Ông Già Nhìn Ra Thế Giới

Lượt đọc: 82 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***
MALAYSIA

❊ ❊ ❊

MỘT LỐI ĐI RIÊNG

Malaysia và Singapore đều trải qua chế độ thực dân với những mức độ phát triển khá tương đồng và có những di sản khá giống nhau do người Anh để lại. Nhưng sau 1965, hai quốc gia đã phát triển theo hai hướng khác hẳn nhau. Malaysia thành nước nói tiếng Mã Lai còn Singapore chọn tiếng Anh và trở thành một quốc gia đa chủng tộc. Theo thời gian, ý niệm về một nước Malaysia nói toàn tiếng Mã Lai sẽ ngày càng vững chắc hơn khi người Mã Lai chiếm phần lớn dân số.

Trong gần hai năm khi Singapore vẫn còn là một phần của Malaysia, tôi đã hết sức cố gắng đối diện với vấn đề chủng tộc bằng cách lôi kéo mọi người đứng vào cùng một liên minh duy nhất đại diện cho một nước Malaysia của người Malaysia, nhưng tôi đã vấp phải sự phản đối dữ dội. Nó dẫn tới việc Singapore phải rời khỏi liên bang ngày 9/8/1965.

Những người cùng thế hệ với tôi trước đó vẫn luôn tin rằng Singapore và bán đảo Malay là một thể thống nhất. Sau chiến tranh đế quốc Anh đã chia tách chúng tôi và chúng tôi đã chiến đấu để được sáp nhập lại. Những người lãnh đạo xứ Malay ban đầu không muốn chúng tôi sáp nhập vì sợ người Hoa đông đúc ở Singapore sẽ làm nghiêng cán cân chủng tộc. Cuối cùng người Anh cũng thuyết phục được Tunku Abdul Rahman, thủ tướng đầu tiên của Malaysia, rằng với phe cánh tả đang ngày một lớn mạnh ở các trường người Hoa, có nguy cơ cao Singapore sẽ đi theo cộng sản. Ông ấy cuối cùng cũng chịu nhận chúng tôi kèm với hai vùng Sabah và Sarawak, là nơi có tỷ lệ người Hoa ít hơn để cân bằng với chúng tôi.

Nhưng sau khi chúng tôi gia nhập, Tunku lại bảo tôi: “Đảng của các ông không nên động đến người Mã Lai ở Malaysia nữa.” Chúng tôi có ba khu vực bỏ phiếu có đông người Mã Lai ở Singapore là các khu Geylang, Kampong Kembangan và khu Nam Đảo, nhưng ông ấy không muốn chúng tôi mở rộng ra các khu vực bỏ phiếu trên bán đảo Malay vì ông coi những khu vực đó là lãnh địa riêng của người Mã Lai. Nhưng chúng tôi đâu thể nghe lời ông ấy được. Chúng tôi cứ làm theo hiến pháp trong đó không nói rằng đất nước Malaysia chỉ thuộc bán đảo Malay mà nó là nước Malaysia của người Malaysia. Chúng tôi vẫn tiếp tục tiến hành lập nên tổ chức Hiệp ước Thống nhất Malaysia để ủng hộ một quốc gia đa chủng tộc thực sự. Chúng tôi thuyết phục các đảng ở Sarawak, Penang và Ipoh tham gia vào và có khá nhiều đại diện là người Mã Lai. Khi tổ chức này ngày một lớn mạnh, Tunku thấy khó chịu và ra lệnh Singapore phải tách khỏi Malaysia ngay nếu không sẽ có đổ máu. Một số người trong nội các của tôi phản đối việc tách khỏi Malaysia, nổi bật là Toh Chin Chye lúc đó đang làm phó thủ tướng. Toh sinh ra ở Ipoh và đối với ông ấy sự thoát ly này là chuyện ngược đời. Ông ấy muốn gặp Tunku để nói chuyện và tôi cũng khuyến khích ông ấy làm thế. Tunku từ chối gặp ông nhưng có viết một bức thư nói rằng ông không còn kiểm soát được tình hình nữa. “Hoàn toàn không có cách giải quyết nào khác,” Tunku viết.

Giữa năm 1963 và 1965, với tư cách là thủ tướng Singapore, tôi phải tham dự các cuộc họp của Hội đồng Lãnh đạo ở Malaysia. Các nhà lãnh đạo tham dự buổi họp đều là người Mã Lai, tất cả đều mặc đồng phục và có người mang kiếm đi hầu theo. Tất cả các bộ trưởng ở đó đểu mặc đồ truyền thống Mã Lai và tôi là người lạc lõng nhất. Đây không chỉ đơn thuần là hình thức. Nó nhằm nói lên một Điều: “Đây là đất nước của người Malay. Anh đừng bao giờ quên điều đó.”

Sự chia tách đặt dấu chấm hết cho những nỗ lực của tôi hướng tới một cái nhìn khác đi cho Malaysia về vấn để chủng tộc. Mỗi khi nghĩ lại tôi lại tiếc nuối. Giá như Tunku cứng rắn hơn để trấn áp được những người Mã Lai cực hữu và xây dựng được một Malaysia đa sắc tộc, cho phép người Hoa và người Ân chia sẻ quyền lực trong ngành cảnh sát, quân đội và hành chính thì hẳn nước Malaysia đã phồn thịnh và công bằng hơn. Những gì Singapore đạt được đều có thể được thực hiện ở Malaysia. Cả hai quốc gia đáng lẽ có thể cùng phát triển mạnh.

Lúc đó tôi có lẽ đã quá lạc quan trông đợi vào vai trò của Tunku và khả năng của ông với tư cách là một nhà lãnh đạo người Mã Lai. Ông thuộc một thế hệ khác, lớn lên dưới sự cai trị của Anh và nhìn nhận mọi người - gồm cả những người thuộc chủng tộc khác - như là thần dân Anh quốc. Bạn của ông là người Hoa. Bạn thân của ông tại Đại học Cambridge là Chua Sin Kah, người ông có thể gọi điện mà nói: “Đến đây nhắm rượu và khô bò với tôi nào.” Tunku cũng chấp nhận rằng Singapore phát triển hơn và sẽ trở thành một New York của Malaysia còn Kuala Lumpur nơi ông lãnh đạo sẽ là Washington. Nhưng ngay từ đầu tôi đã không nhận ra rằng ông không thể ngăn chặn các phần tử cực hữu người Mã Lai tự tung tự tác. Đáng lẽ tôi phải nhận ra điều này khi những người này khăng khăng đòi Sabah và Sarawak sáp nhập cùng để đảm bảo rằng người Hoa không chiếm quá đông. Người Mã Lai nắm quyền lực trên bán đảo Malay và họ muốn đảm bảo rằng Malaysia mãi mãi là đất nước của riêng họ.

Sự thay đổi dân số ở Malaysia sẽ củng cố thêm những đặc quyền của người Mã Lai. Trong vòng 40 năm qua - nghĩa là kể từ thời áp dụng Chính sách Kinh tế mới - tỷ lệ người Hoa và người Ân ở Malaysia đã giảm đáng kể. Hồi năm 1970, người Hoa chiếm 35,6% dân số, nhưng đến năm 2010 chỉ còn chiếm 24,6%. Và cùng giai đoạn đó, tỷ lệ người Ân giảm từ 10,8 xuống còn 7,3%.

Sự thay đổi trong nhóm sắc tộc là kết quả của nhiều yếu tố. Thứ nhất là tỷ lệ sinh của người Mã Lai cao hơn. Lượng người Philippines nhập cư sinh sống ở Sabah cũng nhiều hơn. Sau này người ta đã đổ lỗi cho chính phủ trong việc cấp quyền công dân hàng loạt - một vấn đề sau này bị đem ra điều tra. Rồi nhiều người Hoa và người Ân lựa chọn ra đi mà đó lại là những người có học thức, những người hay nghe bố mẹ bảo: “Con hãy cầm lấy hộ chiếu mà đi học nước ngoài. Đừng có quay về nữa.”

40% số người nhập cư vào nước chúng tôi đến từ Malaysia. Những người có điều kiện di cư thì đến những quốc gia xa hơn. Hổi trước Đài Loan là một trong những điểm đến ưa thích của những người Hoa có học thức. Còn trong những năm gần đây, người Hoa và người Ấn ở Malaysia di chuyển tới cả châu Âu, Mỹ và Australia. Một số người hết sức thành đạt như Penny Wong hiện đang làm bộ trưởng tài chính của Australia. Trong số những người chọn ở lại Malaysia thì do một số không có điều kiện để rời đi còn những người khác do đang làm ăn khấm khá - cho dù phải chịu những chính sách phân biệt đối xử. Nhiều người trong số những người thuộc kiểu thứ hai này thì làm ăn với những người Mã Lai có quan hệ quen biết. Họ cũng không khác với các cukong (chủ công) ở Indonesia - những người Hoa làm ăn với người Indonesia có giấy phép nhưng không biết làm ăn. Các cukong người Hoa được đưa vào để làm những công việc cần trí lực nhất trong hệ thống kinh doanh và họ được chia lợi lộc. Nhưng cái quan trọng là họ làm vì con cái. Ở Malaysia, rất nhiều con cháu người Hoa đi học nước ngoài rồi sinh sống ở đấy luôn.

Các chính sách dựa trên sắc tộc đặt Malaysia vào tình thế bất lợi. Nó thu hẹp nguồn nhân tài cần thiết để xây dựng một xã hội biết tận dụng nhân tài từ mọi sắc tộc. Họ sẵn sàng chịu mất nhân tài để duy trì sự thống trị của một sắc tộc. Gần đầy chính phủ Malaysia đã phần nào thừa nhận nguồn nhân tài nước họ đang chảy vào những thành phố năng động khác, và chính phủ đang cố gắng chiêu dụ một số người Malaysia ở nước ngoài về nước. Nhưng thực tế là những nỗ lực này là quá ít ỏi và quá muộn màng. Trong một thế giới toàn cầu hóa nơi lợi thế cạnh tranh của một dân tộc ngày càng dựa vào kỹ năng, trí tuệ và nhiệt huyết, thì Malaysia đang mất điểm. Trong cuộc cạnh tranh này nó đang nhường cho các nước khác chạy trước.

Rồi sẽ đến một ngày lá phiếu người Hoa và người Ân ở Malaysia sẽ chẳng còn giá trị và khi ngày đó đến, khi lá phiếu của họ mất tiếng nói, người Hoa và người Ân không thể hy vọng có thể mang đến một xã hội công bằng và bình đẳng cho bản thân mình.

Sau cuộc tổng tuyển cử 2008, ở một số khu vực Malaysia, người ta hừng hực khí thế rằng đất nước sắp thay đổi thực sự. Đảng đối lập trước đó hứa sẽ xóa bỏ những chính sách phân biệt sắc tộc đã đạt được một kết quả bầu cử khiến những người ủng hộ đảng đó cũng phải bất ngờ. Đây là lần đầu tiên đảng đối lập đạt được số phiếu cao như thể kể từ năm 1969 và số ghế trong quốc hội cao nhất từ trước đến giờ. Đảng cầm quyền mất đa số hai phần ba ghế ở quốc hội. Một năm sau cuộc bầu cử, Najib Tun Razak lên làm thủ tướng và đưa ra chủ trương một Malaysia để củng cố tinh thần hòa hợp dân tộc và thống nhất quốc gia.

Thủ tướng Najib đề xuất ra một Malaysia bởi vì ông muốn giành lại lá phiếu của những cử trí gốc Hoa và gốc Ân mà đảng của ông đã mất trong cuộc bầu cử 2008. Nhưng dân chúng có đổng tình với ông không? Có người Mã Lai nào vỗ tay vang dội cổ vũ cho một Malaysia? Ông ấy đề ra phong trào này với những kế hoạch đầy tham vọng nhưng có vẻ như thực tế chính trị đã cản trở những kế hoạch đó. Ông không thể nào giành được phiếu bầu từ cử tri gốc Hoa và gốc Ân mà lại không để mất phiếu của những người ủng hộ chính cho Đảng của ông - người Mã Lai.

Câu khẩu hiệu một Malaysia đã không thực hiện được như kỳ vọng ban đầu. Khi tôi gặp gỡ các nhà báo gốc Hoa ở Malaysia không lâu sau chủ trương này, họ nói rằng lúc đầu họ đưa tin vê nó là một “Malaysia đa sắc tộc" nhưng rồi sau đó được chỉ đạo là rút gọn thành một Malaysia. Nói cách khác, mọi người dân cùng chia sẻ một nước Malaysia, nhưng các cộng đồng vẫn tách biệt nhau thành nhóm Mã Lai, Hoa, Ân. Liệu chủ trương này có giúp cân bằng quyền lợi cho những người không phải Mã Lai không, chúng ta còn phải chờ xem.

Những người tin rằng một Malaysia sẽ dẫn lối tới một kỷ nguyên mới hòa hợp sắc tộc là những người không thực tể, còn những người tin rằng đảng đối lập sẽ có những chủ trương tương tự còn là những người phi thực tế hơn. Lý do đầu tiên, việc liên minh đối lập lên nắm quyền trong tương lai gần không phải là việc dễ xảy ra. Nhưng cho dù điều đó có xảy ra thì việc đảng đối lập đó có thể xóa bỏ những đặc quyền cho người Mã Lai là chuyện bất khả. Để hiểu được điều này chúng ta cần phải xét kỹ liên minh Pakatan Rakyat (PR). Đây là một liên minh lỏng lẻo, nó không đoàn kết dưới một hệ tư tưởng nào mà là dưới khao khát chiếm đa số ghế trong chính phủ. Chừng nào nó vẫn chưa nắm thực quyền trong chính phủ liên bang và do đó chưa phải thực thi những chính sách đa chủng tộc thì phe này vẫn còn giữ được sự thống nhất. Tuy nhiên, nếu có lên nắm quyền thì liên minh PR cũng sẽ không thể nào gạt bỏ đặc quyền của người Mã Lai được. Khi đến lúc phải ra quyết định và được trao toàn quyền thì liên minh này hoặc sẽ bị xâu xé từ phía trong hoặc sẽ tê liệt do thiếu dứt khoát. Nếu liên minh này muốn làm một việc có ý nghĩa nào đó thì đảng PAS của những người Mã Lai theo Hồi giáo cũng sẽ kiếm được đủ, nếu không muốn nói là đa số ghế trong liên minh để họ có quyền phủ quyết và chặn hành động này ngay tức khắc. Khi làm việc đó là PAS đang phản ứng lại cùng một kiểu áp lực bầu cử mà chính đảng hiện tại UMNO từng phải đối mặt từ phía những người Mã Lai.

Do đó, nếu muốn hiểu vấn đề đặc quyền của người Mã Lai thì nguyên nhân quan trọng không nằm ở việc đảng UMNO hay Barisan Nasional lên nắm quyền. Thay vì nghĩ về UMNO như một thực thể vẫn mãi nắm quyền, tôi coi người Mã Lai như một khối mà sẽ luôn kiểm soát đa số ghế. Bất kỳ đảng nào lên thay thế UMNO và trở thành chính đảng đại diện cho lợi ích của người Mã Lai cũng sẽ không hành động khác với UMNO là bao.

Ngoài sắc tộc ra, Singapore và Malaysia còn khác nhau ở nhiều vấn đề khác nữa nhưng qua năm tháng chúng tôi đã học được cách sống và chấp nhận những khác biệt. Khi chúng tôi tách ra khỏi Malaysia năm 1965, tiếng Anh là ngôn ngữ chung ở cả hai nước. Vài năm sau, Malaysia quyết định bỏ tiếng Anh và dạy tất cả các môn học bằng tiếng Mã Lai, biến tiếng Mã Lai thành ngôn ngữ công sở. Người Hoa thì tự bỏ tiền vào các trường học riêng của họ. Khi chính phủ kết luận bỏ tiếng Anh là đánh mất lợi thế, năm 2003 họ đã đưa tiếng Anh trở lại vào giảng dạy các môn toán và khoa học. Nhưng phía người Mã Lai phản đối, nhất là những người sống ở vùng nông thôn, thế là năm 2009 ngôn ngữ dùng để giảng dạy khoa học và toán học lại quay trở lại tiếng Mã Lai. Không dễ gì đưa tiếng Anh vào sử dụng lại một khi đã bỏ nó. Ở Singapore, chúng tôi còn giữ lại cả vị thế độc lập của ngành tư pháp mà người Anh để lại; còn tại Malaysia, năm 1988, chính phủ phản ứng với những phán quyết tòa án không đúng ý chính phủ bằng một loạt quyết định trong đó có cả sa thải một chánh án và nhiều thẩm phán cấp cao khác cũng như sửa đổi hiến pháp để làm suy yếu các cơ quan tư pháp. Hai mươi năm sau, chính phủ của thủ tướng Abdullah Badawi đã trả tiền bồi thường cho các thẩm phán bị sa thải hoặc gia đình của họ. Thủ tướng Abdullah Badawi thừa nhận sự kiện năm 1988 đã đánh dấu “một thời kỳ khủng hoảng mà đất nước không bao giờ có thể hồi phục hoàn toàn.”

Singapore và Malaysia chọn hai con đường hoàn toàn khác nhau để tổ chức xã hội. Nhưng chúng tôi đã hiểu rằng bên này không nhất thiết phải áp đặt quan điểm của mình cho bên kia. Chúng tôi không thể thay đổi họ. Họ cũng không thể thay đổi chúng tôi. Chúng tôi chỉ đơn giản cùng tồn tại, riêng biệt nhưng hữu nghị.

Điều quan trọng đối với Singapore là chúng tôi phát triển và duy trì một lực lượng quân sự mạnh mẽ để bảo vệ chủ quyền của mình. Miễn là chúng tôi có một lực lượng vũ trang Singapore có khả năng chống đỡ kẻ thù xâm lược thì sẽ không có ai động đến chúng tôi cả.

Hỏi: Khi nhìn lại, ngài có cho rằng mình đã hành xử quá quyết liệt trong vấn để một đất nước Malaysia của người Malaysia không?
Đáp: Không, nếu lúc đó tôi không quyết liệt, thì giờ chúng ta đã là tù nhân rồi.
Hỏi: Trước đây ngài từng nói rằng những người thân đã cảnh báo việc sáp nhập sẽ không hiệu quả, cả bà Lý cũng nói thế. Ngài đã nói: “Vợ tôi bảo rằng chúng tôi sẽ không thành công (ở Malaysia) bởi các nhà lãnh đạo người Mã Lai của đảng UMNO cá lối sống quá khác biệt và bởi vì chính sách của họ dựa trên cộng đồng, sắc tộc và tôn giáo. Tôi trả lời rằng chúng tôi phải khiến cho nó thành công vỉ chúng tôi không còn lựa chọn nào tốt hơn. Nhưng bà ấy đã đúng. Chưa đầy hai nấm, chúng tôi đã bị yêu cầu phải rời khỏi Malaysia”.
Đáp: Đúng thế. Nhưng tôi cũng phải cho khả năng sáp nhập đó một cơ hội chứ.
Hỏi: Lúc đó Singapore còn lựa chọn nào khác?
Đáp: Một Singapore độc lập, nhưng độc lập lúc bấy giờ là phải đối mặt với phong trào học sinh người Hoa đang muốn mở rộng sức mạnh của mình mà họ rất có thể sẽ giành chiến thắng, Nhưng một khi đã sáp nhập vào Malaysia rồi thì người Hoa hiểu rằng họ đang nằm trong một khu vực của người Mã Lai và sẽ không có chuyên một Singapore của người Hoa. Chỉ có thể có một Singapore đa sắc tộc.
Hỏi: Điều đó cũng nằm trong tính toán của ngài khi muốn sáp nhập?
Đáp: Không, đó không phải tính toán của tôi. Đó là kết quả sau khi sáp nhập. Tính toán của tôi đó là chúng tôi phải kết nối lại với họ để có một tổng thể thống nhất. Về mặt lịch sử, Singapore và Malaysia từng là một nước duy nhất.
Hỏi: Chứ mục đích cụ thể của việc sáp nhập không phải là để vô hiệu hóa mối đe dọa của cộng sản Trung Quốc ở Singapore?
Đáp: Không, nếu thế thì chúng ta đã trả một cái giá quá lớn. Giả sử chúng ta cứ ở yên ở Malaysia, không đấu tranh đòi một Malaysia đa sắc tộc với Hiệp ước thống nhất Malaysia, thì bây giờ chúng ta cũng đã giống như vùng Penang hay Kuching hoặc Jesselton, giở là Kota Kinabalu rồi. Họ không phải người Mã Lai. Họ là người Dusun, Dayak và Kadazan.
Hỏi: Một vài người đưa ra quan điểm rằng ngài và đảng PAP đến Malaysia với tham vọng thống trị toàn bộ đất nước.
Đáp: Làm sao mà được. Nhìn thành phần dân số là biết không thể rồi. Những gì người Mã Lai muốn là những người không phải Mã Lai chỉ đóng vai trò thứ yếu thồi. Họ đã có các đối tác là Hiệp hội người Malaysia gốc Hoa lẫn Hội nghị người Malaysia gốc Ấn, để giữ lòng trung thành của các nhà lãnh đạo cấp cơ sở tại bán đảo Malay. Họ có thể thao túng hai vùng Sabah và Sarawak vì các nhà lãnh đạo ở đây còn trẻ và non kinh nghiệm. Trong bối cảnh kèn cựa giữa các bên như vậy Tunku đã đề nghị cho tôi làm đại diện của Malaysia ở Liên Hợp Quốc để tôi khỏi cản đường họ.
Hỏi: Khi hai đất nước chia tách, báo chí nói rằng có nhiều người Singapore vào thời điểm đó đã hoan nghênh sự kiện nậy. Tôi ngờ rằng nếu ta hỏi ý kiến những người dân Singapore ngày hôm nay thì họ vẫn nói rằng sự kiện đó là một trong những điều tốt đẹp nhất đã xảy đến với Singapore bởi vì chúng ta được độc lập, được nắm trong tay vận mệnh của mình. Ngày hôm nay, khi nhìn lại sự chia cắt này, ngài có nhìn nhận với con mắt tích cực không khi thấy Singapore đã phát triển như vậy?
Đáp: Không, chúng ta đã làm hết sức có thể khi còn là một phần của Malaysia. Nhưng người ta đã không cho Singapore được góp phần vào đó. Họ trông mong chúng ta tuân theo những điều kiện của họ, chứ không phải những điều kiện họ đã thỏa thuận với chúng ta và với Anh quốc là chúng ta được hưởng những quyền và đặc quyền nhất định về cả giáo dục và lao động. Chúng ta là một khu vực riêng biệt chứ không phải là một bang bình thường của Malaysia.
Hỏi: Một số chuyên gia cho rằng mong muốn bảo vệ đặc quyền của người Mã Lai sinh ra từ cảm giác bất an khi thấy trong nước có nhiều người Hoa và người An. Theo cách nhìn nhận này nếu Malaysia trở nên đồng nhất hơn, với việc người Mã Lai là nhóm đa số áp đào, thì họ sẽ ít thấy bị đe dọa hơn và nhiều khả năng sẽ buông bỏ những đặc quyền của mình.
Đáp: Anh tin rằng nhóm đa số đó sẽ chịu ủng hộ các nhà lãnh đạo muốn họ phải từ bỏ những đặc quyền của mình sao?
Hỏi: Có nhiều quốc gia mà nhóm dân tộc thiểu số được lợi thế nhiều hơn là gặp bất lợi. Ví dụ như ở Trung Quốc, những người, dân tộc thiểu số sẽ được cộng điểm khi thi vào đại học.
Đáp: Nhìn vào lịch sử, vào quá trình tiến hóa, người Trung Quốc là một nhóm người có lòng tự tin rất lớn, họ muốn vượt trội hơn các dân tộc thiểu số. Vì thế họ sẵn sàng cho phép chính sách một con khổng áp dụng với các dân tộc thiểu số và với các khu tự trị như Tân Cương và Tây Tạng. Đâu thể nào so sánh bối cảnh lịch sử của họ với Malaysia được?
Hỏi: Trong trường hợp của các nước khác ngài đã nhận định rằng nếu quốc gia đó có một tộc người áp đảo hay nói một ngôn ngữ chung thì quốc gia đó sẽ gắn kết hơn. Liệu có thể áp dụng lập luận đó cho Malaysia khi nó ngày càng trở thành một quốc gia của người Mã Lai? Liệu Malaysia sẽ tốt hơn?
Đáp: Nếu anh là một người Hoa hay một người Ân sống ở đó, liệu anh có nghĩ mình sẽ có một cuộc sống tốt hơn?
Hỏi: Có lẽ không. Nhưng Malaysia, với tư cách một quốc gia vả một xã hội, có thể phát triển hơn?
Đáp: Câu trả lời cho câu hỏi đó là: Anh nghĩ nguồn nhân lực tài năng ở đâu ra?
Hỏi: Vậy ý ngài là họ có tiềm năng, có người tài nhưng chưa được trọng dụng?
Đáp: Đúng thế, tất nhiên.
Hỏi: Hiện tại cùng với sự thay đổi trong các nhóm sắc tộc là việc Malaysia đang ngày càng đi theo Hồi giáo một cách chặt chẽ hơn.
Đáp: Điều đó một phần là do ảnh hưởng của Trung Đông.
Hỏi: Liệu nước này có thể trở thành một quốc gia Hồi giáo tiến bộ?
Đáp: Anh tin như thế sao? Theo ý anh một quốc gia Hồi giáo tiến bộ là như thế nào?
Hỏi: Mở cửa với thế giới, mở cửa với những tư tưởng mới.
Đáp: Rồi không đội khăn nữa, phụ nữ bắt tay và ngồi chung với đàn ông, rồi người phi Hồi giáo có thể uống bia và mời người Hồi giáo ngồi uống cà phê với mình?
Hỏi: Nhưng nó có thể giống với Thổ Nhĩ Kỳ hơn là giống với Ả rập Saudi chẳng hạn? Tương đối cởi mở, hấp thụ một số giá trị mang tính quốc tế hơn?
Đáp: Không, nó sẽ là một đất nước Hồi giáo của người Mã Lai. Đã có thời bọn họ sống thoải mái không khắt khe lắm. Còn bây giờ, dưới ảnh hưởng của các quốc gia Trung Đông, họ nghiêng sang phía chính thống nghiêm ngặt hơn. Hồi trước họ cũng uống rượu lúc ăn tối và uống với bạn bè. Khi tôi còn ở đó, Tunku còn mời bạn bè của mình uống whiskey và rượu mạnh. Còn bây giờ, họ nâng cốc chúc mừng nhau bằng xi rô.
Hỏi: Bên cạnh chủng tộc và tôn giáo, người ta còn lo ngại nhất là tham nhũng và nền chính trị nặng tiền bạc. Ví dụ như chính sách giao hợp đồng cho các doanh nghiệp Mã Lai giúp người Mã Lai được hưởng lợi. Liệu ngài có thấy người Malaysia có thể giải quyết được vấn đề này?
Đáp: Tôi không thể nói chắc. Điều đó có thể nếu họ có được một nhóm những người trẻ Mã Lai được giáo dục tốt và muốn điều hành hệ thống một cách nghiêm chỉnh và sẵn sàng chống lại việc thu lợi cho bản thân. Trong mỗi đơn vị đảng UMNO, những người đứng đầu chiếm được nhiều lá phiếu và họ được hưởng đặc quyền vì điều đó. Vì vậy, tôi không; chắc rằng sẽ có thay đổi nào, trừ khi có sự chuyển biến toàn diện trên phạm vi toàn Malaysia.
Hỏi: Về quan hệ Singapore-Malaysia, ngài có thấy tiềm năng hợp tác kinh tế giữa hai nước? Một ví dụ là việc Singapore đầu tư vào khu kinh tế mới Iskandar của Malaysia - cả hai bên đểu rất thực tế và đây là cơ sở để chúng ta có thể làm ăn kinh tế.
Đáp: Chúng ta hãy chờ xem khu kinh tế Iskandar phát triển thế nào. Đây là lĩnh vực hợp tác kinh tế trong đó anh phải nhớ rằng chúng ta đang đầu tư trên đất Malaysia. Và họ chỉ cần quẹt vài nét bút là ta có thể mất đi việc làm ăn đó. Nhưng họ sẽ không chiếm lấy những cơ sở kinh doanh của ta bởi vì họ muốn có nhiều khoản đầu tư hơn. Nhưng khi chúng ta đến đó, chúng ta phải hiểu rằng bất kỳ nhà cửa hay bất động sản nào mà anh xây dựng trên mặt đất đều thuộc về người chủ sở hữu vùng đất đó.

Dịch giả: Lê Thùy Giang Nguồn text: SACHMOI.NET Thực hiện ebook: BT 2024 - Jan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.