Cuối cùng, ngày 1 tháng Sáu đã đến, và Rosalie Murray trở thành bà Ashby. Trong trang phục cô dâu, cô đẹp rạng ngời hơn bao giờ hết. Trở về từ nhà thờ sau lễ cưới, cô chạy như bay lên phòng học, mặt đỏ ửng vì phấn khích và cười phá lên, nửa vui mừng, nửa tuyệt vọng.
“Cô Grey, bây giờ em đã trở thành bà Ashby!” Cô reo lên. “Xong rồi, số phận của em đã an bài. Bây giờ em không có đường lùi nữa. Em đến nhận lời chúc mừng của cô và tạm biệt cô, sau đó em sẽ bay đi Paris, Rome, Naples, Thụy Sĩ, Luân Đôn − Ôi! Em sẽ được ngắm nhìn bao nhiêu thứ và được nghe bao nhiêu điều trước khi em quay trở lại đây. Nhưng đừng quên em nhé. Em sẽ không quên cô đâu, dù em là một đứa con gái bướng bỉnh. Hãy lại đây nào, cô không chúc mừng em sao?”
“Tôi không thể chúc mừng cô”, tôi đáp, “cho tới khi tôi biết sự thay đổi này có thực sự tốt hơn cho cô không, nhưng thực lòng tôi hy vọng nó sẽ tốt hơn, mà thôi, tôi chúc cô thật sự hạnh phúc, chúc cô những điều tốt đẹp nhất.”
“Tạm biệt cô, xe đang đợi em, họ đang gọi em.”
Cô dành cho tôi một cái hôn vội vàng, rồi quay gót bước đi, nhưng bỗng nhiên, cô quay lại, ôm tôi theo cái cách thật tình cảm mà tôi cứ nghĩ vượt ngoài khả năng của cô rồi rời khỏi phòng với đôi mắt ngấn lệ. Cô gái tội nghiệp! Lúc đó tôi thực sự yêu mến cô, và từ đáy lòng tôi tha thứ cho cô với tất cả những tổn thương mà cô đã gây cho tôi − và cho người khác. Tôi tin rằng cô hầu như không ý thức được mình đã làm tổn thương người khác như thế nào, và tôi cầu Chúa tha thứ cho cô.
Trong khoảng thời gian còn lại của cái ngày trọng đại buồn bã đó, tôi được để mặc tự xoay xở lấy. Được tự do, tôi cầm một cuốn sách đi lang thang trong vài giờ, nghĩ nhiều hơn đọc, bởi vì tôi có nhiều điều để nghĩ. Cuối chiều tôi sử dụng sự tự do của mình để đi thăm người bạn già Nancy, để xin lỗi bà vì lâu lắm không ghé thăm bà (sự vắng mặt đó dường như tàn nhẫn) bằng cách nói cho bà biết tôi bận đến mức nào, và để trò chuyện, đọc sách hoặc giúp bà làm việc gì đó, bất cứ việc gì, và tất nhiên để báo với bà tin quan trọng của ngày hôm ấy, và có lẽ cũng để có được chút thông tin liên quan đến việc Weston ra đi mà người ta đang bàn tán. Nhưng về chuyện đó bà Nancy hoàn toàn không biết gì, và tôi cũng như bà, hy vọng nó không có thật. Bà rất vui khi gặp tôi, và thật mừng, mắt của bà giờ đây đã ổn đến mức bà gần như không phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của tôi nữa. Bà rất quan tâm đến đám cưới của tiểu thư Murray, nhưng trong khi tôi kể với bà những chi tiết vui vẻ của lễ cưới, về sự sang trọng của tiệc cưới, sự lộng lẫy của cô dâu, bà liên tục thở dài và lắc đầu, ước những điều tốt đẹp sẽ đến. Dường như bà cũng giống tôi, linh cảm thấy nhiều buồn hơn vui trong cuộc hôn nhân đó. Tôi ngồi nói chuyện với bà một lúc lâu − nhưng không thấy có ai đến.
Tôi sẽ thú nhận rằng thỉnh thoảng tôi nhìn ra cửa với niềm ước ao pha lẫn ngóng trông một điều rằng, cánh cửa sẽ bật mở và Weston sẽ bước vào như trước đây chăng? Khi trở về, đi qua những con đường mòn và những cánh đồng, tôi thường dừng lại nhìn xung quanh, đi chậm hơn mức cần thiết − vì, mặc dù trong một buổi chiều đẹp trời, mát mẻ − cuối cùng tôi cảm thấy nỗi trống vắng và thất vọng dâng lên trong lòng khi về đến nhà mà không gặp, thậm chí không nhìn thấy bóng ai từ xa, trừ vài người nông dân đi làm đồng về chăng?
Thế rồi ngày Chủ nhật đã tới. Vào ngày đó tôi sẽ gặp anh. Vì bây giờ cô Murray đi lấy chồng rồi, tôi có thể chiếm cái góc trước kia tôi thường ngồi trên xe ngựa. Tôi sẽ nhìn thấy anh, và qua vẻ mặt, giọng nói, thái độ của anh, tôi có thể đánh giá việc cô Murray lấy chồng có khiến anh khổ sở nhiều hay không. Thật hạnh phúc, tôi không hề thấy có gì thay đổi nơi anh: vẻ ngoài của anh vẫn thế, vẫn như hai tháng trước − giọng nói, vẻ mặt, thái độ, tất cả mọi thứ ở anh không thay đổi. Vẫn đôi mắt sáng đầy nhiệt huyết ấy, sự chân thành dễ hiểu trong cách anh diễn thuyết, vẫn sự rõ ràng đầy thuyết phục trong phong cách của anh, vẫn sự giản dị đầy nhiệt tình trong những gì anh nói và làm tự nó gây ấn tượng cho trái tim, chứ không phải cho đôi mắt và đôi tai của người nghe.
Tôi đi bộ về nhà với tiểu thư Matilda, nhưng anh không đi cùng chúng tôi. Matilda giờ đây buồn vì đã mất một nguồn giải trí, và muốn có người làm bầu bạn: các em trai của cô đi học ở trường, chị gái cô đã đi lấy chồng, cô còn quá nhỏ để được xã hội thượng lưu chấp nhận. Noi gương Rosalie, ở một mức độ nào đó cô đang bắt đầu hình thành những sở thích − ít nhất là sở thích chọn người làm bầu bạn là đàn ông thuộc những tầng lớp nhất định. Vào quãng thời gian buồn tẻ này của năm − không có hoạt động săn bắn − bởi vì, dù cô không thể tham gia hoạt động săn bắn, cô cũng thích theo dõi cha mình và người gác rừng đi săn cùng đàn chó và thích nói chuyện với họ về những loài chim mà họ đã bắn được sau mỗi chuyến đi săn. Giờ đây cô cũng không được phép tìm sự an ủi trong việc chơi với người đánh xe, những người hầu, những con ngựa, những con chó săn thỏ, và những con chó săn chỉ điểm bởi vì, sau khi mẹ cô đã đẩy được cô con gái cả của mình đi lấy chồng một cách khá mãn nguyện bất chấp những bất lợi của đời sống thôn quê, niềm kiêu hãnh trong trái tim bà đã bắt đầu dồn sang cô con gái thứ. Bà thực sự lo lắng trước sự dữ dội, thô kệch trong cách cư xử của cô, nghĩ rằng đã đến lúc thực hiện một cuộc sửa đổi, và bị kích thích bởi nhu cầu sử dụng quyền lực, bà cấm cô không được bén mảng tới nhà kho, chuồng ngựa, chuồng chó, nhà của người đánh xe. Tất nhiên, không phải lúc nào cô cũng nghe lời mẹ. Một khi cô bị kích động, tâm tính của cô không hiền hòa như cô đòi hỏi gia sư của mình phải thế, và ý muốn của cô không bị cản trở bởi thiếu sự trừng phạt. Sau nhiều cuộc tranh cãi giữa hai mẹ con họ, nhiều cơn bùng nổ dữ dội mà chỉ chứng kiến thôi tôi đã cảm thấy xấu hổ, trong đó quyền lực của người cha thường được phát huy để củng cố sự cấm đoán bị xem thường của người mẹ bằng những câu chửi thề và những lời đe dọa − bởi vì dù ông có thể hiểu rằng “dù con bé được sinh ra là một đứa trẻ ngoan, nó không có cung cách của một tiểu thư” − Matilda cuối cùng cũng hiểu ra rằng cách dễ dàng nhất cho cô là không xuất hiện ở những “vùng cấm”, trừ khi, cô lén lút đến những chỗ đó nhân lúc bà mẹ không để mắt tới.
Trong tất cả những chuyện đó, các bạn chớ có tưởng rằng tôi tránh được vô số lời khiển trách, sỉ nhục với đầy đủ nọc độc của sự bóng gió. Cái kiểu nói bóng gió ấy gây tổn thương sâu sắc hơn cả sự mắng nhiếc công khai bởi vì nó không cho phép tôi tự vệ một cách chính đáng. Tôi thường xuyên được bảo phải làm cho cô Matilda vui bằng những chuyện khác, và phải nhắc nhở cô nhớ những lời dạy dỗ của mẹ cô và những điều bà cấm cô không được làm. Tôi cố gắng hết sức mình để làm việc đó, nhưng cô chẳng thể vui được với những điều trái ý cô, mâu thuẫn với sở thích của cô, và mặc dù tôi đã đi xa hơn cả việc nhắc nhở đơn thuần, những lời phản đối ôn hòa mà tôi có thể sử dụng hoàn toàn chẳng có tác dụng gì.
“Cô Grey! Thật kỳ cục hết sức. Tôi nghĩ rằng nếu cô không có tâm để làm điều ấy, thì đó cũng là việc cô buộc phải làm − tôi ngạc nhiên vì cô không thể chiếm được lòng tin của tiểu thư, không thể làm vừa lòng tiểu thư như Robert hoặc Joseph có thể làm!”
“Họ có thể nói một cách thú vị nhất về những điều mà cô ấy quan tâm nhất”, tôi đáp.
“Tuy nhiên, đó là sự thú nhận kỳ cục từ gia sư của tiểu thư! Ai giúp tiểu thư hình thành khiếu thẩm mỹ, nếu không phải là gia sư của tiểu thư? Tôi biết các gia sư coi bản thân họ và danh tiếng về sự thanh lịch và khuôn phép trong cách suy nghĩ và ứng xử của các tiểu thư mà họ kèm cặp là một, đến mức họ sẽ đỏ mặt vì xấu hổ khi nói một lời không hay về các học trò của mình và phải nghe một lời trách cứ nhẹ nhất về học trò còn tệ hơn phải nghe sự chỉ trích nhằm vào chính họ − và tôi nghĩ điều đó là lẽ thường.”
“Thật vậy sao, thưa bà?”
“Tất nhiên, phong thái thanh lịch và sự giỏi giang của một tiểu thư là kết quả của sự dạy dỗ từ gia sư của cô ta hơn là của chính bản thân cô ta, cũng như của thế giới bên ngoài. Nếu người gia sư muốn thành công trong nghề thì cô ta phải dành toàn bộ năng lượng và khả năng cho công việc: mọi ý tưởng và tham vọng của cô ta sẽ được huy động để đạt được mục tiêu đó. Khi chúng ta muốn đánh giá sự xuất sắc của một gia sư, đương nhiên chúng ta chỉ cần nhìn các tiểu thư mà cô ta tự nhận là đã kèm cặp là có thể đánh giá được. Một gia sư có óc sáng suốt biết điều này: cô ta biết rằng, trong khi mình ít được mọi người biết đến, các phẩm chất của học trò mà mình dạy dỗ sẽ cho mọi người thấy tất cả, và trừ khi cô ta không nhìn thấy bản thân mình được phản ánh trong sự văn minh, hiểu biết của các học trò, cô ta không cần hy vọng về sự thành công. Cô Grey, cô thấy đấy, nghề này cũng giống như bất cứ nghề nào khác: ai muốn thành công thì người ấy phải dành cả sức lực và tâm hồn của mình cho mục tiêu đó, và nếu họ bắt đầu đầu hàng trước sự lười biếng và tự nuông chiều bản thân thì họ sẽ bị những đối thủ cạnh tranh khôn ngoan hơn bỏ xa. Không có gì nhiều để lựa chọn giữa một người làm hư hỏng các học trò của mình bằng sự lơ là, và một người làm hư hỏng họ bằng chính tấm gương của mình. Mong cô thứ lỗi cho tôi vì những lời khuyên này. Cô biết đấy, chúng chỉ tốt cho cô mà thôi. Nhiều quý bà sẽ nói nặng lời hơn thế này nhiều, và nhiều người chẳng thèm nói gì, mà lẳng lặng tìm kiếm một người thay thế. Tất nhiên đó là cách dễ nhất, nhưng tôi biết với một người có hoàn cảnh như cô thì việc làm ở đây quá tốt. Và tôi không muốn chia tay cô, bởi vì tôi chắc chắn rằng cô sẽ làm tốt công việc của mình nếu cô suy nghĩ về những điều tôi vừa nói và cố gắng hơn nữa. Tôi tin rằng cô sẽ sớm biết ứng xử khéo léo và chỉ riêng điều đó sẽ khiến cô tạo được ảnh hưởng tốt đối với tinh thần của học trò.”
Tôi sắp sửa đưa ra ý kiến của mình về sự ảo tưởng của bà ấy, nhưng ngay sau khi kết thúc bài thuyết giảng đó, bà bỏ đi. Bà đã nói những gì bà muốn, và không định nán lại nghe tôi đáp lời. Việc của tôi là nghe chứ không phải là nói.
Tuy nhiên, như tôi đã nói, Matilda cuối cùng cũng phải đầu hàng trước quyền lực của mẹ cô (tiếc là trước đó quyền lực ấy đã không được áp dụng) và vì thế mọi nguồn vui của cô gần như bị tước đi, chẳng có gì ngoài những cuộc đi dạo kéo dài với người gia sư, và đi thăm những căn nhà của tá điền trong lãnh địa của cha cô để giết thời gian bằng việc nói chuyện phiếm với những ông bà già sống ở đó. Trong một cuộc đi dạo như thế, tôi tình cờ gặp Weston. Đó là điều tôi mong ước trong một thời gian dài, nhưng bây giờ, giây phút này, tôi ước, anh hoặc tôi không còn ở đó nữa. Tôi cảm thấy tim mình đập mạnh đến nỗi tôi sợ để lộ cảm xúc ra ngoài, nhưng tôi nghĩ anh hầu như không liếc nhìn tôi, còn tôi đã mau chóng bình tĩnh lại. Sau một lời chào đơn giản đối với cả hai, anh hỏi Matilda rằng gần đây có nhận được tin của chị gái cô không.
“Có”, Matilda nói. “Trong lá thư gần đây nhất chị ấy kể chị ấy đang ở Paris, rất khỏe và rất hạnh phúc.”
Cô nhấn giọng khi nói mấy từ cuối cùng, vừa nói vừa liếc nhìn anh bằng cái nhìn xấc láo, quỷ quyệt. Anh dường như không để ý, nhưng anh đáp, cũng bằng cách nhấn giọng từ “hạnh phúc” và nói rất nghiêm túc:
“Tôi hy vọng cô ấy sẽ tiếp tục hạnh phúc như thế.”
“Ông nghĩ cô ấy có thể hạnh phúc lâu dài không?” Tôi cả gan hỏi, bởi vì Matilda đã bắt đầu đuổi theo con chó của cô trong khi nó chạy về phía một con thỏ con.
“Tôi không thể trả lời có hay không”, anh đáp. “Ông Thomas có lẽ tốt hơn tôi nghĩ, nhưng từ những gì tôi nhìn và nghe thấy, dường như thật đáng tiếc khi một người trẻ trung và vui tươi như vậy lại có điểm nổi bật nhất là sự bồng bột, nếu đó không phải nhược điểm duy nhất của cô ấy. Và chắc chắn đó không phải là khiếm khuyết nhỏ, bởi vì nó cho thấy người sở hữu khiếm khuyết đó có khả năng nhẹ dạ với bất cứ ai, và gợi nhiều sự cám dỗ − nhưng dường như thật tiếc khi cô ấy bị ném cho một người đàn ông như vậy. Tôi cho rằng đó là theo mong muốn của bà mẹ, đúng không nhỉ?”
“Đúng vậy, và cũng là ý muốn của cô ấy, bởi vì cô ấy luôn bật cười trước bất cứ cố gắng nào của tôi nhằm khuyên can cô ấy không đi theo hướng đó.”
“Cô đã cố gắng can ngăn cô ấy ư? Vậy thì ít nhất cô sẽ hài lòng khi biết rằng cô không có lỗi gì trong chuyện ấy, nếu như có bất cứ điều gì không hay xảy ra. Còn đối với bà Murray, tôi không biết bà ấy có thể biện hộ cho cách hành xử của mình như thế nào, nếu như tôi đủ thân với bà ấy, tôi sẽ hỏi bà ấy điều đó.”
“Chuyện đó có vẻ kỳ cục, nhưng một số người có suy nghĩ rằng tầng lớp và sự giàu có là điều tốt nhất, và nếu họ có thể đảm bảo rằng con của họ có được những thứ ấy, thì coi như họ đã làm tròn bổn phận.”
“Đúng vậy, nhưng sẽ không kỳ cục khi chính người trải nghiệm, người trong cuộc, lại có suy nghĩ sai lầm như vậy, đúng không?”
Matilda giờ đây đã hổn hển quay lại với con thỏ rừng đã bị cắn chết trên tay.
“Cô định cứu hay định giết chết con thỏ đó, cô Murray?” Weston hỏi, dường như khó hiểu trước vẻ hớn hở của cô gái.
“Tôi đã giả vờ muốn cứu nó”, cô đáp một cách thật thà, “bởi vì đã hết mùa săn thỏ rồi, nhưng tôi thích thấy nó chạy quanh quẩn ở đây hơn. Tuy nhiên, cô và ông có thể thấy tôi không thể ngăn được chuyện này. Con Prince đã quyết định tóm con thỏ này, và nó tợp lưng con thỏ, giết chết nó trong nháy mắt! Đó chẳng phải là một cuộc đi săn đẳng cấp hay sao?”
“Vâng! Đẳng cấp cho một tiểu thư săn một con thỏ con.”
Giọng nói của anh đượm sự châm biếm mà chẳng phải tiểu thư Murray không thể hiểu được. Cô nhún vai, quay ngoắt sang tôi, “hừm” một tiếng và hỏi tôi có thấy chuyện đó thú vị không. Tôi đáp rằng tôi chẳng thấy có gì thú vị trong việc giết con thỏ con ấy.
“Cô không thấy rằng nó cũng giống như một con thỏ già sao? Cô không nghe thấy tiếng nó kêu sao?”
“Tôi mừng là mình đã không nghe thấy.”
“Nó kêu như một đứa trẻ con.”
“Con vật tội nghiệp! Cô sẽ làm gì với nó?”
“Đi nào − em sẽ vứt nó ở ngôi nhà đầu tiên chúng ta tới. Em không muốn mang nó về nhà, em sợ cha sẽ mắng em vì đã để cho con chó giết nó.”
Lúc này Weston đã đi khỏi đó, và chúng tôi cũng đi theo đường của mình, nhưng sau khi để con thỏ ấy lại cho một người nông dân và nhận một ít bánh và rượu làm từ quả lý chua, chúng tôi lại gặp anh đang đi lo công việc trở về. Anh cầm trong tay một nắm hoa chuông rất đẹp và tặng nó cho tôi cùng với nụ cười trên môi. Mặc dù hai tháng qua anh hầu như không gặp tôi, anh vẫn không quên hoa chuông là một trong những loài hoa tôi thích. Đó là một hành động giản dị của lòng tốt mà không kèm theo lời khen tặng hay cử chỉ lịch lãm đáng chú ý hoặc cái nhìn có thể được phân tích thành sự “tôn thờ và ái mộ” nào (như Rosalie Murray đã phân tích), nhưng tôi vẫn cảm thấy xúc động khó tả khi lời nói bình thường của mình được anh nhớ lâu đến thế. Và cũng thật đặc biệt đối với tôi khi anh nhớ chính xác quãng thời gian tôi không xuất hiện.
“Cô Grey, tôi nghe nói”, anh nói, “rằng cô là một con mọt sách, vậy nên cô hoàn toàn đắm chìm vào những cuốn sách đến mức cô bỏ lỡ những thú vui khác.”
“Đúng! Đúng thế đấy!” Matilda nói to.
“Không, ông Weston. Đừng tin. Đó là sự nói xấu sau lưng. Các tiểu thư thích có sự khẳng định của riêng họ, và ông phải cẩn thận khi nghe họ nói.”
“Tôi hy vọng sự khẳng định đó là vô căn cứ.”
“Tại sao? Ông đặc biệt phản đối việc phụ nữ theo đuổi tri thức ư?”
“Không, nhưng tôi không ủng hộ bất cứ ai chỉ biết chúi đầu vào việc đọc và học, đến mức không quan tâm đến mọi thứ khác. Ngoại trừ trong những trường hợp đặc biệt, còn lại tôi coi việc chỉ biết đến sách vở là lãng phí thời gian và làm tổn hại cả tinh thần lẫn thể xác.”
“Tôi chẳng có thời gian dành cho những thứ xa xỉ đó.”
Chúng tôi lại chào tạm biệt nhau.
Có gì đáng nhớ trong chuyện này nhỉ? Tại sao tôi lại ghi nhớ nó? Bởi vì, nó đủ quan trọng để mang đến cho tôi một buổi tối vui vẻ, một đêm với những giấc mơ thú vị, và một buổi sáng với niềm hy vọng tươi sáng. Niềm vui ngây thơ, những giấc mơ ngốc nghếch, niềm hy vọng hão huyền, các bạn sẽ nói như vậy, còn tôi, tôi sẽ không dám chối bỏ những điều ấy. Nỗi hoài nghi thường nổi lên trong đầu tôi, nhưng những ước ao của chúng ta như bấc trong bật lửa (để bắt lửa), viên đá lửa và thép tạo ra những ánh lửa biến mất ngay lập tức, trừ khi chúng có cơ hội rơi xuống cái bấc của những ước ao, khi đó chúng cháy ngay tức thì và ngọn lửa của hy vọng sẽ sáng rực lên trong khoảnh khắc.
Nhưng chao ôi! Buổi sáng hôm đó, ngọn lửa hy vọng bập bùng trong tôi đã bị dập tắt bởi một bức thư của mẹ tôi, bức thư nói rằng cha tôi đang ốm nặng, rằng ông rất ít có cơ hội qua khỏi. Gần đến kỳ nghỉ của mình, tôi run lên bởi sợ không kịp về gặp cha lần cuối. Hai ngày sau, tôi nhận được thư của chị Mary cho biết cha tôi đang nguy kịch và dường như ngày kết thúc cuộc đời ông đang đến. Ngay lập tức tôi xin được nghỉ trước kỳ hạn để về nhà. Bà Murray nhìn tôi trừng trừng, ngạc nhiên trước sự kiên quyết trong cách tôi xin nghỉ sớm, trong khi bà nghĩ không việc gì tôi phải vội. Nhưng cuối cùng bà cũng cho tôi nghỉ trước thời hạn, nói rằng không cần phải lo cuống lên như thế − có thể đó chỉ là sự báo trước không chính xác mà thôi, và nếu không phải thế, nếu chuyện xấu nhất xảy ra thì điều đó cũng hợp với lẽ tự nhiên thôi. Con người ta ai mà chẳng phải chết, và tôi không nên coi mình là người duy nhất trên đời này phải chịu nỗi đau khổ đó, rồi bà kết luận rằng tôi phải được đưa đến O- bằng xe ngựa bốn bánh. “Cô Grey ạ, thay vì than phiền, cô nên cảm thấy biết ơn vì những đặc ân mà cô được hưởng. Có nhiều mục sư đáng thương qua đời khiến gia đình suy sụp, nhưng cô, cô có những người bạn có ảnh hưởng sẵn lòng duy trì sự bảo trợ của họ và cho cô thấy mọi sự quan tâm, chiếu cố của họ dành cho cô.”
Tôi cảm ơn bà vì sự “quan tâm” mà bà dành cho tôi, rồi lao về phòng chuẩn bị hành lý để lên đường ngay lập tức. Tôi đội mũ, quàng khăn, và vơ vội vài bộ quần áo nhét vào rương rồi lên đường. Nhưng tôi đáng lẽ chẳng phải vội như thế bởi vì tất cả những người khác đều nhẩn nha, và tôi vẫn phải đợi một lúc xe ngựa mới tới. Cuối cùng xe cũng tới trước cửa và tôi khởi hành ngay lập tức. Đó quả thực là một chuyến trở về vô cùng vất vả! Một chuyến trở về nhà thật buồn thảm! Nó hoàn toàn khác với những chuyến trở về trước đó! Đã quá muộn để bắt chuyến tàu cuối cùng, vì thế tôi phải thuê một chiếc xe ngựa chở mình qua quãng đường mười dặm, sau đó lại phải thuê một chiếc xe khác để vượt những ngọn đồi gập ghềnh.
Mười giờ rưỡi đêm tôi về tới nhà. Mọi người chưa ngủ.
Mẹ và chị tôi đón tôi ở hành lang − buồn − im lặng − nhợt nhạt! Tôi quá sốc và sợ đến nỗi không thể mở miệng để hỏi cái tin mà từ lâu tôi sợ phải đối diện.
“Agnes!” Mẹ tôi nói, cố kìm nỗi xúc động.
“Ôi, Agnes!” Chị Mary bật khóc.
“Cha ra sao rồi ạ?” Tôi hỏi, há hốc miệng chờ câu trả lời.
“Cha mất rồi!”
Đó là câu trả lời mà tôi đã đoán trước được, nhưng lúc ấy tôi vẫn cảm thấy bàng hoàng vô cùng.