Ông Già Nhìn Ra Thế Giới

Lượt đọc: 41 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NÁU MÌNH CHỜ THỜI

❊ ❊ ❊

Tôi gặp Tập Cận Bình lần đầu tiên ở Đại lễ đường Nhân dân trong một chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 11 năm 2007. Lúc đầu tôi không yêu cầu gặp ông ấy mà là gặp một người khác nhưng họ lại để ông gặp tôi. Điều đó cho thấy họ đặt ông ở vị trí cao trong danh sách ưu tiên. Đó là lần đầu tiên ông ấy gặp một lãnh đạo nước ngoài sau khi được đề bạt vào Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản. Động thái này rõ ràng là để ám chỉ với thế giới rằng ông đã được cơ cấu để tiếp quản vị trí của Hồ Cẩm Đào.

Ấn tượng của tôi về ông là một người có khí lực - cái mà người Trung Quốc hay gọi là da qi-đại khí, chú không phải xiao qi-tiểu khí. Ông không phải người thiển cận. Ông suy nghĩ một vấn để rất kỹ càng và không muốn khoe khoang hiểu biết của mình. Không được thân thiện như Giang Trạch Dân và cũng không kiểu cách như Hổ Cẩm Đào nhưng ông có vẻ trang trọng. Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi khi gặp ông Tập. Khi còn trẻ ông bị đưa về nông thôn rồi tới Thiểm Tây năm 1969 nhưng vẫn dần dần tìm cách để từng bước quay về. Với thuở hàn vi trải qua đầy những thách thức và khổ sở như vậy mà ông không một lời cằn nhằn hay than vãn, tôi phải xếp ông vào cùng kiểu người với Nelson Mandela.

Ông Tập là cốt lõi của thế hệ lãnh đạo thứ 5 của Trung Quốc kể từ 1949. Ông đứng đầu một chính phủ đòi hỏi cao về năng lực ở mọi cấp bậc - một phẩm chất mọi quan chức cần có từ thời phong kiến. Hiện nay ngày càng có nhiều quan chức Trung Quốc tiếp xúc với giáo dục phương Tây, họ quen thuộc với thế giới và nói tiếng Anh trôi chảy. Họ không còn là những người cộng sản giáo điều mà là những người theo chủ nghĩa thực dụng quyết tâm xây dựng một quốc gia giàu có, phát triển và kỹ thuật tiên tiến. Cả bốn lãnh đạo tối cao trước đó đều để lại những dấu ấn riêng. Với Mao Trạch Đông là những cuộc cách mạng không ngừng. Với Đặng Tiểu Bình là cải cách và mở cửa. Với Giang Trạch Dân là củng cố và phát triển. Và với Hồ Cẩm Đào là một xã hội hài hòa - cụ thể hơn là rút ngắn khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Còn Tập Cận Bình sẽ để lại di sản gì?

Kể từ chuyển thăm đầu tiên năm 1976, tôi quyết định sẽ thường xuyên đến thăm Trung Quốc, nếu có thể thì mỗi năm một lần. Tôi đã gặp tất cả các vị lãnh đạo tối cao từ Mao tới Hồ, và giờ là Tập. Mao là một người đàn ông vĩ đại đã vực Trung Quốc dậy từ nghèo hèn và chia rẽ. Sau 200 năm hỗn loạn thì đến 1949, Mao đứng ở Thiên An Môn mà tuyên bố: “Người Trung Quốc đã vùng lên". Là một nhà cách mạng, Mao chẳng kém cạnh ai. Ông là bậc thầy về chiến tranh du kích với các chiến thuật quân sự khéo léo đã đánh bại Quốc dân Đảng và thống nhất đất nước. Nhưng liệu Mao có phải người hiện đại hóa Trung Quốc? Lịch sử bi thương còn lưu lại việc người đàn ông giải phóng Trung Quốc này gần như đã phá hủy đất nước trong Cách mạng Văn hóa. Nếu ông vẫn còn sống, hay nếu Hoa Quốc Phong - người kế nhiệm và kế thừa tư tưởng của ông - còn tiếp tục nắm quyền, Trung Quốc hẳn đã đi theo con đường của Liên Xô. Tôi chỉ có cơ hội gặp Mao vào giai đoạn cuối sự nghiệp của ông, khi phong độ của ông đã xuống, khi phải có một người phụ nữ dịch lại những gì ông nói bằng giọng Hồ Nam cho người phiên dịch để người này dịch lại sang tiếng Anh. Chỉ còn lại cái bóng của người đàn ông huyền thoại một thời.

May mắn cho Trung Quốc là Đặng Tiểu Bình đã đảo ngược lộ trình đất nước. Năm 1978, sau khi tới Bangkok và Kuala Lumpur, Đặng tới Singapore. Ông muốn chúng tôi tập hợp lại và ngăn chặn Việt Nam tấn công Campuchia, và nếu họ thực sự tấn công Campuchia thì hãy chặn đứng họ. Tôi nghĩ chuyến đi đó đã mở mắt cho ông. Hẳn ông ấy tưởng là sẽ thấy ba thủ đô lạc hậu của ba nước nghèo. Thay vào đó, ông lại thấy ba thủ đô vượt trội hơn bất kì thành phố nào ở Trung Quốc. Ông ấy ở Singapore bốn ngày. Khi cửa lên máy bay của ông đóng lại, tôi nói với các đồng nghiệp: “Những báo cáo viên của ông ta sắp phải chịu trận rồi bởi vì ông ấy đã thấy một Singapore hoàn toàn trái ngược với báo cáo.” Những báo cáo đó hẳn là do những cảm tình viên cộng sản ở đây soạn ra và xuyên tạc.

Ông ấy đã chúc mừng tôi lúc ăn tối và khi tôi hỏi lý do, ông nói: “Các ông có một thành phố thật đẹp, một thành phố như vườn cây xanh”. Tôi cảm ơn nhưng nói thêm: “Bất kể chúng tôi làm được gì thì các ông đều có thể làm tốt hơn vì chúng tôi chỉ là hậu duệ của những nông dân nghèo ở miền Nam Trung Quốc, còn các ông có giới trí thức, có các nhà khoa học, các chuyên gia. Dù chúng tôi làm gì, các ông cũng sẽ làm tốt hơn.” Ông ấy không trả lời tôi mà chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt sắc rồi chuyển chủ đề. Đó là năm 1978.

Năm 1992, Đặng xuống Quảng Đông trong chuyến thăm miền Nam nổi tiếng để kêu gọi các lãnh đạo địa phương tiến hành mở cửa. Ông nói: “Hãy học tập thế giới, và cụ thể là học tập Singapore rồi làm tốt hơn họ.” Tôi tự nhủ: “À, ông ấy không quên những gì mình nói.” Quả thực họ có thể làm tốt hơn chúng tôi.

Ở Singapore, Đặng đã chứng kiến một hòn đảo nhỏ chẳng có tài nguyên thiên nhiên gì lại có thể tạo ra đời sống tốt đẹp cho người dân bằng cách thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao kỹ năng quản lý và phát triển công nghệ. Ông trở về Trung Quốc với niềm tin cần phải mở cửa nền kinh tế với thế giới. Đó là một thời khắc trọng đại trong lịch sử Trung Quốc, một bước ngoặt chủ chốt khiển đất nước này không còn phải ngoái đầu nhìn lại.

Tôi đã chứng kiến sự chuyển mình đầy kịch tính của đất nước này. Công cuộc xây dựng đã biến những thành phố cũ nát với cơ sở vật chất nghèo nàn thành những thành phố có tàu tốc hành, đường cao tốc và sân bay. Bạn có thể ghé thăm Đại Liên, Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Đông, hay Thâm Quyến - giờ chúng có thể sánh ngang với Hồng Kông hay bất kì thành phố nào khác trên thế giới. Người Trung Quốc là những thợ xây và thợ mộc vĩ đại. Tôi không hiểu vì sao họ lại kìm hãm khả năng lâu như thế và điều đó đã làm phương hại đến lợi ích quốc gia biết nhường nào.

Đặng là người có công nhất trong việc đưa Trung Quốc vào một quỹ đạo khác. Khi ông muốn mở cửa, nhiều lãnh đạo thế hệ cũ đã phản đối nhưng ông vẫn cương quyết gạt họ sang một bên và cứ thế tiến hành. Nếu không có ông thì quá trình chuyển đổi hẳn đã không diễn ra nhanh như vậy, bởi vì ông là người duy nhất từng trải qua Vạn lý trường chinh mà có khả năng lấn át được những kẻ nghi ngờ. Một người đàn ông vóc dáng nhỏ bé nhưng lại là một lãnh tụ vĩ đại - Đặng chắc chắn là lãnh đạo quốc tế ấn tượng nhất mà tôi từng gặp.

Sau đó Giang Trạch Dân được Đặng Tiểu Bình chọn làm người kế nhiệm. Là bí thư Thượng Hải khi sự kiện Thiên An Môn diễn ra năm 1989, Giang đã trấn áp thành công những cuộc nổi loạn tương tự ở Thượng Hải. Ông kiên định đi theo mục tiêu của mình là hoàn thành công cuộc hiện đại hóa do Đặng khởi xướng. Tôi nhớ ông là một người nồng hậu và thân thiện. Ông có thể bất ngờ hát vang bài hát tiếng Ý nổi tiếng, o Sole Mio, hoặc có khi ông lại chộp vai tôi mà hỏi: “Theo ông, người Mỹ nghĩ gì về chúng tôi?” Tất nhiên, đó là trước khi họ có những mối quan hệ lâu dài với người Mỹ. Giờ thì họ chẳng còn cần hỏi tôi câu đó nữa rồi,

Về Hồ Cẩm Đào, tôi xem ông ấy là người củng cố Trung Quốc. Thời ông cầm quyền cũng tạo ra được vài thay đổi căn bản. Nhưng chỉ riêng việc củng cố đất nước thôi cũng đã khiến ông bù đầu khi Trung Quốc phải đối mặt với hàng loạt thách thức như vấn đề di dân giữa thành thị và nông thôn và khoảng cách thu nhập giàu nghèo gia tăng. Ấn tượng của tôi về ông ấy là một người thâm trầm sâu sắc, không khoa trương, có trí nhớ tuyệt vời và xem xét cẩn thận mọi vấn đề. Ngay sau khi ông nắm quyền, Trung Quốc mới đầu đã mắc sai lầm khi giải quyết khủng hoảng dịch SARS, nhưng khi nhận ra mối đe dọa nghiêm trọng của dịch bệnh đối với nền kinh tế, nước này đã nỗ lực hết sức để giải quyết vấn để, kể cả việc chưa từng có tiền lệ là sa thải Bộ trưởng Y tế và Thị trưởng Bắc Kinh. Đó là sự phô diễn phong cách lãnh đạo cứng rắn của Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo. Suy cho cùng thì một trong những lý do Hồ được đưa vào trung ương chính là vi ông đã dẹp yên cuộc nổi loạn ở Tây Tạng. Đằng sau vẻ ngoài ôn hòa thân thiện là một người đàn ông thép.

Còn về Tập Cận Bình, thật khó đoán được ông ấy sẽ theo đuổi chính sách gì và để lại di sản gì sau một thập kỉ cầm quyển. Các lãnh đạo Trung Quốc thường không tiết lộ kế hoạch tương lai trước khi nhậm chức bởi họ không muốn bị công kích. Trung Quốc hiện đang gặp nhiều thách thức trong nước và Tập sẽ muốn dồn sức cho những vấn đề đối nội này. Nhưng ông ấy cũng sẽ phải hao tâm tổn trí lo đối ngoại nữa khi những sự kiện bên ngoài đột nhiên phát sinh. Kế hoạch kỹ lưỡng nhất cũng có thể thất bại nếu một diễn biến nghiêm trọng phát sinh ngoài dự kiến. Nhưng tôi tin ông ấy sẽ bình tĩnh và xử lý tình hình thấu đáo. Tiếng nói của ông có sức nặng và tôi tin ông sẽ có được sự ủng hộ của đảng. Xuất thân quân đội cũng giúp ông có ảnh hưởng với quân đội.

Chính sách đối ngoại của Tập Cận Bình sẽ được theo dõi sát sao. Sự trỗi dậy của Trung Quốc khiến nhiều nước từ phương Tây tới châu Á sợ hãi. Một Trung Quốc mạnh mẽ mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng thế giới chẳng hạn như khoản đầu tư của các công ty Trung Quốc ở nước ngoài sẽ tăng lên. Nhưng các nước láng giềng của Trung Quốc đang bắt đầu cảm nhận được lập trường chính sách đối ngoại cứng rắn hơn từ phía người khổng lồ ngủ say vừa mới tỉnh giấc này. Nước Mỹ cũng đang đối mặt với những thách thức lớn về vị thế của mình, nếu không ở phạm vi toàn cầu thì chắc chắn cũng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Điều quan trọng là liệu người ta có tin vào việc Trung Quốc liên tục đảm bảo rằng nước này chẳng tìm kiểm gì hơn ngoài một sự trỗi dậy hòa bình và cam kết không bao giờ trở thành một nước bá chủ không? Có hai cách nhìn nhận vấn đề này . Một là Trung Quốc sẽ lặng lẽ tăng cường sức mạnh và tầm ảnh hưởng của mình chứ không gây hấn. Một quan điểm khác là họ sẽ phô trương sức mạnh và hàm dọa các nước khác. Tôi nghĩ họ sẽ chọn cách thứ nhất nhưng vẫn đồng thời phô trương sức mạnh. Đặng Tiểu Bình tin rằng Trung Quốc nên tránh gây chú ý trong khi đang tăng cường tiềm lực của nó. Ông tin vào việc che giấu năng lực hay như người Trung Quốc gọi là thao quang dưỡng hối (náu mình chờ thời). Người Trung Quốc ý thức được họ cần 30 tới 40 năm hòa bình nữa mới có thể bắt kịp thế giới. Họ đã đi đến kết luận rằng nếu vẫn giữ nguyên lộ trình, tránh động chạm đến cường quốc hiện tại và kết bạn với mọi nước, họ sẽ chỉ càng mạnh hơn. Họ càng rảnh tay giải quyết các vấn đề nội bộ và tiếp tục phát triển kinh tế.

Trung Quốc cũng cảnh giác tránh vết xe đổ của Nhật Bản và Đức. Sự trỗi dậy của Đức và Nhật đã dẫn đến một cuộc cạnh tranh quyền lực, cạnh tranh ảnh hưởng và tài nguyên ở châu Âu và châu Á, và kết quả là hai cuộc chiến tranh khủng khiếp trong thế kỷ 20 đã kết liễu hoàn toàn sự trỗi dậy của hai nước này. Nếu tham gia vào một cuộc chiến, Trung Quốc sẽ phải mạo hiểm đối mặt với những bất ổn, xung đột và hỗn loạn trong nước, và có thể lại thụt lùi một bước lớn. Do vậy, người Trung Quốc sẽ tỉnh táo nhận định rằng: “Chúng ta đã phải chờ đợi rất lâu mới có cơ hội bắt kịp sự phát triển của thế giới. Sao phải hấp tấp để rồi gây hại cho sự trỗi dậy tử từ của mình?”

Tất nhiên điều đó không có nghĩa Trung Quốc sẽ chịu nhường nhịn mỗi khi có tranh chấp với nước khác. Khi cán cân quyền lực thay đổi, nước này sẽ chẳng ngại ngần cho thiên hạ biết những “sở thích sở ghét” của minh. Ngoại trưởng Dương Khiết Trì từng nói, ở đâu mà lợi ích cốt lõi của Trung Quốc bị đe dọa thì người Trung Quốc sẽ cứng rắn khẳng định mình. Các láng giềng gần gũi nhất của Trung Quốc ở châu Á đã nếm trải điều này. Năm 2008, Việt Nam cho công ty dầu khí ExxonMobil của Mỹ quyền khoan dầu trong vùng nước tranh chấp ở biển Đông (mà Trung Quốc gọi là biển Hoa Nam). Hải quân Trung Quốc yêu cầu ExxonMobil phải dời đi. Chính phủ Trung Quốc cũng nói rõ rằng nếu ExxonMobil không nghe theo thì việc làm ăn của công ty này ở Trung Quốc sẽ bị đe dọa. Và thế là ExxonMobil phải dời đi bởi vì hải quân Mỹ không túc trực ở đó để đảm bảo quyền lợi cho họ.

Gần đây hơn, vào năm 2010, Nhật Bản bắt giữ một thuyền trưởng tàu cá của Trung Quốc sau khi tàu của ông ta va chạm với tàu tuần tra Nhật ở ngoài khơi quần đảo tranh chấp Senkaku mà người Trung Quốc gọi là Điếu Ngư. Người Nhật lúc đầu muốn xét xử người thuyền trưởng này theo luật pháp Nhật nhưng cuối cùng cũng phải nhượng bộ trước áp lực dữ dội từ Trung Quốc và quyết định thả ông ta. Sự việc này đã cho thấy cán cân quyền lực đã thay đổi ra sao. Người Nhật hiện giờ phải đối phó với một đất nước Trung Quốc lớn hơn họ gấp mười lần, chứ không phải một Trung Quốc mà họ có thể xâm chiếm dễ dàng như trong Thế chiến thứ hai. Sự nhượng bộ này của Nhật Bản đơn giản chỉ là sự chấp nhận thực tế bởi họ ý thức được rằng phải đối phó với một Trung Quốc có tổ chức, có kỉ luật, không đơn thuần như với các lãnh chúa mà với một chính quyền trung ương có thể hành động quyết đoán.

Càng về sau bạn càng thấy rất rõ rằng người Trung Quốc không phải những người bị động. Họ chủ động theo đuổi các yêu sách và điều này sẽ tiếp diễn. Người Trung Quốc biết rằng họ là nước lớn nhất khu vực và khi quyền lực mạnh lên, họ muốn các nước láng giềng phải tôn trọng quyền lợi của họ hơn. Do đó, vì lợi ích của các nước châu Á khác, bao gồm cả những nước trong khu vực ASEAN, người Mỹ cần duy trì một sự hiện diện đáng kể trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương-để đối trọng với Trung Quốc. Nếu không có Mỹ làm đối trọng, các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á sẽ không dám có hành động gì. Khi có đến hai cái cây lớn thì anh phải chọn đứng dưới bóng một cây. Hiện diện tại Thái Bình Dương rất quan trọng với Mỹ, bởi vì nếu người Mỹ đánh mất vị thế ở đây, họ cũng sẽ mất nó trên toàn cầu.

Cuộc cạnh tranh giành vị thế trong khu vực này giữa Mỹ và Trung Quốc đã diễn ra và nó sẽ tiếp tục cho đến hết thế kỷ 21. Đến lúc đó, mối quan hệ Mỹ - Trung sẽ là mối quan hệ song phương quan trọng nhất trên thế giới, kiểu như mối quan hệ Mỹ - Xô thời Chiến tranh lạnh. Một vài năm sau sự kiện 11/9, người Mỹ bị phân tán tư tưởng vào những cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan, còn người Trung Quốc lại lặng lẽ tăng cường lợi ích của mình trong khu vực, thắt chặt mối quan hệ với các nước và ký kết một thỏa thuận thương mại tự do với ASEAN. Cách đây một thập kỷ, khi cựu thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đề xuất thành lập khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN, chính phủ các nước ASEAN đã rất kinh ngạc bởi vì chúng tôi cứ nghĩ Trung Quốc sẽ rất do dự mở cửa nền kinh tế của mình thông qua các thỏa thuận thương mại tự do song phương và khu vực. Đây là một bước đi chiến lược của Trung Quốc để phát triển các mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với ASEAN, để từ đó các nước ASEAN sẽ coi sự phát triển của Trung Quốc là một cơ hội chứ không phải mối đe dọa với họ. Lúc đó tôi có nói với đại diện thương mại Mỹ rằng nếu trong mười, hai mươi năm tới đây mà không có được một thỏa thuận thương mại tự do giữa Mỹ và các nước ASEAN thì nền kinh tế ASEAN sẽ ngày càng gắn chặt với Trung Quốc và Mỹ sẽ chỉ là một thị trường thứ yếu đối với chúng tôi.

Về mặt quân sự, người Mỹ vẫn đang bỏ xa Trung Quốc. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc, dù đạt mức tăng trưởng hai con số mỗi năm, vẫn chỉ bằng một phần sáu ngân sách quốc phòng Mỹ - và điều này được phản ánh trong công nghệ quân sự vượt trội của người Mỹ. Tuy nhiên tham vọng của người Trung Quốc là trở thành một cường quốc quân sự mạnh như Mỹ cho dù có mất nhiều thập kỉ.

Hiện tại người Trung Quốc đang làm tất cả những gì có thể để hiện thực hóa tham vọng của mình. Họ đang cố gắng bắt kịp Mỹ về công nghệ cao như đưa người vào vũ trụ và phát triển một hệ thống định vị toàn cầu GPS riêng mà Mỹ không thể phá hủy hay từ chối công nhận, bởi họ thừa biết rằng sẽ bị qua mặt nếu họ phụ thuộc vào hệ thống GPS của Mỹ. Và khi đã chứng minh rằng có thể tự bắn hạ vệ tinh riêng và đánh chặn chính các tên lửa đạn đạo của mình, Trung Quốc muốn gửi tới Mỹ lời cảnh báo: “Đừng dọa tôi kẻo tôi sẽ bắn hạ tên lửa của anh trên Thái Bình Dương bây giờ.” Chúng ta đang nói về chuyện một thứ nhỏ xíu như cây kim đuổi theo một cây kim khác trên bầu trời và đó đâu phải chuyện dễ dàng. Đó là minh chứng rõ ràng nhất cho khả năng của hai nước như thế nào. Sớm hay muộn, người Trung Quốc còn muốn kiểm soát cả vùng duyên hải phía đông của họ thoát khỏi sự do thám của Mỹ. Vào thời điểm hiện tại, người Mỹ có thể lảng vảng 12 hải lý cách bờ biển Trung Quốc để ngó nghiêng. Giờ hãy hình dung điều ngược lại thử xem. Nếu hải quân và không quân Trung Quốc - các tàu sân bay của nước này - cũng đến gần bờ biển nước Mỹ một khoảng tương tự, người Mỹ sẽ nhảy dựng lên và không cho phép điều đó xảy ra. Giờ bạn có thể tưởng tượng người Trung Quốc cảm thấy thế nào rồi đấy. Nhưng để có thể đẩy người Mỹ ra xa bờ biển của mình, họ cắn phải cải thiện công nghệ tên lửa tầm xa. Nếu làm được thì đó sẽ là lời cảnh cáo ngầm rằng nếu ai đó đến quá gần, họ sẽ phóng tên lửa đánh chìm tàu sân bay hay bắn rơi máy bay của kẻ đó. Tuy nhiên hiện tại Trung Quốc chưa thể làm được điều này. Đến lúc họ hiện thực hóa được điều đó thì máy bay của Mỹ sẽ không dám bén mảng và người Mỹ sẽ không dám liều mạng như bây giờ. Còn người Trung Quốc lúc đó sẽ cảnh báo: “Đây là vùng đặc quyền kinh tế của tôi, anh hãy tránh xa. Tôi không đi đến bờ biển phía Thái Bình Dương của anh, thế thì ai cho anh quyền tới đây?”. Liệu người Mỹ có dám không nghe? Suy cho cùng, kẻ nào mạnh kẻ đấy thắng.

Do đó cuối cùng cán cân quyền lực sẽ được cân bằng dần trong vòng 20 hay 30 năm tới. Ban đầu Trung Quốc sẽ đẩy người Mỹ ra khỏi giới hạn 12 hải lý. Sau đó tiếp tục đẩy họ ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của mình. Và khi đã làm được điều đó, họ sẽ trở thành quốc gia có ảnh hưởng nhất trong khu vực.

Dựa vào các sự kiện lịch sử, một số học giả dự đoán rằng khi một thế lực trỗi dậy còn thế lực hiện hữu thấy sự thống trị của mình bị đe dọa thì rất có khả năng xảy ra xung đột quân sự giữa hai bên, đó là điều khó tránh khỏi. Trong trường hợp Trung Quốc và Mỹ, tôi lại không nghĩ vậy. Hai bên chẳng được lợi lộc gì khi đối mặt trên chiến trường. Cả hai nước đều có kho vũ khí hạt nhân nên họ biết xung đột sẽ dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại. Hơn nữa, không giống như quan hệ Mỹ - Xô, hiện tại không có xung đột ý thức hệ nào không hòa giải được giữa một bên là Mỹ và một bên là Trung Quốc đang nhiệt tình đón nhận thị trường tự do. Người Trung Quốc giữ mối quan hệ hữu hảo với Mỹ để đảm bảo tiếp cận được thị trường, đầu tư, công nghệ và các trường đại học của nước này. Còn Mỹ đơn giản không muốn biển Trung Quốc thành kẻ thù lâu dài của mình.

Cuộc khủng hoảng lớn nhất có thể nảy sinh giữa hai bên là về vấn đề Đài Loan nhưng tôi không nghĩ Mỹ sẽ gây chiến với Trung Quốc để bảo vệ sự độc lập của hòn đảo này vì điều đó thật không đáng. Có thể chiến đấu và thắng hiệp một, nhưng liệu người Mỹ có sẵn sàng chiến đấu hết hiệp này đến hiệp khác? Đến cuối cùng, họ có sẵn sàng trả cái giá mà Trung Quốc sẵn sàng trả vì Đài Loan? Hãy nhớ rằng không một nhà lãnh đạo Trung Quốc nào có thể tồn tại nếu họ để mất Đài Loan dưới thời mình. Vì vậy, với người Trung Quốc, đây là vấn đề có tính nguyên tắc. Kể cả khi thua hiệp đầu, họ sẽ trở lại với hiệp hai, hiệp ba và các hiệp tiếp theo không ngừng nghỉ, cho đến khi chiến thắng mới thôi. Đài Loan không đáng để Mỹ phải xen vào thế cuộc. Người Đài Loan sớm muộn cũng sẽ nhận ra điều đó. Mã Anh Cửu đã gần như thừa nhận điều đó với khẩu hiệu bất thống, bất độc, bất vũ - không thống nhất, không độc lập, không vũ lực của mình. Cụm từ quan trọng nhất là không độc lập bởi vì chắc chắn rằng thời điểm Đài Loan tuyên bố độc lập, Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để chiếm lấy hòn đảo này.

Thống nhất Đài Loan với Đại lục chỉ còn là vấn đề thời gian và không quốc gia nào có thể ngăn cản điều này. Thực chất, số phận quốc tế của Đài Loan đã được định đoạt từ cách đây rất lâu, tại Hội nghị Cairo vào năm 1943 khi tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt và thủ tướng Anh Winston Churchill đã đồng ý với Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch về việc Đài Loan sẽ trở về với Trung Quốc. Khi Lý Đăng Huy lên làm tổng thống, ông bắt đầu quá trình bản địa hóa Đài Loan tức là nhấn mạnh đến chuyên tách rời hòn đảo này với Trung Quốc. Nhưng điều đó sẽ không thay đổi được kết cục thống nhất. Nó sẽ chỉ khiến người Đài Loan đau đớn hơn khi việc thống nhất diễn ra. Yếu tố kinh tế sẽ giúp giải quyết vấn đề này. Sự hội nhập kinh tế dần dần và liên tục sẽ mang hai xã hội xích lại gần nhau, và Trung Quốc sẽ thấy không cần thiết phải dùng vũ lực. Dưới thời Tổng thống Mã Anh Cửu, quan hệ kinh tế hai bên đã phát triển và sẽ tiếp tục phát triển trong bốn năm tới. Và vào cuối giai đoạn tám năm cầm quyền của Quốc dân Đảng, già sử như Đảng Dân tiến (DPP) đối lập lên nắm quyền và đảo ngược chính sách thì người chịu thiệt sẽ là nông dân và các nhà công nghiệp Đài Loan, rồi DPP sẽ thất bại trong kỳ bầu cử tiếp theo hoặc sau đó nữa. Sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng sẽ khiến cho việc Đài Loan độc lập là bất khả.

Hỏi: Ngài có ngạc nhiên khi Trung Quốc thay đổi quá nhanh chóng? Ngài có thể dự đoán được những thay đổi này trong chuyến thăm đầu tiên của minh năm 1976?
Đáp: Không thể nào. Lúc đó tôi không biết Mao sẽ còn cầm quyền bao lâu nữa. Đặng Tiểu Bình đến Singapore năm 1978. Rồi ông về nước và thay đổi chính sách, đó là mở cửa thị trường và đón nhận đầu tư, và điều này đã giúp Trung Quốc hòa nhập với thế giới. Rồi người dân cũng ra nước ngoài thăm thú nhiều hơn. Giờ thì họ sử dụng cả iPhone, dù chính phủ vẫn chặn một vài trang mạng. Thực tế, khi động đất Tứ Xuyên xảy ra, chính một nghiên cứu sinh đã dùng iPhone để báo tin với thế giới. Nếu không có iPhone thì chính quyền trung ương mới là người quyết định thài điểm công bố tin tức. Do đó công nghệ đã thay đổi cách thức chính phủ làm việc và xử lý tình hình mới.
Hỏi: Ngài gặp Tập Cận Bình lần đầu tiên năm 2007. Ấn tượng của ngài về ông ấy là gì?
Đáp: Tôi coi ông ấy là một lãnh đạo có thực lực. Rất cứng rắn khi giải quyết vấn đề. Cha ông ấy từng bị đưa về nông thôn và ông ấy cũng thế. Nhưng ông ấy vẫn làm việc và lặng lẽ thăng tiến ở Phúc Kiến. Rồi khi bí thư Thượng Hải bị phát hiện tham nhũng, họ điều ông ấy từ Phúc Kiến đến Thượng Hải. Rồi từ Thượng Hải, thực lực của ông ấy được công nhận và họ đưa ông đến Bắc Kinh. Nói là may mắn cũng đúng, nhưng nếu không có thực lực ông ấy cũng không thể vượt qua được nhiều khó khăn như vậy
Hỏi: Tập Cận Bình tiếp quản công việc lãnh đạo Trung Quốc vào thời điểm Trung Quốc mạnh nhất trong hai thế kỷ qua. Liệu ông ấy sẽ quyết đoán hơn?
Đáp: Tôi không nghĩ rằng vị trí mới sẽ khiến ông ấy tự cao mà áp đặt xung quanh. Ông ấy là người suy nghĩ thấu đáo và biết rằng điều đó sẽ không có lợi cho Trung Quốc. Do đó tôi nghĩ ông ấy sẽ tiếp tục chính sách thao quang dưỡng hối của Đặng Tiểu Bình.
Hỏi: Các nhà lãnh đạo mới này, gồm cả Tập Cận Bình, khác gì với các lãnh đạo cũ mà ngài đã gặp thập niên 1970, 1980? Ngoại trừ tính cách khác nhau, có khác biệt nào giữa họ phản ánh những thay đổi diễn ra ở Trung Quốc?
Đáp: À, thì bây giờ họ gặp phải những vấn đề khác trước rồi. Ngày xưa thì đất nước nghèo đói, cơ sở hạ tầng thiếu thốn. Bây giờ thì họ có những thành phố ven biển phát triển không thua gì Hồng Kông. Nhưng cơ sở hạ tầng đó chỉ giúp được cho khoảng 50% dân số. Còn một nửa số dân còn lại vẫn sống ở những vùng nông thôn lạc hậu.
Hỏi: Các nhà lãnh đạo này còn suy nghĩ cứng nhắc như ngài từng viết trong hồi ký là các quan chức Trung Quốc thường làm theo sách vở và xử lý vấn để thiếu tự nhiên?
Đáp: Không, không, họ đã linh hoạt hơn rồi. Đó là giai đoạn mà chính phủ kiểm soát gắt gao, bất kì ai nói lên chính kiến đểu có thể bị hiểu sai và chuốc lấy rắc rối cho mình. Bây giờ họ phát biểu khá là cởi mở.
Hỏi: Tôi chắc rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc có khai thác quan điểm của ông về nhiều vấn đề khác nhau mỗi khi hội kiến. Vậy với các lãnh đạo hiện nay, mối bận tâm của họ là gì? Họ muốn tìm hiểu điều gì từ ông, và có khác với những gì mà các lãnh đạo thế hệ trước tìm hiểu không?
Đáp: Ồ, tôi đã nói với Tập Cận Bình rằng chỉ vài năm nữa thôi, ông ấy sẽ không cần đến Singapore để học hỏi chúng ta, mà chính chúng ta sẽ phải đến Trung Quốc để học hỏi họ. Tất nhiên là ông ấy không đồng tình. Ông ấy nói, không, cái ông ấy quan tâm là hệ thống của chúng ta cơ, vi họ không có được hệ thống khuôn khổ mà người Anh để lại cho chúng ta. Chúng ta đã xây dựng được những thể chế có thể hỗ trợ nhà lãnh đạo, kể cả khi gặp một lãnh đạo yếu thì nó cũng không bị sụp đổ. Nhưng tất nhiên là không hỗ trợ lâu được.
Hỏi: Liệu họ vẫn quan tâm tới quan điểm của ông về khu vực và về nước Mỹ?
Đáp: Không, họ không còn cần quan điểm của tôi về Mỹ nữa vì giờ họ làm việc trực tiếp với người Mỹ rồi. Thứ có giá trị với họ là quan điểm của chúng ta về khu vực, thứ mà họ chưa nắm rõ, và họ hy vọng chúng ta đóng vai trò giúp các quốc gia trong khu vực không còn sợ một Trung Quốc đang trỗi dậy nữa.
Hỏi: Dựa trên cách họ phản ứng, và việc họ đã phát triển mạnh trong những năm qua, ông có lo ngại là cuối cùng chúng ta sẽ phải đối phó với một Trung Quốc khó khẩn hơn, cứng rắn hơn và sức ảnh hưởng lớn hơn?
Đáp: Anh phải chấp nhận rằng họ là nước lớn nhất trong khu vực này. Họ sẽ không là nước mạnh nhất trong khu vực Thái Bình Dương bởi Hoa Kỳ sẽ luôn có mặt ở đó làm đối trọng với họ. Nhưng về sau họ sẽ có thể đẩy Mỹ lùi xa ra khỏi vùng biển đặc quyền kinh tế của minh. Đó là thực tế mà chúng ta phải chấp nhận.
Hỏi: Liệu điều đó có gây khó khăn cho một nước nhỏ như Singapore?
Đáp: Với các nước khác cùng thế thôi. Sớm hay muộn điều đó cũng xảy ra dù 5, 20 hay 30 năm thì cũng vậy. Người Trung Quốc sẽ trở thành thế lực thống trị trên bờ Tây Thái Bình Dương.
Hỏi: Đây sẽ là một tương lai khá khó khăn mà Singapore phải định hướng.
Đáp: Cũng không hẳn đâu. Tương lai của Việt Nam mới gọi là khó khăn, còn chúng ta không xung đột lợi ích gì với Trung Quốc cả. Việt Nam xung đột với Trung Quốc về vùng biển mà họ mong đợi tìm thấy dầu khí. Còn chúng ta không có yêu sách gì động chạm đến họ.
Hỏi: Tổng thống Obama đang đưa ra các cam kết mới cho khu vực, mà người ta gọi là sự Xoay trục Thái Bình Dương. Rồi chúng ta lại thấy Hillary Clinton phát biểu trên một chiếc tàu sân bay. Nếu đây thực sự là một cam kết lâu đài của Mỹ với khu vực này..
Đáp: Không, đó không phải là cam kết lâu dài. Đó chỉ là việc bày tỏ một ý định mà Obama hy vọng sẽ kéo dài. Nhưng nó không có nghĩa là ý định đó sẽ kéo dài vô thời hạn khi cán cân quyền lực thay đổi. Họ ở tận bờ bên kia Thái Bình Dương, cách xa đến tám, chín ngàn hải lý và phải sử dụng Nhật Bản làm căn cứ để phô diễn sức mạnh, thật không dễ dàng như khi phô diễn sức mạnh từ ngay lãnh hải, ngay vùng đặc quyền kinh tế của minh.
Hỏi: Do vậy tính toán của Trung Quốc là họ sẽ náu mình chờ thời.
Đáp: Đúng thế.
Hỏi: Vậy khả năng phô diễn sức mạnh của Mỹ sẽ phụ thuộc vào điều gì?
Đáp: Một là sức mạnh nền kinh tế Mỹ cùng ngân sách quốc phòng và vị trí của Thái Bình Dương trong danh sách ưu tiên của họ. Hai là Trung Quốc sẽ gây hấn đến mức nào.
Hỏi: Vậy dựa trên những đánh giá của ngài về cả hai nước...
Đáp: Tôi nghĩ rằng hai bên sẽ cân bằng trong 20 tới 30 năm nữa.
Hỏi: Và khi sự cân bằng đó diễn ra?
Đáp: Chúng ta sẽ phải tự thích nghi. Phải sống chung với lũ. Ở bên này Thái Bình Dương, Trung Quốc sẽ là láng giềng gần gũi chúng ta nhất với tầm vóc và sức mạnh vượt xa người Mỹ. Người Mỹ còn phải triển khai quân qua hàng ngàn hải lý trong khi họ chỉ vài trăm. Đương nhiên yếu tố Mỹ sẽ luôn tồn tại và nó sẽ không biến mất. Mỹ sẽ không từ bỏ ảnh hưởng của mình trong khu vực này ở Thái Bình Dương, và nước này sẽ có đồng minh là Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và Philippines. Vì vậy, sẽ có sự chuyển đổi quyền lực tất yếu và từ từ nhưng không đến mức hất cẳng Mỹ ra khỏi khu vực.
Hỏi: Khi quan sát tranh chấp ở biển Đồng trong hai, ba năm vừa qua, ngài có thấy nó nói lên điều gì về cách hành xử của Trung Quốc không?
Đáp: Khi vấn đề liên quan đến lợi ích cốt lõi của họ và họ tin rằng đường 9 đoạn đó là lãnh thổ của mình, tin rằng người Trung Quốc có chủ quyền với các bãi cát và đảo nhỏ đó và hy vọng ở dưới đó có dầu khí, thi tôi dự đoán Trung Quốc sẽ khá cứng rắn với vấn đề này. Cuối cùng, vấn đề này có thể được giải quyết theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển bởi vì đó là cách mà không bên nào có thể phản đối được. Vì thế mỗi đảo, mỗi bãi cát nhỏ sẽ được đem ra đo đạc để xem ai là người có quyền lợi gần nhất với bãi cát đó. Nhưng họ sẽ giải quyết vấn đề này theo cách song phương chứ không phải phương thức đa phương giữa họ với ASEAN.
Hỏi: Nhưng ưu tiên của ASEAN là cả khối cùng tham gia giải quyết vấn đề này?
Đáp: Ưu tiên của ASEAN là càng thẳng phải được xử lý tập thể trong khuôn khổ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thông qua Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông(COC).
Hỏi: Nhưng ASEAN liệu có thể lầm theo cách của mình? Liệu vấn để nậy cuối cùng sẽ được giải quyết song phương hay đa phương?
Đáp: Tôi nghĩ là song phương. Tôi không cho là Indonesia sẻ dẫn cả khối vào tình thế đối đầu, cả Malaysia hay Singapore cũng thế. Để làm gì cơ chứ?
Hỏi: Còn người Mỹ?
Đáp: Người Mỹ đã tham gia rồi, nhưng chỉ là về mặt ngoại giao thôi. Còn liệu họ có tham gia quân sự không lại là một câu hỏi hoàn toàn khác và tôi nghi ngờ điều đó. Nơi đây quá xa để họ triển khai quân và họ cũng không được lợi gì cả. Tại sao họ lại phải gây chiến với Trung Quốc vì lợi ích của Việt Nam hay Philippines chứ?
Hỏi: Liệu có khả năng một chính quyền Mỹ trong tương lai - một tổng thống hiếu chiến hơn - sẽ quyết định rằng một cuộc đối đầu sớm sẽ có lợi hơn là trễ?
Đáp: Không, anh có thể có một tổng thống hiếu chiến song anh cũng có các tướng lĩnh quân sự tham mưu để anh có thể sử dụng quyền lực hay sức mạnh của mình đến đâu, và cái giá phải trả là bao nhiêu - anh sẽ phải ném bao nhiêu tiền cho chi tiêu quốc phòng.
Hỏi: Một điểm nóng khác có thể bùng ra giữa Mỹ và Trung Quốc là vấn đề Đài Loan. Hiện tại mọi việc đang diễn ra khá tốt đẹp - hội nhập kinh tế nhiều hơn, du lịch phát triển. Sự ràng buộc lẫn nhau đang đưa hai bền đến gần nhau hơn. Tuy nhiên, thời hạn cuối cùng để thống nhất dường như đã bị đẩy xa vào một tương lai vô thời hạn.
Đáp: Chuyện đó có hề gì với Trung Quốc. Họ có thể chờ đợi mãi mà không sốt ruột bởi thời gian đứng về phía họ. Trong khi đó Đài Loan ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc để tăng trưởng. Chuyện này càng lâu thì càng tổn thất nhiều cho chính phủ Đài Loan khi tìm cách thay đổi hay đảo ngược chính sách.
Hỏi: Nhưng một cuộc khảo sát ở Đài Loan đã cho thấy nhiều người ủng hộ độc lập hơn thống nhất.
Đáp: Điều đó thì có liên quan gi. Nếu anh là người Đài Loan, anh sẽ muốn độc lập, giữ nguyên hiện trạng, hay trở thành một phần của Trung Quốc? Nhưng ý muốn đó liệu có thể quyết định tương lai của Đài Loan? Người Đài Loan ở phía Nam dù thể nào cũng sẽ không muốn quay lại với Trung Quốc, sẽ luôn là như vậy. Nhưng liệu quan điểm của họ có thắng thế? Tương lai của Đài Loan không được định đoạt dựa trên ý nguyên của người dân Đài Loan. Nó được định đoạt bởi thực tế cán cân quyền lực giữa Đài Loan và Trung Quốc và liệu người Mỹ có sẵn sàng can thiệp vào tình hình này hay không. Không đơn giản là bỏ phiếu biểu quyết - đồng ý sẽ thống nhất hay đa số không đồng ý nên sẽ không thống nhất.
Hỏi: Liệu cái chết của Kim IL Sung (Kim Chính Nhật) có thay đổi bất cứ điều gì trong tình hình địa chính trị ở châu Á không?
Đáp: Không, tôi không nghĩ vậy đâu. Trung Quốc sẽ không được lợi gì khi hai miền Triều Tiên thống nhất vì điều đó sẽ mang quân đội Mỹ và Hàn Quốc đến sát sông Áp Lục, một mối đe dọa với Trung Quốc. Người Trung Quốc sẽ làm hết sức để giữ nguyên trạng tình hình.
Hỏi: Mức độ ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Triều Tiên hiện nay có lớn?
Đáp: Sự tồn tại của Triều Tiên phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc. Người dân Triều Tiên hay phải chịu đói kém do cách chính phủ vận hành nền kinh tế, còn Trung Quốc cho họ thực phẩm và viện trợ.
Hỏi: Ngài có nghĩ hiện trạng này sẽ kéo dài thêm 20, 30 năm nữa? Liệu Triều Tiên có nguy cơ tự diệt vong?
Đáp: Không, tôi không nghĩ vậy đâu. Tại sao nó lại diệt vong? Đã có lúc đất nước gần chết đói, nhưng đã có người Trung Quốc viện trợ lương thực và cả thế giới cũng đã giúp.
Hỏi: Liệu Trung Quốc có quan tâm đến việc khuyến khích Triều Tiên mở cửa nền kinh tế như Đặng Tiểu Bình đã làm với Trung Quốc?
Đáp: À, họ cũng đã mời Kim Il-sung đến Thượng Hải để chỉ ra rằng ông ấy có thể cải cách nền kinh tế mà vẫn không mất quyền kiểm soát, nhưng điều đó không mang lại kết quả gì. Nhiều người suy đoán rằng chế độ này có thể thực hiện các cải cách kinh tế dưới sự lãnh đạo mới, nhưng vẫn còn quá sớm để nói rằng Kim Jong-un có bạo gan đi theo đường hướng đó hay không.
Hỏi: Ngài đã nói rằng người Mỹ cuối cùng sẽ phải chia sẻ vị thế với Trung Quốc trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Khi điều đó xảy ra thì sẽ có tác động gì với những nước như Singapore?
Đáp: Chúng ta sẽ phải để ý hơn tới những gì người Trung Quốc nghĩ, có khi còn quan tâm hơn những gì người Mỹ nghĩ. Nhật Bản và Hàn Quốc đang đầu tư sâu rộng vào Trung Quốc nhưng vẫn giữ các mối quan hệ an ninh với Mỹ. Liệu điều này có thể tiếp tục kéo dài bao lâu? Khi anh đầu tư nhiều và ngày càng có quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc, vậy liệu các mối quan hệ an ninh của anh có thể ngăn chặn được việc Trung Quốc sử dụng các chiêu bài kinh tế để kiểm soát các công ty, bắt thóp anh hay không?
Hỏi: Việc đối phó với Mỹ sẽ rất khác với đối phó với Trung Quốc. Chúng ta từng đối phó với người Mỹ vì họ từng là lực lượng thống trị ở đây.
Đáp: À, chúng ta thấy người Mỹ ít nhiều cũng còn hiền lành. Họ không bắt ép ai. Đúng là họ muốn mọi quốc gia trở thành nước dân chủ nhưng không ép buộc nước nào cả. Còn người Trung Quốc thì không quan tâm anh dân chủ hay chuyên chế. Họ chỉ muốn anh thực hiện yêu cầu của họ. Đó là cách tiếp cận hoàn toàn khác. Họ không tin vào việc đi rao giảng hình thức nhà nước và bắt anh sử dụng hình thức đó. Đó là một khác biệt trong cách nghĩ về vai trò của từng nước.
Hỏi: Liệu có đến một ngày chúng ta phải trở thành một trung tâm hậu cần hay một dạng căn cứ nào đó cho hải quân Trung Quốc không?
Đáp: Tôi không dám nói chắc điều này. Khí tồi vẫn còn sống thì điều này sẽ không xảy ra. Tôi nghĩ rằng giai đoạn đầu tiên là chúng ta xây dựng các trung tâm dịch vụ hậu cần cho hải quân cả hai nước mà không phải một. Đừng có chọn giữa nước này và nước kia.
Hỏi: Singapore có thể duy trì vị trí trung dung nậy được bao lâu?
Đáp: Cũng khó nói. Còn tùy vào tình hình kinh tế Mỹ và khả năng triển khai sức mạnh quân sự của họ.
Hỏi: Trong quan hệ với người Mỹ, ngài có những mối quan hệ cá nhân tốt đẹp với một số quan chức cao cấp, như Henry Kissinger chẳng hạn. Trong quan hệ với người Trung Quốc, liệu các bộ trưởng Singapore có thể tạo được các mối quan hệ cá nhân tốt đẹp với các lãnh đạo Trung Quốc giống ngài không?
Đáp: À, ngay lúc này đây thì phía họ và ta có những mối quan hệ cá nhân rất tốt bởi họ muốn biết các ý tưởng của chúng ta, nhưng một khi họ đã lên đỉnh cao và không còn cần chúng ta nữa thì mối quan hệ đó sẽ thay đổi. Nhưng tôi cho rằng họ vẫn sẽ đối xử tốt với chúng ta vì cảm giác ơn nghĩa sau khi đã nhận sự giúp đỡ của chúng ta như ở Khu Công nghiệp Tô Châu chẳng hạn. Chúng ta đã để lại thiện chí với họ.
Hỏi: Năm 1976, ngài đã đến thăm Bắc Kinh và gặp gỡ Thủ tướng Hoa Quốc Phong. Ông ấy đã cố gắng đưa cho ngài một quyển sách bàn về chiến tranh Trung-Ấn, với quan điểm thiên lệch về phía Trung Quốc. Ngài từ chối nhận cuốn sách này mà không sợ làm mất lòng họ và giải thích rằng cuốn sách sẽ gây ra nhiều yếu tố nhạy cảm vỉ có người Ấn sinh sống ở Singapore và họ lại có quan điểm khác. Chắc chắn là nếu điều đó có xảy ra nữa ngài cũng sẽ phản ứng tương tự. Nhưng Trung Quốc bây giờ đã mạnh lên rất nhiều. Nếu một bộ trưởng trẻ Singapore gặp tình huống tương tự, ngài có khuyên người ấy từ chối quyển sách như thế không?
Đáp: À, tôi không biết liệu vị bộ trưởng ấy có nhận hay không, còn phụ thuộc vào tính cách từng người nữa. Nhưng kể cả khi vị ấy nhận quyển sách thì cũng không có nghĩa là anh ta sẽ tin nó. Đó là câu chuyện phiến diện còn chúng ta biết nhiều chiều khác của câu chuyện từ nhiều nguồn thông tin.
Hỏi: Nhưng với một Trung Quốc mạnh mẽ như hiện nay, liệu một vị bộ trưởng trẻ tuổi có dám làm mất lòng người Trung Quốc.
Đáp: Ừ thì nhận sách đâu có nghĩa là tư tưởng thay đổi theo? Trong trường hợp của tôi thì đó là tôi đã đọc quyển sách rồi nên tôi mới nói với Hoa Quốc Phong: “Quyển sách này sẽ không làm tôi đổi ý được đâu”. Nhưng các bộ trưởng trẻ giờ phải đối mặt với một Trung Quốc khác trước và họ sẽ phải quyết định cách xử lý các mối quan hệ cá nhân của mình với người Trung Quốc. Họ cũng có thể nghĩ rằng nếu làm phật ý họ, có thể sẽ không còn cơ hội gặp họ lần sau nữa.

Dịch giả: Lê Thùy Giang Nguồn text: SACHMOI.NET Thực hiện ebook: BT 2024 - Jan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.