Người Máy Có Mơ Về Cừu Điện Không?

Lượt đọc: 73 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

Trong một tòa nhà khổng lồ, trống trơn, đang mục nát, trước đây từng có hàng ngàn người ở, một chiếc ti vi duy nhất mời chào với một căn phòng không người.

Trước Thế Chiến Cuối, đống đổ nát vô chủ này từng được duy tu bảo dưỡng. Đây từng là vùng ngoại ô của San Francisco, chỉ mất một lát nếu đi bằng tàu cao tốc một ray. Toàn bộ bán đảo này - như một cái cây đầy chim - từng huyên náo với sự sống và lời ý kiến cùng những than phiền, và giờ đây những người chủ biết chăm lo thì hoặc đã chết, hoặc di cư đến một trong các thế giới thuộc địa, hầu hết là đã chết. Cuộc chiến tranh ấy thật tốn kém, bất chấp những dự báo can đảm của Lầu Năm Góc và kẻ tay sai khoa học kiêu căng của nó: Tập đoàn Rand, từng tồn tại không xa địa điểm này. Cũng như chủ các căn hộ, tập đoàn này đã rời đi, vĩnh viễn, rõ ràng là vậy. Không ai tiếc thương gì nó.

Ngoài ra, ngày nay không ai nhớ tại sao chiến tranh lại xảy ra hoặc có ai là người chiến thắng hay không. Đám bụi làm nhiễm bẩn hầu hết bề mặt hành tinh ấy không hề xuất phát từ một quốc gia nào cả. Và không một ai, kể cả kẻ thù của họ hồi chiến tranh, đã dự tính chuyện này.

Trước hết, một cách lạ lùng, loài cú lăn ra chết. Lúc bấy giờ chuyện có vẻ gần như buồn cười nữa. Những con chim béo ú lông trắng mượt phơi xác chỗ này chỗ kia, trong sân hay ngoài đường. Chúng chỉ xuất hiện từ lúc chiều tà trở đi như hồi còn sống, nên chẳng ai chú ý. Những đại dịch xa xưa đã loan báo sự có mặt của mình theo cách tương tự nhờ vô số chuột chết. Tuy nhiên, bệnh dịch lần này là từ trên trời đổ xuống.

Sau lũ cú dĩ nhiên là đến những loài chim khác, nhưng lúc ấy bí ẩn đã được ghi nhận và hiểu ra. Đã có một chương trình sơ sài gửi người định cư ở thuộc địa được triển khai từ trước chiến tranh, nhưng giờ khi mà mặt trời đã ngừng chiếu xuống Trái đất thì công cuộc định cư cũng bước vào một giai đoạn hoàn toàn mới. Cùng với nó, một vũ khí từng được dùng trong thời chiến – Chiến binh Tự do Tổng hợp – đã được cải tiến. Vì có thể hoạt động ở hành tinh lạ, robot dạng người này - nói đúng ra là người máy hữu cơ này - đã trở thành con lừa máy kéo xe của chương trình định cư. Theo luật của Liên Hiệp Quốc, mỗi người di cư tự động nhận được tài sản là một người máy thuộc mẫu tùy chọn. Và đến năm 1990, số lượng các mẫu đã đa dạng quá mức người ta nhớ nổi, y như các xe hơi Mỹ những năm 1960.

Đó là động cơ tối hậu cho việc di cư: đầy tớ người máy là củ cà rốt, mưa phóng xạ là cây gậy. Liên Hiệp Quốc đã làm cho việc di cư trở nên dễ dàng, còn ở lại là chuyện khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả. Còn ở lì trên Trái đất là còn tiềm ẩn khả năng thấy mình bỗng nhiên bị xếp vào loại bị bài trừ về mặt sinh học, đe dọa di truyền thuần khiết của giống loài. Một khi bị gắn nhãn “đặc biệt”, một công dân, dù chấp nhận bị triệt sản, cũng bị loại bỏ khỏi lịch sử. Anh ta trên thực tế không còn là một phần của nhân loại. Nhưng đây đó vẫn còn những người từ chối di cư. Điều đó, thậm chí với cả những người trong cuộc, là một quyết định trái lý lẽ, khó hiểu. Về logic, tất thảy những người thường đều phải di cư xong từ lâu rồi. Có lẽ đối với họ, dù đã móp méo như vậy nhưng Trái đất vẫn là chốn thân quen để bám víu. Hoặc có lẽ những người không di cư tưởng tượng rằng lớp vỏ bụi bọc ấy cuối cùng sẽ tan hết. Dầu gì đi nữa thì hàng ngàn người vẫn ở lại, đa số tập trung về cư trú ở những vùng đô thị nơi họ có thể thấy nhau bằng xương bằng thịt, người này tìm được an ủi bằng sự hiện diện của kẻ khác. Đấy là những người xem ra còn tương đối tỉnh táo. Và, ngoài họ ra, có những cá thể đặc dị vẫn ở lại đây đó trong các vùng ngoại ô gần như bị bỏ hoang.

John Isidore, đang cạo râu ở phòng tắm và hứng tiếng rền rĩ từ chiếc ti vi trong phòng khách, là một trong đám này.

Hắn đơn giản là đi lạc đến nơi này vào những ngày đầu sau cuộc chiến. Trong thời buổi họa hoạn ấy, không ai biết chắc mình đang làm gì. Do chiến tranh ly tán, từng nhóm dân chúng đã phải lang bạt, ghé vào sống tạm ở vùng này rồi chạy sang khu vực nọ. Vào lúc bấy giờ, mưa phóng xạ còn lác đác và rất thất thường, một số bang gần như không có, những bang khác thì ồ ạt. Bụi phóng xạ dịch chuyển thì các nhóm dân ly hương cũng dời chỗ ở. Bán đảo phía Nam San Francisco ban đầu không nhiễm bụi phóng xạ nên một lượng lớn người dân đã đổ đến định cư ở đây. Khi bụi tràn đến, một số đã chết và số còn lại đã ra đi. J. R. Isidore ở lại.

Tiếng ti vi quang quác, “… gây dựng lại những ngày êm ả của các tiểu bang miền Nam trước thời Nội Chiến! Dù để làm hầu cận hay dân cày không mệt mỏi, những người máy đặt làm riêng – được thiết kế đặc biệt cho NHU CẦU CỦA RIÊNG BẠN, CHO BẠN VÀ CHỈ MÌNH BẠN THÔI – trao cho bạn hoàn toàn miễn phí ngay khi bạn đến, được trang bị đầy đủ, đúng như bạn yêu cầu trước khi rời khỏi Trái đất. Người đồng hành trung thành, không gây rắc rối trong chuyến phiêu lưu vĩ đại nhất, táo bạo nhất mà con người dám dấn vào trong lịch sử hiện đại này sẽ mang lại…” và cứ tiếp tục như thế.

Mình có muộn giờ làm không, Isidore băn khoăn khi cạo sột soạt. Hắn không có lấy chiếc đồng hồ nào còn chạy được. Thường hắn dựa vào ti vi để đoán giờ, nhưng hôm nay là Ngày Những Chân trời Liên không gian, rõ ràng như vậy. Dù sao thì ti vi cũng cho biết hôm nay là ngày kỷ niệm năm năm (hay sáu nhỉ) thành lập nước Mỹ Mới, khu định cư chính của Mỹ ở sao Hỏa. Và chiếc ti vi của hắn, đã bị hỏng một phần, chỉ bắt được duy nhất cái kênh đã quốc hữu hóa trong thời chiến tranh và giờ vẫn vậy. Chính quyền ở Washington, cùng chương trình định cư, là nhà tài trợ duy nhất mà Isidore buộc phải lắng nghe.

“Hãy cùng lắng nghe bà Maggie Klugman,” người dẫn chương trình chào mời với John Isidore, hắn thì chỉ muốn biết giờ, “mới di cư lên sao Hỏa gần đây, bà Klugman trả lời phỏng vấn được ghi hình trực tiếp từ New York Mới muốn chia sẻ điều này. Bà Klugman, bà so sánh thế nào cuộc sống ở Trái đất bị ô nhiễm với cuộc sống mới ở đây trong thế giới chứa mọi khả năng có thể tưởng tượng ra?”

Dừng lại một lát, rồi một giọng nữ trung niên mệt mỏi, khô khốc, “Tôi nghĩ rằng điều tôi và gia đình ba người của tôi nhận thấy rõ nhất là phẩm cách.”

“Phẩm cách ư, thưa bà Klugman?”

“Đúng,” bà Klugman, nay là dân New York Mới, sao Hỏa, nói. “Rất khó giải thích. Có một đầy tớ có thể trông cậy trong thời buổi khó khăn này… tôi thấy rất an tâm.”

“Hồi ở Trái đất, bà Klugman, ngày xưa ấy, bà có lo sợ mình sẽ bị xếp hạng là, à hừm, đặc biệt không?”

“Ồ, vợ chồng tôi lo sợ muốn chết. Dĩ nhiên, sau khi chúng tôi di cư thì nỗi lo đã tan biến mãi mãi, thật may mắn.”

John Isidore cay độc tự nhủ: Và với mình nó cũng biến mất luôn, mà còn chẳng phải di cư. Giờ hắn đã là một kẻ đặc biệt hơn một năm, và không chỉ vì những gen bị biến đổi hắn mang trong người. Tệ hơn nữa, hắn đã không qua được bài kiểm tra năng lực tâm thần tối thiểu, nghĩa là theo cách nói phổ biến, hắn là kẻ não gà. Cả ba hành tinh trút sự khinh thường lên đầu hắn. Tuy nhiên, bất chấp điều đó, hắn đã sống sót. Hắn có công việc là lái xe bán tải và xe chở hàng cho một công ty sửa chữa động vật giả: Bệnh viện Thú cưng Van Ness và ông chủ u ám, thô lỗ Hannibal Sloat coi hắn là người, và hắn rất trân trọng điều đó. Mors certa, vita incerta[1], như ông Sloat thỉnh thoảng tuyên bố. Isidore, dù đã nghe nhiều lần, vẫn chỉ hiểu lơ mơ ý nghĩa câu thành ngữ đó. Sau rốt, nếu một kẻ não gà mà lại thông hiểu tiếng Latin thì đâu còn là kẻ não gà nữa. Khi được chỉ ra điều này, ông Sloat đã thừa nhận là đúng thế. Và còn những kẻ não gà khác ngu ngốc hơn Isidore vô khối, bọn chúng không thể làm bất cứ việc gì, bọn chúng vẫn ở trong các cơ sở giam giữ, mang cái tên cổ giả là Viện Đào tạo Kỹ năng Nghề nghiệp Đặc biệt của Mỹ, thế nào đó mà từ “đặc biệt” luôn phải đưa vào.

“… chồng bà cảm thấy không được bảo vệ,” người dẫn chương trình ti vi đang nói, “khi phải sở hữu và liên tục mặc khố bảo hộ chì chống phóng xạ đắt tiền và vướng víu, phải không bà Klugman?”

“Chồng tôi,” bà Klugman bắt đầu nói, nhưng lúc đó, đã cạo râu xong, Isidore bước vào phòng khách tắt ti vi.

Im lặng. Cái im lặng xộc ra từ đồ đạc và những bức tường. Nó giáng vào hắn bằng sức mạnh tuyệt đối và kinh khủng, giống như được phát ra từ một cối xay gió khổng lồ. Nó từ sàn nhà bốc lên, thoát ra từ tấm thảm màu xám rách bươm trải kín phòng. Nó xông ra từ những đồ điện đã hỏng và sắp hỏng trong nhà bếp, những cỗ máy chết chưa từng hoạt động trong suốt thời gian Isidore sống ở đây. Nó rỉ ra từ cái đèn đứng vô dụng trong phòng khách, lẫn với bản sao của nó vô ngôn trống rỗng từ trần nhà lốm đốm dấu ruồi tràn xuống. Quả thực nó phát ra từ tất thảy các đồ vật trong phạm vi hắn nhìn thấy, như thể nó – sự im lặng – định hất cẳng hết thảy mọi vật hữu hình. Vì vậy nó tấn công không chỉ vào tai mà cả vào mắt hắn. Khi đứng cạnh chiếc ti vi trì độn, hắn cảm nhận được sự tĩnh lặng đang hiển hiện và – theo cách riêng của nó – đang sống. Đang sống! Hắn từng cảm thấy bước đi khắc khổ của nó lại gần trước đây. Khi nó đến, nó sầm sầm đổ vào không chút kín đáo, rõ ràng là không thể đợi. Sự im lặng của thế giới không thể kìm lại lòng tham lam của nó. Bây giờ thì không. Khi mà nó đã coi như chiến thắng.

Lúc ấy, hắn tự hỏi những người vẫn ở lại Trái đất có cảm nhận thấy cái hư vô như vậy không. Hay điều này là đặc thù cho nhân dạng sinh học đặc dị của hắn, một sự quái đản sinh ra từ bộ máy cảm giác trì độn của hắn? Câu hỏi thú vị đây, Isidore nghĩ. Nhưng hắn biết so sánh với ai đây? Hắn sống một mình trong tòa nhà đang tan rã và tù mù này, với một ngàn căn hộ không có người ở, cũng giống như những tòa nhà khác, đang ngày qua ngày chìm đắm vào hỗn độn. Cuối cùng rồi tất cả mọi thứ trong tòa nhà sẽ nhập lại, sẽ vô bản sắc và y hệt nhau, chỉ là một đống rác tự sinh như thạch pudding chất lên tận trần mỗi căn hộ. Và sau đó, chính tòa nhà không được coi sóc sẽ biến thành vô hình dạng, bị chôn vùi dưới lớp bụi tỏa khắp. Hiển nhiên lúc ấy hắn đã chết rồi, một sự kiện thú vị khác để mà chờ đợi khi hắn đứng đó trong phòng khách tồi tàn, đơn độc đối diện với thế giới câm lặng đầy quyền uy đến nghẹt thở đang xuyên thấu từng ngóc ngách.

Có lẽ tốt hơn nên bật ti vi. Nhưng mớ quảng cáo nhằm vào những người thường còn ở lại khiến hắn sợ hãi. Chúng báo cho hắn biết theo vô vàn cách thức nối đuôi nhau rằng hắn, một kẻ đặc biệt, không được ai chào đón, chẳng có ích cho ai, không thể nào di cư dù có muốn. Vậy sao phải nghe? hắn tức tối tự hỏi. Chém cha lũ chúng nó, chém cha cả công cuộc định cư đi. Mình hy vọng cuối cùng thì chiến tranh cũng sẽ nổ ra ở trên đó, về lý thuyết là hoàn toàn có thể xảy ra. Rồi những nơi ấy sẽ thành như Trái đất. Và những ai đã di cư sẽ trở thành đặc biệt.

Được rồi, hắn nghĩ, mình đi làm. Hắn với nắm cửa mở lối vào hành lang không ánh sáng, rồi chợt giật lùi lại khi thấy sự trống rỗng ở trong phần còn lại của tòa nhà. Nó nằm đó rình đợi hắn, ngay ở đây, cái sức mạnh hắn đã cảm thấy đang mải mê xâm chiếm căn hộ riêng của hắn. Lạy Chúa, hắn nghĩ, đoạn đóng cửa lại. Hắn chưa sẵn sàng leo những bậc thang lách cách ấy lên sân thượng trống trơn, nơi hắn không có con vật nào. Tiếng vọng bước chân hắn đi lên: tiếng vọng của hư không. Đến lúc phải cầm quai hộp rồi, hắn tự nhủ, và bước qua phòng khách đến chỗ cái hộp thấu cảm màu đen.

Khi hắn bật máy, cái mùi ion âm lờ mờ thường thấy từ nguồn điện lại xông lên. Hắn hít lấy hít để, đã thấy phấn chấn. Rồi ống cathode[2] sáng lên như hình ảnh ti vi lờ mờ giả hiệu. Một chuỗi hình ảnh nổi lên tạo thành những màu sắc, các vệt, các kết cấu có vẻ ngẫu nhiên, mà khi người ta chưa chạm vào quai nắm, thì không có hình thù gì cụ thể. Nên, hít một hơi thật sâu để củng cố tinh thần, hắn nắm lấy hai quai hộp.

Hình ảnh dần cô đọng lại. Hắn thấy ngay cái quang cảnh trứ danh, con dốc cũ màu nâu cằn cỗi, với những cụm cỏ xơ xác như xương khô xô lệch chĩa lên bầu trời mờ đục không ánh nắng. Một bóng dáng duy nhất, ít nhiều mang hình thù con người, đang lê bước lên sườn dốc: một cụ già mặc chiếc áo dài buồn tẻ không đường nét gì nổi bật, tấm che thân sơ sài như thể giật được từ sự trống trải khắc nghiệt của bầu trời. Con người ấy, Wilbur Mercer, lê bước về phía trước. Và khi hắn siết chặt quai hộp, John Isidore dần dần cảm thấy căn phòng hắn đang đứng như mờ dần đi. Đồ đạc đổ nát cùng những bức tường tan đi, và hắn không còn cảm giác gì về chúng nữa. Thay vào đó, như bao lần trước, hắn thấy mình đang bước vào cảnh tượng ngọn đồi u ám, bầu trời u ám. Và cùng lúc ấy, hắn không còn chứng kiến cảnh leo dốc của ông già kia nữa. Giờ chính chân hắn đang lê đi, tìm chỗ bám víu giữa lớp sỏi đá lăn lông lốc quen thuộc. Hắn lại cảm nhận chính cái thô ráp gập ghềnh, đau đớn đó dưới chân mình, và một lần nữa ngửi thấy luồng sương cay xè của bầu trời – không phải bầu trời của Trái đất, mà là bầu trời của một nơi lạ lẫm, xa xôi, nhưng, nhờ cái hộp thấu cảm, ập đến ngay lập tức.

Hắn đã đạt đến trạng thái đó vẫn theo cách khó hiểu như mọi khi: sự hợp nhất về thể xác, đi kèm với đồng nhất về tâm lý và tinh thần, với Wilbur Mercer lại xảy ra. Như đang xảy ra với bất kỳ ai vào lúc này đang nắm chặt quai hộp, ở đây trên Trái đất hoặc ở một trong những hành tinh thuộc địa. Hắn cảm nhận được suy nghĩ họ – những người khác ấy – đập vào trí óc mình liên hồi, nghe thấy trong đầu hắn tiếng ồn ào từ sự tồn tại của rất nhiều cá nhân. Họ - và hắn - chỉ quan tâm đến một điều. Sự hòa nhập tâm trí ấy đang định hướng họ chỉ chú ý vào ngọn đồi, chặng đường lên dốc, nỗi mong muốn phải đi lên. Từng bước, từng bước, nó rõ dần, chậm chạp đến mức gần như không nhận thấy. Nhưng nó có thật. Cao hơn rồi, hắn nghĩ khi những viên đá lách cách trôi tuột xuống dưới chân hắn. Hôm nay chúng ta đã lên cao hơn hôm qua, và ngày mai, hắn - trong cái hình dạng tổng hợp là Wilbur Mercer - ngước nhìn con dốc phía trước. Không thể nào nhìn ra đích cuối. Quá xa. Nhưng sẽ đến.

Một viên đá ai ném về phía hắn, trúng cánh tay hắn. Hắn thấy đau. Hắn dợm quay lại và một viên đá khác bay vèo qua, không trúng hắn. Viên đá va vào đất và âm thanh khiến hắn giật mình. Ai? Hắn tự hỏi, liếc nhìn muốn tìm kẻ tra tấn hắn. Những kẻ địch xa xưa hiện ra nơi rìa tầm nhìn của hắn. Nó, hay chúng nó, đã theo dõi hắn suốt từ chân đồi, và chúng sẽ tiếp tục theo dõi cho tới khi tại đỉnh đồi…

Hắn nhớ lại đỉnh đồi, nhớ ngọn đồi đột nhiên bằng phẳng, khi chặng leo dốc dừng lại và phần còn lại bắt đầu. Đã bao lần hắn làm việc này? Những lần ấy nhòe đi, tương lai và quá khứ nhòe đi. Điều hắn đã trải qua và điều rốt cuộc hắn sẽ trải qua hòa quyện vào nhau, khiến chẳng còn gì ngoại trừ khoảnh khắc hiện tại, khi hắn đứng yên nghỉ ngơi, trong lúc xoa vết rách trên cánh tay do hòn đá gây ra. Chúa ơi, hắn mệt mỏi nghĩ. Điều này thì công bằng ở đâu chứ? Sao tôi lại đơn độc ở trên đây thế này, bị tra tấn bởi điều mình còn không thể thấy? Và rồi, trong lòng hắn, dòng suy nghĩ chung của mọi người khác đang hòa cảm phá tan đi ảo ảnh rằng hắn đơn độc.

“Các người cũng cảm thấy điều đó,” hắn nghĩ.

“Đúng vậy.” Những tiếng nói đáp lại. “Chúng tôi bị trúng đá, trên cánh tay trái. Đau muốn chết.”

“Được rồi, tốt hơn là chúng ta đi tiếp thôi.” Hắn tiếp tục bước, và tất cả họ lập tức đi cùng hắn.

Hắn nhớ, có một thời mọi sự rất khác, cái hồi chưa có lời nguyền, một quãng đời hạnh phúc hơn. Họ, Frank và Cora Mercer – cha mẹ dưỡng dục hắn – đã bắt gặp hắn trôi bồng bềnh trên chiếc xuồng cứu hộ bơm hơi ngoài bờ biển New England… hay là Mexico, gần cảng Tampico nhỉ? Bây giờ hắn không còn nhớ hoàn cảnh lúc ấy. Tuổi thơ thật đẹp. Hắn yêu quý mọi sự sống, nhất là những con vật, thậm chí hắn còn từng có khả năng đưa những con vật chết trở về cõi sống. Hắn sống với những con thỏ và côn trùng ở đó, dù đó là đâu, trên Trái đất hay thế giới thuộc địa. Cả chuyện đó giờ hắn cũng quên. Nhưng hắn vẫn nhớ những kẻ giết người, vì chúng đã bắt hắn, coi hắn là quái nhân, đặc biệt hơn bất cứ kẻ đặc biệt nào. Và vì thế mà mọi thứ đã thay đổi.

Pháp luật sở tại cấm tiệt sử dụng năng lực đảo ngược thời gian giúp vật chết sống lại. Bọn chúng đã nói rõ ràng ra như thế lúc hắn mười sáu tuổi. Hắn tiếp tục làm việc đó thêm một năm nữa, bí mật, trong phần rừng vẫn còn sót lại, nhưng một mụ già mà hắn chưa bao giờ nghe hay nhìn thấy đã rỉ ra. Không được sự đồng ý của cha mẹ hắn, chúng – những kẻ giết người – đã oanh tạc vào nốt nang độc nhất vô nhị hình thành trong não bộ hắn, đã tấn công nó bằng cobalt phóng xạ[3], và điều này đã đẩy hắn vào một thế giới khác, thế giới mà hắn chưa bao giờ ngờ rằng có tồn tại. Đó là một cái vực đầy những xác chết và xương khô, và hắn đã mất nhiều năm vật lộn để trèo lên khỏi đó. Con lừa và nhất là con cóc, những sinh vật quan trọng nhất đối với hắn, đã biến mất, đã trở nên tuyệt chủng, còn lại chỉ có những mẩu đang thối rữa, một cái đầu không mắt ở đây, một phần bàn tay ở kia. Cuối cùng, một con chim bay đến đây để chết đã cho hắn biết hắn đang ở đâu. Hắn đã chìm xuống thế giới mộ. Hắn không thể thoát ra cho tới khi những mẩu xương rơi rắc chung quanh mọc lại thành sinh thể. Hắn đã bị gắn liền vào quá trình trao đổi chất của những sự sống khác, hắn không trỗi dậy được chừng nào chúng còn chưa đứng lên.

Cái phần ấy của chu kỳ kéo dài bao lâu hắn không biết. Nói chung không có chuyện gì xảy ra nên không có căn cứ mà đo đếm được. Nhưng cuối cùng, những khúc xương đã có lại được da thịt, những hốc mắt trống trơn đã được lấp đầy và mắt mới đã nhìn thấy được, trong lúc đó những mỏ và mõm mọc lại đã cục tác, ăng ẳng và rú rít. Có lẽ chính hắn đã làm điều đó, có thể cái nốt ngoại cảm trong não bộ hắn cuối cùng đã mọc lại. Hoặc có thể đấy không phải là công của hắn mà nhiều khả năng đó là một quá trình tự nhiên. Dù thế nào thì hắn cũng không tiếp tục chìm xuống nữa. Hắn bắt đầu leo lên, cùng với số còn lại. Đã từ lâu hắn không còn nhìn thấy họ. Nhìn bề ngoài hắn chỉ thấy hắn đang leo một mình. Nhưng họ có mặt ở đó. Họ vẫn đi bên hắn. Hắn cảm thấy họ ở bên trong hắn, một cách lạ lùng.

Isidore đứng cầm hai quai hộp, hắn cảm nhận mình bao hàm tất cả mọi sinh thể khác. Và rồi, dè dặt, hắn buông tay ra. Như mọi lần, đã đến lúc kết thúc, mà dù sao thì cánh tay hắn cũng đang đau nhói và chảy máu nơi viên đá đập vào.

Buông quai hộp ra, hắn kiểm tra cánh tay rồi tập tễnh đi vào phòng tắm để rửa vết rách. Đây không phải lần đầu tiên hắn bị thương trong khi hòa cảm với Mercer và có lẽ cũng không phải lần cuối. Nhiều người, nhất là những người già, đã chết, đặc biệt là lúc ở trên đỉnh đồi về sau, khi cuộc tra tấn thực sự bắt đầu. Không biết mình có vượt qua được phần đó lần nữa không, hắn tự nhủ khi dán gạc lên chỗ bị thương. Có khả năng bị trụy tim. Sẽ tốt hơn nếu mình sống trong thành phố, nơi các tòa nhà có sẵn bác sĩ chực chờ với những cỗ máy phóng tia lửa điện. Ở đây, một mình trong cái tòa nhà này, quá nguy hiểm.

Nhưng hắn biết hắn sẽ chấp nhận nguy hiểm ấy. Hắn vẫn luôn làm như vậy, giống như hầu hết mọi người, kể cả lứa già thân thể yếu ớt.

Hắn dùng khăn giấy lau khô cánh tay bị thương.

Và nghe thấy, văng vẳng từ xa, tiếng ti vi.

Có ai khác trong tòa nhà này, hắn nghĩ rối rít, không thể nào tin được. Không phải ti vi của mình, nó tắt rồi. Và mình cảm thấy sàn nhà rung động. Là phía dưới, ở một tầng khác!

Mình không đơn độc nữa, hắn nhận ra. Một cư dân khác đã chuyển đến, chiếm lấy một trong những căn hộ bỏ hoang, và khá gần nên mình có thể nghe thấy anh ta. Hẳn là ở tầng hai hay tầng ba, chắc chắn không thấp hơn. Xem nào, hắn nghĩ nhanh. Phải làm gì khi có cư dân mới chuyển đến? Ghé qua mượn gì đó, phải không nhỉ? Hắn không nhớ nổi. Chuyện này chưa bao giờ xảy ra với hắn, tại đây hay bất cứ nơi nào khác: người ta chuyển đi, người ta di cư, nhưng không ai chuyển đến. Mang cho họ gì đó, hắn kết luận. Chẳng hạn như một ly nước, sữa thì hơn. Đúng, sữa hoặc bột mì hoặc có thể là trứng – hay, cụ thể hơn, là sữa thế phẩm, bột mì thế phẩm, trứng thế phẩm.

Nhìn vào tủ lạnh mà dàn lạnh từ lâu đã không hoạt động, hắn thấy một cục bơ thực vật có phần khả nghi. Cầm lấy cục bơ, tim đập rộn rã, hắn phấn khích đi xuống tầng dưới. Phải bình tĩnh, hắn tự nhủ. Không để người ta biết mình là não gà. Nếu họ biết mình não gà, họ sẽ không nói chuyện với mình. Luôn là như vậy, vì lý do nào đó. Mình không biết tại sao?

Hắn vội vã đi theo hành lang.

[1] Tiếng Latin, tạm dịch: Cái chết là chắc chắn, còn cuộc sống thì không.

[2] Điện cực âm, ngược lại với athode: điện cực dương, là 2 điện cực trong thiết bị điện phân cực.

[3] Đồng vị Cobalt-60 (Co60) là đồng vị phóng xạ dùng trong xạ trị.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.