu bom sẽ dùng nó tấn công Israel?
Đáp: Tôi sẽ không loại trừ khả năng đó.
Hỏi: Nhưng cũng có một quan điểm khác cho rằng một nước Iran sở hữu bom hạt nhân tính ra lại an toàn hơn, dễ đối phó hơn một Iran không có bom, và nếu Iran vượt qua ngưỡng cửa hạt nhân này, biết đâu đó lại không phải điều xấu với khu vực này. Ngài nhìn nhận ra sao về điều này?
Đáp: Giả thiết này chỉ mang tính trấn an thôi. Nhưng tôi có thể nói rằng người Iran khổng có cùng suy nghĩ giống người Mỹ và người Nga. Ở đó, họ có thể tính toán như thế này, tôi đánh anh, anh đánh tôi, tôi lại đánh anh, rồi anh sẽ đánh lại tôi. Lần tấn công đầu tiên, rồi lần thứ hai, thứ ba... cho đến lúc cả hai chúng ta sẽ bị xóa sổ và kéo theo là cả phần lớn châu Âu. Chúng ta có hiểu được kiểu suy nghĩ lạnh lùng đó của các nước Israel, Iran và Ai Cập không? Đó mới là câu cần hỏi. Chúng ta đang nói về một hệ thống đẻ ra những kẻ đánh bom tự sát, những kẻ nói rằng: “Phải, tôi muốn chết và tôi muốn nhiều người khác cùng chết với tôi.” Tôi nghĩ bất kỳ điều gì cũng có thể xảy ra.
Hỏi: Đó là một trong những lập luận Israel sẽ dùng để biện minh nếu họ tấn công phủ đầu Iran - để ngăn chặn Iran không phát triển uranium được làm giàu và không để họ phát triển thêm tiềm lực hạt nhân, Họ sẽ cho rằng tốt hơn hết là đánh phủ đầu và trì hoãn quả bom.
Đáp: Người ta cũng có vận động hành lang để ủng hộ điều này nhưng như thể cũng không giải quyết được vấn đề. Liệu anh có thể xóa sổ toàn bộ Iran? Nếu không thể thì chẳng bao lâu sau họ sẽ lại phát triển một quả bom thứ hai và anh sẽ phải tấn công lần nữa. Nhưng lần này cơ sở của họ sẽ nằm rất sâu dưới lòng đất.
Hỏi: Vậy ngài không tin rằng Israel có thể ngăn chặn Iran phát triển bom hạt nhân?
Đáp: Không. Ai cũng hiểu điều này.
Hỏi: Vậy đâu là cách tốt nhất để giải quyết vấn để này?
Đáp: Đây là câu hỏi mà 2.000 người Do Thái ở Mỹ phải trả lời. Giải pháp tốt nhất là tìm ra được cách giải quyết lâu dài cho cuộc xung đột Israel Palestine. Nhưng ngày hôm nay nó vẫn là một vấn đề nan giải.

Ngoài những tác động đối với hòa bình thế giới, những gì xảy ra ở Trung Đông cũng tác động lên các doanh nghiệp trong đó có cả doanh nghiệp Singapore. Các công ty Singapore vốn bản tính thận trọng nhưng cũng đang bắt đầu xâm nhập vào Trung Đông. Đây là thị trường mới với các doanh nghiệp Singapore và họ cũng đã đến trễ. Họ cảm thấy thoải mái hơn khi làm ăn ở các khu vực khác ở châu Á - Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á, nơi họ có lợi thế cạnh tranh rõ ràng. Sự xa cách về mặt văn hóa, ngôn ngữ và địa lý với Trung Đông đã khiến các doanh nghiệp lần lữa. Nhưng họ cũng đang tìm cách tiếp cận nơi đây, một phần bằng cách làm ăn với những người An nói tiếng Ả Rập, nên nếu chúng tôi có thể làm sống lại tiếng Ả rập giữa những người Ả rập sống ở Singapore thì đây là một điều rất có lợi. Trung Đông là một thị trường đầy hứa hẹn, một thị trường mà Singapore không nên bỏ lỡ. Thà muộn còn hơn không.

Trong nhiều thị trưởng mới nổi, bạn phải đầu tư tiền và chăm sóc các khoản đầu tư đó trong nhiều năm trước khi bắt đầu kiếm được lợi nhuận. So với các thị trường này thì Trung Đông trở nên hấp dẫn vì đây là thị trường giàu có và có tiềm năng rút ngắn thời gian thu lợi. Cái khó là tìm được những cơ hội phù hợp với chuyên môn và năng lực, cũng như có các mối quan hệ giúp mang lại các mối làm ăn. Các công ty Singapore đang ăn nên làm ra ở các quốc gia Trung Đông nhỏ như Qatar và Abu Dhabi, nơi sự phân biệt đẳng cấp rõ rệt hơn. Ả rập Saudi sẽ khiến các doanh nghiệp mới gặp khó khăn hơn bởi vì cấu trúc phức tạp gồm hàng trăm hoàng tử và công chúa. Dù vậy, khi người Ả rập Saudi muốn phát triển Thành phố Kinh tế Quốc vương Abdullah rộng 168 triệu mét vuông, họ cũng đã mồi chúng tôi làm đối tác trong giai đoạn lên kế' hoạch và để tham gia vào các dự án trong ngành tài chính. Trong nhiều năm họ đã lặng lẽ đến thăm Singapore và ấn tượng trước những gì chúng tôi đã xây dựng nơi đây - một thành phố sạch sẽ, an toàn và hiệu quả.

Nhưng Trung Đông cũng là một đối thủ cạnh tranh trên trường quốc tế. Đặc biệt Dubai đang chứng minh nó là đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ với Singapore trong các ngành công nghiệp như hàng không, du lịch, tài chính và tổ chức hội nghị. Dưới sự lãnh đạo của Sheikh Mohammed Rashid Atmaktoum, thành phố đã chuyển mình. Rõ ràng là Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất sẵn sàng chi tiêu rất nhiều tiền để phát triển thành phố thành một trung tâm cạnh tranh với những gì chúng tôi đang cố gắng làm ở Singapore.

Hãng hàng không của họ nổi tiếng là cố tình đưa ra giá vé rẻ hơn so với Singapore Airlines (SIA). Giữa cuộc khủng hoảng tài chính mà Emirates Airlines vẫn đặt hàng 32 máy bay Airbus A380 cho thấy hãng này giàu có đến cỡ nào. Khi hàng được giao, Emirates sẽ có hơn 90 chiếc A380 trong phi đội của minh trong khi SIA hiện tại chỉ có 19 chiếc A380 và đang đặt thêm 5 chiếc nữa.

Khi đấu thầu hợp đồng phát triển cảng London, Dubai đã chào giá thấp hơn Singapore. Chúng tôi đã tính toán và ngừng tăng rủi ro sau một mức giá nhất định. Còn họ thể hiện quyết tâm dám đón nhận rủi ro cao hơn để thắng thầu. Nhưng chúng tôi quyết định rằng thế giới đủ lớn cho cả hai và còn nhiều cơ hội khác cho chúng tôi khám phá.

Các thị trường như Trung Đông và Nga có tầm quan trọng chiến lược đối với Singapore. Với một quốc gia mở cửa rộng với thế giới, chúng tôi phải dàn vốn ra để đảm bảo luôn thu được lợi nhuận đều đặn. Bằng cách đầu tư vào cả các nền kinh tế giàu dầu mỏ lẫn ít dầu mỏ, chúng tôi bảo vệ mình chống tại sự trồi sụt tự nhiên của thị trường quốc tế.

Dịch giả: Lê Thùy Giang Nguồn text: SACHMOI.NET Thực hiện ebook: BT 2024 - Jan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.