Người Gia Sư, Agnes Grey

Lượt đọc: 151 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương XI
Nhà của tá điền

❊ ❊ ❊

Bởi vì tôi chỉ có một học trò thường trực − mặc dù cô bé có khả năng gây khó khăn cho tôi bằng ba hoặc bốn học trò bình thường, và dù chị của cô vẫn học tiếng Đức và học vẽ − tôi có nhiều thời gian để tùy ý sử dụng hơn trước, kể từ khi tôi đeo vào mình chiếc gông của người gia sư. Tôi dành một phần thời gian để viết thư cho những người thân ở nhà, một phần để đọc sách, tự học, luyện đàn, hát... và một phần để đi dạo trên những khu đất hoặc những cánh đồng gần đó, với các học trò của mình nếu họ muốn, hoặc đi một mình nếu họ không muốn.

Khi rảnh rỗi, các tiểu thư nhà Murray thường giải trí bằng cách đến chơi nhà những người tá điền nghèo trong điền trang của cha họ, để nhận sự tôn kính và khen nịnh của họ, hoặc để nghe chuyện thời xưa hay những chuyện ngồi lê mách lẻo của những bà già lắm chuyện, hoặc có lẽ để tận hưởng niềm vui trong trẻo hơn của việc làm cho những con người nghèo khổ ấy vui khi thấy sự hiện diện của họ và những món quà mà thỉnh thoảng họ mang tới, với cách cho thật dễ dãi, cách nhận đầy hàm ơn. Thỉnh thoảng tôi được gọi đi cùng một hoặc cả hai chị em họ tới những căn nhà đó, và đôi khi tôi thích đi một mình, để thực hiện lời hứa nào đó mà chị em họ chỉ hứa cho có chứ không quan tâm đến việc thực hiện, chẳng hạn mang một món tiền nhỏ đến làm từ thiện, hoặc đọc sách cho người ốm hay người không nơi nương tựa nghe. Vậy nên tôi quen một vài người tá điền, và thỉnh thoảng tôi đi thăm họ theo ý muốn của riêng mình.

Nói chung tôi thích đi một mình hơn là đi với các tiểu thư ấy bởi vì, chủ yếu do không được giáo dục tử tế, họ cư xử với những người thuộc tầng lớp thấp hơn mình theo cái kiểu khiến tôi khó chịu không muốn chứng kiến. Trong suy nghĩ, họ không bao giờ tự đặt mình vào vị trí của những người đó, và kết quả là, họ không đếm xỉa đến cảm xúc của những người đó. Họ nhìn những người nghèo ăn, đưa ra những lời bình luận thô lỗ về thức ăn và cách ăn uống của người ta. Họ cười nhạo những quan niệm và cách diễn đạt quê mùa của những người nông dân ấy đến nỗi có những người chẳng dám mở miệng nói nữa. Họ gọi những người cao tuổi nghiêm nghị là những ông bà già ngốc nghếch, ngu đần ngay trước mặt những người đó, và họ cứ vô tư thốt ra những lời như vậy mà không biết mình đang xúc phạm người đối diện. Tôi có thể thấy rằng những người nông dân ấy thường bị tổn thương và khó chịu trước cách cư xử ấy, mặc dù nỗi sợ “các đại tiểu thư” ngăn cản họ biểu lộ sự phẫn uất, nhưng các tiểu thư đâu có hiểu được điều đó. Họ nghĩ rằng bởi vì những người tá điền ấy nghèo và không được học hành, nên đương nhiên ngốc nghếch và ngu đần. Và các tiểu thư cao sang nhà Murray hạ mình nói chuyện với họ, cho họ vài đồng lẻ, hoặc vài bộ quần áo là có quyền cười nhạo họ tùy thích. Và những kẻ nghèo ấy phải ngưỡng mộ các tiểu thư như những thiên thần ánh sáng hạ cố quan tâm đến những người nghèo túng, làm bừng sáng căn nhà đơn sơ của mình.

Tôi đã cố gắng rầt nhiều bằng đủ mọi cách để đưa các học trò của mình thoát khỏi những ý niệm hão huyền này mà không làm ảnh hưởng tới niềm kiêu hãnh của họ − thứ rất dễ bị tổn thương − nhưng dường như không có kết quả đáng kể. Và tôi biết trong hai tiểu thư ai là người đáng trách hơn: Matilda thô lỗ và dữ dội hơn, còn Rosalie, ở cái tuổi ấy và với vẻ ngoài nữ tính, cách cư xử của cô đáng lẽ phải khá hơn, tuy nhiên, cô vẫn đểnh đoảng và vô tâm như một đứa trẻ mười hai tuổi thiếu suy nghĩ.

Vào một ngày đẹp trời thuộc tuần cuối cùng của tháng Hai, tôi đi dạo trong vườn cảnh, tận hưởng sự xa xỉ nhân ba của trạng thái được ở một mình, một cuốn sách, và thời tiết đẹp, bởi vì tiểu thư Matilda đi cưỡi ngựa, còn tiểu thư Murray cùng mẹ cô đi thăm viếng ai đó. Thế rồi tôi chợt nghĩ mình phải bỏ những thú vui ích kỷ này, và phải rời khỏi vườn cảnh với bầu trời xanh trong như tán ô rộng ở trên đầu, những cơn gió tây thổi ào ào qua những cành cây trụi lá, những vòng tuyết vẫn còn nấn ná ở những chỗ trũng nhưng đang tan nhanh dưới ánh mặt trời, con nai duyên dáng gặm những ngọn cỏ ướt xanh mơn mởn của mùa xuân − và tới căn nhà tranh của Nancy Brown, một bà góa có đứa con trai phải làm việc cả ngày ngoài đồng, một phụ nữ đã lớn tuổi khổ sở vì mắt bị viêm sưng khiến bà không thể đọc được gì: đối với bà đó là một bất hạnh lớn, bởi vì bà là một phụ nữ ham hiểu biết. Tôi tới đó và như mọi khi, thấy bà chỉ có một mình trong ngôi nhà tranh nhỏ bé, tối tăm, đóng cửa im im, sực mùi khói và thiếu khí trời, nhưng gọn ghẽ và sạch sẽ hết mức có thể. Bà ngồi bên cái lò sưởi nhỏ có vài mẩu than và vài mẩu củi cháy dở, đang cặm cụi đan. Một chiếc nệm bằng vải bố được trải ở đó cho người bạn hiền của bà, một con mèo nằm đó với cái đuôi dài quấn nửa vòng quanh cái chân mượt như nhung, đôi mắt lim dim nhìn tấm chắn lò sưởi cong cong.

“Chào bà Nancy, hôm nay bà có khỏe không?”

“Tôi tàm tạm, cô ạ, tôi − mắt tôi không khá hơn, nhưng tôi cảm thấy dễ chịu hơn rồi”, bà đáp và đứng dậy đón tôi với nụ cười vui vẻ khiến tôi rất mừng bởi vì khuôn mặt bà Nancy thường mang vẻ ưu phiền. Tôi chúc mừng bà vì sự thay đổi này. Bà nói rằng đó là một diễm phúc lớn và rằng “bà cảm thấy biết ơn vì diễm phúc đó”, rồi bà nói thêm: “nếu Chúa vui lòng giữ cho tôi con mắt sáng, cho tôi có thể lại đọc được Kinh thánh, thì tôi nghĩ tôi sẽ mãn nguyện như một nữ hoàng.”

“Cháu hy vọng Ngài sẽ làm thế bà Nancy ạ”, tôi đáp, “trong khi chờ đợi, thỉnh thoảng cháu sẽ đến đọc sách cho bà nghe khi cháu rảnh rỗi.”

Không giấu được niềm vui và lòng biết ơn, người phụ nữ nghèo ấy lần bước đi lấy ghế cho tôi, nhưng tôi không để bà phải vất vả. Trong khi tôi tự lấy ghế ngồi, bà bận vun than trong lò sưởi, thêm vào đống than đang tàn vài mẩu củi. Sau đó bà lấy cuốn Kinh thánh đã cũ vì được sử dụng nhiều từ trên giá xuống, cẩn thận phủi bụi trên cuốn sách, và đưa nó cho tôi. Khi tôi hỏi bà thích tôi đọc cho bà nghe phần nào, bà trả lời:

“Cô Grey, nếu cô không phiền thì tôi muốn nghe đoạn trong Thư thứ nhất gửi các tín hữu Côrintô của Thánh John, đoạn nói: Thiên Chúa là tình yêu, nên ai ở trong tình yêu là ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong họ.”

Lật qua các trang sách một lát, tôi tìm thấy đoạn đó trong chương bốn. Khi tôi đọc đến câu thứ bảy bà ngắt lời tôi, và với lời xin lỗi vì đã đường đột làm thế, bà nói rằng bà muốn tôi đọc nó thật chậm, để bà có thể thẩm thấu, suy ngẫm về từng từ và hy vọng tôi thứ lỗi cho bà bởi vì bà là “một kẻ dốt nát”.

“Người hiểu biết nhất”, tôi đáp, “có thể ngẫm nghĩ về từng câu Kinh này cả giờ đồng hồ và hơn thế. Vả lại, cháu cũng muốn đọc chậm hơn.”

Tôi đọc chương đó chậm như bà muốn, đồng thời đọc một cách truyền cảm nhất có thể. Thính giả của tôi lắng nghe hết sức chăm chú trong toàn bộ thời gian và khi tôi đọc xong, bà cảm ơn tôi bằng giọng chân thành. Tôi ngồi im lặng một lát để bà có thời gian ngẫm nghĩ về nó. Thật ngạc nhiên, bà phá vỡ sự im lặng đó bằng câu hỏi, tôi thích ông Weston nhiều hay ít.

“Cháu không biết”, tôi đáp, ngây người vì câu hỏi khá bất ngờ. “Cháu nghĩ ông ấy giảng đạo rất hay.”

“Đúng vậy, và ông ấy nói chuyện cũng dễ nghe lắm.”

“Vậy ư?”

“Đúng vậy. Có lẽ cô chưa gặp gỡ ông ấy − và chưa trò chuyện nhiều với ông ấy đúng không?”

“Vâng, cháu chưa gặp gỡ bất cứ ai để nói chuyện − ngoài các tiểu thư của Hall.”

“Đúng vậy. Họ là những tiểu thư xinh đẹp và trẻ trung, nhưng họ không thể nói chuyện như ông ấy đâu.”

“Vậy ông ấy có đến thăm bà, phải không bà Nancy?”

“Có, cô ạ. Và tôi rất biết ơn về điều đó. Ông ấy đến thăm tất cả những người nghèo chúng tôi, đến thường xuyên hơn ông chủ Bligh và ông mục sư nhiều. Ông ấy luôn được đón chào. Chúng tôi không có nhiều điều để nói tốt cho ông mục sư đâu − mọi người sợ ông mục sư. Khi ông ấy đến nhà một người nào đó, họ nói ông ấy chắc chắn tìm ra lỗi ở đó, vừa bước vào cửa ông ấy đã gọi ra cái sai rồi, nhưng có lẽ ông ấy nghĩ mình có bổn phận chỉ ra cho họ biết điều sai lỗi. Và ông ấy thường xuyên đến với mục đích khiển trách mọi người vì lý do không chịu đi nhà thờ, hoặc không quỳ khi người khác làm như vậy hoặc vì đã lui tới nhà nguyện Methody, hoặc những việc tương tự. Nhưng tôi không thể nói rằng ông ấy tìm thấy nhiều điều sai ở tôi. Trước khi ông Weston đến phụng sự ở đây, ông mục sư đến gặp tôi một hoặc hai lần gì đó, khi tinh thần tôi xuống dốc lắm. Và bởi vì sức khỏe của tôi đã yếu sẵn, tôi đánh liều mời ông tới − và ông ấy đã tới. Lúc đó tôi rất buồn, cô Grey ạ − Lạy Chúa, khi đó tôi cầm cuốn Kinh thánh mà không thể tìm được chút an ủi nào từ nó hết. Chính cái chương mà cô vừa mới đọc cho tôi nghe khiến tôi khổ tâm lắm − “Chẳng yêu ai, thì không biết đến Đức Chúa Trời.” Câu đó dường như là một nỗi sợ hãi đối với tôi, bởi vì tôi cảm thấy rằng tôi không yêu Chúa, cũng chẳng yêu con người như tôi đáng ra nên thế, và nếu cố gắng tôi vẫn không thể yêu. Cả chương trước đó nữa, chương ấy nói − “Ai sinh bởi Đức Chúa Trời thì chẳng có tội.” Và có một chỗ nữa nói − “Tình yêu là sự tuân theo luật của Chúa Cứu thế.” Và nhiều, nhiều đoạn khác nữa, cô ạ. Tôi sẽ làm cô mệt nếu nhắc lại tất cả những đoạn đó. Nhưng tất cả những đoạn Kinh thánh đó dường như đều lên án tôi, và cho tôi thấy rằng tôi sai. Bởi vì tôi muốn biết làm thế nào để đi đúng đường, tôi bảo Bill đến năn nỉ mục sư Hatfield tới thăm tôi một ngày nào đó và khi ông ấy đến, tôi sẽ nói với ông ấy những nỗi niềm của mình.”

“Và ông ấy đã nói gì, bà Nancy?”

“Có vẻ như ông ấy khinh bỉ tôi, cô ạ. Có lẽ tôi sai − nhưng ông ấy huýt sáo và tôi nhìn thấy ông ấy cười nửa miệng. Rồi ông ấy nói: Ôi, vớ vẩn thật! Bà theo giáo hội Giám Lý rồi. Nhưng tôi nói với ông ấy rằng tôi chưa từng đến gần những người thuộc giáo hội Giám Lý. Thế rồi ông ấy nói: Bà phải đi nhà thờ. Ở đó bà sẽ nghe Kinh thánh được giảng giải một cách chính xác, thay vì ngồi ở nhà nhìn chăm chăm vào cuốn Kinh thánh của bà.”

“Tôi nói với ông ấy rằng trước đây khi tôi còn khỏe, tôi chăm đến nhà thờ lắm, nhưng trong thời tiết mùa đông lạnh giá như thế này, tôi hầu như không dám ra khỏi nhà − vả lại, tôi bị bệnh thấp khớp nặng.”

“Nhưng ông ấy nói: Bà tập tễnh đến nhà thờ chỉ tốt cho bệnh thấp khớp mà thôi. Chẳng có gì tốt cho bệnh đó hơn là tập thể dục. Bà có thể đi lại quanh nhà được, vậy tại sao bà không thể đi đến nhà thờ hả? Sự thật là, ông ấy nói, bà thích nhàn thân. Biện hộ để né tránh bổn phận thì có khó gì.”

“Nhưng cô biết đấy, cô Grey, không phải tôi né tránh bổn phận. Tuy nhiên tôi nói với ông ấy rằng tôi sẽ cố gắng. Tôi nói: Nhưng ông có thể nói cho tôi biết, nếu tôi đi nhà thờ, thì liệu điều đó có tốt hơn cho tôi không? Tôi muốn được xóa sạch những tội lỗi, và muốn cảm thấy rằng những tội lỗi sẽ được quên, không giày vò tôi nữa, rằng tình yêu của Chúa tràn ngập trong trái tim tôi, và nếu tôi thấy đọc Kinh thánh và cầu nguyện tại nhà chẳng giúp ích gì thì liệu tôi đến nhà thờ có ích gì không?”

“Ông ấy nói: Nhà thờ là nơi được Chúa chỉ định cho việc tôn thờ Người. Bổn phận của bà là đi đến đó thường xuyên nhất có thể. Nếu bà muốn nhàn thân, muốn có sự an ủi thì bà phải tìm nó qua việc thực hiện bổn phận của mình − và ông ấy còn nói nhiều điều nữa, nhưng tôi không nhớ được hết những lời hay ý đẹp của ông ấy. Tuy nhiên, đại ý ông ấy nói rằng tôi sẽ đi nhà thờ thường xuyên hết mức có thể, mang theo cuốn Kinh thánh để đọc theo mục sư, đứng, quỳ, ngồi, làm tất cả những gì nên làm, và ăn bữa tối cuối cùng của Chúa vào mọi dịp, nghe những bài thuyết giảng của ông ấy và của ông chủ Bligh, thế là ổn. Nếu tôi thực hiện bổn phận của mình, thì cuối cùng tôi sẽ được ban phước.”

“Nhưng nếu theo cách đó mà bà không tìm thấy sự an ủi nào, ông ấy nói, thì hết cách.”

“Tôi nói: Thưa ông, ông nghĩ tôi là kẻ bị Chúa đầy xuống địa ngục ư?”

“Ông ấy nói: nếu bà cố gắng hết mình để được lên thiên đường mà không thể, thì bà ắt hẳn phải là một trong những người gắng sức vào cửa hẹp mà không vào được.”

“Sau đó ông ấy hỏi buổi sáng tôi có gặp tiểu thư nào của Hall không, và tôi trả lời rằng đã nhìn thấy các tiểu thư ấy đi vào đường làng Moss − nghe thấy thế ông ấy đá con mèo tội nghiệp của tôi bay trên sàn và vội vã chạy theo các tiểu thư, nhưng tôi rất buồn. Lời cuối cùng của ông ấy cứ vướng ở trong tim tôi và nằm ở đó như một cục chì, cho tới khi tôi mệt không chịu được.”

“Tuy nhiên tôi nghe lời khuyên của ông ấy. Tôi nghĩ ông ấy nói thế vì điều tốt nhất cho tôi, mặc dù cách nói của ông ấy thật kỳ cục. Nhưng cô biết đấy, ông ấy còn trẻ và giàu có nên không thể hiểu được những suy nghĩ của một bà già khốn khổ như tôi. Tôi đã cố gắng hết sức làm như ông ấy bảo − nhưng có lẽ tôi huyên thuyên như vậy làm phiền cô quá.”

“Ồ, không đâu, bà Nancy! Bà cứ nói tiếp đi, hãy kể cho cháu nghe tất cả.”

“Bệnh thấp khớp của tôi đỡ hơn rồi − tôi không biết mình sẽ đi nhà thờ hay không, nhưng một sáng Chủ nhật đầy sương, tôi bị nhiễm lạnh, ảnh hưởng đến mắt. Chứng sưng tấy này không xảy ra ngay tức thì, mà diễn ra từ từ − nhưng tôi sẽ không nói với cô về đôi mắt của tôi đâu, tôi đang nói về sự bất an trong đầu tôi cơ − Cô Grey ạ, nói thật là tôi không nghĩ cứ đến nhà thờ là vấn đề đó được giải quyết đâu − ít nhất, làm như thế không đủ. Tôi muốn sức khỏe của mình khá hơn, nhưng điều đó không giúp tôi chữa trị tinh thần đâu. Tôi đã nghe nhiều mục sư nói rồi, và đã đọc Kinh thánh, nhưng tất cả chỉ như tiếng trống đồng hoặc tiếng chũm chọe leng keng. Tôi không thể hiểu được những bài thuyết giáo, còn cuốn Kinh thánh của tôi chỉ cho tôi thấy tôi xấu xa đến mức nào, rằng tôi có thể đọc những lời tốt đẹp mà không cảm thấy chúng có tác dụng gì, và cảm thấy việc đọc ấy thật nặng nhọc, thay vì cảm thấy đó là diễm phúc và đặc ân mà Chúa lòng lành ban cho. Dường như nó khó hiểu và chẳng có tác dụng gì đối với tôi. Những từ đáng sợ như ‘Nhiều người gắng sức vào cửa hẹp mà không vào được’. Những lời ấy làm tinh thần của tôi héo hon.”

“Nhưng vào một ngày Chủ nhật, khi ông Hatfield làm lễ ban phước, tôi thấy ông ấy nói: ‘Nếu có ai trong số các bạn không thể làm cho tâm mình an, mà cần nhiều sự an ủi và lời khuyên, thì hãy đến tìm tôi, hoặc những ai dè dặt và đã học lời của Chúa, thì hãy nói ra nỗi lòng của mình!’ Vậy là sáng Chủ nhật đó trước buổi lễ, tôi mạnh dạn vào phòng lễ phục và bắt đầu nói chuyện với mục sư. Thường thì tôi không có thói quen làm một điều sỗ sàng như thế đâu, nhưng tôi nghĩ khi tâm hồn tôi bị đe dọa thì tôi không nên ngần ngại. Nhưng ông Hatfield nói ông ấy không có thời gian phục vụ tôi.”

“Ông ấy nói: Thực ra, tôi chẳng có gì để nói với bà ngoài những gì tôi đã nói với bà lần trước. Hãy dự lễ ban thánh thể, và đi làm bổn phận của bà đi. Và nếu điều đó không có tác dụng gì với bà, thì chẳng điều gì có thể giúp được bà đâu. Vậy nên đừng làm phiền tôi nữa.”

“Vậy là tôi đi ra. Nhưng tôi đã nghe thấy ông Weston nói − ông Weston lúc đó cũng có mặt ở đó − đó là ngày Chủ nhật đầu tiên của ông ấy ở Horton, và ông ấy ở trong phòng lễ phục, giúp mục sư mặc áo lễ –”

“Vâng, bà Nancy.”

“Và tôi nghe thấy ông ấy hỏi ông Hatfield ‘ai đó’. Ông mục sư trả lời, đó là một bà già ngớ ngẩn giả vờ mộ đạo.”

“Tôi rất đau lòng, cô Grey ạ. Tôi đi về chỗ ngồi và cố thực hiện bổn phận của mình, nhưng tôi chẳng thấy thanh thản chút nào. Thậm chí khi tôi nhận thánh thể, tôi cảm thấy như thể mình đang ăn và đang uống sự nguyền rủa chính mình. Bởi vậy tôi về nhà, trong lòng rất buồn.”

“Ngày hôm sau tôi cảm thấy rất chán nản − cô ạ, quả thực, tôi không có tâm trạng để cọ rửa xoong nồi, vậy nên tôi ngồi giữa đống xoong nồi, bát đĩa bẩn − và thật bất ngờ, ông Weston đến! Tôi vội dẹp các thứ vào một góc, và tôi tưởng rằng ông ấy cũng giống như ông Hatfield, sẽ phê bình tôi vì lười biếng, nhưng tôi đã nhầm. Ông ấy không phê bình mà chào tôi bằng giọng ôn tồn. Tôi phủi bụi trên ghế mời ông ấy ngồi, dọn dẹp lò sưởi một chút, nhưng tôi không quên được những lời ông mục sư đã nói với tôi, vậy nên tôi nói: Thưa ông, tôi không biết ông có phiền khi đến thăm một ‘bà già ngớ ngẩn giả vờ mộ đạo’ như tôi không?”

“Dường như ông ấy sửng sốt khi nghe tôi nói thế, nhưng ông ấy cố thuyết phục tôi tin rằng ông mục sư chỉ nói đùa thôi, chứ không có ý gì đâu. Rồi ông ấy nói: Bà Nancy, bà không nên nghĩ nhiều về chuyện đó. Ông Hatfield lúc ấy chỉ đùa thôi mà. Bà biết đấy, con người chúng ta chẳng ai hoàn hảo cả − ngay cả Moses cũng khinh suất khi phát ngôn kia mà. Nào, bây giờ nếu bà có thời gian thì hãy ngồi xuống đây một lát, nói cho tôi nghe về những hoài nghi và nỗi sợ hãi của bà nào. Tôi sẽ cố gắng giúp bà thoát khỏi chúng.”

“Vậy là tôi ngồi xuống với ông ấy. Cô Grey, cô biết đấy, ông ấy là một người lạ, thậm chí trẻ hơn cả ông Hatfield, tôi tin như vậy, và tôi nghĩ thoạt nhìn ông ấy không dễ coi, có vẻ hơi khó gần một chút, nhưng ông ấy nói chuyện rất lịch sự, hòa nhã − và khi con mèo tội nghiệp của tôi nhảy lên đầu gối ông ấy, ông ấy chỉ vuốt ve nó và mỉm cười. Vậy nên tôi nghĩ đó là một dấu hiệu tốt. Bởi vì đã có lần con mèo làm như thế với ông mục sư và ông ấy đá nó một cái chí chết. Nhưng cô không thể mong một con mèo biết cư xử như một người Cơ Đốc được, cô Grey ạ.”

“Không, tất nhiên là không, bà Nancy ạ. Ông Weston đã nói gì ạ?”

“Ông ấy không nói gì, mà kiên nhẫn hết mức có thể, ngồi nghe tôi nói, không hề tỏ thái độ khinh miệt, bởi thế tôi nói với ông ấy tất cả những gì tôi đã nói với cô đấy − và nhiều hơn nữa.”

“Ông ấy nói: Ông Hatfield đã đúng khi nói bà nên duy trì bổn phận, nhưng trong việc khuyên bà đi nhà thờ và dự lễ, ông ấy không có ý nói rằng đó là toàn bộ bổn phận của một người Cơ Đốc. Ông ấy chỉ nghĩ rằng bà nên có mặt ở đó để biết điều gì nên làm thêm nữa, để bà cảm thấy đó là một niềm vui khi thực hiện những việc ấy thay vì cảm thấy đó là nhiệm vụ, là gánh nặng. Và nếu như khi đó bà đề nghị ông ấy giải thích những từ đã khiến bà suy nghĩ nhiều như vậy, thì tôi nghĩ rằng ông ấy sẽ giảng giải cho bà rõ, rằng nếu người ta tìm lối đi vào cửa hẹp thì họ sẽ không qua được, chính tội lỗi của họ đã cản trở họ, cũng giống như một người vác một bao tải to tướng trên lưng muốn đi qua một cái cửa hẹp và nhận thấy rằng việc đó là không thể thực hiện được trừ khi ông ta trút bỏ gánh nặng mà ông ta đang mang. Nhưng bà Nancy ạ, tôi dám nói rằng không có tội lỗi nào mà bà không thể trút bỏ đâu, nếu như bà biết cách!”

“Ông nói đúng, thưa ông, tôi nói.”

“Ông Weston nói: Bà có biết lời răn thứ nhất và là lời răn quan trọng − và lời răn thứ hai − hai lời răn đó là nền tảng của toàn bộ luật và các sách tiên tri không? Bà nói bà không thể yêu thương Chúa, nhưng tôi chợt nghĩ rằng nếu bà hiểu đúng Chúa là ai, là gì, thì bà sẽ không thể không yêu. Ngài là Cha, là người bạn tốt nhất của bà: mọi diễm phúc, mọi điều tốt đẹp, thú vị, hữu ích đều đến từ Đức Chúa Trời, và mọi điều xấu xa, mọi điều mà bà có lý do để ghét, để tránh xa, để sợ hãi đều bắt nguồn từ Quỷ Sa tăng − Kẻ thù của Đức Chúa cũng như của tất cả chúng ta. Và đó là lý do Chúa xuất hiện bằng xương thịt, Chúa có thể phá hủy những công trình của quỷ dữ, của cái ác. Nói tóm lại, Chúa là tình yêu, và chúng ta càng có nhiều tình yêu ở trong ta thì chúng ta càng gần với Chúa và càng có nhiều tinh thần của Chúa.”

“Tôi nói: Thưa ông, nếu tôi luôn có thể nghĩ về những điều đó, thì tôi nghĩ mình có lẽ sẽ yêu Chúa, nhưng làm sao tôi có thể yêu hàng xóm của mình khi mà họ làm tôi bực mình, và làm sao tôi có thể yêu một số người rất ngang ngược, đầy tội lỗi?”

“Yêu những người hàng xóm có nhiều tính xấu, và những người có những khuyết điểm có thể đánh thức phần ác tiềm ẩn trong ta là một việc khó, nhưng hãy nhớ rằng Chúa tạo ra họ, và Chúa yêu họ. Và ai yêu Đức Chúa Trời là đấng đã sinh ra, thì cũng yêu kẻ được sinh ra bởi Ngài. Và nếu Đức Chúa Trời yêu chúng ta đến mức gửi con trai duy nhất của Ngài xuống trần gian chết để chuộc tội cho chúng ta, thì chúng ta cũng nên yêu thương nhau. Nhưng nếu bà không thể có tình cảm tích cực dành cho những người không quan tâm đến bà, thì ít nhất bà có thể đối xử với họ như cách bà muốn họ đối xử với mình. Bà có thể cố cảm thông cho những khuyết điểm của họ, và làm tất cả những gì tốt đẹp mà bà có thể làm cho những người xung quanh mình. Bà Nancy, nếu bà quen với điều này, thì mọi cố gắng của bà sẽ khiến bà yêu thương họ ở một mức độ nào đó − ấy là chưa kể đến thiện ý mà lòng tốt của bà sẽ khơi gợi ở họ, mặc dù họ có thể có ít lòng tốt. Nếu chúng ta yêu Đức Chúa Trời và muốn phụng sự Ngài, thì chúng ta hãy cố gắng trở nên giống như Ngài, làm công việc của Ngài, dốc lòng vì sự vinh quang của Ngài − đó chính là lòng thiện của con người − để đến được vương quốc của Ngài, nơi bình yên và hạnh phúc của toàn thế giới. Dù chúng ta có vẻ yếu ớt đến mức nào, bằng cách làm tất cả những điều thiện mà chúng ta có thể trong suốt cuộc đời thì ngay cả người bé mọn nhất trong chúng ta cũng có thể đến được nơi ấy. Hãy cứ sống trong tình yêu thì Chúa ở trong ta, và chúng ta ở trong Ngài. Hạnh phúc là thứ mà chúng ta càng cho đi thì càng nhận lại nhiều, thậm chí ngay ở đây, trên trần thế và chúng ta càng được thưởng xứng đáng ở trên thiên đường khi chúng ta yên nghỉ.”

“Cô ạ, tôi tin mọi lời ông ấy nói, bởi vì tôi đã nghĩ về chúng nhiều lần rồi. Sau đó ông ấy cầm cuốn Kinh thánh và đọc cho tôi nghe vài đoạn, giảng giải chúng một cách rõ ràng, cặn kẽ cho tôi hiểu. Dường như có nguồn ánh sáng mới chiếu vào tâm hồn tôi và tôi cảm nhận được nguồn sáng ở trong tim mình, tôi ước giá mà thằng Bill tội nghiệp nhà tôi và cả thế giới có mặt ở đây để nghe tất cả những gì ông ấy nói và chia sẻ niềm hân hoan với tôi.”

“Sau khi ông ấy ra về, Hannath Roger, người hàng xóm của tôi, sang nhà và muốn tôi giúp bà ấy giặt giũ. Tôi nói rằng tôi không thể bởi vì tôi chưa chuẩn bị khoai tây cho bữa trưa, và còn chưa rửa xoong nồi bát đĩa của bữa sáng. Vậy là bà ấy bắt đầu càu nhàu nói tôi là đồ lười. Thoạt đầu tôi hơi bực mình, nhưng tôi không nói bất cứ điều gì không phải với bà ấy. Tôi chỉ nói với bà ấy một cách điềm đạm: Tôi vừa mới tiếp phó mục sư mới đến thăm, nhưng tôi sẽ làm việc nhà thật nhanh, và khi nào xong tôi sẽ sang giúp bà. Vậy là bà ấy cũng không tức bực nữa, và tôi cảm thấy như thể lời nói của tôi đã mang sự ấm áp đến với bà ấy, và thế là chúng tôi mau chóng trở thành những người bạn tốt. Vậy đấy, cô Grey ạ, ‘một lời nói ôn tồn, nhẹ nhàng có thể làm tan sự tức giận, nhưng những lời lẽ nặng nề sẽ thổi bùng sự tức giận.’ Đó không phải chỉ là lời chúng ta nói với người khác đâu, mà nói cho chính mình đấy.”

“Đúng vậy, bà Nancy, nếu chúng ta luôn nhớ điều đó thì tốt biết bao.”

“Đúng, nếu chúng ta có thể.”

“Vậy sau lần đó ông Weston có đến thăm bà lần nào nữa không?”

“Có, nhiều lần nữa. Bởi vì mắt tôi trở nên tồi tệ hơn nên ông ấy thường ngồi đọc Kinh thánh cho tôi nghe khoảng nửa giờ đồng hồ. Nhưng cô biết đấy, ông ấy còn phải đi thăm những giáo dân khác, và còn nhiều việc phải làm − Cầu Chúa ban phước cho ông ấy! Chủ nhật sau đó ông ấy đã có một bài giảng đạo thật hay! Ông ấy giảng về đoạn ‘Hỡi những kẻ mệt mỏi và mang gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi’ và hai câu sau đoạn đó trong Kinh thánh. Cô không có mặt ở đó, khi ấy cô đi cùng các tiểu thư − nhưng bài giảng của ông ấy khiến tôi thật vui! Và bây giờ tôi vui, tạ ơn Chúa! Bây giờ tôi sẵn lòng giúp đỡ hàng xóm của mình − làm những gì mà một bà già chỉ còn một bên mắt sáng có thể làm, và họ cảm kích lắm, đúng như ông ấy nói. Cô Grey, cô thấy đấy, tôi đang đan một đôi tất − cho Thomas Jackson. Đó là một ông già có tính khí kỳ quặc. Tôi và ông ấy hay xung khắc, chúng tôi khác nhau lắm. Vậy nên tôi nghĩ không gì bằng đan tặng ông ấy một đôi tất ấm, và bây giờ tôi cảm thấy quý ông ấy hơn, ông già tội nghiệp. Đúng như ông Weston đã nói.”

“Cháu rất vui khi thấy bà hạnh phúc, bà Nancy, và thật sáng suốt. Nhưng bây giờ cháu phải đi đây. Cháu phải về làm việc ở Hall rồi”, tôi nói. Chào tạm biệt bà, tôi rời khỏi đó, hứa khi nào có thời gian sẽ lại đến thăm bà mà trong lòng cảm thấy hạnh phúc chẳng kém gì bà.

Lần khác tôi đến đọc Kinh thánh cho một người nông dân nghèo đang bị bệnh lao phổi giai đoạn cuối. Các tiểu thư đã đến thăm ông ấy và hứa sẽ đến đọc Kinh cho ông nghe, nhưng việc đó quá khó chịu đối với họ nên họ nài nỉ tôi đi thay. Tôi đến đó với tinh thần tự nguyện vui vẻ, và tôi cũng vui khi nghe những lời khen về phó mục sư Weston từ cả người ốm và vợ ông. Ông cụ bị bệnh nói với tôi rằng ông cảm nhận được sự an ủi và ích lợi từ những lần ghé thăm của phó mục sư mới, người thường xuyên đến thăm ông và là “một con người khác hẳn” so với ông Hatfield. Ông Hatfield năm thì mười họa mới ghé qua nhà ông, và lần nào đến cũng đòi phải mở cửa để có không khí trong lành cho riêng mình, mà không quan tâm đến người ốm, và thường mở cuốn Kinh thánh đọc nhanh cho xong phần dành cho người ốm, rồi vội vã ra về. Nếu không, ông ta ở lại đó chỉ để nói những lời quở trách gay gắt với bà vợ của người ốm, hoặc có những lời bình luận thiếu suy nghĩ và vô tâm, chỉ làm tăng thêm hơn là làm giảm bớt nỗi khổ sở của đôi vợ chồng già ấy.

“Trong khi đó”, ông cụ nói, “ông Weston cầu nguyện với tôi theo cách khác, nói chuyện với tôi rất thân tình, và thường đọc Kinh cho tôi nghe, ngồi bên cạnh tôi như một người anh em.”

“Đúng vậy!”, người vợ thốt lên, “và khi ông ấy thấy Jem tội nghiệp run lên vì lạnh và thấy cái lò sưởi tồi tàn của chúng tôi, ông ấy hỏi chúng tôi còn than dự trữ để sưởi không. Tôi nói với ông ấy rằng chúng tôi chỉ có chừng đó và sẽ cố kiếm thêm. Cô biết đấy, tôi không nghĩ ông ấy sẽ giúp chúng tôi đâu. Ấy thế mà ngày hôm sau ông ấy cho người mang tới một bao than. Chúng tôi chưa bao giờ có lửa ấm để sưởi như thế và đó là một diễm phúc trong mùa đông lạnh giá như thế này. Ông ấy tốt như vậy đó, cô Grey. Khi phó mục sư ghé thăm một nhà nghèo có người ốm, ông ấy chú ý xem thứ gì họ cần nhất và nếu nghĩ họ không thể tự kiếm được thứ đó thì ông ấy không bao giờ nói về nó, mà lẳng lặng mang thứ ấy đến cho họ. Không phải ai cũng làm như vậy đâu, thậm chí làm một chút ít những việc như ông ấy làm cũng không. Cô biết đấy, ông ấy không dư dả gì đâu, người ta nói ông ấy chỉ được mục sư trả một mức lương còm thôi.”

Với cảm giác hân hoan khó tả, tôi chợt nhớ phó mục sư thường bị các tiểu thư nhà Murray gọi là một kẻ thô lậu, bởi vì ông đeo đồng hồ bằng bạc, mặc quần áo không sang trọng và tươi sáng như ông Hatfield.

Tôi trở về Lodge mà trong lòng cảm thấy rất vui, thầm tạ ơn Chúa rằng giờ đây tôi đã có điều gì đó để nghĩ đến, một điều gì đó ở trong lòng như một sự an ủi, giải khuây khỏi sự đơn điệu buồn chán, sự cực nhọc, cô đơn của cuộc sống hiện tại mà tôi đang trải nghiệm. Hết tháng này đến tháng khác, hết năm này đến năm khác, trừ những kỳ nghỉ ngắn ngủi ở nhà mình, tôi chẳng bao giờ gặp một người nào mà tôi có thể mở lòng, hoặc có thể nói ra những suy nghĩ của mình một cách thoải mái với hy vọng nhận được sự cảm thông, thậm chí sự thấu hiểu. Chẳng có ai, ngoài bà Nancy Brown tội nghiệp, người mà tôi có thể có những phút giao tiếp thực sự, người mà khi trò chuyện tôi cảm thấy mình nhẹ lòng hơn, khôn ngoan hơn, hạnh phúc hơn, và là người khiến tôi cảm thấy việc trò chuyện của mình có thể trở nên hữu ích. Những người hằng ngày ở bên tôi là những đứa trẻ khó ưa, dốt nát, là những đứa con gái ngang bướng mà nếu tôi không phải ở cùng, nếu được cô độc lại là một sự giải thoát mà tôi khao khát và là phần thưởng lớn đối với tôi. Bị giới hạn trong những mối quan hệ đó thực sự rất khó chịu, xét về cả ảnh hưởng tức thời lẫn những hậu quả lâu dài. Trong sự giao thiệp với những con người ấy chẳng bao giờ tôi nảy ra được một ý tưởng mới hoặc một ý nghĩ mang tính khích lệ nào: những ý tưởng vừa mới nảy ra trong tôi đều bị nghiền nát một cách tội nghiệp, phải chịu số phận chết yểu hoặc lụi tàn bởi vì chúng không thể thấy ánh sáng.

Chúng ta biết rằng những người thường xuyên giao thiệp với nhau có ảnh hưởng lớn đến tinh thần và thái độ của nhau. Những người có những hành động diễn ra trước mắt chúng ta, có lời nói bay đến tai chúng ta, sẽ dần dần khiến ta hành động và nói năng giống như họ một cách tự nhiên, vô thức, dù ta có muốn hay không. Tôi không dám nói sức mạnh không thể cưỡng lại của sự đồng hóa này sẽ phát triển đến mức nào, nhưng nếu một người văn minh buộc phải sống cả chục năm giữa những người hoang dã cứng đầu thì tôi không dám chắc cuối cùng anh ta sẽ không trở thành một người hoang dã, trừ khi anh ta có sức mạnh để cải thiện họ. Và bởi vì tôi không thể làm cho những người trẻ tuổi mà hằng ngày tôi tiếp xúc trở nên tốt hơn, tôi càng ngày càng sợ rằng họ sẽ làm cho tôi trở nên tồi tệ đi − dần dần sẽ đưa cảm xúc, thói quen, khả năng của tôi xuống mức ngang hàng với họ. Ảnh hưởng đến tôi, nhưng họ lại chẳng truyền cho tôi sự vô tâm và sự vui nhộn của họ.

Dường như tôi cảm thấy trí tuệ của mình đã sa sút, trái tim của mình chai sạn, tâm hồn mình cằn cỗi, và tôi sợ rằng khả năng nhận thức về đạo đức của tôi sẽ mòn nhụt đi, sự phân biệt đúng sai của tôi không còn rành mạch nữa, và tất cả những khả năng tốt hơn của tôi đều mai một đi dưới sự ảnh hưởng tai hại của lối sống đó. Màn sương mù dày đặc đang vây quanh tôi, che lấp thiên đường phía trước của tôi, và giữa lúc đó Weston xuất hiện như vì sao mai ở phía chân trời, cứu tôi khỏi nỗi sợ bóng tối bao trùm, và tôi vui mừng vì giờ đây tôi có một chủ đề cao hơn mình, chứ không phải thấp hơn mình để suy ngẫm. Tôi vui mừng nhận thấy rằng không phải toàn bộ thế giới đều là những người nhà Bloomfield, Murray, Hatfield, Ashby, v.v và v.v..., và rằng sự ưu tú của con người không chỉ là ước mộng hão huyền. Khi chúng ta biết về một điều tốt nho nhỏ của một con người, chúng ta dễ dàng, thích hình dung ra thêm nữa. Ngày Chủ nhật giờ đây trở thành một ngày đặc biệt thú vị đối với tôi (tôi gần như hào hứng leo lên cái góc trong cùng của xe ngựa), bởi vì tôi muốn được nghe Weston nói − thích được nhìn thấy anh, mặc dù tôi biết anh không đẹp trai, thậm chí không ưa nhìn, nhưng chắc chắn anh không xấu xí.

Anh có chiều cao chỉ hơn trung bình một chút. Khuôn mặt anh quá vuông vức nên không thể được coi là đẹp, nhưng đối với tôi điều đó nói lên tính cách của anh. Mái tóc màu nâu sẫm của anh không được uốn quăn một cách cầu kỳ như tóc của mục sư Hatfield mà chỉ đơn giản được chải ra hai bên phía trên vầng trán rộng trắng trẻo. Tôi nghĩ đôi lông mày của anh nhô ra quá mức, nhưng từ bên dưới hàng lông mày nâu sẫm đó lấp lánh đôi mắt nâu không quá to, nhưng sâu và rất sáng, toát lên sức mạnh khác thường và đầy biểu cảm. Khuôn miệng của anh cũng nói lên tính cách của anh, khuôn miệng của người đàn ông cương trực, biết suy nghĩ. Và khi anh mỉm cười − à, mà thôi, tôi khoan hãy nói đến nụ cười của anh, bởi vì tôi chưa bao giờ nhìn thấy anh cười. Quả thực, vẻ ngoài của anh nói chung không gây cho tôi ấn tượng về một người đàn ông nhàn nhã, hay một con người như những người tá điền đã miêu tả. Trước đó trong tôi đã hình thành ý kiến về anh, và bất chấp những lời chê bai của tiểu thư Murray, tôi hoàn toàn tin rằng anh là một người đàn ông có trí thông minh, có đức tin vững chắc, lòng mộ đạo sâu sắc, nhưng hay suy tư và nghiêm nghị. Và khi tôi phát hiện ra rằng, ngoài những phẩm chất tốt khác, anh còn là một con người có lòng nhân từ, hòa nhã, tử tế, một sự phát hiện khiến tôi vui hơn bởi vì tôi không được chuẩn bị để hy vọng về điều đó.

THƯ VIỆN EBOOK (TVE-4U) Tác phẩm Người Gia Sư - Agnes Grey Tác giả Anne Brontë Người dịch Nguyễn Bích Lan Tủ sách Văn học nước ngoài Thể loại Kinh điển phương Tây Phát hành LimBooks NXB NXB Hà Nội 08/2017 —✥— EBOOK©VCTVEGROUP 20-05-2019
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.