Hệ thống tư bản không tự nó có khiếm khuyết. Dù người ta có nói này nói kia thì cũng không nhất thiết phải lật đổ hay xây dựng lại hệ thống đó.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã giáng một cú mạnh lên nền kinh tế thế giới, vi thể không có gì ngạc nhiên khi sau đó người ta ngồi suy ngẫm lại về nguyên nhân của nó và phải làm gì để thế giới có thể tránh được một cuộc khủng hoảng như vậy tái diễn. Sau khi thoát ra khỏi một thảm họa như vậy thì cách nghĩ đó là tự nhiên và dễ hiểu.
Tuy nhiên, chúng ta không nên phản ứng thái quá. Chúng ta thường có khuynh hướng làm trầm trọng hóa những sự kiện diễn ra gần đây nhất là khi những sự kiện đó gây sốc hay đau thương, chẳng hạn như cuộc khủng hoảng 2008. Việc từ chối hệ thống tư bản viện cớ những gì đã xảy ra hay việc áp đặt những biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt lên thị trường tự do là những ví dụ cho thấy đây là những kết luận sai lầm, thậm chí là nguy hiểm. Như thế là vơ đũa cả nắm.
Những thay đổi bất thường của chủ nghĩa tư bản không phải Điều gi xa lạ. Chúng đã được dẫn chứng kĩ càng từ thời Karl Marx. Dựa vào bản chất của các chu kỳ kinh doanh, chúng ta chấp nhận khuynh hướng của chủ nghĩa tư bản dễ dẫn đến cực đoan vì người ta luôn đặt nặng lợi ích hơn cái giá phải trả để đạt được lợi ích đó. Hoặc điều ngược lại là nền kinh tế bị kiểm tỏa chặt chẽ như các hệ thống xã hội chủ nghĩa đã học được bài học này và ở một mức độ nào đó cả các nước kiểu dân chủ xã hội cũng thế.
Những gì chúng ta trải qua trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 không phải do chúng ta hiểu sai về thị trường tự do mà nó là do sự mất cân bằng gia tăng trong thị trường thế chấp dưới chuẩn. Sự thất bại của Mỹ tạo ra cơn dư chấn lan rộng khắp châu Âu và châu Á do sự liên kết toàn cầu giữa các nền kinh tế. Nhưng nước Mỹ đã hồi phục trở lại và cả nền kinh tế thế giới cũng phục hồi cùng nó. Cuộc khủng hoảng đã làm lộ ra nhiều vấn đề ở châu Âu, khu vực mất nhiều thời gian hơn để phục hồi. Những vấn này liên quan tới sự thống nhất tiền tệ của châu lục này cũng như liên quan tới chi tiêu xã hội chứ nó không liên quan gì tới chủ nghĩa tư bản cả. Về lâu dài, thế giới sẽ tốt đẹp hơn và tăng trưởng nhanh hơn dưới chủ nghĩa tư bản vì thị trường tự do là cách thức hiệu quả nhất để tổ chức các lực lượng sản xuất trong bất kỳ xã hội nào, lịch sử đã chứng minh rõ ràng điều đó.
Một yếu tố quan trọng khiến cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính kéo dài và sâu sắc thêm ở Mỹ là nợ công chất chồng nhưng yếu tố đó không liên quan gì tới thị trường, hay nói cách khác là liên quan tới hệ thống tư bản cả. Vì chính phủ Mỹ cho phép nợ công cứ tăng dần đều suốt nhiều năm nên sau cuộc khủng hoảng, người ta mất hết niềm tin vào thị trường. Thái độ cẩu thả, thậm chí bất chấp đối với vấn đề nợ công và chi tiêu công là lỗi của đường lối chính trị chứ không phải lỗi của thị trường tự do.
Người ta hay chỉ trích hệ thống tư bản chủ nghĩa ở hiện tượng “doanh nghiệp quá lớn không thể cho phá sản.” Liệu các tập đoàn lớn, nhất là các ngân hàng, có thể nắm thóp được chính phủ nước sở tại bởi vì chính phủ của họ sợ rằng sự sụp đổ của các tập đoàn hay các ngân hàng lớn này sẽ ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế? Những người chỉ trích gọi điều này là ỷ thế làm liều - đó là việc các công ty lớn đầu tư những khoản rủi ro lớn vì họ tin rằng nếu vỡ nợ sẽ được nhà nước lấy tiền thuế ra bù lỗ còn nếu thành công họ sẽ thu về được khoản lợi nhuận khổng lồ.
Cho dù cách lập luận này có phần đúng nhưng cuộc khủng hoảng tài chính 2008 đã chứng minh rằng không có doanh nghiệp “đại gia” nào lại không chết. Lehman Brothers phá sản cho dù nó là ngân hàng đầu tư lớn thứ tư của Mỹ vào thời điểm đó. Đúng là nhà nước có bảo hiểm tiền gửi trong các tài khoản cá nhân, nhưng điều đó không đảm bảo rằng mọi ngân hàng đểu sẽ được cứu trợ.
Liệu một ngân hàng lớn hơn vối một vai trò quan trọng hơn trong hệ thống tài chính sẽ được cứu để không phá sản? Nếu như không phải Lehman Brothers bị nạn, mà là Citibank thì sao? Tôi không tin rằng bất kỳ ngân hàng nào - ngay cả Citibank - lại được quyền tự tung tự tác khi đầu tư rủi ro cao. Liệu một ngân hàng như Citibank có được chính phủ giúp đỡ hay không còn phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng mà nhũng sai lầm của họ gây ra, phụ thuộc vào tình trạng của các ngân hàng khác cũng như phụ thuộc vào bầu không khí chính trị tại thời điểm đó. Chính sự bấp bênh không chắc liệu mình có được giải cứu khi vỡ nợ có lẽ là lý do chính trong hầu hết các trường hợp khiển cho các giám đốc ngân hàng phải cân nhắc các quyết định làm ăn của mình.
Điều đó không có nghĩa là chính phủ không nên đóng vai trò gì. Có đôi khi, một số chủ doanh nghiệp là người hám lợi và điều đó khiển họ muốn hệ thống nghiêng về phía có lợi cho mình. Thách thức đối với chính phủ nằm ở việc xác định những trường hợp hám lợi này và có hành động kiên quyết chống lại chúng. Vai trò của chính phủ là tạo sân chơi càng công bằng càng tốt để tạo điều kiện cho cạnh tranh tự do và lan li mạnh. Vụ bê bối xung quanh việc điều chỉnh Lãi suất liên ngân hàng Anh Libor là một ví dụ tương đối gần đây. Nó liên quan tới việc các ngân hàng thao túng lãi suất, làm suy giảm độ tin cậy của hệ thống ngân hàng và gây thiệt hại cho các đối tượng tham gia thị trường khác. Chủ tịch và tổng giám đốc của Ngân hàng Barclays bị buộc phải từ chức và ngân hàng này bị phạt hàng trăm triệu đô la ở cả Mỹ và Anh. Trường hợp này đã chứng minh rõ ràng các chính phủ và cơ quan quản lý không thể lơi lỏng việc quản lý hoặc giả định rằng các tổng giám đốc công ty sẽ hành xử có đạo đức khi không ai trông coi khi mà các khoản lợi nhuận khổng lồ có sức cám dỗ lớn.
Nhiều chính phủ cũng đang xem xét lại quy định của các ngân hàng thương mại và đầu tư sau cuộc khủng hoảng tài chính. Về vấn đề này tôi đồng ý với cựu chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Paul Volcker, một người đàn ông rất sâu sắc và kinh nghiệm về tài chính và ngân hàng khi ông đưa ra quy tắc: đó là nếu chúng ta biết đặt ra giới hạn giữa các hoạt động ngân hàng mang tính thương mại bình thường với các hình thức giao dịch ngân hàng mang tính đầu cơ và nguy hiểm thì chúng ta sẽ có được một hệ thống ngân hàng an toàn hơn. Điều này được biết đến với tên gọi là Luật Volcker. Tuy nhiên, rất khó để áp dụng luật này vào thực tế. Các ngân hàng có thể sẽ chuyển hoạt động sang các nước khác và dòng tiền sẽ chảy từ nước áp dụng Luật Volcker sang nước không có luật này. Nước Anh chẳng hạn chắc chắn sẽ không muốn siết chặt quy định lên các ngân hàng do nước này phụ thuộc rất lớn vào trung tâm tài chính London của mình. Liệu các nước khác có muốn làm giảm khả năng cạnh tranh của họ so với Anh? Tôi nghi ngờ điều đó.
Tuy nhiên, khi nói đến việc ổn định toàn bộ hệ thống kinh tế, người ta cần có sự can thiệp của chính phủ và đó cũng là điều hợp lý. Người Mỹ cố gắng ngăn chặn sức ép suy thoái bằng cách bơm thanh khoản vào nền kinh tế của mình, về cơ bản là in thêm tiền. Một cách thức tiêu chuẩn để chống lại suy thoái là nới lỏng hơn chính sách tiền tệ, dù người Mỹ cũng sử dụng một số phương pháp phi truyền thống khác, và khoản cứu trợ tài chính của Mỹ lần này phải nói là rất lớn trong lịch sử.
Tuy nhiên không phải ai cũng ủng hộ biện pháp này. Các nhà phê bình nào tán thành với quan điểm của nhà kinh tế học người Áo Friedrich Hayek tin rằng những chính sách như vậy sẽ ngăn cản việc loại bỏ những công ty làm ăn không hiệu quả, kéo dài đời sống của các công ty và ngành công nghiệp yếu kém, và rốt cuộc họ chẳng làm gì hơn là ngồi chờ đợi. Họ nói rằng đến cuối cùng nền kinh tế sẻ có sự điều chỉnh tự nhiên của nó và việc ngàn cản những điều chỉnh tự nhiên đó thông qua việc nới lỏng định lượng sẽ đem lại hai kết cục: nếu thực hiện tốt, nó cũng chỉ kéo dài quá trình điều chỉnh cần thiết này, còn không thì nó tạo ra những thiếu sót trong hệ thống và cuối cùng dẫn đến tình trạng trì trệ lâu dài, nếu không muốn nói là sau này sẽ dẫn đến một cuộc suy thoái trầm trọng hơn.
Tôi tin rằng việc có các chính sách hỗ trợ dù là về tài khóa hay chính sách kiểu Keynes về quản lý nhà nước để đối phó với cuộc khủng hoảng là cách thức đỡ gây hại nhất. Nhiều quốc gia đã thử nghe theo quan điểm của nhà kinh tế học Hayek là nhà nước không can thiệp gì vào thị trường tự do, kết quả là hứng lấy những hậu quả tai hại trong thời kỳ Đại suy thoái. Nhờ vào hệ thống thương mại toàn cầu mang tính hội nhập cao ngày nay nên nguy cơ của việc siết chặt giao thương theo dây chuyền lan ra toàn cẩu là một viễn cảnh đáng sợ cho tất cả. Do đó, không ai muốn Mỹ xuống dốc sâu cả.
Mỹ có thể thực hiện nới lỏng định lượng vì đồng đô la là đồng tiền dự trữ của thế giới. Họ được phép nhập siêu mà không phải đối mặt với nhiều hậu quả. Còn nếu các nước khác mà nhập siêu, họ sẽ chịu rủi ro vốn chảy ra nước ngoài và tỷ giá hối đoái sụp đổ. Cái giá phải trả đối với người Mỹ là thấp vi rủi ro đáng lý họ phải chịu đã được chuyển một phần cho toàn bộ thế giới. Người Mỹ có thể đi vay với lãi suất ưu đãi hơn bởi vì các nước khác sẵn sàng dự trữ tiền mặt và tài sản bằng đô la Mỹ. Đó là lợi thế của đồng tiền dự trữ.
Người Anh trước đây cũng được hưởng những ưu đãi này vì đồng bảng một thời đã từng là tiền tệ dùng trong thương mại quốc tế, nhưng người Anh đã mất đi vị trí đó. Có lẽ một ngày kia người Mỹ cũng sẽ mất đi vị trí này. Tôi nghĩ rằng tình huống đó rất khó xảy ra, nhưng không phải là không thể. Còn hiện tại, không có đồng tiền nào có thể thay cho đồng đô la Mỹ làm đơn vị tiền tệ dự trữ của thế giới. Đồng euro vẫn đang trong tình trạng nguy hiểm còn đồng nhân dân tệ chưa sẵn sàng.
Tôi không tin rằng Trung Quốc có thể thay thế người Mỹ. Họ có những mối bận tâm lớn hơn. Nếu để mở hoạt động chuyển khoản vốn, điều có nghĩa là bạn cho phép dòng tiền lưu chuyển tự do. Như vậy, một sự đầu tư tiền vào hoặc rút tiền ra đột ngột sẽ gây bất ổn cho nền kinh tế. Nền kinh tế Mỹ đã đủ mạnh để chống chọi được với tình trạng đó nhưng không chắc Trung Quốc sẽ muốn chịu nguy cơ rủi ro như vậy.
Để làm gì cơ chứ? Họ đang phát triển khá tốt mà không cần phải trở thành đồng tiền dự trữ. Những lợi thế đạt được không đủ lớn để biện minh cho một hành động liều lĩnh như vậy. Nếu tôi là họ, tôi sẽ không làm điều đó.
Nhà kinh tế học người Pháp Jacques Rueff đã từng là một người ủng hộ mạnh mẽ của việc quay trở lại bản vị vàng vì ông có thể nhìn thấy những bất công của một hệ thống dựa trên đồng đô la Mỹ. Người Mỹ từ chối hợp tác và tuyên bố: “Hoặc là anh chấp nhận đồng đô la, không thì đừng có dùng nó.” Vì nước Mỹ vẫn là nền kinh tế mạnh nhất nên người ta vẫn chấp nhận nó, tin tưởng rằng tình hình hiện tại sẽ kéo dài và tạo được sự ổn định chắc chắn cho hệ thống thương mại quốc tế. Bất kỳ sự thay đổi nào trong đơn vị tiền tệ dự trữ đều tạo ra một giai đoạn hỗn loạn ít nhất là trong một thời gian ngắn kể cả nếu — một chữ nếu viết hoa - vấn đề đã được giải quyết một cách hữu nghị giữa các nhà lãnh đạo của các nền kinh tế lớn.
Còn hiện tại, mối đe dọa ngắn hạn hơn nhưng to lớn hơn với tình hình kinh tế toàn cầu là sự kìm hãm tự do thương mại. Nếu cứ đi theo chủ trưởng bảo hộ công nghiệp trong nước thì sẽ không tránh khỏi suy thoái. Chúng ta không được quên rằng cuộc Đại suy thoái những năm 1930 đã trở nên trầm trọng hơn bởi khuynh hướng biệt lập không quan hệ chính trị hay kinh tế giữa một vài quốc gia. Giả dụ các chính trị gia của Mỹ, vì những toan tính bầu cử, quyết định đánh thuế cao nhằm không cho người Trung Quốc bán phá giá thì Trung Quốc chắc chắn sẽ trả đũa lại. Một khi đi theo con đường đó thì chẳng bao lâu các đối tác thương mại khác gồm cả châu Âu và Nhật Bản sẽ bị lôi kéo vào mâu thuẫn này và cũng phải tính đến các biện pháp tương tự. Như thế toàn bộ hệ thống thương mại sẽ lung lay. Thế giới cuối cùng sẽ nghèo đi. Trong nhiều trường hợp, các nước nghèo sẽ chịu thiệt thòi nhất. Vi họ bắt đầu từ nền tảng thấp hơn nên chỉ có làm thương mại mới có thể giúp họ thành công hơn.
Các thỏa thuận thương mại tự do là con đường để tiến lên phía trước. Miễn là các nước có thể đạt được thỏa thuận thi các bên ký kết đều được lợi. Vòng đàm phán thương mại Doha sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho tất cả các nước kể cả Singapore nếu cuối cùng các bên đạt được một thỏa thuận. Thật không may, các cuộc đàm phán không đem lại kết quả nào trong hơn một thập kỷ kể từ khi chúng bắt đầu, với trở ngại lớn nhất chính là những khoản trợ cấp nông nghiệp. Ý chí chính trị cần thiết để có thể chịu nhượng bộ trên bàn đàm phán đã không được thể hiện ở Doha, khiến nó không thể thành công. Một số công nhân Mỹ mất việc vì công việc của họ bị chuyển sang nước ngoài và các chính trị gia thấy khó có thể giải thích được với họ rằng những điều chỉnh khác sẽ có lợi cho họ. Tuy nhiên, nếu các công ty Mỹ không chuyển hoạt động hay văn phòng đại diện ra nước ngoài thì người Đức, Pháp, Anh và Nhật sẽ làm điều đó và khiến các công ty Mỹ lâm vào thế bất lợi.
Trong khi đó, hầu hết các quốc gia đều bận rộn chuẩn bị cho các thỏa thuận về tự do thương mại song phương - đây chỉ là giải pháp thứ hai nhưng vẫn là giải pháp tốt. Cho đến nay, Singapore đã ký kết 19 hiệp định thương mại tự do FTA gồm với khu vực và song phương, bao gồm cả các FTA với các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Úc. Và hóa ra là chính các FTA này là yếu tố thúc đẩy tự do hóa thương mại khi mà đàm phán Doha bế tắc. Chiến lược của chúng ta đã thành công.
Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), một hiệp định thương mại cấp cao giữa các nước xung quanh Thái Bình Dương cũng là một bước phát triển đáng hoan nghênh. Nếu 12 quốc gia hiện đang tham gia đàm phán nghiêm túc thực thi cam kết mở cửa thị trường nội địa thì hiệp định này sẽ đưa thương mại của các nước này lên một tầm cao mới, nâng cao lợi ích cho hàng ngàn công ty và hàng triệu người tiêu dùng. Với việc người Mỹ đồng ý tham gia, TPP chắc chắn sẽ là một hướng đi có lợi cho mọi quốc gia liên quan.
Hỏi: Liệu có chính xác khi nói rằng ngài chấp nhận những gì đã xảy ra trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu là một phần tất yếu trong cách thức hoạt động của hệ thống tư bản chủ nghĩa?
Đáp: Nó là một phần tất yếu trong cách thức hoạt động của hệ thống tư bản Mỹ. Các hệ thống tư bản châu Âu lại khác bởi vì họ có nền kinh tế dựa nên phúc lợi xã hội của mình - an sinh xã hội nhiều hơn do đó ít năng động hơn. Người Anh có hệ thống chăm sóc y tế miễn phí. Giỏi nhất trong số các nước là người Đức, nhưng thậm chí người Đức cũng mang gánh nặng về phúc lợi y tế và trợ cấp thất nghiệp. Tôi không tin rằng người châu Âu có tính cạnh tranh cao như người Mỹ. Vì vậy nếu hệ thống đi đến cực đoan thì thất bại xảy ra nhưng sau đó nó sẽ hồi phục lại. Điều ngược lại là nó không đĩ đến cực đoan nhưng nó thiếu lợi thế cạnh tranh đó.
Hỏi: Nhưng bây giờ có những nhà kinh tế đang đặt ra những câu hỏi về toàn thể hệ thống tư bản chủ nghĩa. Với một số người, họ thấy rằng các chu kỳ kinh doanh đang rút ngắn lại và suy thoái đang sâu dần, điều đó chỉ ra khả năng rằng hệ thống đang cần một sự cải tổ căn bản. Nền kinh tế Mỹ đã không phục hồi hoàn toàn trong năm năm kể từ 2007 - tạo ra một trong những thời- kỳ suy thoái dài nhất trong thời, gian gần đây.
Đáp: Tôi không thể nói được hệ thống Mỹ nên làm gì. Nhưng tôi không tin rằng phần lớn người Mỹ sẽ ủng hộ kiểu nhà nước phúc lợi của người Anh. Đó chính là lựa chọn ngược lại. Bạn không thành công. Tôi cho bạn nhà cửa, tôi cho bạn dịch vụ y tế miễn phí, bạn trả tiền học phí đại học rất thấp. Điều này đã không tạo ra được những kết quả sáng sủa lắm cho người Anh. Nhưng hiện tại họ không thể thoát ra khỏi tình hình này.
Hỏi: Cứ cho rằng đồng đô la Mỹ sẽ vẫn là đồng tiền dự trữ của thế giới trong tương lai gần, không bị thách thức bởi đồng nhân dân tệ, vậy chiến lược của Singapore trong đầu tư dự trữ là gì?
Đáp: Chúng ta sẽ tiếp tục dự trữ bằng đồng đô la Mỹ. Và nếu nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên vẫn còn cao, chúng ta sẽ giữ một phần dự trữ bằng đồng đô la úc. Miễn là người Trung Quốc vẫn còn cần những nguồn tài nguyên khổng lồ - sắt, than đá và các tài nguyên khác - để giữ cho nền kinh tế của họ phát triển, thi điều đó sẽ đẩy giá đồng đô la úc bởi vì người Úc còn rất nhiều đất chưa khai phá, nhiều tài nguyên và dân số ít. Còn quốc gia nào khác có nguồn tài nguyên mà Trung Quốc cẩn? Brazil, nước sản xuất đậu nành lớn. Người Trung Quốc cần nhiều đậu nành tới nỗi họ phải đến Brazil để nhập về. Do Brazil không giáp Thái Bình Dương nên người Trung Quốc đã thu xếp chuyển hàng qua Colombia rồi xuất sang Trung Quốc chứ không đi theo đường kênh đào Panama. Đất nước tiêu thụ các nguồn tài nguyên lớn nhất trong vài thập kỷ tới sẽ là Trung Quốc vi quốc gia này đang phát triển. Trung Quốc có dân số khổng lồ và thu nhập bình quân đầu người còn rất thấp. Nó phải đi mua những nguồn tài nguyên này vì bản thân nó không có đủ. Trung Quốc có những vùng đất vô vùng rộng lớn ở Tân Cương và Tây Tạng nhưng phần lớn rất cằn cỗi.
Hỏi: Chuyển sang vấn đề về điều tiết luồng tiền ra vào đất nước. Quan điểm của ngài vấn để này như thế nào?
Đáp: Vì là một quốc gia nhỏ nên chúng ta càng ít quy định càng tốt. Nhưng đồng thời chúng ta cũng phải duy trì một lượng dự trữ cao đề phòng trường hợp đầu cơ trục lợi thao túng thị trường như kiểu George Soros tấn công đồng tiền. Trong quá khứ ông ấy không tấn công đồng tiền của chúng ta, nhưng có lẽ đó là bởi ông ấy biết chúng ta có quá nhiều dự trữ và ông ấy có thể thua trận này.
Hỏi: Tại sao một hệ thống kinh tế tự do hơn lại có lợi cho một đất nước nhỏ bé? Liệu không nguy hiểm sao khi chúng ta là nước nhỏ như vậy nên để bị ngập trong dòng vốn chảy vào?
Đáp: Dòng vốn chảy vào dù lớn cũng không áp đảo được. Khi người ta đầu tư vào các công ty của chúng ta và các khu xây dựng mới, đó là một dấu hiệu của sự tin tưởng.
Hỏi: Thế còn nguy cơ vỡ bong bóng tài sản thì sao?
Đáp: Họ sẽ có nguy cơ bị mất nếu họ đi quá xa, đặc biệt là nếu quá 1 nhiều người trong số họ không mua bất động sản để ở mà để đầu tư kiếm lời.
Hỏi: Nghĩa là ông đang nói rằng sẽ xuất hiện một cơ chế tự điều chỉnh?
Đáp: Về lâu về dài, đúng như thế. Mặc dù có thể có trục trặc.
Hỏi: Từ góc độ chính trị, chẳng phải điều đó sẽ gây mất ổn định trong thời gian ngắn sao?
Đáp: Đối với chúng ta sự lựa chọn là hoặc toàn cầu hóa hoặc tự cô lập. Chúng ta không phải Trung Quốc. Trung Quốc có thể giữ thế cô lập vì cơ sở quốc nội khổng lồ của nó còn chúng ta thì không thể. GDP bình quân đầu người của chúng ta là 500 USD vào năm 1965. Hiện tại là khoảng 52.000 USD. Chúng ta đâu thể đạt đến con số đó trong vòng năm thập kỷ vừa qua nếu chúng ta đã không mở cửa. Nếu chúng ta cắt mối quan hệ với nền kinh tế quốc tế, chúng ta sẽ co lại.
Hỏi: Trong trường hợp của Malaysia, thủ tướng Mahathir Mohamad lúc đó đã đưa ra các biện pháp kiểm soát vốn trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Thời điểm đó thì đây là một quyết định gây tranh cãi, nhưng bây giờ nhìn lại có nhiều học giả cho rằng đây là một quyết định cần thiết để ổn định hệ thống.
Đáp: Tôi không muốn dính vào một cuộc tranh cãi với người Malaysia về việc liệu họ có quyết định đúng hay không. Chúng ta mở cửa hệ thống kinh tế và giữ chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi nhưng có kiểm soát. Chúng ta đã thành công. Dựa trên tình hình riêng của đất nước mình, mỗi quốc gia đều có quyền quyết định liệu việc cho phép dòng vốn và đầu tư tự do chảy vào và ra khỏi quốc gia có phải là điều có lợi cho họ hay không. Ở một số nước có hệ thống ngân hàng tài chính chưa mạnh, điều này có thể gây ra vấn đề. Trong trường hợp của Singapore, chúng ta tin rằng điều này có lợi cho đất nước. Khi nhìn vào hệ thống tài chính chưa phát triển mạnh của mình, Trung Quốc đã quyết định rằng còn quá sớm để cho phép vốn luân chuyển tự do, bởi vì họ tin rằng nó sẽ gây bất ổn cho nền kinh tế. Cho dù Trung Quốc phát triển kinh tế tốt nhưng về lâu về dài họ sẽ phải trả giá để có được sự ổn định này, cái giá đó là việc không tận dụng được hết tiềm năng kinh tế của mình, bởi vì một khi anh đóng lại tài khoản vốn và kiểm soát dòng vốn và đầu tư chảy vào và ra, tức là anh đang làm giảm sự năng động. Sẽ có ít khoản đầu tư chảy vào hơn.
Hỏi: Người ta lo ngại rằng dòng tiền nóng chảy vào tài sản có thể hất văng người Singapore ra khỏi thị trường.
Đáp: Chúng ta hoặc mở cửa hoặc đóng cửa. Trong vòng mười năm nữa, liệu ai có thể đoán được rằng các tài sản mà người nước ngoài mua là được định giá quá cao hay quá thấp? Chúng ta để cho thị trường quyết định điều đó. Họ đầu tư vì họ tin rằng đó là nơi an toàn, nhưng trong thực tế vẫn có những rủi ro. Nếu có chuyện xảy ra thì giá nhà sẽ tụt xuống. Bất động sản không mang tính thanh khoản cao. Anh không thể trong chớp mắt mua vào bán ra được. Tiền trong ngân hàng mới có tính thanh khoản cao. Anh có thể gõ vài phím máy tính và ra lệnh “Đổi tiền của tôi sang đồng bảng hay euro” nhưng anh không thể làm điều đó với bất động sản. Trong bất kỳ trường hợp nào, chúng ta cũng đã đưa ra các quy tắc để người nước ngoài không thể dễ dàng mua bất động sản mà không cần sự chấp thuận trước. Chúng ta cũng đã áp một mức Thuế tài sản gia tăng đối với người mua cao hơn đối với người nước ngoài.
Hỏi: Người ta trước đây thường tranh cãi rằng giá bất động sản không nên vượt quá xa so với mức tăng lương, nếu không những người lao động trung bình sẽ không thể đủ sức mua bất động sản đó. Điều đó là đúng nếu thị trường gồm chủ yếu là người dân trong nước. Nhưng khi ngài mở cửa thị trường bất động sản cho người nước ngoài là ngài đang tách rời giá bất động sản với tiền lương, và giá bất động sản thì có xu hướng tăng nhanh hơn nhiều so với tiền lương. Có nguy hiểm không nếu điều đó xảy ra?
Đáp: Nhưng người Singapore cũng thu được lợi lớn từ tài sản của mình. Nếu họ tin rằng tài sản của minh đang được định giá quá cao và rồi sẽ đến lúc giá nhà tụt xuống, vậy thì họ có thể sẽ chọn cách bán đi. Anh có thể bán nhà, thuê nhà ở tạm và chờ giá giảm. Còn nếu anh tin giá nhà sẽ tăng lên thì anh sẽ giữ lại nhà mình. Nói cho cùng đây là vấn đề tin tưởng vào một quốc gia cụ thể hay tin vào một hệ thống chính trị cụ thể.
Hỏi: Nhưng ngài chỉ có thể thanh lý tài sản khi đã sở hữu tài sản rồi. Những người mua nhà ở mới ở địa phương không có được lựa chọn như vậy. (Lưu ý: “thanh lý” nghĩa là bán tài sản để lấy tiền, “người mua nhà ở mới ở địa thương” nói đến những người Singapore chưa sở hữu bất động sản nào.)
Đáp: Đối với những người Singapore chưa sở hữu nhà ở, họ có thể mua căn hộ diện HDB do nhà nước trợ giá, nếu họ đáp ứng các tiêu chí của HDB.
Trọng tâm của nền kinh tế thế giới đã thay đổi hẳn từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Khu vực Thái Bình Dương ngày nay là nơi diễn ra mạng lưới thương mại lớn nhất thế giới. Không lâu trước đây nước Đức của Adolf Hitler là cường quốc thống trị thế giới về cả chính trị và công nghiệp nhưng họ đã bị đánh bại trong chiến tranh và người Mỹ trở thành cường quốc trong nhiều thập kỷ. Trong 30 năm tới, nền kinh tế lớn nhất có lẽ sẽ là Trung Quốc. Toàn bộ châu Âu kết hợp lại có thể đứng thứ hai, nhưng một châu Âu chia tách sẽ là 27 nền kinh tế riêng lẻ không thể tự định đoạt được số phận của mình. Đến lúc đó, Trung Quốc và Mỹ sẽ là những cường quốc kinh tế đưa ra những quyết định quan trọng nhất. Các nước khác sẽ theo dõi chặt chẽ xem những biến động nào trong hai nền kinh tế này có khả năng lan xa và rộng.
Bên bờ châu Á của Thái Bình Dương, mặc dù tốc độ tăng trưởng vẫn sẽ mạnh mẽ nhưng sẽ vẫn mất nhiều thập kỷ cho đến khi sức tiêu thụ ở đây tiến gần với sức tiêu thụ tại Hoa Kỳ. Lý do nằm ở văn hóa khu vực. Người Trung Quốc đã trải qua thiên tai, chiến tranh và nhiều bấp bênh lớn khi từng cá nhân hay gia đình phải tự lực cánh sinh, sống dựa vào những di tích cóp được trong thời bình. Không dễ dàng gì thuyết phục họ trở thành những con người chi tiêu thoải mái. Tương tự, người Singapore cũng tích trữ một khoản tiền lớn vì thói quen hay đề phòng bất trắc của mình.
Tuy nhiên, châu Á là guồng máy chính tạo động lực cho GDP toàn thế giới tăng trưởng, cho dù phần lớn những gì người lao động châu Á kiểm được họ đều để dành lại cho con cho cháu. Càng về sau, chúng ta càng ít theo dõi sự lên xuống của thị trường chứng khoán và tin tức kinh tế ngân hàng ở Mỹ và châu Âu nữa mà chuyển sang theo dõi những thông tin đó ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật và Hàn Quốc. Hoạt động kinh tế sôi động của Trung Quốc, nhờ vào thị trường quốc nội phát triển của mình, được cho là đã giúp châu Á hồi phục nhanh trong sau cuộc suy thoái năm 2008, 2009; và đây cũng là điều báo hiệu cho những gì sắp đến. Châu Á không hẳn sẽ nhanh chóng tách rời với nền kinh tế Mỹ. Một phần lớn hàng xuất khẩu châu Á vẫn cập bến bờ biển Mỹ. Nhưng mối quan hệ giữa châu Á và Hoa Kỳ sẽ phát triển thành một mối quan hệ cân bằng hơn, khi các chính phủ châu Á tự tin rằng họ có thể tạo ra tốc độ tăng trưởng khá ngay cả khi nền kinh tế Mỹ không bùng nổ,
Ngay cả khi sự dịch chuyển về phía Thái Bình dương diễn ra, các tiến bộ công nghệ trong truyền thông và giao thông vận tải sẽ tiếp tục thay đổi bản chất của thế giới và cách chúng ta sống và làm việc. Bây giờ chúng ta có thể liên lạc với bất cứ ai ở bất cứ đâu trên thế giới. Nhà vào internet, bạn không nhất thiết phải là người có điều kiện mới có thể cập nhật được đầy đủ các kiến thức chính xác và sâu rộng về những gì đang diễn ra ở những nơi khác trên thế giới.
Khi còn là một đứa trẻ những năm 1920, tôi mất một giờ đi xe bò từ Bedok ở phía đông của Singapore mới đến được đồn điền cao su của ông nội tôi ở Chai chee chỉ cách đó chưa đầy một cây sổ. Trong những năm 1930, hôi còn là sinh viên, tôi thường đứng đợi tàu đến vào các ngày thứ năm hoặc thứ sáu. Những con tàu đó phải đi mất năm đến sáu tuần từ nước Anh đến đây, mang theo những tạp chí dành cho con trai mà tôi rất yêu thích. Hồi đó tôi phải mất ba tuần mới tới được London học đại học trên chiếc Britannic, một tàu chở hàng xuyên Đại Tây Dương mang quân đội từ Viễn Đông trở lại Anh. Khi đã ở Anh rồi, cách nhanh nhất và hiệu quả nhất để tôi có thể liên lạc với gia đinh mình là thông qua thư tín mất khoảng 50 xu Singapore hay một shilling Anh. Các bức thư đó là những tấm giấy mỏng màu xanh có các mép gấp lại mà người ta có thể viết trên cả hai mặt của tờ giấy.
Còn ngày nay, một chuyến bay giữa London và Singapore chỉ mất 12 giờ chứ không phải là bốn đến năm ngày như một chiếc thủy phi cơ hồi đầu những năm 1950, phải hạ cánh ở Cairo, Karachi và Colombo trước khi đến Singapore. Nhưng nếu là máy bay siêu thanh thì chỉ mất sáu giờ. Máy bay phản lực Concorde có thể đưa hành khách từ London đến Singapore ăn trưa và trở lại London ăn tối. Đó là máy bay siêu thanh.
Không một máy bay dân sự nào hiện nay vượt qua được tốc độ của âm thanh. Tuy nhiên, những tiến bộ công nghệ đã mang lại sự thay đổi sâu sắc. Ngày nay chúng ta có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác tương đối an toàn và dễ dàng. Thư tín gửi buổi sáng thi buổi tối người thân đã nhận được. Nhưng ít ai gửi thư nữa. Người ta thích gửi email hay tin nhắn điện thoại hơn với tốc độ ánh sáng. Ngay cả ở châu Phi, nông dân cũng sử dụng iPhone để cập nhật thông tin về giá ngô.
Với sự tiến bộ của công nghệ, mọi người biết được người khác đang sống ra sao. Những người nghèo nhất ở châu Á và châu Phi nhận thức rất rõ họ nghèo ra sao khi so với với người Mỹ, châu Âu cũng như với những người châu Á và châu Phi giàu có. Điều này khiến cho những người nhập cư cả hợp pháp lẫn bất hợp pháp cố gắng vượt biên giới để kiếm được việc làm tốt hơn, điều kiện sống tốt hơn ở những quốc gia giàu có hơn và cho họ nhiều cơ hội kinh tế. Dòng người di cư không ngừng chảy với những kẻ trung chuyển chuyên nghiệp giúp họ lên qua biên giới bằng đủ mọi cách và đôi khi những chuyến đi đó kết thúc một cách bi thảm - người nhập cư bị nhồi nhét trong một chiếc công-ten-nơ có thể chết vì ngộp thở. Mong muốn di dân rất mạnh mẽ. Nó giống như nước chảy về vùng trũng, nơi mọi thứ xanh tươi, màu mỡ hơn. Nó sẽ tạo ra một thách thức rất lớn cho tương lai đường biên giới giữa các quốc gia.
Tất cả những thay đổi này mở ra những cơ hội chưa từng có cho các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là ở châu A. Nước nào tổ chức tốt - thông qua các chính sách thân thiện với thị trường, giáo dục, lao động chăm chỉ và pháp quyển - có thể phát triển rất nhanh nhờ vào những cơ hội dành cho họ trong một thế giới toàn cầu hóa. Mặt khác, tốc độ phát triển chóng mặt này không phải không có những khía cạnh tiêu cực.
Chúng ta nhận ra được khả năng đáng sợ của toàn cầu hóa có thể gây tổn hại nghiêm trọng tới các quốc gia là qua cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Yếu tố khơi ngòi là chế độ tỷ giá không bền của Thái Lan và ở một mức độ thấp hơn là của Indonesia và Hàn Quốc. Thái Lan vay ngắn hạn bằng đồng đô la và các đồng tiền khác còn đầu tư dài hạn vào nhà xưởng và bất động sản. Khi các thị trường nhận ra rằng kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan không đủ để trả nợ, đồng baht liền bị tấn công đầu cơ. Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã dũng cảm chống lại thị trưởng nhưng mau chóng thấy rằng mình thiểu lượng dự trữ.
Khi người Thái kêu gọi sự giúp đỡ, Hoa Kỳ đã không đáp ứng dứt khoát. Đây là một sai lầm, vì nó đã gửi một tín hiệu đến các thị trưởng rằng người Mỹ không sẵn lòng ngăn chặn cuộc khủng hoảng vì sợ ảnh hưởng đến uy tín của mình. Điều này đã khởi đầu cho cuộc khủng hoảng tín dụng. Cuộc khủng hoảng này chỉ trong vài ngày đã lây lan sang các nước châu Á khác và nhiều ngân hàng trung ương, gồm cả ngân hàng Singapore, nhận thấy đồng tiền của họ đang bị tấn công. Các nhà quản lý tiền tệ quốc tế đã gom các nền kinh tế châu Á vào cùng một nhóm - “mới nổi” - và thậm chí cả các nước có nền tảng kinh tế vững cũng bị lung lay
Một trong những bài học kinh nghiệm của các nước châu Á rút ra từ cuộc khủng hoảng đó là việc tự do hóa nguồn vốn không nên được thực hiện vội vàng, đặc biệt là nếu hệ thống tài chính vẫn còn mong manh hoặc sự giám sát của ngân hàng trung ương vẫn còn bất cập. Việc mở cửa với thế giới chỉ nên xảy ra sau khi nền kinh tế đã ổn định và phát triển tương đối mạnh mẽ. Ngoài ra, khi mở cửa nền kinh tế, bạn cần có lượng dự trữ tiền tệ lớn. Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, các quốc gia châu Á xoay sở đổ thoát ra nguyên vẹn bởi vì những nỗi sợ năm 1997 đã dạy cho họ bài học, thúc đẩy họ nhấn mạnh nhu cầu xây dựng nền tảng kinh tế mạnh mẽ, lượng dự trữ lớn, hạn chế nợ và hệ thống ngân hàng lành mạnh.
Một nhược điểm của toàn cầu hóa là nó sinh ra xu hướng bất bình đẳng. Các cá nhân xuất sắc nhất đều di cư và có thể tạo ra một cuộc sống tốt ở nhiều nơi trên thế giới. Các công ty do đó không tránh khỏi việc phải trả lương cao cho các cá nhân này nếu muốn giữ chân họ. Ngược lại, những người làm các công việc không đòi hỏi kỹ năng cao và lương thấp lại thấy mình phải cạnh tranh với hàng đống nhân công đói khát ở Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế mới nổi khác, những người sẵn sàng làm việc chỉ để nhận một đồng lương bằng một phần nhố lương của họ. Tiền lương trong phân khúc lao động này đương nhiên sẽ trở thành một vấn đề nhạy cảm. Một số thậm chí còn mất việc bởi vì những công việc họ đảm nhận giờ đã chuyển sang các nước có giá nhân công rẻ hơn.
Những lực lượng này đặt ra những thách thức rất nghiêm trọng đối với chính phủ của các nước.
Dù việc đối phó với vấn đề bất bình đẳng là chuyện quan trọng thì vẫn cần thừa nhận rằng sự bất bình đẳng sẽ luôn là một phần tất yếu của hệ thống tư bản chủ nghĩa đang trong quá trình toàn cầu hóa. Sự chênh lệch sẽ diễn ra, một phần vì có sự chênh lệch trong trí tuệ, nỗ lực và may mắn của người lao động, và một phần do tính cạnh tranh xuyên biên giới trong thời đại này. Nếu bạn muốn sự chênh lệch này nhỏ lại, bạn phải chuyển sang chủ nghĩa xã hội hoặc cố gắng xây tường ngăn cách xã hội của mình với phần còn lại của thế giới, và không có cách nào trên đây có thể đưa đến kết cục hạnh phúc. Khoản lương khổng lồ của các giám đốc và khoản tiền thưởng lễ tết nghe thật bất công. Nhưng nếu không có tài năng của các giám đốc đó, liệu công ty có làm ăn thành công để đủ tiền trả cho họ khoản lương đó không? Nếu không có tài năng đó mà công ty vẫn làm ăn tốt, hay có một người giỏi không kém sẵn sàng nhận việc với một mức lương thấp hơn, đương nhiên các cổ đông sẽ không chịu trả mức lương cao như thể. Nhưng các cổ đông thấy rằng với sự điều hành hiện tại, giá cổ phiếu của họ đã tăng, vậy sao họ phải liều?
Đồng thời, xã hội cần phải duy trì sự nhận thức đúng đắn. Chủ nghĩa tư bản thuần túy không có sự quản lý sẽ rất nguy hiểm vì nó sẽ dẫn đến bạo loạn và sự sụp đổ trong khế ước xã hội. Cần phải có sự cân bằng khéo léo. Người ta cần phải tìm cách để đảm bảo rằng những người sống dưới đáy xã hội cũng phải đủ ăn đủ mặc và có cảm giác gần gũi với cộng đồng mình.
Khi tôi còn là chủ tịch của Công ty đầu tư chính phủ Singapore (GIC), đã có những nhà quản lý đầu tư trong tổ chức được trả lương cao gấp năm lần tôi. Điều đó nghe có hợp lý không? Nhưng nếu không trả cho họ mức lương đó, họ sẽ dễ dàng bỏ việc ngay hôm sau để tìm một ngân hàng đầu tư trả lương cao hơn, bởi vì họ có trí tuệ và kỹ năng. Giả sử tôi nói với bản thân mình “Xem nào, nếu họ nhận được mức lương đó thì lương tôi đáng lẽ phải cao hơn chứ bởi vì tôi điều hành cả hệ thống cơ mà” thì sự ganh đua sẽ không kết thúc. Để gắn kết xã hội, chúng ta cần đảm bảo có sự bình đẳng và công bằng. Singapore đã thực hiện điều này khi hỗ trợ người nghèo bằng cách giảm giá dịch vụ công cộng và trợ cấp khó khăn - trong chương trình Trợ cấp Lao động - và trợ cấp khi họ mua nhà công, và nhiều việc khác nữa.
Thế giới không thể nào bước lại con đường cũ trong lịch sử. Bạn không thể nào xóa đi những phát minh về máy bay, Internet, iPhone và iPad. Bạn chấp nhận thế giới như nó đang tồn tại hiện nay và tìm cách tốt nhất để tối đa hóa của cải trong xã hội, nếu không bạn sẽ bị bỏ lại đằng sau khi mọi nơi đang thay đổi không ngừng. Thế giới không thể nào ngừng quay vì lợi ích của riêng bạn được.
Hỏi: Với các hoạt động kinh tế chuyển hướng về phía châu Á liệu ngài, trong vòng 30 năm. có chịu chấp nhận một người Trung Quốc làm chủ tịch Quỹ Tiền tệ Quốc tế hay Ngân hàng Thế giới?
Đáp: Có thể, nhưng người Trung Quốc không vội vã thúc ép gì chuyện đó. Họ đang phát triển tự tin và nhanh chóng dưới chế độ hiện tại và họ cũng không chịu thua thiệt gì khi có một phụ nữ Pháp đứng đầu IMF hay một người Mỹ nắm giữ Ngân hàng Thế giới.
Hỏi: Nếu họ thúc ép đòi quyền lực, ngài nghĩ rằng phản ứng của phương Tây là gì?
Đáp: Đến lúc muốn đòi thi Trung Quốc cũng đã đứng ở vị trí chủ nợ với các cường quốc phương Tây rồi. Các cường quốc này sẽ trở thành con nợ và tôi không nghĩ rằng họ đủ sức ngăn chặn Trung Quốc.
Hỏi: Liệu có đến một ngày Trung Quốc mệt mỏi với việc đầu tư tiền dự trữ bằng đồng đô la và kiếm được ít hơn khoản lợi nhuận bình thường.
Đáp: Cũng có thể. Họ có thể dần dần thoái vốn một cách kín đáo. Nhưng tôi không nghĩ họ sẽ cố gắng thay thế đồng đô la Mỹ.
Hỏi: Ngài nói vấn đề bất bình đẳng là một trong những vấn để gây ra bởi quả trình toàn cầu hóa. Liệu các quốc gia nên tự thân giải quyết vấn để này?
Đáp: Trong một nền kinh tế, mỗi quốc gia phải tái cân bằng nguồn lợi giữa tầng lớp thu nhập thấp và cao bằng cách đánh thuế và trợ cấp để gắn kết xã hội lại với nhau. Nhưng nếu tính đến việc tái cân bằng nguồn lợi giữa các quốc gia thì vấn để này phức tạp hơn một chút. Anh phải có một chính phủ chung cho toàn thế giới, với các quốc gia đồng ý chuyển giao một phần thặng dư của họ cho một kho bạc thế giới hoặc một ngân hàng trung ương để hỗ trợ các nước nghèo hơn. Dĩ nhiên Điều đó sẽ không xảy ra. Người Trung Quốc với lượng tiền tiết kiệm khổng lồ của minh sẽ không nói: “Họ cũng nghèo như chúng ta hồi trước đấy, giờ chúng ta nên giúp đỡ họ” vì họ đã làm việc chăm chỉ mới tích cóp được lượng tiền đó. Và như thế, người ta đang đặt ra câu hỏi về việc gửi các khoản viện trợ sang những nước nghèo khi chính phủ các nước này yếu kém, thậm chí là tham nhũng, và tiền không được đầu tư vào các dự án cơ bản để cải thiện cuộc sống mà chảy vào túi của các chính trị gia.
Hỏi: Nhưng về mặt lý tưởng, ngài có tin là cẩn khen ngợi các quốc gia giúp nhau theo cách này không?
Đáp: Lý tưởng đối với Singapore ư? Thu nhập bình quân đầu người của chúng ta sẽ giảm từ 52.000 xuống còn 30.000 đô la Mỹ. Vậy thì tại sao chúng ta nên làm vậy? Tại sao chúng ta cần trợ cấp các nước khác? Chắc chắn những cử tri Singapore sẽ không đồng tình với chính phủ về chuyện đó.
Hỏi: Nhưng đối với sự ổn định của khu vực và thế giới?
Đáp: Không, chúng ta phải tự lo các vấn đề của mình trước. Sự ổn định phải được tạo ra bởi một lực lượng quân đội mạnh mẽ để đảm bảo rằng không ai dám đụng đến chúng ta. Nếu không, sẽ không có gì ngăn chặn được đám người đổ xô qua cây cầu nối giữa Malaysia và Singapore. Trong hai năm khi chúng ta còn là một phần của Malaysia thì toàn bộ tuyến đường sắt tràn ngập những người Malaysia. Họ xây lên những túp lều tồi tàn để ở lại đây vì đây là một khu vực đô thị và cơ sở vật chất rất tốt. Vì vậy khi chúng ta không còn thuộc về Malaysia nữa, chúng ta đã đuổi hết người Malaysia ra khỏi lãnh thổ. Bọn họ không còn là gánh nặng của chúng ta nữa.