“Hề đồng.—Ta đi đây, thưa ngài,
Chẳng mấy chốc, thưa ngài, ta lại về bên ngài.”
—Đêm thứ Mười Hai
Bọn người Huron đứng chết sững trước biến cố tử vong bất ngờ giáng xuống một thành viên trong nhóm. Nhưng khi nhận ra sự chuẩn xác chết người của phát súng dám hy sinh một kẻ thù dẫu nguy hiểm lớn cho người bạn, cái tên “La Longue Carabine” đồng loạt thốt ra từ mọi bờ môi, tiếp nối sau đó là tiếng hú hoang dã và có phần não nề. Tiếng thét ấy được đáp lại bằng một tiếng hò reo vang dội từ một lùm cây nhỏ, nơi nhóm người bất cẩn đã dựng vũ khí; và ngay khoảnh khắc tiếp theo, Hawkeye, vì quá nôn nóng muốn nạp đạn khẩu súng trường vừa lấy lại được, xuất hiện xông tới chỗ họ, tay vung chiếc gậy đập và chém ngang không trung những đường rộng và mạnh mẽ. Nhanh nhẹn và bạo dũng nhường nào cuộc tiến công của người trinh sát, nó lại bị vượt qua bởi một bóng dáng thanh mảnh và vượng sức vượt qua anh, với sự linh hoạt và gan dạ đáng kinh ngạc, lao thẳng vào giữa đám người Huron, nơi y đứng xoay tròn chiếc rìu chiến và khua khoắng con dao lấp lánh, với những lời đe dọa đầy kinh hãi, ngay trước mặt Cora. Nhanh hơn cả dòng suy nghĩ có thể theo kịp những chuyển động bất ngờ và táo bạo ấy, một hình bóng khoác tấm áo biểu tượng của sự chết chóc lướt qua trước mắt họ, và đứng vào tư thế đe dọa ở phía bên kia. Bọn ác ôn man rợ chùng bước trước những kẻ đột nhập mang dáng dấp chiến trận này, và thốt lên, khi chúng xuất hiện dồn dập đến thế, những tiếng kêu ngạc nhiên quen thuộc và đặc trưng, nối tiếp bằng những danh hiệu lừng danh và đáng sợ:
“Le Cerf Agile! Le Gros Serpent!”
Nhưng vị thủ lĩnh cẩn trọng và cảnh giác của người Huron không hề dễ dàng nao núng. Đưa đôi mắt sắc bén đảo quanh khoảng đất trống nhỏ bé, y nắm bắt bản chất cuộc tấn công chỉ trong chớp mắt, vừa khích lệ thuộc hạ bằng lời nói vừa bằng hành động làm gương, y tuốt ra thanh dao dài đầy nguy hiểm, và với một tiếng hô lớn lao lao thẳng về phía Chingachgook đang đứng chờ. Đó là hiệu lệnh cho một trận chiến giáp la đà tổng lực. Không bên nào có súng hỏa mai, và cuộc phân tranh sẽ được định đoạt theo phương thức tàn khốc nhất, đánh giáp lá cà, với vũ khí tấn công mà không hề có phòng thủ.
Uncas đáp lại tiếng hô ấy, và lao vào một kẻ thù, chỉ bằng một nhát rìu chiến duy nhất được nhắm chuẩn xác, bổ đôi đầu y xuống tận óc. Heyward giật lấy vũ khí của Magua từ thân cây non, hăm hở lao vào vòng chiến. Khi các bên tham chiến nay đã cân bằng về số lượng, mỗi người tự chọn cho mình một đối thủ từ phe địch. Những cú lao tới và đòn đánh diễn ra với sự dữ dội của cơn lốc xoáy và tốc độ của chớp giật. Hawkeye chẳng mấy chốc đã kéo được một kẻ thù khác vào tầm với của cánh tay, và chỉ với một nhát vung vũ khí đáng sợ, anh đánh gãy sự phòng thủ mỏng manh và vụng về của đối phương, nghiền nát y xuống mặt đất bằng cú đánh trời giáng ấy. Heyward liều lĩnh phóng chiếc rìu chiến mà anh vừa chộp lấy, quá nôn nóng không chờ đến thời điểm giáp mặt. Nó cắm phập vào trán tên da đỏ mà anh đã nhắm chọn, và chặn đứng đà lao tới của y trong chốc lát. Được khích lệ bởi lợi thế nhỏ nhoi này, chàng thanh niên bồng bột tiếp tục cuộc tấn công, lao vào kẻ thù bằng tay không. Chỉ một khoảnh khắc ngắn ngủi là đủ để anh nhận ra sự liều lĩnh của hành động đó, vì anh ngay lập tức thấy mình bị cuốn vào cuộc quần thảo toàn lực, dồn hết sự nhanh nhẹn và lòng can đảm để cố gắng gạt bỏ những cú đâm chí mạng từ con dao của tên Huron. Không thể tiếp tục cản phá một kẻ địch quá nhanh nhẹn và cảnh giác, anh vòng tay ôm lấy y, và thành công dùng một lực siết như sắt nguội kẹp chặt các chi của đối phương vào mạn sườn, nhưng đó là một tư thế vắt kiệt sức lực đến mức không thể duy trì lâu dài. Trong tình thế ngặt nghèo này, anh nghe thấy một tiếng quát gần đó:
“Tiêu diệt lũ khốn kiếp! Không khoan hồng cho một tên Mingo đáng nguyền rủa!”
Ngay khoảnh khắc tiếp theo, báng súng trường của Hawkeye giáng xuống cái đầu trần của kẻ địch, khiến các cơ bắp của y dường như tê dại dưới cú sốc, khi y đổ rạp khỏi vòng tay Duncan, mềm nhũn và bất động.
Khi Uncas đã hạ gục đối thủ đầu tiên bằng một cú đánh vào đầu, y quay phắt lại như một con sư tử đói, đi tìm nạn nhân tiếp theo. Tên Huron thứ năm và cũng là kẻ duy nhất không bị vướng bận ở đợt xung phong đầu đã khựng lại một khoảnh khắc, rồi thấy tất cả đồng bọn xung quanh đều đang bận rộn trong cuộc chiến chết chóc, y liền tìm cách, với sự trả thù địa ngục, hoàn tất công cuộc báo thù đang dang dở. Bật ra một tiếng hét chiến thắng, y lao về phía Cora không tus sức tự vệ, phóng chiếc rìu sắc bén đi trước như một điềm báo kinh hoàng cho sự tiếp cận của mình. Lưỡi rìu sượt qua vai nàng, và cắt đứt những dây leo trói buộc nàng vào thân cây, giải phóng cho thiếu nữ tự do trốn chạy. Nàng né tránh cái chớp tay của tên man rợ, bất chấp sự an toàn của bản thân, lao vào ngực Alice, cố gắng dùng những ngón tay run rẩy và vụng về để dứt đứt những cành cây đang giam hãm thân thể người em gái. Bất kỳ ai không phải là quái vật đều phải chạnh lòng trước hành động hy sinh cao cả vì tình cảm đẹp đẽ và trong sáng nhất ấy; nhưng lồng ngực của tên Huron hoàn toàn xa lạ với sự đồng cảm. Chộp lấy mái tóc óng ả của Cora đang xõa lòa hỗn loạn quanh vóc dáng nàng, y giật nàng ra khỏi cái bám tay cuồng loạn và đè gập người nàng xuống đầu gối với vẻ bạo lực tàn bạo. Tên man rợ luồn những lọn tóc buông xõa qua tay, và giơ cao chúng lên với cánh tay duỗi thẳng, y đưa con dao lướt quanh cái đầu được tạo tác tinh xảo của nạn nhân, kèm theo một tiếng cười nhạo báng và đắc thắng. Nhưng y phải đánh đổi khoảnh khắc thỏa mãn tàn bạo ấy bằng việc đánh mất cơ hội ngàn vàng. Đúng lúc đó, cảnh tượng ấy lọt vào tầm mắt của Uncas. Phóng bật khỏi mặt đất, y xuất hiện trong chớp mắt như một mũi tên xé gió lao vút qua không trung và rơi xuống như một khối cầu đè nặng lên ngực kẻ thù, hất văng y bay xa nhiều thước khỏi vị trí đó, đầu cắm xuống đất trong tư thế ngã sấp mặt. Lực văng quá đà khiến chàng trai trẻ người Mohican ngã xuống bên cạnh y. Họ cùng nhau đứng dậy, chiến đấu, và đổ máu luân phiên. Nhưng cuộc đụng độ nhanh chóng ngã ngũ; chiếc rìu chiến của Heyward và khẩu súng trường của Hawkeye cùng giáng xuống hộp sọ tên Huron vào đúng khoảnh khắc con dao của Uncas đâm tới trái tim y.
Trận chiến giờ đây đã hoàn toàn chấm dứt, ngoại trừ cuộc chiến giằng co kéo dài giữa “Le Renard Subtil” và “Le Gros Serpent”. Hai chiến binh man rợ ấy đã chứng minh vô cùng xuất sắc rằng họ hoàn toàn xứng đáng với những cái tên mang hàm ý sâu xa đã được ban tặng cho những chiến tích trong các cuộc chiến trước đây. Khi họ lao vào nhau, chút thời gian trôi qua trong việc né tránh những cú đâm nhanh và mạnh nhằm vào sinh mạng của đối phương. Bất ngờ lao bổ vào nhau, họ ôm ghì lấy nhau và ngã lăn xuống đất, xoắn xuýt lấy nhau tựa như đôi rắn quấn quýt với những đường cuộn dẻo dai và đầy quỷ quyệt. Vào khoảnh khắc những kẻ chiến thắng nhận ra mình đã rảnh tay, vị trí mà hai chiến binh kỳ cựu và tuyệt vọng ấy đang nằm chỉ có thể nhận diện qua một đám mây bụi và lá khô, dịch chuyển từ trung tâm khoảng đất trống ra đến tận rìa, tựa như được thổi lên bởi một cơn lốc xoáy. Thôi thúc bởi những động cơ khác nhau gồm tình cảm phụ tử, tình bạn và lòng biết ơn, Heyward cùng các đồng bạn đồng lòng lao về phía đó, vây kín lấy lớp màn bụi mờ ảo lơ lửng phía trên các chiến binh. Vô ích làm sao khi Uncas lượn vòng quanh đám mây bụi, mang theo mong muốn cắm ngập con dao vào tim kẻ thù của cha mình; khẩu súng trường đe dọa của Hawkeye giơ lên rồi lại ngập ngừng trong vô vọng, trong khi Duncan nỗ lực chộp lấy các chi của tên Huron bằng đôi bàn tay dường như đã mất hết sức lực. Phủ đầy bụi và máu, những chuyển động chớp nhoáng của các chiến binh khiến thân thể họ dường như hòa quyện vào làm một. Hình dáng trông tựa tử thi của chàng Mohican và thân hình tối tăm của tên Huron lóe lên trước mắt họ với tần suất quá nhanh và hỗn loạn đến mức những người bạn của phe trước không biết nên giáng đòn cứu trợ vào đâu. Đúng là có những khoảnh khắc ngắn ngủi và thoáng qua, khi đôi mắt rực lửa của Magua hiện lên lấp lánh như đôi mắt của con rắn basilisk huyền thoại xuyên qua vòng khăn bụi bọc lấy y, và qua những cái nhìn ngắn ngủi đầy chết chóc ấy, y đọc được số phận của trận chiến trước sự hiện diện của kẻ thù; thế nhưng, trước khi bất kỳ bàn tay thù hận nào kịp giáng xuống cái đầu đáng đời của y, vị trí ấy đã bị lấp đầy bởi gương mặt hầm hầm cau có của Chingachgook. Cứ thế, bối cảnh của cuộc giao tranh bị đẩy từ trung tâm khoảng đất trống ra đến tận mép ngoài. Chàng Mohican lúc này đã tìm được cơ hội tung một nhát đâm uy lực bằng con dao của mình; Magua đột ngột buông lỏng tay, ngã ngửa ra sau bất động và thoạt trông như đã chết. Đối thủ của y tung người đứng phắt dậy, khiến những vòm lá trong rừng vang dội âm thanh của khúc khải hoàn.
“Làm tốt lắm hỡi những người Delaware! Chiến thắng thuộc về người Mohicans!” Hawkeye hét lên, một lần nữa giơ cao báng khẩu súng trường dài mang định mệnh; “Một cú kết liễu từ một người da trắng thuần chủng sẽ chẳng bao giờ làm tổn hại đến danh dự của anh ta, cũng chẳng tước đi quyền lấy da đầu của anh ấy.”

Nhưng đúng vào khoảnh khắc vũ khí nguy hiểm ấy chuẩn bị giáng xuống, tên Huron xảo quyệt nhanh chóng lách người né khỏi hiểm cảnh, lăn nhào qua mép vực thẳm, và rơi chân xuống đất, người ta thấy y tung người chỉ với một bước nhảy vọt vào giữa một lùm bụi thấp bám chặt lấy sườn vực. Bến người Delaware, những kẻ từng tin rằng kẻ thù đã chết, thốt lên tiếng kêu ngạc nhiên và liền rượt theo với tốc độ cùng tiếng hò hét ầm ĩ, tựa như bầy chó săn trông thấy rõ con hươu trong tầm ngắm, thì một tiếng thét lanh lỏi và kỳ lạ phát ra từ người trinh sát lập tức thay đổi ý định của họ, gọi giật họ trở về đỉnh đồi.
“Đúng là bản tính của hắn!” người thợ săn lão luyện kêu lên, những thành kiến đã góp phần lớn che mờ ý thức công lý tự nhiên của anh trong mọi vấn đề liên quan đến tộc Mingo; “một tên tiểu nhân dối trá và lật lọng đúng như bản chất của hắn. Một người Delaware lương thiện lúc này, nếu đã bị đánh bại tâm phục khẩu phục, sẽ nằm yên chịu đòn chí mạng, nhưng lũ Maqua xảo trá này lại bám lấy sự sống dai như loài mèo rừng. Cứ để hắn đi—cứ để hắn đi; hắn chỉ là một kẻ đơn độc, không súng trường cũng chẳng cung tên, cách xa những đồng đội người Pháp của hắn hàng dặm đường dài; và giống như một con rắn chuông đã bị bẻ mất nanh, hắn chẳng thể gây thêm rắc rối nào nữa, cho đến tận thời điểm mà hắn, và cả chúng ta nữa, có thể để lại dấu vết giày moccasin trên một dải đồng bằng cát rộng lớn. Nhìn kìa, Uncas,” anh nói thêm bằng tiếng Delaware, “cha cậu đã bắt đầu lột da đầu rồi kìa. Có lẽ chúng ta nên đi một vòng kiểm tra những tên vô lại còn sót lại, kẻo nếu không ta lại có thêm một tên nữa đang lồng lộn trong rừng và réo lên như một con giẻ cùi bị bắn gãy cánh.”
Nói đoạn, người trinh sát bộc trực nhưng bất khuất liền rảo một vòng quanh những cái xác, thọc con dao dài vào lồng ngực vô tri của chúng với sự bình thản hệt như chúng chỉ là những xác thú rừng. Tuy nhiên, anh đã bị vị trưởng tộc Mohican đi trước một bước, người đã nhanh chóng giật lấy những chiến tích từ những cái đầu không còn sức kháng cự của kẻ tử trận.
Nhưng Uncas, bất chấp thói quen, ta suýt nói là bất chấp cả bản năng của mình, với sự tinh tế bẩm sinh, cùng với sự đồng hành của Heyward, bay đến ứng cứu cho các nữ nhân, và nhanh chóng giải thoát cho Alice, trao nàng vào vòng tay Cora. Chúng ta sẽ không cố gắng miêu tả niềm biết ơn dâng trào đối với Đấng Quan Phòng Tối Cao đang rực sáng trong lồng ngực hai chị em, những người vừa bất ngờ được hồi sinh và đoàn tụ bên nhau. Lời cảm tạ của họ sâu sắc và lặng thầm; những lời dâng hiến từ tâm hồn dịu dàng ấy cháy bùng lên rực rỡ và tinh khôi nhất trên những bệ thờ bí ẩn nơi đáy lòng; và những xúc cảm trần thế đã được hồi sinh của họ bộc lộ qua những cái ôm siết dài lâu, nhiệt thành nhưng nghẹn ngào không nói nên lời. Khi Alice đứng dậy từ thảm cỏ, nơi nàng vừa khuỵu xuống bên cạnh Cora, nàng vùi mình vào ngực người chị và nức nở gọi tên người cha già, trong khi đôi mắt dịu dàng tựa chim bồ câu ngời sáng những tia hy vọng.
“Chúng ta được cứu rồi! Chúng ta được cứu rồi!” nàng thì thầm; “được trở về vòng tay của người cha thân yêu, thân yêu biết bao, và trái tim Người sẽ không phải tan nát vì đau khổ. Và cả chị nữa, Cora, chị gái của em, hơn cả một người chị, người mẹ của em; chị cũng đã được tha mạng. Và cả Duncan nữa,” nàng nói thêm, đưa mắt nhìn quanh chàng thanh niên với nụ cười ngây thơ khôn tả, “cả Duncan dũng cảm và cao quý của chúng ta cũng đã thoát nạn mà không hề tổn hại chút nào.”
Trước những lời lẽ nồng nhiệt và ngây thơ đến thuần khiết ấy, Cora không đáp lại gì ngoài việc ôm chặt người thiếu nữ vào lòng, cúi người che chở nàng với nỗi niềm dịu dàng tan chảy. Bản lĩnh nam nhi của Heyward không mảy may hổ thẹn khi rơi những giọt lệ trước cảnh tượng hoan hỉ đầy ắp tình thân này; và Uncas đứng đó, hãy còn vương máu tươi sau trận chiến, một kẻ đứng xem điềm tĩnh và thoạt trông vô cảm, phải vậy không, nhưng với đôi mắt đã hoàn toàn ruội tắt nét hung dữ, thay vào đó là ánh lên sự đồng cảm nâng tầm anh vượt xa trí tuệ, và có lẽ đi trước cả nhiều thế kỷ so với những lề thói của bộ tộc mình.
Giữa lúc bộc lộ những xúc cảm vốn rất đỗi tự nhiên trong hoàn cảnh của họ, Hawkeye, người từ nãy đến giờ vẫn giữ sự hoài nghi cảnh giác và đã tự xác định rằng đám người Huron làm vẩn đục khung cảnh thiên phú này nay không còn khả năng phá hoại sự hòa hợp ấy nữa, liền bước đến chỗ David và giải thoát cho anh khỏi những mối trói mà cho đến khoảnh khắc đó anh vẫn phải chịu đựng với sự kiên nhẫn mực thước nhất.
“Nào,” người trinh sát thốt lên, ném sợi dây leo cuối cùng ra sau lưng, “anh lại một lần nữa làm chủ được các chi của mình rồi đấy, dẫu có vẻ như anh chẳng dùng chúng với sự khôn ngoan hơn cái cách mà chúng được tạo ra thuở ban đầu. Nếu lời khuyên từ một kẻ chẳng lớn tuổi hơn anh là mấy, nhưng vì đã sống phần lớn cuộc đời chốn thâm sơn cùng cốc nên có thể coi là dày dặn kinh nghiệm vượt xa tuổi tác, không làm anh phật ý, thì anh cứ việc đón nhận suy nghĩ của tôi; đó là hãy tống khứ cái ống tiêu toe toét dắt trên áo ngực ấy cho tên ngốc đầu tiên anh gặp dọc đường, và dùng số tiền đó mua lấy một thứ vũ khí, dẫu chỉ là nòng của một khẩu súng ngắn cưỡi ngựa. Bằng sự chăm chỉ và cẩn thận, biết đâu anh lại đạt được chút địa vị nào đó; vì đến lúc này, tôi nghĩ mắt anh cũng phải nhận ra rõ ràng rằng một con quạ ăn xác thối còn hữu dụng hơn một con chim bắt chước. Ít ra thì con trước cũng dọn sạch những cảnh tượng chướng tai gai mắt trước mặt con người, trong khi con sau chỉ giỏi gây họa trong rừng rậm bằng cách phỉnh phờ lỗ tai của bất kỳ ai nghe thấy chúng.”
“Gươm giáo và kèn lệnh cho chiến trận, nhưng khúc ca tạ ơn cho chiến thắng!” David được giải thoát đáp lời. “Bạn tôi ơi,” anh nói thêm, chìa bàn tay gầy gò, mảnh khảnh về phía Hawkeye một cách thân thiện, trong khi đôi mắt chớp chớp và ngấn lệ, “tôi cảm tạ vì những sợi tóc trên đầu tôi vẫn đang mọc đúng nơi mà Chúa Trời đã cắm rễ chúng từ thuở ban sơ; bởi vì, dẫu tóc của những người khác có thể bóng mượt và xoăn tít hơn, tôi vẫn luôn thấy mái tóc của mình rất phù hợp với bộ óc mà nó che chở. Việc tôi không hòa mình vào trận chiến, ít là do sự bất đắc dĩ hơn là do xiềng xích của bọn ngoại đạo. Anh đã chứng tỏ mình là một chiến binh dũng cảm và tài nghệ trong cuộc giao tranh, và tôi xin chân thành cảm ơn anh, trước khi tiến hành thực hiện những nghĩa vụ khác quan trọng hơn, bởi vì anh đã chứng tỏ bản thân hoàn toàn xứng đáng với những lời ca ngợi của một Cơ Đốc nhân.”
“Chuyện đó chỉ là cỏn con, và là thứ anh sẽ còn bắt gặp dài dài nếu lưu lại lâu giữa chúng ta,” người trinh sát đáp lại, thái độ đã mềm mỏng hơn hẳn đối với người đàn ông của ca khúc nhờ biểu hiện bày tỏ lòng biết ơn rõ mười mươi ấy. “Tôi đã lấy lại được người bạn cũ ‘Killdeer’ của mình rồi,” anh nói thêm, vỗ tay lên phần báng súng trường; “và bản thân điều đó đã là một chiến thắng. Lũ Iroquois này vốn xảo quyệt, nhưng chúng lại tự gậy ông đập lưng ông khi cất giấu vũ khí ra ngoài tầm với; và giả như Uncas hay cha cậu ta chỉ được ban cho sự kiên nhẫn thông thường của người da đỏ thôi, chúng ta đã có thể tống ba viên đạn thay vì một vào lũ khốn ấy, và điều đó đã đủ để quét sạch toàn bộ cái ổ đó, từ tên tiểu nhân chạy bộ cho đến đồng bọn của hắn. Nhưng mọi chuyện đều đã được định đoạt từ trước, và đó là điều tốt nhất.”
“Anh nói phải lắm,” David đáp, “và đã nắm bắt được tinh thần đích thực của đạo Cơ Đốc. Kẻ nào được cứu rỗi thì sẽ được cứu rỗi, và kẻ nào đã bị định đoạt để đọa đày thì sẽ bị đọa đày. Đó là chân lý, và nó thật an ủi cùng làm sảng khoái biết bao cho những tín đồ chân chính.”
Người trinh sát, lúc này đã ngồi xuống, kiểm tra tình trạng khẩu súng trường với sự chăm chút tỉ mỉ tựa như một người cha, bỗng ngước lên nhìn người kia với vẻ khó chịu không thô thiển giấu giếm, cộc lốc cắt ngang câu chuyện:
“Đạo lý hay không đạo lý gì,” người thợ săn vạm vỡ nói, “đó chỉ là niềm tin của lũ tiểu nhân, và là lời nguyền rủa đối với một người lương thiện. Tôi có thể tin rằng tên Huron kia ngã xuống dưới tay tôi, bởi vì chính đôi mắt tôi đã nhìn thấy điều đó; nhưng không đời nào có chuyện tôi tin rằng y nhận được phần thưởng nào, hay vị Chingachgook kia sẽ bị phán quyết vào ngày tận thế, trừ phi tận mắt chứng kiến.”
“Anh chẳng có căn cứ nào cho thứ học thuyết táo bạo đó, cũng chẳng có giao ước nào hậu thuẫn cho nó cả,” David thốt lên, một người bị tiêm nhiễm sâu sắc bởi những triết lý rối rắm mà vào thời đại của anh, đặc biệt là ở xứ sở của anh, người ta thường tròng vào sự giản dị tốt đẹp của mạc khải bằng cách cố gắng thấu thấu cái mầu nhiệm kinh hoàng về bản tính thần thánh, bù đắp lòng tin bằng sự tự phụ, và hệ quả là lôi kéo những ai suy luận từ những giáo điều nhân thế ấy chìm ngập trong sự phi lý và hoài nghi; “ngôi đền của anh được dựng trên cát, và cơn bão đầu tiên sẽ cuốn phăng nền móng của nó. Tôi đòi hỏi bằng chứng cho lời khẳng định bất nhân từ ấy (giống như những người bảo vệ cho một hệ thống lý luận nào đó, David không phải lúc nào cũng sử dụng thuật ngữ chính xác). Hãy nêu rõ chương và câu; anh tìm thấy ngôn từ nào trong các sách thánh ủng hộ cho quan điểm của mình?”
“Sách!” Hawkeye lặp lại với vẻ khinh miệt kỳ lạ và giấu giếm không nổi; “anh tưởng tôi là một thằng nhóc mít ướt bám váy mấy bà cô già nhà anh chắc? Hay khẩu súng trường tốt trên đầu gối tôi đây là chiếc lông ngỗng, sừng bò đựng thuốc súng là lọ mực, và chiếc túi da là chiếc khăn tay sọc ca-rô để đựng bữa trưa hả? Sách! Những kẻ như tôi, một chiến binh của chốn rừng thiêng nước độc, dẫu là một người da trắng thuần chủng, thì dính dáng gì đến sách vở? Tôi chưa từng đọc cuốn sách nào ngoài một cuốn, và những lời viết trong đó quá đỗi giản đơn và rõ ràng đến mức chẳng cần phải học hành cao siêu gì; dù tôi có thể tự hào về bốn mươi năm trường đằng đẵng làm việc vất vả.”
“Anh gọi tác phẩm đó là gì?” David hỏi, hiểu lầm ý của người kia.
“Nó đang phơi bày ngay trước mắt anh đấy,” người trinh sát đáp; “và kẻ sở hữu nó không hề keo kiệt trong việc sử dụng. Tôi từng nghe nói có những kẻ phải đọc sách để tự thuyết phục bản thân rằng Chúa Trời tồn tại. Tôi không biết có khi nào con người lại bóp méo các công trình của Ngài ở chốn đô thị đến mức biến một điều vốn rành rành ở chốn rừng hoang thành một vấn đề đầy hoài nghi đối với bọn thương gia và linh mục. Nếu thực sự có kẻ như thế, và hắn chịu theo chân tôi từ bình minh đến hoàng hôn, xuyên qua những khúc quanh của rừng rậm, hắn sẽ thấy đủ điều để tự dạy cho bản thân biết rằng hắn là một kẻ ngốc, và sự ngu ngốc lớn nhất của hắn nằm ở chỗ cứ muốn vươn lên ngang tầm với Đấng mà hắn chẳng thể nào sánh kịp, dù là về lòng nhân từ hay về quyền năng.”
Ngay khoảnh khắc David phát hiện ra mình đang tranh cãi với một kẻ hấp thụ đức tin từ ánh sáng của tự nhiên, gạt bỏ mọi sự rườm rà của giáo điều, anh liền sẵn sàng từ bỏ một cuộc tranh luận mà anh tin chẳng mang lại lợi lộc hay danh tiếng gì. Trong lúc người trinh sát đang nói, anh cũng đã ngồi xuống, lôi ra cuốn sách nhỏ luôn mang theo bên mình và cặp kính gọng sắt, chuẩn bị hoàn thành bổn phận mà nếu không có cú sốc bất ngờ đối với chính thống giáo vừa qua thì anh đã không trì hoãn lâu đến thế. Anh thực sự là một nghệ sĩ hát rong của lục địa phương Tây—chắc chắn là thuộc một thời đại muộn màng hơn nhiều so với những thi sĩ tài năng từng cất cao tiếng hát ca tụng danh tiếng phàm trần của các bậc vương tôn công tử, nhưng mang đậm tinh thần của thời đại và xứ sở của chính mình; và giờ đây anh đã sẵn sàng thể hiện ngón nghề của mình để ca ngợi, hay đúng hơn là tạ ơn cho chiến thắng vừa qua. Anh kiên nhẫn chờ Hawkeye dứt lời, rồi ngước đôi mắt cùng giọng nói lên, cất tiếng vang dội:
“Hỡi những người bạn, tôi xin mời quý vị cùng hòa giọng ngợi ca ơn cứu độ vĩ đại này khỏi tay bọn man rợ và dị giáo, theo những âm điệu trang nghiêm và êm dịu của khúc thánh ca mang tên ‘Northampton’.”
Anh tiếp theo xướng rõ số trang và câu kinh nơi có những vần thơ đã được chọn lựa, rồi đưa ống bắt nhịp lên môi, với vẻ nghiêm trang đứng đắn mà anh vẫn thường tuân thủ trong đền thờ. Tuy nhiên, lần này anh không có bất kỳ nhạc cụ nào đệm theo, bởi hai người chị em lúc đó đang trút những bầu tâm sự đầy trìu mến vốn đã được nhắc đến ở trên. Không hề nản lòng trước quy mô thính giả quá đỗi khiêm tốn của mình, thực chất chỉ gồm mỗi người trinh sát đang bất mãn, anh cất cao giọng, bắt đầu và kết thúc bài thánh ca mà không gặp phải bất kỳ sự cố hay gián đoạn nào.
Hawkeye lắng nghe trong lúc điềm tĩnh chỉnh lại viên đá lửa và nạp lại đạn cho súng trường; nhưng những âm thanh ấy, thiếu đi sự hỗ trợ ngoại biên của khung cảnh và sự đồng cảm, đã thất bại trong việc đánh thức những cảm xúc đang ngủ quên trong anh. Chưa từng có một nghệ sĩ hát rong nào, hay bất kỳ cái tên nào phù hợp hơn dành cho David, lại đem tài năng của mình ra trình diễn trước những thính giả vô cảm đến thế; dẫu rằng xét đến sự thuần khiết và chân thành trong động cơ của anh, có lẽ chưa từng có một thi sĩ phàm ca nào cất lên những nốt nhạc vươn lên sát gần ngai vàng nơi mọi sự tôn kính và ngợi ca thuộc về đến thế. Người trinh sát lắc đầu, lầm bầm vài câu khó hiểu, trong đó chỉ có từ “cổ họng” và “Iroquois” là lọt vào tai, rồi bước đi để thu gom và kiểm tra tình trạng kho vũ khí vừa chiếm được của người Huron. Công việc này sau đó có sự tham gia của Chingachgook, người đã tìm thấy khẩu súng của mình cũng như của con trai ông lẫn trong số vũ khí đó. Thậm chí cả Heyward và David cũng được trang bị vũ khí; đạn dược cũng không hề thiếu để biến tất cả chúng thành những thứ có tính sát thương thực sự.
Khi những người thợ săn đã hoàn tất việc lựa chọn và phân chia chiến lợi phẩm, người trinh sát thông báo rằng đã đến lúc phải lên đường. Đến lúc này, tiếng hát của Gamut đã dứt và hai chị em đã học được cách kiềm chế những xúc cảm của mình. Được sự hỗ trợ của Duncan và chàng Mohican trẻ tuổi, hai người phụ nữ tụt xuống sườn dốc hiểm trở của ngọn đồi mà họ vừa leo lên cách đó không lâu trong những hoàn cảnh hoàn toàn trái ngược, nơi mà đỉnh đồi suýt chút nữa đã trở thành bãi tàn sát họ. Dưới chân đồi, họ tìm thấy những con ngựa giống Narragansett đang gặm cỏ lùm bụi, và sau khi trèo lên yên, họ dõi theo bước chân của người dẫn đường, kẻ qua biết bao hoạn nạn ngặt nghèo đã nhiều lần chứng minh mình là ân nhân của họ. Cuộc hành trình tuy nhiên rất ngắn. Hawkeye, rời bỏ lối mòn khuất khúc mà người Huron từng đi, rẽ ngoặt sang phải, bước vào lùm rậm, băng qua một con suối róc rách, và dừng chân tại một thung lũng hẹp dưới tán bóng của vài cây du nước. Khoảng cách từ chân ngọn đồi định mệnh đến đây chỉ chừng vài sải chân, và bầy ngựa chỉ hữu ích khi băng qua dòng suối cạn.

Người trinh sát và những người da đỏ tỏ ra rất quen thuộc với chốn hoang vu hẻo lánh mà họ đang đặt chân tới; vì vừa tựa súng trường vào thân cây, họ vừa bắt đầu gạt bỏ lớp lá khô và khui lớp đất sét xanh, nơi một dòng suối trong vắt, lấp lánh và sủi bọt sáng ngời nhanh chóng trào lên. Người da trắng sau đó đảo mắt nhìn quanh, tựa như đang tìm kiếm một vật gì đó không dễ thấy như dự tính.
“Lũ quỷ vô tích sự người Mohawk, cùng với đám anh em Tuscarora và Onondaga của chúng, đã mò đến đây để giải khát,” anh lầm bầm, “và đám vô lại ấy lại quăng luôn cả cái bầu nước đi mất! Xử sự với lũ chó săn vô ơn bạc nghĩa này lúc nào cũng chuốc lấy kết quả thế này đây! Chúa đã đặt bàn tay Người xuống giữa chốn rừng thiêng nước độc hoang vu này vì lợi ích của chúng, khơi lên một mạch nước từ sâu trong lòng đất, đủ sức chế giễu cả tiệm thuốc tây phong phú nhất ở tất cả các thuộc địa; thế mà nhìn kìa! Lũ khốn nạn đã giẫm nát lớp đất sét, làm vấy bẩn sự tinh sạch của chốn này hệt như những loài thú hoang chứ chẳng phải con người.”
Uncas lặng lẽ chìa chiếc bầu nước mong muốn về phía anh, thứ mà sự bực dọc của Hawkeye đã ngăn anh không nhìn thấy trước đó trên một cành cây du. Đầy nước vào bầu, anh lùi lại một khoảng ngắn, đến một nơi nền đất khô ráo và vững chãi hơn; tại đây anh điềm tĩnh ngồi xuống, và sau khi uống một ngụm dài tỏ rõ sự sảng khoái, anh bắt đầu kiểm tra vô cùng kỹ lưỡng những mảnh thức ăn do người Huron để lại, vốn được đựng trong một chiếc túi da vắt trên tay.
“Cảm ơn cậu nhé, chàng trai!” anh tiếp tục, trả lại chiếc bầu rỗng cho Uncas; “giờ thì chúng ta xem lũ Huron hung hăng này sống ra sao khi mai phục ngoài hoang dã đây. Nhìn cái này xem! Lũ tiểu nhân này thừa biết những phần thịt ngon nhất của con hươu; và ai mà ngờ chúng lại có thể lọc thịt và nướng một miếng sườn ngựa tài tình ngang ngửa đầu bếp cự phách nhất trong xứ sở! Nhưng mọi thứ vẫn còn sống nhăn, bởi lũ Iroquois vốn là một lũ man rợ chính hiệu. Uncas, lấy thanh thép của tôi ra nhóm lửa đi; một miếng thịt nướng mềm mại sẽ tiếp thêm sức mạnh cho thể xác sau một chặng đường dài mệt nhọc.”
Heyward, nhận thấy những người dẫn đường của họ giờ đã bắt đầu bữa ăn một cách nghiêm túc, liền đỡ các quý cô xuống ngựa và đứng túc trực bên cạnh họ, không ngần ngại tận hưởng vài phút giây nghỉ ngơi quý giá sau cảnh tượng đẫm máu mà anh vừa trải qua. Trong lúc quá trình nấu nướng đang diễn ra, sự tò mò thúc giục anh tìm hiểu về những tình huống đã dẫn đến cuộc giải cứu kịp thời và bất ngờ của họ:
“Làm sao mà chúng tôi lại gặp được các anh sớm thế này, người bạn hào hiệp của tôi,” anh hỏi, “mà lại chẳng cần đến sự trợ giúp từ đồn binh Edward?”
“Nếu chúng tôi đi thẳng tới khúc cua trên sông, có lẽ chúng tôi đã kịp đến để cào lá lấp lên xác các anh, nhưng lại quá muộn để giữ lại da đầu của các anh,” người trinh sát điềm nhiên đáp. “Không, không; thay vì phí phạm sức lực và thời cơ bằng cách băng qua pháo đài, chúng tôi nấp dưới bờ sông Hudson, kiên nhẫn theo dõi mọi di chuyển của đám Huron.”
“Các anh đã chứng kiến toàn bộ sự việc sao?”
“Không phải toàn bộ; vì tầm nhìn của người da đỏ quá sắc bén để có thể dễ dàng qua mặt, nên chúng tôi phải nấp thật kỹ. Quả là một việc khó khăn khi bắt cậu nhóc người Mohican này phải nằm im thin thít trong chỗ mai phục. A! Uncas, Uncas, hành vi của cậu vừa rồi giống một mụ đàn bà tò mò hơn là một chiến binh đang dò theo dấu vết.”
Uncas hé mắt liếc nhanh về phía gương mặt rắn rỏi của người nói, nhưng cậu không hề thốt một lời cũng không đưa ra bất kỳ dấu hiệu hối hận nào. Ngược lại, Heyward nhận thấy thái độ của chàng Mohican trẻ tuổi có vẻ ngạo mạn, nếu không muốn nói là hơi hung hăng, và cậu đang kìm nén những cảm xúc chực chờ bùng nổ, một phần vì nể nang những người đang có mặt, phần vì sự kính trọng mà cậu thường dành cho người đồng hành da trắng của mình.
Heyward lại hỏi tiếp: “Các anh thấy chúng tôi bị bắt chứ?”
“Chúng tôi nghe thấy,” câu trả lời mang hàm ý sâu xa. “Tiếng thét của người da đỏ là thứ ngôn ngữ rõ mồn một đối với những ai đã trải qua nửa đời mình trong chốn rừng xanh. Nhưng khi các anh đặt chân lên bờ, chúng tôi bị ép phải bò trườn như loài rắn dưới lớp lá cây; và rồi chúng tôi mất dấu các anh hoàn toàn, cho đến khi tận mắt nhìn thấy các anh bị trói quặt vào thân cây, sẵn sàng chịu trói cho một cuộc thảm sát kiểu da đỏ.”
“Cuộc giải cứu của chúng tôi quả là phép màu của Đấng Quan Phòng. Suýt chút nữa thì các anh đã nhầm đường, bởi lũ Huron đã chia tách ra, và mỗi nhóm đều có ngựa đi kèm.”
“Phải! Có lúc chúng tôi đã bị đánh lạc hướng và suýt mất dấu vết, nếu không nhờ có Uncas; dẫu sao thì chúng tôi cũng đã chọn con đường dẫn sâu vào hoang dã; vì chúng tôi phán đoán, và phán đoán hoàn toàn chính xác, rằng lũ man rợ sẽ đi theo hướng đó cùng với các tù binh. Nhưng sau khi bám theo nó nhiều dặm đường mà chẳng tìm thấy một nhành cây nào bị bẻ gãy theo như tôi đã dặn, lòng tôi đâm ra hoang mang; nhất là khi tất cả các dấu chân đều mang dáng dấp của giày moccasin.”
Duncan nhấc một chân lên, chìa ra chiếc giày da nai đang mang và nói: “Những kẻ bắt giữ chúng tôi đã cẩn trọng cho chúng tôi đi giày giống như họ.”
“Ừ, đó là một hành động khôn ngoan và đúng chất của chúng; dẫu rằng chúng tôi quá sành sỏi để có thể bị đánh lừa khỏi một vết chân bởi một mẹo vặt thông thường đến thế.”
“Vậy chúng tôi nhờ đâu mà được an toàn?”
“Nhờ vào một thứ mà với tư cách là một người da trắng không vướng chút máu da đỏ nào, tôi phải thấy xấu hổ khi thừa nhận; nhờ vào sự phán đoán của chàng Mohican trẻ tuổi trong những vấn đề mà lẽ ra tôi phải rành hơn cậu ấy, nhưng giờ đây tôi khó lòng tin đó là sự thật dẫu chính mắt tôi thấy nó rành rành.”
“Thật phi thường! Anh không định nói rõ lý do sao?”
Hawkeye đảo mắt nhìn với vẻ tò mò đầy thú vị về phía những con ngựa cái của các cô gái rồi tiếp tục: “Uncas đã đủ táo bạo để nói rằng những con thú mà các tiểu thư cưỡi bước đồng thời hai chân ở cùng một phía xuống đất, điều này đi ngược lại với chuyển động của tất cả các loài động vật bốn chân biết chạy nước kiệu mà tôi từng biết, ngoại trừ loài gấu. Thế mà ở đây lại có những loài ngựa luôn di chuyển theo kiểu này, như chính mắt tôi đã thấy và vết chân của chúng đã phơi bày suốt hai mươi dặm đường dài.”
“Đó là ưu điểm của loài vật này! Chúng đến từ vùng bờ biển Narragansett Bay, thuộc tỉnh nhỏ Providence Plantations, và nổi tiếng vì sự dẻo dai cùng sự êm ái trong kiểu chuyển động đặc biệt này; dẫu rằng những con ngựa khác cũng không hiếm khi được huấn luyện để đi như vậy.”
“Có thể lắm—có thể lắm,” Hawkeye nói, người đã lắng nghe lời giải thích này với sự chú ý kỳ lạ; “dẫu tôi là một con người mang dòng máu thuần khiết của người da trắng, sự phán đoán của tôi về hươu nai và hải ly còn giỏi hơn là về thú chở đồ nặng. Thiếu tướng Effingham có rất nhiều chiến mã cao quý, nhưng tôi chưa từng thấy con nào di chuyển với kiểu đi lướt sang một bên như vậy.”
“Đúng thế; vì ngài ấy đánh giá cao những con vật đó dựa trên các phẩm chất hoàn toàn khác biệt. Dù vậy, đây vẫn là một giống ngựa được đánh giá rất cao và như anh thấy đấy, rất vinh dự khi được gánh vác những tải trọng mà nó thường phải mang.”
Bộ tộc Mohicans đã tạm gác lại công việc quanh đống lửa leo lét để lắng nghe; và khi Duncan dứt lời, họ nhìn nhau đầy hàm ý, người cha thốt lên tiếng kêu ngạc nhiên quen thuộc. Người trinh sát ngẫm nghĩ, tựa như một kẻ đang nghiền ngẫm kiến thức mới tiếp thu, và một lần nữa len lén liếc nhìn bầy ngựa.
Cuối cùng anh nói: “Tôi dám cá là ở những vùng định cư còn có những cảnh tượng kỳ lạ hơn thế nữa để mà chiêm ngưỡng! Bản năng tự nhiên đã bị con người bóp méo một cách đáng tiếc một khi họ đã nắm được quyền thống trị. Nhưng dẫu đi lệch hay đi thẳng, Uncas đã nhận ra chuyển động đó, và vết chân của chúng đã dẫn dắt chúng tôi đến chỗ cành cây bị bẻ gãy. Cành phía ngoài, gần dấu chân của một trong những con ngựa, bị uốn cong ngược lên, hệt như cách một người phụ nữ ngắt một bông hoa khỏi cành, nhưng tất cả những cành khác đều bị tơi tả và bẻ gãy quỵ xuống, hệt như thể bàn tay lực lưỡng của một con người đã cào xé chúng! Thế nên tôi kết luận rằng lũ quỷ xảo trá đã nhìn thấy cành cây bị uốn cong, và đã bẻ nát những cành còn lại để làm chúng ta tưởng lầm rằng một con hươu đực đang dùng sừng cọ quẹt vào các cành cây.”
“Tôi tin chắc sự sắc sảo của anh đã không đánh lừa anh đâu; vì đại loại là một chuyện như thế đã xảy ra!”
“Chuyện đó có gì khó nhận ra đâu,” người trinh sát nói thêm, hoàn toàn không ý thức được rằng mình vừa thể hiện sự sắc sảo phi thường; “và nó hoàn toàn khác biệt với một con ngựa đi lắc lư! Khi đó tôi chợt nghĩ rằng lũ Mingo sẽ nhắm thẳng đến dòng suối này, bởi đám tiểu nhân đó thừa biết công dụng tuyệt vời của nguồn nước nơi đây!”
“Nó nổi tiếng đến thế sao?” Heyward hỏi, dùng ánh mắt tò mò hơn để quan sát thung lũng quạnh hiu với mạch nước sủi bọt, được bao quanh bởi lớp đất có màu nâu đậm ảm đạm.
“Ít có người da đỏ nào du hành về phía nam và phía đông của các hồ lớn mà chưa từng nghe qua những đặc tính của nó. Anh muốn tự mình nếm thử không?”
Heyward cầm lấy bầu nước, và sau khi nuốt một ngụm nhỏ liền quăng nó sang một bên với nét mặt nhăn nhó bất mãn. Người trinh sát bật cười theo cách thầm lặng nhưng đầy sảng khoái từ tận đáy lòng, rồi lắc đầu tỏ vẻ vô cùng thỏa mãn.
“A! Anh vẫn chưa quen với cái hương vị đòi hỏi phải có thời gian để thành thói quen; đã từng có thời gian tôi cũng ghét nó chẳng kém gì anh; nhưng rồi vị giác của tôi đã thích nghi, và giờ thì tôi thèm khát nó, hệt như một con hươu thèm liếm muối vậy[1]. Những loại rượu tẩm ướp gia vị đắt tiền của anh cũng chẳng được ưa chuộng hơn cái cách mà một tên da đỏ khoái khẩu thứ nước này; nhất là khi thể trạng của y đang suy nhược. Nhưng Uncas đã nhóm lửa xong xuôi, và đã đến lúc chúng ta nghĩ đến chuyện ăn uống, vì chặng đường trước mắt còn rất dài và ngổn ngang.”
[1] Nhiều loài động vật trong các khu rừng châu Mỹ thường tìm đến những nơi có suối nước mặn. Những nơi này được gọi là “bãi liếm” hoặc “bãi liếm muối”, theo ngôn ngữ của cư dân vùng này, bởi thực tế là các loài động vật bốn chân thường phải liếm lớp đất ở đó để hấp thụ các hạt muối khoáng. Những bãi liếm này là tụ điểm lui tới quen thuộc của những thợ săn, những kẻ thường mai phục con mồi dọc theo các lối mòn dẫn đến đó.
Cắt ngang cuộc đối thoại bằng bước chuyển đổi đột ngột này, người trinh sát lập tức quay sang phần thức ăn thừa thoát khỏi sự tham lam của đám Huron. Một quy trình cực kỳ tóm lược đã hoàn tất công việc nấu nướng đơn giản, và rồi anh cùng những người Mohicans bắt đầu bữa ăn đạm bạc của họ với sự im lặng và tinh thần tận tụy đặc trưng của những con người ăn để có sức chịu đựng những giãi dầu gian khổ triền miên và khốc liệt.
Khi nghĩa vụ thiết yếu và may mắn thay rất đáng hoan nghênh ấy đã được hoàn thành, mỗi người thợ săn cúi xuống uống một ngụm nước dài từ biệt dòng suối cô độc và tĩnh lặng ấy[2], nơi mà xung quanh nó và những dòng suối chị em, trong vòng năm mươi năm tới, sự giàu sang, nhan sắc và tài năng của cả một bán đảo sẽ tụ hội đông đúc để tìm kiếm sức khỏe và niềm vui. Sau đó, Hawkeye tuyên bố quyết định lên đường. Hai chị em trở lại yên ngựa; Duncan và David nắm chặt những khẩu súng trường và bước theo những dấu chân; người trinh sát đi đầu và bộ tộc Mohicans khóa đuôi. Cả đoàn nhanh chóng di chuyển qua lối mòn hẹp hướng về phía bắc, để lại dòng nước chữa lành hòa mình không ai ngoái nhìn vào những con suối lân cận và những thây ma rữa nát trên ngọn đồi bên cạnh mà không có lấy một nghi lễ chôn cất; một số phận quá đỗi bình thường đối với các chiến binh chốn rừng xanh để có thể khơi gợi lòng thương cảm hay dăm ba lời bình phẩm.
[2] Bối cảnh của những sự kiện trên diễn ra ngay tại nơi mà ngôi làng Ballston hiện nay tọa lạc; một trong hai khu nghỉ dưỡng suối khoáng chính của châu Mỹ.