RỜI XA KHỎI TRUNG ƯƠNG
Các diễn biến trong chính trường Indonesia từ cuối thời kỳ Suharto là một chuỗi sự kiện không có gì đặc biệt, không có các cuộc biểu tình đường phố ồn ào kêu gọi thay đổi toàn diện hay chính phủ bạo dạn lên kế hoạch chuyển biến nền kinh tế của quốc gia. Bạn không thể làm một bộ phim bom tấn Hollywood hoành tráng ở quốc gia này được. Tuy nhiên, tôi tin chắc rằng các sử gia nhiều năm nữa nhìn lại sẽ nhận ra được bản chất quan trọng của thời kỳ này. Sự phát triển mà tôi đang để cập đến là quá trình phân quyền đến từng địa phương hay còn gọi là phi tập trung hóa.
Năm 1999, người kế nhiệm của Suharto, Tổng thống B.J. Habibie, đã lặng lẽ ký vào văn bản luật cho phép chuyển giao quyền lực từ Jakarta đến khoảng 300 quận trên đất nước rộng lớn này. Các luật này có hiệu lực vào năm 2OOI và đã đạt được nhiều kết quả đáng kể. Khi khu vực tự chịu trách nhiệm về các vấn để riêng của mình và các quan chức địa phương cũng do người dân bầu nên thì đất nước như có được sức sống mới. Phát triển kinh tế trở nên đồng đều hơn. Quyền tự chủ của địa phương cũng làm giảm áp lực đòi ly khai trung ương và giúp đất nước được cố kết lại. Một đất nước Indonesia phi tập trung là một đất nước tốt đẹp hơn và có nhiều cơ hội để phát huy tiềm năng của mình.
Trước khi thực thi luật phi tập trung hóa, Indonesia là một trong những quốc gia có hệ thống chính trị mang tính tập quyển trung ương mạnh mẽ nhất thế giới. Tổng thống và nội các của ông chính là người đưa ra các quyết định quan trọng về kinh tế, còn các quan chức và người đại diện của chính quyền trung ương sẽ thực thi các quyết định đó trên khắp cả nước. Mọi thứ đều phải xếp hàng để đi qua Jakarta. Các nhà đầu tư nước ngoài, gồm cả các nhà đầu tư Singapore, đều hiểu luật chơi này Họ biết rằng dù là đầu tư vào những vùng xa xôi ở Indonesia thì họ vẫn phải trả một cái phí (vào cửa) ở Jakarta. Đương nhiên, các khoản thu thuế và lợi nhuận từ việc khai thác nguồn tài nguyên dồi dào của đất nước sẽ chảy trở lại thủ đô, rồi sau đó thủ đô mới quyết định xem sẽ phân bổ nguồn lợi nhuận này cho các nơi khác như thế nào.
Trong nhiều năm liền, hệ thống này đã hoạt động trôi chảy dưới sự lãnh đạo của Suharto. Xuất thân quân đội, Suharto kế thừa Sukarno lên làm tổng thống năm 1968 và giữ chức vụ này trong ba thập kỷ. Thành tựu của ông phải nói là phi thường. Suharto thừa kế một đất nước với nền kinh tế điêu đứng và lạm phát phi mã nhưng ông đã cải biến được tinh hình bằng cách tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho việc phát triển. Trong khi người tiền nhiệm của ông - tổng thống Sukarno - chỉ biết đập bàn ẩm ầm tại các hội nghị quốc tế để biến Indonesia - và mình - trở thành nhà lãnh đạo của các nước mới nổi thì Suharto hiểu rằng Indonesia sẽ không thể có tiếng nói trên trường quốc tế nếu không thành công trong việc giải quyết các vấn đề nội bộ của mình. Khi Malaysia ra đời, Sukarno đã đưa ra khẩu hiệu Ganyang Malaysia, có nghĩa là Nghiền nát hay Nuốt chửng Malaysia. Còn Suharto, với quyết tâm ổn định các quan hệ quốc tế của đất nước, đã bỏ khẩu hiệu này, chấp nhận Malaysia như một nước láng giềng và thừa nhận rằng hai vùng Sabah và Sarawak thuộc về Malaysia.
Indonesia đã phát triển thực sự trong 30 năm dưới thời Suharto. Ông biết bổ nhiệm các quan chức có trình độ và các nhà kinh tế thực thụ để điều hành đất nước. Người ta phải so sánh Myanmar và Indonesia thì mới có thể nắm bắt được tầm cỡ sự đóng góp của Suharto. Cả hai nước đều bắt đầu cùng vạch xuất phát trên đường đua phát triển. Cả hai đều được trời phú cho nguồn tài nguyên dồi dào và có các tướng tá quân sự nắm quyền. Nhưng Tướng Ne Win của Myanmar, hay Miến Điện vào thời điểm đó, đã đi theo con đường của chủ nghĩa xã hội. Nếu như không nhờ vào các chính sách cứng rắn của Suharto để thúc đẩy phát triển, Indonesia cũng sẽ giống như Myanmar. Suharto có thể dính vào tham nhũng và gia đình trị nhưng lịch sử cũng sẽ đánh giá ông về những thành tựu rõ ràng: ông giáo dục người dân, giúp tăng trưởng kinh tế, xây dựng đường giao thông và cơ sở hạ tầng.
Nhưng hệ thống tập quyền trung ương mà Suharto dựa vào không phải là hệ thống hiệu quả nhất để thống nhất một quốc gia đa dạng như vậy. Indonesia được tạo nên từ 17.500 hòn đảo trải dài trên 5.000 km và là nơi sinh sống của hơn 200 dân tộc khác nhau. Trong những năm 1960, Ngô Khánh Thụy nhận xét rằng sự tan rã của Indonesia là hầu như “không thể tránh khỏi”. Ông này nhận ra các thế lực hiện tại trên quần đảo này không có tính thống nhất, bất kể là do nguyên nhân văn hóa hay lịch sử.
Ngôn ngữ là một yếu tố giúp ngăn chặn sự tan rã và Sukarno, dù có phạm bao nhiêu sai lầm đi chăng nữa, vẫn là người có công trong chuyện này. Sukarno chọn Mã Lai là ngôn ngữ quốc gia chứ không phải tiếng Java. Giả sử nếu ông muốn chọn tiếng Java, ông không thiếu lý do làm vậy. Người Java là nhóm dân cư chiếm ưu thế ở Indonesia. Ngôn ngữ của họ mang theo cả một nền văn học lâu đời. Tự bản thân Sukarno là người Java; và Jakarta, thủ đô cũng như trung tâm kinh tế và văn hóa của đất nước, nằm trên đảo Java. Nhưng Sukarno hiểu rằng tiếng Java sẽ không giúp thống nhất đất nước bởi vì nó là thứ tiếng ngoại lai ở nhiều vùng Indonesia. Các đảo khác sẽ thấy ngôn ngữ đó là gánh nặng và điều này có thể gây chia cắt dân tộc. Tiếng Mã Lai mặt khác đã được sử dụng rộng rãi như một ngôn ngữ thứ hai vì nó là ngôn ngữ của các thương gia và thủy thủ, những người đi lại không chỉ khắp cả nước mà còn trên toàn khu vực Đông Nam Á. Ông đã chọn tiếng Mã Lai và quyết định rằng tất cả các trường học sẽ dạy thứ tiếng này là tiếng mẹ đẻ, còn tiếng địa phương hay phương ngữ là ngôn ngữ thứ hai. Kết quả là ngày nay, bất kỳ người nào phát biểu gì ở Jakarta thì mọi người trên cả nước cũng đều hiểu được. Đó là một quyết định sáng suốt và là món quà tốt đẹp nhất Sukarno trao tặng cho Indonesia.
Tuy nhiên, một ngôn ngữ chung vẫn là chưa đủ. Suharto còn cố kết được quốc gia bằng cả vũ lực quân đội, thứ vũ khí mà ông dùng để hạ gục quân nổi dậy ở Aceh chẳng hạn. Và sự cố kết này chỉ duy trì được chừng nào sức mạnh quân đội còn được sử dụng đến. Nhưng vai trò của quân đội đang thay đổi. Trong những ngày cuối cùng của nhiệm kỳ tổng thống, Suharto muốn tổng tư lệnh Wiranto dùng quân đội để đàn áp một cuộc nổi dậy của sinh viên và công nhân nhưng Wiranto từ chối vì ông hiểu các hành vi quân sự cũng có giới hạn của nó. Khi Habibie lên kế nhiệm chức tổng thống của Suharto cũng là lúc người ta lo ngại các phong trào ly khai sẽ lợi dụng tình hình chính trị thay đổi để đưa ra yêu sách.
Thế nên chính phủ Habibie quyết định phải đi theo con đường phi tập trung hóa. Tuy nhiên, thay vì bàn giao quyền lực cho khoảng 30 tỉnh, một việc dễ tạo ra nguy cơ các tỉnh này đòi độc lập về sau thì giới lãnh đạo Jakarta đã phòng ngừa bằng cách chia ra 300 đơn vị quản lý cấp quận và tỉnh. Sau đó, năm 2004, chính phủ thừa nhận rằng cách phân chia này cũng gặp nhiều khó khăn và họ thông qua một số luật giúp thiết lập lại mối quan hệ thứ bậc giữa các quận và tỉnh. Tuy nhiên, sau năm 2001, các địa phương đã lấy lại toàn quyền quyết định các vấn đề nội bộ chẳng hạn như y tế, giáo dục, dịch vụ công ích, nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, môi trường, lao động, v.v... Quyền cấp giấy phép đầu tư cũng được giao lại cho chính quyền địa phương, ngoại trừ trường hợp đầu tư dầu lửa, khí đốt và chất phóng xạ. Việc Habibie không xuất thân từ Java mà là vùng Nam Sulawesi ắt hẳn đã góp phần tạo ra sự khác biệt. Nếu một người Java lên kế nhiệm Suharto thì guồng máy và hệ thống cũ vẫn sẽ vận hành y như cũ ít nhất là một thời gian nữa. Việc Habibie đã từng học hành và làm việc 20 năm ở Đức, một quốc gia liên bang chứ không phải một hệ thống đơn nhất, có lẽ cũng đóng vai trò nhất định. Dù sao đi nữa thì Abdurrahman Wahid, người kế nhiệm chức tổng thống của Habibie cuối năm 1999 cũng đã tôn trọng các văn bản luật được Habibie thông qua và tạo điều kiện thực thi toàn diện các văn bản đó. Báo cáo của Ngân hàng thế giới về quá trình phi tập trung hóa của Indonesia đã cho thấy, sau năm 2001, hai phần ba số công chức trước đây từng làm việc cho chính phủ trung ương giờ chuyển qua phục vụ cho chính quyền địa phương, và có hơn 16.000 cơ sở dịch vụ gồm cả trường học và bệnh viện cũng đã được chuyển giao tương tự.
Sự chuyển giao này khá là liều lĩnh nhưng hóa ra lại thành công. Ngày nay, mỗi khu vực tự quản lý nguồn tài nguyên và trực tiếp làm ăn với các công ty nước ngoài. Lợi ích trải đều cho cả nước và bộ mặt của toàn bộ quần đảo đã tươi sáng hơn. Một số thủ tục được giải quyết nhanh hơn vì doanh nghiệp không còn phải lo đối phó với nhiều cửa hành chính. Các chính quyền địa phương cũng quen thuộc hơn với tình hình địa phương mình, điều này giúp họ phản ứng nhanh nếu tình hình có thay đổi. Các cuộc khảo sát tiến hành sau thời kỳ phi tập trung hóa cũng cho thấy nhiều công dân Indonesia bình thường tin rằng các dịch vụ công cộng đã được cải thiện đáng kể từ năm 2001. Rõ ràng, kết quả này đạt được một phần chính là do các quan chức không phải báo cáo lên thủ đô Jakarta nữa mà là xuống phía dưới, với những người dân đã bầu họ và với các cơ quan lập pháp địa phương.
Quần đảo Riau là ví dụ về một khu vực đã hoạt động có hiệu quả kể từ sau những thay đổi. Trước đây, quần đảo này chịu sự kiểm soát của Jakarta nhưng bây giờ họ làm việc trực tiếp với các nhà đầu tư từ Singapore và Malaysia. Đây là một điều hết sức hợp lý vì thành phố lớn nhất trong vùng này, Batam, ở gắn với Singapore hơn Jakarta. Đầu tư nước ngoài đã tăng đáng kể, cơ hội việc làm cho người dân địa phương theo đó cũng tăng lên.
Nhưng quan trọng nhất là quá trình phi tập trung hóa đã giữ cho đất nước Indonesia đoàn kết. Không khu vực nào có thể nói rằng nó bị nhà nước áp bức hay đối xử bất công khi mà số phận của mỗi khu vực giờ nằm trong tay chính người dân nơi đó. Lợi nhuận từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc quyền quản lý của chính quyền địa phương. Dưới thời Suharto, các giải pháp quân sự để ngăn chặn ly khai đã khiến tinh hình đất nước bị đè nén như trong nồi áp suất. Mối quan hệ giữa trung ương và các địa phương thường rất căng thẳng và người ta phải đảm bảo cái nắp nồi được đậy thật chặt nếu không cả cái nồi sẽ nổ tung. Giải pháp của Habibie về trao quyền tự chủ cho địa phương đã giúp cho hơi nóng trong nổi thoát bớt ra và làm cho tình hình dịu lại trong một thời gian dài.
Quá trình phi tập trung hóa là quá trình không thể đảo ngược. Một khi đã trao cho địa phương quyền sở hữu trực tiếp cộng đồng của mình, nhà nước không thể mong lấy lại quyền kiểm soát đó được nữa. Đương nhiên quốc gia này sẽ điều chỉnh để đạt được sự tự chủ cân bằng, có thể là giữa các tỉnh và các quận chẳng hạn, nhưng Indonesia sẽ không quay trở lại hệ thống tập quyển như dưới thời Suharto nữa.
Tuy có những phát triển tích cực, nhưng sẽ thật thiếu sót nếu tin rằng con đường phát triển của Indonesia không gặp phải khó khăn và bất trắc gì. Phi tập trung hóa là liều thuốc tốt cho đất nước nhưng nó không phải thuốc trị bách bệnh. Những thách thức truyền thống và hiện đại, gồm cả sự bế tắc chính trị tại trung ương, cơ sở hạ tầng yếu kém, tham nhũng tràn lan vẫn sẽ tiếp tục đe dọa Indonesia đi chệch hướng. Liệu Indonesia sẽ chấp nhận đối mặt với những thách thức này, khi nào và ra sao là những yếu tố quyết định số phận người dân nơi đây.
Singapore đã từng gặp vấn đề vì bế tắc chính trị khi chúng ta ký Hiệp ước dẫn độ và Hiệp định Hợp tác Quốc phòng với Indonesia. Tổng thống nước này rõ ràng đã nghĩ rằng các hiệp ước này có lợi cho quốc gia của ông ấy, nếu không ông ấy đã không ký nó. Tuy nhiên cơ quan lập pháp quốc gia Dewan Rakyat Perwakilan (DPR) đã chặn nó với lý do là nó xâm hại chủ quyền của Indonesia. Bất kỳ nhà phân tích chính trị nào cũng biết nguyên nhân thực sự mà DPR muốn ngừng thỏa thuận này lại: Một cuộc bầu sẽ cử diễn ra năm 2009 và các nhà lập pháp, nhất là những người không thuộc đảng của tổng thống, muốn tàng cơ hội cho các đảng của mình bằng cách hạ thấp vị thế của tổng thống. Có thể nào mà ngài tổng thống, người từng là một vị tướng, một bộ trưởng quốc phòng, bộ trưởng ngoại giao và tổng chưởng lý, lại không hiểu gì về chủ quyền của Indonesia? Quân đội của Singapore đã đến Indonesia huấn luyện hơn 20 năm dưới thời Suharto mà cũng đâu có ai nói năng gì. Mà đó là do wayang kulit - sự đấu đá chính trị tiếp tục lan ra khắp Indonesia và nó là kết quả của việc tổ chức các thiết chế tại trung ương.
Hiến pháp Indonesia được sửa đổi năm 2002 nhằm để cho tổng thống được người dân bầu trực tiếp. Trước đó, tổng thống được bầu gián tiếp bởi các nhà lập pháp. Do đó, ông tự động có được sự hỗ trợ của các cơ quan lập pháp và không phải lo lắng về việc các chính sách của mình bị chặn lại nữa. Nhưng hệ thống mới có thể dẫn đến một khả năng đó là tổng thống sẽ đến từ một đảng khác không phải đảng đa số trong cơ quan lập pháp, và điều này dễ gây ra bế tắc chính trị. Giá như những người sửa đổi hiến pháp của Indonesia chịu nghiên cứu hệ thống của Pháp, họ hẳn đã xem xét việc trao cho tổng thống quyền kêu gọi bầu cử lập pháp ngay sau khi được bầu lên hoặc ít nhất cũng là một thời gian không lâu sau đó, để tổng thống có thể thu hút cử tri và thể hiện quyền lực rõ ràng hơn.
Sự thay đổi hiển pháp năm 2002 này có khuynh hướng làm bế tắc thêm và cản trở việc ra quyết định tại trung ương. Hơn nữa, việc cải cách khó mà xảy ra bởi vì bất kỳ dự luật nào sẽ phải được DPR thông qua, mà DPR không có lý gì lại đi từ bỏ quyền lực của mình. DPR muốn bám vào khả năng ngăn chặn tổng thống hơn. Nhìn từ góc độ này, phi tập trung hóa là sự cứu rỗi cho quốc gia vì rất nhiều quyết định quan trọng đã được chuyển giao lại cho địa phương.
Thách thức lớn thứ hai của Indonesia là cơ sở hạ tầng. Khi nước này có 17.500 hòn đảo, khả năng kết nối các đảo này là vấn đề sống còn trong phát triển kinh tế, bởi vì các trung tâm dân cư chính cần phải được kết nối với nhau sao cho sự tăng trưởng trong khu vực này có thể giúp đỡ cho một khu vực khác. Nếu có thêm nhiều chuyến phà nhanh và tuyến bay nội địa thì điều đó sẽ giúp ích đáng kể. Xây dựng cầu nối giữa các đảo là việc vô cùng có lợi. Nhưng không có công trình nào trên đây được tập trung đầu tư xây dựng. Đã nhiều năm liền người ta tính đến chuyện xây cầu qua eo biển Sunda, cây cầu dài nhất nước và giúp kết nối hai hòn đảo quan trọng nhất của Indonesia là Sumatra và Java. Nếu được xây dựng, cây cầu này sẽ biến hai hòn đảo thành một hòn đảo lớn, tạo ra nhiều tiềm năng kinh tế. Không may là lời nói vẫn chưa biển thành hành động.
Các nhà phân tích của Indonesia đã nhận định rằng tiến độ cải thiện cơ sở hạ tầng đã chậm lại hơn so với thời Suharto. Chính phủ hiện tại đã tổ chức một loạt các hội nghị cấp cao bàn về cơ sở hạ tầng và đã để ra các kế hoạch lớn để nâng cấp đường giao thông và các hình thức liên kết khác nhưng họ vẫn còn thiếu các dự án thực tế. Sự thất vọng càng lớn hơn khi nhiều người trong tầng lớp thế lực ở Indonesia lại thích đi nghỉ cuối tuần ở Singapore và cứ sau mỗi đợt nghỉ dưỡng như vậy, họ lại có một ý thức mạnh mẽ rằng hết sức cần đầu tư và phát triển những con đường và sân bay của nước mình.
Và cuối cùng, quốc gia này cần phải xử lý được vấn nạn tham nhũng tràn lan. Quá trình phi tập trung hóa chưa làm được gì để giảm tình trạng này do các lãnh đạo địa phương cũng đang đòi được chia phần trong chiếc bánh lợi ích. Tham nhũng tạo ra sự rò rỉ của các nguồn vốn và lợi ích dọc từ địa phương đến trung ương. Một đô la được chi ra nhưng lại bị cắt xén IO xu ở chỗ này, 20 xu ở chỗ kia và cho đến lúc nó tới được với người công nhân bình thường hay tới được với các nhà đầu tư nước ngoài đang cố gắng kiếm lời thì đã chẳng còn lại bao nhiêu. Tổng thống Yudhoyono hiểu rằng tiêu diệt nạn tham nhũng khó khăn đến thế nào một khi nó đã ăn sâu vào hệ thống. Nó sẽ cần đến một hành động quyết đoán, lâu dài và phải được bắt đầu từ trung ương. Nếu có thể giảm đáng kể tham nhũng thì mới có thể tạo ra một tương lai mới, một đất nước Indonesia mới.
Indonesia vẫn phát triển không đến nỗi nào trong thập kỷ vừa qua khi liên tục tăng trưởng từ 4 đến 6%. Đất nước này gần như không bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và đang thu hút những khoản đầu tư lớn từ Trung Quốc và Nhật Bản nhờ vào nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Nhưng trong vòng 20 đến 30 năm tới, tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu nhìn thấy Indonesia chuyển minh, Malaysia mới là nước có thể có những bước tiến lớn hơn, vì Malaysia nhỏ gọn hơn về mặt địa lý. Ngoài ra, đất nước này còn có hệ thống giao thông tốt hơn và một lực lượng lao động có tinh thần làm việc.
Dù Indonesia vẫn phát triển tích cực, nhưng thực chất nó vẫn là một nền kinh tế dựa vào tài nguyên với lối suy nghĩ kiếm sống dựa trên những gì thiên nhiên ban tặng chứ không phải là tự tạo ra với hai bàn tay trắng. Người dân tin rằng nguồn tài nguyên sẽ còn mãi. Và cũng có thể họ đúng. Họ còn những dải đất dài chưa được khai phá. Họ có dầu lửa và khí đốt, khi hai nguồn này cạn kiệt thì họ lại có gỗ và dầu cọ, mà những thứ này không cạn kiệt vì chủng là những sản phẩm nông nghiệp có thể được trông lại nhiều lần. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên họ sở hữu có xu hướng tạo ra một nền văn hóa tận hưởng, một nền văn hóa mà mọi người nói rằng: “Đây là đất của tôi. Anh muốn những gì bên dưới? Thế thì trả tiền cho tôi.” Theo thời gian, điều này tạo ra tính cách không muốn làm ăn kinh doanh gì cả, và không dễ gi vượt qua được lối suy nghĩ này.
Hỏi: Indonesia tiếp tục có tham vọng trở thành nước lớn, và vì sự phát triển tốt trong vài năm qua nên đất nước này đã cải thiện được hình ảnh của mình trong mắt thế giới. Ngài nghĩ gì về tham vọng; này và những tác động của nó đối với ASEAN cũng như đối với một người hàng xóm nhỏ như Singapore?
Đáp: Nói chung, Indonesia hy vọng Singapore sẽ ủng hộ mình trên chính trường quốc tế. Tôi cho rằng nếu điều đó không đi ngược lại lợi ích của chúng ta, chúng ta sẽ ủng hộ họ. Trong ASEAN, họ mặc nhiên là người lãnh đạo vì họ có đến 240 triệu dân. Tất nhiên, nếu họ là 240 triệu người trên một hòn đảo lớn thì mọi chuyện lại khác. Nhưng dù gì đi nữa, họ vẫn là quốc gia rộng lớn nhất.
Hỏi: Người ta vẫn nói rằng Indonesia của ngày xưa đã giúp ASEAN phát triển bằng cách cho phép các quốc gia khác như Singapore và Malaysia cũng được hưởng lợi ích chung. Họ không hống hách giống Ấn Độ trong tổ chức SAARC (Hiệp hội. hợp tác khu vực Nam Á). Liệu một nước Indonesia tự tin hơn sẽ luôn muốn chiếm Vị trí trung tâm mọi lúc mọi nơi Ở ASEAN?
Đáp: Chúng ta sẽ phải chờ xem. Nhưng kể cả khi họ có làm điều đó, tôi vẫn không thấy làm thế nào họ có thể làm suy giảm vị thế mà chúng ta đã xây dựng cho mình, đó là một trung tâm thông tin liên lạc, một trung tâm logistics, thương mại và đầu tư.
Hỏi: Khi ngài còn làm thủ tướng, một đặc trưng trong mối. quan hệ Singapore - Indonesia đã là quan hệ gần gũi giữa ngài và Suharto. hai nước đã có sự hiểu biết lẫn nhau. Bây giờ khi không còn mốt quan hệ giữa ngài và Suharto nữa, liệu mối quan hệ giữa hai quốc gia có gặp trở ngại nào?
Đáp: Tuy không còn có sự kết nối thân thuộc như trước nhưng thủ tướng Lý Hiển Long vẫn có những cuộc hội đàm với tổng thống Yudhoyono. Việc giao thương vẫn diễn ra thông qua những người Indonesia gốc Hoa. Điều này cũng cho thấy rằng Singapore cần phát triển một nhóm người không phải gốc Mã Lai nhưng có thể nói tiếng Mã Lai lưu loát để gìn giữ các mối quan hệ này. Điều này rất quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ với cả Malaysia và Indonesia.
Hỏi: Với sự thống trị của Trung Quốc trong khu vực này của thế giới, ngài có cho rằng mối quan hệ Indonesia - Trung Quốc sẽ phát triển?
Đáp: Người Trung Quốc sẽ đối xử với họ rất tôn trọng và lịch sự. Họ muốn các tài nguyên thiên nhiên mà Indonesia có và tôi thấy mối quan hệ đó sẽ nảy nở. Indonesia đã dỡ bỏ lệnh cấm giảng dạy tiếng Trung và cấm tổ chức lễ hội Trung Quốc dưới thời Suharto. Vì vậy, sự tương tác với người Trung Quốc sẽ phát triển. Họ đang khuyến khích người Indonesia gốc Hoa đi đến Trung Quốc để đặt mối làm ăn.
Hỏi: Một vấn đề mà các nhà đầu tư nước ngoài nhắc đến, bao gồm cả những người đến từ Singapore, là chủ nghĩa dân tộc trong kinh tê đang gia tăng ở Indonesia. Các công ty chịu áp lực phải tăng cổ phần mà địa phương sở hữu trong công ty đó. Ngài nghĩ rằng tình trạng này sẽ diễn ra nhiều hơn hay ít đi?
Đáp: Theo tôi là nhiều hơn. Địa phương muốn hưởng nhiều hơn trong phần lợi nhuận mà công ty kiếm được.
Hỏi: Ngài có thấy Indonesia vẫn là nơi ươm mầm cho chủ nghĩa khủng bố? Và liệu sự gia tăng của lực lượng dân quân Hồi giáo có đe dọa đến sự ổn định của Indonesia?
Đáp: Nếu đọc các báo cáo thì anh sẽ thấy lực lượng Jemaah Islamiyad đã chiêu mộ được một số tân binh ở Indonesia và đã tổ chức các vụ đánh bom Bali và đánh bom khách sạn Marriott. Nhưng trong mắt tôi, Indonesia khác với Malaysia. Malaysia là một xã hội Hồi giáo cởi mở hơn. Có thể những thay đổi nhỏ đang diễn ra ở Indonesia là do ảnh hưởng của Ả Rập Saudi. Hình thức đạo Hồi của họ hiện đang được xem như tiêu chuẩn vàng cho Hồi giáo bởi vì họ đã tổ chức được những cuộc họp đa quốc gia và chi trả các chi phí để những người Hồi giáo từ nhiều khu vực khác trên thế giới đến tham dự. Điều này đã dẫn đến sự gia tăng của các nhóm áp lực Hồi giáo ở Indonesia. Nhưng những điều này không thể thay đổi một ngày một đêm được, nhất là khi chúng đã ăn sâu vào văn hóa người dân.