Chúng tôi thuê một căn nhà ở A-, một thị xã ven biển để mở trường tư, và đã bắt đầu có vài gia đình hứa sẽ gửi con họ đến học tại trường. Tôi quay trở lại Horton Lodge vào khoảng giữa tháng Sáu, để việc thuê nhà, chiêu sinh, bán đồ đạc ở nơi ở cũ và trang bị cho nơi ở mới cho mẹ lo liệu.
Chúng ta thường cảm thấy tội nghiệp cho những người nghèo bởi vì họ không có thì giờ rảnh rỗi để than khóc người thân qua đời, và vì miếng cơm manh áo, họ buộc phải lao động để vượt qua những nỗi đau khủng khiếp nhất, nhưng chẳng phải sự bận rộn là giải pháp tốt nhất để vượt qua nỗi đau buồn quá lớn − liều thuốc đáng tin cậy nhất cho sự tuyệt vọng sao? Có thể đó là một cách an ủi cực nhọc. Có lẽ thật khó bị quấy rầy bởi những mối lo của cuộc sống khi chúng ta không có hứng thú cho những niềm vui của nó; thật khó có động lực để làm việc khi trái tim sắp tan vỡ, và tinh thần đau khổ khẩn nài sự nghỉ ngơi chỉ để khóc thầm. Nhưng sự lao động chẳng tốt hơn sự nghỉ ngơi mà chúng ta thèm muốn ư? Và chẳng phải những nỗi lo âu đời thường ít gây tổn thương hơn nỗi đau buồn quá lớn đang đè nặng lên chúng ta hay sao? Vả lại, chúng ta sống trên đời này, không thể không có những nỗi lo âu, sự cực nhọc mà không có niềm hy vọng – về việc hoàn thành những việc chẳng thú vị gì của mình, đạt được một mục tiêu cần thiết nào đó hoặc niềm hy vọng thoát khỏi nỗi buồn phiền lớn hơn. Dù sao chăng nữa, tôi mừng vì mẹ mình cũng có vô khối việc phù hợp với khả năng và sự năng động của mẹ để làm. Những người láng giềng tốt bụng của chúng tôi than rằng mẹ mà được sống trong cảnh giàu sang, phú quý thì sẽ chẳng buồn phiền gì hết, nhưng tôi tin rằng mẹ mình sẽ khổ sở gấp ba nếu mẹ sống trong sự sung túc với sự tự do bị thu hẹp trong một căn nhà, với cảnh hạnh phúc thuở đầu đời và nỗi buồn lúc tuổi già, sống mà không có những mối lo cơm áo ngăn không cho mẹ chìm đắm vào sự ủ ê triền miên và thở than không ngừng vì mất người thân.
Tôi sẽ không kể lan man về những tình cảm tôi dành cho ngôi nhà xứ thân thuộc, khu vườn quen thuộc, nhà thờ nhỏ của ngôi làng nơi chúng tôi đã sống − nơi đã trở nên quá đỗi thân thương với tôi, bởi vì cha tôi, trong ba mươi năm, đã giảng đạo và cầu nguyện trong ngôi nhà đó, và giờ đây đã yên nghỉ phía dưới những phiến đá của nó − và những ngọn đồi trọc đã đứng đó bao năm, đẹp trong sự hiu quạnh, hoang sơ, với những thung lũng hẹp xen giữa những ngọn đồi mỉm cười trong rừng cây xanh và dòng sông lấp lánh − ngôi nhà nơi tôi sinh ra, toàn bộ cảnh vật mà tôi gắn bó thuở đầu đời, nơi bắt đầu những tình cảm yêu mến còn mãi trong suốt cuộc đời tôi. Quả thực, tôi đang quay trở lại Horton Lodge, nơi, giữa nhiều điều tồi tệ, vẫn tồn tại một nguồn vui, nhưng đó là nguồn vui pha lẫn nỗi buồn vô kể, và tôi sẽ chỉ ở lại đó sáu tuần. Trong khoảng thời gian quý giá đó, ngày lại ngày trôi qua, tôi không gặp anh. Sau khi tôi trở lại đó, trong suốt hai tuần lễ tôi không gặp anh, trừ lúc ở nhà thờ. Khoảng thời gian đó đối với tôi dường như dài vô tận, và vì tôi thường ra ngoài với cô học trò thích dạo chơi của mình, tất nhiên, niềm hy vọng dâng lên trong tôi, và nỗi thất vọng cũng từ đó sinh ra. Và rồi tôi tự nhủ: “Đây là bằng chứng thuyết phục − nếu mi có ý thức hoặc vô thức hiểu được chuyện đó − thì mi phải hiểu rằng anh ấy không quan tâm đến mi đâu. Nếu anh ấy chỉ nghĩ đến mi bằng một nửa mi nghĩ về anh ấy thôi, thì anh ấy sẽ tìm cách đến gặp mi nhiều lần trước khi mi rời khỏi đây. Từ tình cảm của chính mi, mi phải hiểu điều đó. Bởi vậy, hãy chấm dứt chuyện vớ vẩn này. Mi không có cơ sở nào để hy vọng đâu. Hãy loại bỏ ngay lập tức khỏi tâm trí mi những ý nghĩ gây khổ sở và những ao ước hão huyền, ngốc nghếch này, và quay trở lại với bổn phận của mi, sống cuộc đời buồn tẻ trống rỗng đang ở phía trước mi. Mi phải biết rằng niềm hạnh phúc ấy không dành cho mi đâu, đừng mơ!”
Nhưng cuối cùng tôi đã gặp anh. Chúng tôi bất chợt gặp nhau khi tôi đang đi tắt qua cánh đồng để trở về sau chuyến thăm bà Nancy Brown, chuyến thăm mà tôi tranh thủ thực hiện trong khi Matilda Murray bận cưỡi con ngựa cái vô địch của cô. Chắc hẳn anh đã biết tin về mất mát to lớn của tôi. Anh không bày tỏ sự cảm thông, không nói lời an ủi, nhưng những lời đầu tiên anh nói là, “Mẹ của cô có khỏe không?” Không phải ngẫu nhiên anh hỏi như vậy, bởi vì tôi chưa bao giờ nói với anh rằng tôi còn mẹ: Chắc chắn anh biết tin buồn của gia đình tôi qua những người khác. Ngoài ra, có sự cảm thông tế nhị, cảm động, thậm chí sâu sắc và sự ân cần chân thành trong giọng nói và cách hỏi của anh. Tôi cảm ơn anh một cách lịch sự, và nói với anh rằng mẹ tôi ổn. “Mẹ cô sẽ làm gì?” Anh hỏi tiếp. Nhiều người có thể cho đó là một câu hỏi không thích hợp, và sẽ đưa ra câu trả lời có tính lảng tránh, nhưng một ý nghĩ như vậy chưa bao giờ xâm nhập được vào đầu tôi, và tôi đáp bằng cách tóm tắt ngắn gọn các kế hoạch và dự định cho tương lai của mẹ tôi.
“Vậy là chẳng bao lâu nữa cô sẽ rời khỏi đây ư?”
“Vâng, một tháng nữa tôi sẽ rời khỏi đây.”
Anh im lặng một phút, dường như để suy nghĩ. Sau đó khi anh lên tiếng, tôi hy vọng anh sẽ bày tỏ sự quan tâm trước việc tôi sẽ rời khỏi đó, nhưng anh chỉ nói, “Tôi có nên nghĩ cô vui lòng rời khỏi đây chăng?”
“Vâng − vì một số chuyện”, tôi đáp.
“Chỉ vì một số chuyện − tôi không biết điều gì sẽ khiến cô nuối tiếc khi cô đi khỏi đây?”
Tôi không thoải mái với câu hỏi này, bởi vì nó làm tôi bối rối. Tôi chỉ có một lý do để tiếc nuối. Và đó là một bí mật sâu kín mà anh không có quyền hỏi.
“Tại sao chứ”, tôi nói − “tại sao ông lại cho rằng tôi không thích nơi này?”
“Chính cô đã nói với tôi như vậy”, anh đáp quả quyết. “Ít nhất cô đã nói rằng cô không thể sống một cách vui vẻ và hài lòng mà không có một người bạn, và rằng ở đây cô chẳng có một người bạn nào, không có khả năng kết bạn − ngoài ra, tôi biết cô chắc chắn không thích nơi này.”
“Nhưng nếu ông nhớ một cách chính xác, thì tôi đã nói, hoặc muốn nói rằng, tôi không thể sống một cách vui vẻ và hài lòng mà không có một người bạn ở trên đời này. Tôi không quá đáng đến mức luôn đòi hỏi bên mình phải có một người bạn. Tôi nghĩ tôi có thể hạnh phúc trong một ngôi nhà đầy kẻ thù, nếu –” nhưng không. Tôi phải bỏ lửng câu đó − tôi ngừng lời, rồi vội vã nói thêm: “Ngoài ra, chúng ta không thể rời khỏi một nơi mà chúng ta đã sống trong hai hoặc ba năm mà không hề có chút nuối tiếc nào.”
“Cô sẽ tiếc vì phải chia tay với tiểu thư Murray, người học trò và là người bầu bạn duy nhất của cô chứ?”
“Tôi không dám nói rằng tôi sẽ nuối tiếc. Khi tôi chia tay chị của cô ấy, việc đó không phải không khiến tôi buồn.”
“Tôi có thể hình dung được điều đó.”
“Cô Matilda khá tốt − tốt hơn ở một khía cạnh.”
“Khía cạnh nào cơ?”
“Cô ấy trung thực.”
“Còn chị cô ấy thì không ư?”
“Tôi sẽ không nói chị của cô ấy không trung thực, nhưng thành thực mà nói, tôi thấy cô ấy hơi giả tạo.”
“Giả tạo ư? − Tôi thấy cô ấy nhẹ dạ và hão huyền − và bây giờ”, anh nói thêm sau khi ngừng lời một lát, “tôi có thể tin rằng cô ấy cũng giả tạo, nhưng có lẽ thật quá đáng khi khoác lên mình sự đơn giản thái quá và sự cởi mở thiếu thận trọng. Vâng”, anh nói tiếp, vẻ trầm ngâm, “điều đó giải thích cho vài điều nho nhỏ mà trước đây đã khiến tôi cảm thấy khó hiểu”.
Sau đó anh lái câu chuyện sang những chủ đề chung. Anh không bỏ tôi lại một mình cho tới khi chúng tôi đi gần đến cổng vườn cảnh. Rõ ràng anh đã đi thêm một đoạn đường nữa để đồng hành cùng tôi, bởi vì giờ đây anh quay trở lại đường cũ và khuất dạng trong đường làng Moss, con đường nhỏ mà chúng tôi thỉnh thoảng đã đi qua. Chắc chắn tôi không hối tiếc vì cuộc gặp gỡ này. Nếu nỗi buồn đã chiếm một chỗ nào đó trong tim tôi, thì đó là nỗi buồn vì cuối cùng anh cũng quay gót bước đi − anh không bước bên cạnh tôi nữa, và khoảng thời gian trao đổi ý nghĩ thú vị và ngắn ngủi đã kết thúc. Anh không hề thốt ra một lời yêu thương, không cho thấy một dấu hiệu nào của sự âu yếm hay tình cảm, nhưng tôi vẫn cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Được gần anh, được nghe anh nói, và cảm nhận rằng anh nghĩ tôi là người xứng đáng để trò chuyện − có khả năng hiểu và trân trọng cuộc nói chuyện − là đủ.
“Đúng vậy, Edward Weston, em thực sự có thể hạnh phúc trong một ngôi nhà đầy kẻ thù, nếu em có dù chỉ một người bạn yêu thương em chân thành và sâu sắc, và nếu người bạn đó là anh − mặc dù chúng ta có thể ở cách xa nhau – hiếm khi biết được tin tức của nhau, và càng hiếm khi gặp mặt nhau − dù những khó khăn, gian khổ, và những phiền toái có thể bủa vây em, thì – chỉ cần có một người như thế cũng quá hạnh phúc để em mơ tới! Nhưng ai mà biết được”, tôi nhủ thầm, khi tôi bước đi trong vườn cảnh − “ai mà biết được tháng ngày sẽ mang đến điều gì? Mình đã sống trên đời này gần hai mươi ba năm rồi, và mình đã chịu đựng nhiều khó khăn, buồn khổ, và cũng đã được nếm chút ít niềm vui. Chẳng lẽ cả cuộc đời mình sẽ tăm tối ư? Chẳng lẽ không có khả năng Chúa nghe thấy những lời nguyện cầu của mình, xua tan những đám mây u ám, và ban cho mình những tia nắng rực rỡ ư? Chắng lẽ Người từ chối, không ban cho mình những niềm hạnh phúc vốn được ban một cách hào phóng cho những người khác, những người chẳng bao giờ cầu xin hoặc tỏ lòng biết ơn khi nhận được chúng ư? Chẳng lẽ mình vẫn không được phép hy vọng và tin tưởng sao? Mình đã hy vọng và tin tưởng trong một thời gian, nhưng chao ôi, chao ôi, thời gian cứ trôi đi: hết tuần này đến tuần khác trôi qua, và ngoài một cái liếc nhìn từ xa và hai cuộc gặp gỡ ngắn ngủi − trong đó hầu như không có điều gì được nói ra − trong khi mình đang đi dạo với cô Matilda, mình chẳng nhìn thấy anh ấy: trừ lúc ở nhà thờ.
Cuối cùng ngày Chủ nhật đã tới, và đó là lần đi lễ nhà thờ cuối cùng của tôi ở đó. Tôi cứ chực ứa lệ trong khi nghe bài giảng đạo của anh − bài giảng đạo cuối cùng tôi nghe từ anh: bài giảng đạo hay nhất tôi từng nghe từ bất cứ ai, tôi chắc chắn như vậy. Bài giảng đạo kết thúc − giáo đoàn ra về, và tôi buộc phải ra về như mọi người. Tôi đã nhìn thấy anh, đã được nghe giọng nói của anh, có lẽ là lần cuối. Trong sân nhà thờ, Matilda vớ được hai tiểu thư nhà Green. Họ có nhiều câu hỏi về chị của cô, và tôi không biết ngoài ra còn điều gì họ quan tâm. Tôi chỉ ước họ kết thúc cuộc chuyện trò để chúng tôi có thể mau chóng trở về Horton Lodge. Tôi muốn ở một mình trong phòng riêng, hoặc ở nơi khuất nẻo nào đó để tôi có thể buông trôi theo những cảm xúc − để khóc cho cuộc từ biệt, và khóc than cho những hy vọng hão huyền và những ảo tưởng vô ích. Chỉ lần này thôi, sau đó tôi sẽ giã từ giấc mơ vô ích để từ đó, chỉ sự tỉnh táo, cứng rắn, và hiện thực buồn chiếm cứ đầu óc tôi. Nhưng trong khi lòng tôi quả quyết như vậy, một giọng nói vang lên bên tai tôi − “Tôi đoán rằng tuần này cô sẽ đi, đúng không cô Grey?” “Vâng”, tôi đáp. Tôi quá bất ngờ, và trong trạng thái cuống cuồng, tôi có thể đã nói ra những gì tôi nghĩ, ơn Chúa, tôi đã không làm thế.
“Tôi muốn chào tạm biệt − có lẽ tôi sẽ không thể gặp cô trước khi cô đi.”
“Tạm biệt ông Weston”, tôi nói. Tôi không hiểu làm thế nào tôi có thể nói một cách bình tĩnh đến thế! Tôi chìa tay về phía anh. Anh giữ bàn tay tôi trong tay anh vài giây.
“Có thể chúng ta sẽ còn gặp lại nhau”, anh nói. “Vậy theo cô chúng ta có gặp lại nhau nữa hay không?”
“Vâng, tôi sẽ rất vui được gặp lại ông.”
Tôi không thể nói gì hơn. Anh khẽ xiết tay tôi, rồi quay gót bước đi. Tôi lại cảm thấy hạnh phúc − mặc dù tôi muốn bật khóc hơn bao giờ hết. Nếu tôi buộc phải nói gì vào lúc đó, thì chắc chắn tôi sẽ bật khóc nức nở và không thể ngăn được những giọt nước mắt tuôn trào. Tôi bước đi bên cạnh cô Murray, quay mặt nhìn đi chỗ khác, không để ý đến những lời bình luận, cho tới khi cô la lên rằng tôi bị điếc hoặc ngớ ngẩn, rồi sau đó (khi tôi lấy lại bình tĩnh), như người choàng tỉnh sau những phút lơ đãng, tôi giật mình ngước mắt lên nhìn và hỏi cô ấy vừa mới nói gì.