Người Gia Sư, Agnes Grey

Lượt đọc: 114 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VII
Horton Lodge

❊ ❊ ❊

Ngày 31 tháng Một là một ngày giống tố. Gió bấc thổi mạnh kèm theo bão tuyết kéo dài khiến những bông tuyết bay là là trên mặt đất, xoáy trên không trung. Người thân của tôi khuyên tôi hoãn chuyến đi, nhưng sợ rằng những người thuê tôi sẽ có thành kiến rằng, mới bắt đầu đi làm tôi đã không đúng giờ, nên tôi nhất quyết lên đường.

Tôi sẽ không tra tấn các độc giả của mình bằng việc kể lể chi tiết cảnh tôi rời nhà ra đi trong cái buổi sáng mùa đông u ám ấy. Những lời tạm biệt đầy trìu mến, hành trình dài tới O − những cuộc chờ xe ngựa hoặc xe hỏa một mình trong quán trọ − bởi vì có những chặng đường tôi có thể đi tàu hỏa − và cuối cùng là cuộc gặp ở O − với người hầu của ông Murray, người được cử đánh xe ngựa đến đó đón tôi tới Horton Lodge. Tôi sẽ chỉ kể rằng tuyết rơi dày đã gây nhiều trở ngại cho cả xe ngựa lẫn tàu hỏa, vậy nên đến tận tối khuya tôi mới xuống tàu, và cơn giông gây hoang mang ấy vẫn tiếp tục khiến cho vài dặm đường từ O − tới Horton trở nên dài và đầy bão táp. Tôi ngồi trên xe ngựa trong sự cam chịu, với những bông tuyết lạnh bay xuyên qua mạng che mặt, rơi vào lòng tôi, ngồi mà không nhìn gì cả, tự hỏi không biết con ngựa và người đánh xe kém may mắn này có đi nổi hay không, và quả thực cỗ xe di chuyển như bò ra đường rất vất vả. Cuối cùng chúng tôi dừng lại, và sau tiếng gọi của người đánh xe, ai đó đã mở chốt của một cánh cổng trông như cổng công viên. Sau đó chúng tôi tiến vào sâu bên trong trên một con đường nhẵn và thỉnh thoảng trong bóng tối, tôi nhìn thấy những khối màu xám khổng lồ lấp lánh mà tôi đoán là một cái cây phủ đầy tuyết. Một lúc lâu sau chúng tôi lại dừng lại, lần này trước mái cổng của một ngôi nhà lớn có những ô cửa sổ dài được trổ tới tận sàn. Khá vất vả, tôi đứng dậy dưới màn tuyết rơi dày, bước ra khỏi xe, hy vọng rằng sự đón tiếp đầy mến khách và ân cần sẽ bù đắp cho sự vất vả, cực nhọc của một ngày đi đường. Một người đàn ông mặc đồ đen ra mở cửa, mời tôi vào một tiền sảnh rộng, được thắp sáng bởi một ngọn đèn màu hổ phách treo trên trần nhà. Ông ta dẫn tôi đi qua sảnh, tiến vào một hành lang và mở cánh cửa của một căn phòng nằm ở mặt sau của ngôi nhà, nói với tôi rằng đó là phòng học. Tôi bước vào, thấy hai tiểu thư và hai công tử nhỏ tuổi − các học trò tương lai của tôi, tôi đoán vậy. Sau màn chào hỏi trang nghiêm, tiểu thư lớn tuổi hơn đang giết thì giờ với một mảnh vải bố và một giỏ len Đức hỏi tôi có muốn đi lên gác không. Tôi đáp bằng giọng quả quyết rằng có.

“Matilda, mang một cây nến lên và chỉ cho cô đây phòng của cô ấy”, tiểu thư nói.

Tiểu thư Matilda, một cô gái cao to khoảng mười bốn tuổi, mặc quần và váy yếm ngắn nhún vai, làm điệu bộ nhăn nhó, nhưng vẫn cầm một cây nến dẫn tôi lên gác, qua một dãy cầu thang dài và dốc, một hành lang hẹp và dài tới một căn phòng nhỏ nhưng khá đủ tiện nghi. Sau đó cô hỏi tôi có muốn dùng trà hoặc cà phê không. Tôi định trả lời rằng không, nhưng chợt nhớ ra từ bảy giờ sáng tới giờ tôi chưa ăn uống gì, và cảm thấy sắp ngất đến nơi, tôi liền nói rằng tôi sẽ dùng trà. Cô gái nói cô sẽ bảo “Brown” mang trà lên và bước ra khỏi phòng. Khi tôi đã cởi bỏ chiếc áo choàng nặng trịch cùng khăn trùm đầu và mũ, một chị người hầu õng ẹo bước vào phòng nói rằng các cô gái muốn biết tôi sẽ uống trà ở phòng riêng hay ở phòng học. Vì quá mệt, tôi chọn uống trà tại phòng. Chị lui gót và một lúc sau trở lại với một khay trà nhỏ, đặt nó lên mặt tủ com-mốt được sử dụng làm bàn trang điểm. Tôi cảm ơn chị và hỏi sáng hôm sau tôi nên dậy lúc mấy giờ.

“Các tiểu thư và các công tử ăn sáng lúc tám rưỡi, thưa cô”, người hầu gái nói, “họ dậy sớm, nhưng họ hiếm khi học bài trước bữa sáng, tôi nghĩ quá bảy giờ một chút cô thức dậy là vừa.”

Bằng cách nói lịch sự, nhã nhặn, tôi dặn chị người hầu lên gọi tôi lúc bảy giờ, chị hứa sẽ làm như tôi dặn rồi lui gót. Sau đó, giữa bữa trà kéo dài với một lát bánh mỳ mỏng phết bơ, tôi ngồi xuống bên lò sưởi nhỏ và tự giải tỏa cho mình bằng một trận khóc nức nở. Rồi tôi cầu nguyện và, sau khi đã cảm thấy khá nhẹ nhõm, tôi chuẩn bị đi ngủ. Nhận thấy hành lý của mình chưa được mang lên phòng, tôi tìm chuông để gọi người giúp, nhưng không phát hiện ra một dấu hiệu nào của sự tiện lợi đó ở bất cứ góc phòng nào, vậy nên tôi đành cầm nến đi dọc dãy hành lang dài, mò mẫm xuống cầu thang. Trên đường đi, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lịch sự, và tôi nói với người đó điều tôi muốn, khi mà tôi không hoàn toàn chắc chắn đó có phải là một trong những người quản gia hay đó chính là bà Murray: tuy nhiên, có vẻ như đó là một người quản gia. Với thái độ ban ơn khá lạ, bà hạ cố nhận lo việc đó, và khi tôi đã quay trở lại phòng, vừa đợi vừa tự hỏi mình có nên tiếp tục đợi hay đi ngủ, hoặc xuống nhà một lần nữa. Cuối cùng niềm hy vọng của tôi đã được phục hồi bởi tiếng nói cười kèm theo những bước chân vang lên trong hành lang dài. Và bây giờ hành lý của tôi được một người đàn ông và một người hầu gái trông khá thô kệch mang vào: cả hai đều không tỏ thái độ tôn trọng người gia sư mới đến. Sau khi đóng cửa phòng và dỡ hành lý ra, tôi mừng vì mình mệt cả thể xác lẫn tinh thần đủ để chìm vào giấc ngủ.

Sáng hôm sau tôi thức dậy với cảm giác cô đơn lạ lùng pha lẫn ý thức về sự mới lạ của hoàn cảnh, và cảm giác tò mò không mấy vui vẻ về những điều mình chưa biết. Tôi có cảm giác của một người bị cuốn đi bởi bùa mê, và bỗng dưng rơi từ một đám mây xuống một xứ sở lạ lẫm, xa xôi, hoàn toàn tách biệt với những gì mình đã thấy và đã biết trước đó, hoặc như một hạt kê bị gió thổi đến một khoảnh đất không thích hợp, nơi nó buộc phải sống đủ lâu trước khi nó có thể bén rễ, nảy mầm, hút chất dinh dưỡng từ những gì trái với bản chất của nó, nếu quả thực, nó có thể. Khó mà diễn tả hết những cảm giác của tôi trong hoàn cảnh này, và nếu ai không từng sống ẩn dật, hầu như chỉ ở yên một chỗ như tôi, thì người đó không thể hình dung ra những cảm giác đó: nếu không ở vào hoàn cảnh tương tự thì người đó không thể biết được cái cảm giác một buổi sáng cô ta thức dậy, nhận ra mình đang ở cảng Port Nelson, hoặc ở New Zealand, với cả biển nước mênh mông ngăn cách giữa cô ta và tất cả những gì cô từng biết.

Tôi không thể nhanh chóng quên cái cảm giác khó tả mà tôi cảm thấy khi vén tấm rèm cửa lên và nhìn ra cái thế giới xa lạ đó: một vùng hoang vu, trắng toát là những gì đập vào mắt tôi.

Những sa mạc buông mình trong tuyết.

Và những lùm cây trĩu nặng tuyết.

Tôi đi xuống phòng học để gặp các học trò của mình mà trong lòng không có được cảm giác háo hức rõ rệt, mặc dù không phải là tôi không cảm thấy tò mò về những gì sẽ mở ra trước mắt mình. Trong số những điều quan trọng, tôi xác định với bản thân phải ghi nhớ một điều − tôi phải gọi các học trò của mình là “Cô” và ”Cậu”. Đối với tôi, xưng hô như vậy giữa những đứa trẻ trong một gia đình và người gia sư, người bạn hằng ngày của chúng, có vẻ không tự nhiên và cầu kỳ, đặc biệt là khi đối tượng thứ nhất vẫn còn nhỏ tuổi, như bọn trẻ ở Wellwood. Nhưng thậm chí ở đó, việc tôi gọi những đứa trẻ nhà Bloomfield bằng tên riêng cũng được coi là tùy tiện, hỗn xược bởi vì cha mẹ chúng đã gợi ý tôi phải gọi chúng là cậu chủ và cô chủ Bloomfield. Tôi tiếp thu sự gợi ý của họ rất chậm, bởi vì tôi coi đó là điều ngớ ngẩn, nhưng giờ đây tôi quyết tâm trở nên khôn ngoan hơn, và bắt đầu ngay lập tức bằng cách tuân theo hình thức và nghi thức khi bất cứ thành viên nào của gia đình yêu cầu. Quả thực, những đứa trẻ ở đây lớn tuổi hơn những đứa trẻ nhà Bloomfield nên sẽ có ít khó khăn hơn, mặc dù một việc nhỏ nhặt như dùng từ “cô”, “cậu” dường như tạo ra sự tác động đáng ngạc nhiên trong việc ngăn chặn mọi sự thân thiện, cởi mở của lòng tốt, và dập tắt mọi tia sáng của sự thân ái có thể xuất hiện giữa chúng tôi.

Độc giả chắc hẳn sẽ hài lòng nếu kể sơ qua về các thành viên của gia đình ấy, và về một hoặc hai năm đầu tôi sống ở đó.

Tôi muốn kể về người chủ gia đình trước tiên. Ông Murray, theo như người ta nói, là một người đàn ông quen ăn to nói lớn, một người mê săn cáo, một tay đua ngựa giỏi, một địa chủ năng động, giàu kinh nghiệm, và là một người lịch lãm vui vẻ. Ấy là người ta nói như vậy, bởi vì trừ các ngày Chủ nhật, khi ông đi lễ nhà thờ, quanh năm suốt tháng tôi không hề nhìn thấy ông trừ những lúc tôi đi qua sảnh hoặc ở trong sân, tôi thấy một người đàn ông cao lớn, khỏe mạnh với đôi má và cái mũi đỏ, và đôi lần, nếu ông đi ngang qua đủ gần để nói chuyện, ông hạ cố dành cho tôi một cái gật đầu qua quýt, kèm theo một câu chào đại loại như “Chào buổi sáng, cô Grey”, hoặc một lời chào ngắn gọn hơn. Thường thì tiếng cười vang của ông bay đến tai tôi từ xa, và bay đến tai tôi thường xuyên hơn là tiếng ông chửi bậy và nguyền rủa những người hầu, người giữ ngựa, người đánh xe hoặc một kẻ nô bộc kém may mắn nào đó.

Bà Murray là một phụ nữ vừa mới bước qua tuổi bốn mươi, đẹp người, mặc diện, một phụ nữ chắc chắn không cần cả phấn hồng lẫn những đồ độn để tăng thêm sự quyến rũ của mình, là người có những thú vui chủ yếu nằm ở việc mở tiệc hoặc tham dự những bữa tiệc, và trong việc theo đuổi các mốt thời trang. Tôi không gặp bà cho tới mười một giờ sáng ngày hôm sau, khi tôi vinh dự được bà ghé thăm như thể mẹ tôi bước vào bếp để gặp cô hầu mới. Tuy nhiên, nếu là mẹ tôi, mẹ sẽ đến chào người hầu ngay khi chị vừa mới đặt chân đến, chứ không đợi tới ngày hôm sau, và hơn nữa, mẹ tôi sẽ chào hỏi người hầu theo cách thân thiện và ân cần hơn nhiều, dành cho chị mấy lời an ủi động viên cùng với vài lời giải thích đơn giản về nhiệm vụ của chị. Nhưng bà Murray không làm điều thứ nhất, cũng chẳng làm điều thứ hai. Bà đơn giản chỉ bước vào phòng học sau khi đến phòng của quản gia để chỉ đạo về bữa chính, chào tôi, và đứng khoảng hai phút bên lò sưởi, nói vài lời về thời tiết và “cuộc hành trình khó khăn” mà tôi chắc hẳn đã trải qua ngày hôm trước, hôn đứa con út của bà − một cậu bé mười tuổi − người vừa mới lau miệng và tay vào váy của bà, sau khi được cho bốc vài miếng thức ăn thơm ngon trong tủ của người quản gia, nói với tôi rằng cậu bé ngoan ngoãn và dễ thương biết chừng nào rồi bà bước ra khỏi phòng với dáng vẻ oai nghiêm, với nụ cười tự mãn trên khuôn mặt. Rõ ràng, bà đang nghĩ sự hiện diện của mình như thế là đủ. Các con của bà rõ ràng cũng có ý kiến như vậy, chỉ riêng tôi nghĩ khác.

Sau lần ghé thăm này, bà gặp tôi một hoặc hai lần nữa trong lúc các học trò của tôi vắng mặt để nói cho tôi biết những điều liên quan đến nhiệm vụ của tôi. Đối với những đứa con gái, bà dường như chỉ quan tâm đến việc làm thế nào để chúng có vẻ bề ngoài hấp dẫn và hoàn hảo một cách dễ nhận thấy nhất mà hiện tại vẫn được thoải mái, nhàn nhã, không phải khổ luyện, vì thế bà trông đợi tôi sẽ hành động một cách phù hợp − nghiên cứu, gắng sức giúp đỡ và làm các học trò của mình vui, chỉ dạy, trau chuốt, và đánh bóng mà chỉ đòi hỏi sự cố gắng tối thiểu ở chúng, và không sử dụng quyền lực ở phía tôi. Với hai đứa con trai cũng vậy. Thay vì giúp chúng phát triển các khả năng, tôi phải nhồi được một lượng ngữ pháp Latin nhiều nhất có thể và sách trích giảng của Valpy vào đầu chúng, để đáp ứng chương trình học ở trường của chúng − nhồi một lượng kiến thức lớn nhất nhưng chỉ được phép làm chúng vất vả ít nhất. John có thể là một đứa trẻ “can đảm” còn Charles có thể là một đứa trẻ “hơi dễ căng thăng và mệt mỏi −”

“Cô Grey ạ, nhưng trong mọi tình huống”, bà nói, “tôi hy vọng cô sẽ giữ bình tĩnh, ôn hòa và kiên nhẫn, nhất là với thằng bé Charles đáng yêu. Nó căng thẳng và dễ bị tổn thương lắm, và tuyệt đối không quen với bất cứ cách cư xử nào ngoài cách dịu dàng, hiền hòa nhất. Hãy miễn cho tôi việc kể tên tất tần tật mọi điều cho cô biết bởi vì thực tế là cho đến nay tôi nhận thấy tất cả các nữ gia sư, thậm chí cả những người xuất sắc nhất, đều có khiếm khuyết về điểm này. Họ thiếu tính dịu dàng, bình lặng mà thánh Mathew và một số người đã nói là quý hơn cả tấm áo thầy tu − biết tôi muốn ám chỉ điều gì, bởi vì cô là con gái của một mục sư. Và hãy nhớ, trong mọi trường hợp, khi có đứa trẻ nào làm điều gì đó không đúng, nếu sự thuyết phục và phản đối không có tác dụng, thì hãy sai một đứa đến báo với tôi bởi vì tôi có thể bảo ban chúng đơn giản và dễ dàng hơn cô. Hãy cố gắng hết sức để chúng được vui vẻ, cô Grey ạ, và tôi dám nói rằng, như vậy cô sẽ làm rất tốt nhiệm vụ của mình.”

Tôi nhận thấy rằng, trong khi bà Murray cực kỳ quan tâm đến sự dễ chịu và vui vẻ của các con bà, và liên tục nói về nó, bà không một lần đề cập đến những cảm giác đó của tôi mặc dù bọn trẻ đang ở nhà mình với những người thân xung quanh, còn tôi là một kẻ đơn độc giữa những người xa lạ, và tôi chưa biết nhiều điều về thế giới mới mẻ để không ngạc nhiên trước sự dị thường này.

Khi tôi đến, cô Murray, hay còn được gọi là Rosalie, một trong hai tiểu thư của nhà đó, khoảng mười sáu tuổi, và đã ra dáng là một cô gái rất xinh đẹp, và trong hai năm sau đó, khi vóc dáng của cô hoàn thiện qua thời gian và dáng đi cũng như cử chỉ của cô càng duyên dáng hơn, cô trở nên đẹp một cách không thể phủ nhận. Cô cao ráo và thon thả, nhưng không gầy gò. Cô đẹp hoàn hảo về vóc dáng, thanh tú về đường nét mặc dù không phải là không khỏe khoắn và rạng rỡ. Mái tóc dầy với những lọn tóc quăn của cô có màu nâu sáng, đôi mắt xanh của cô trong veo và sáng đến nỗi một số người sẽ ước chúng sẫm màu hơn. Những đường nét khác trên khuôn mặt của cô đều thanh thoát, không hoàn toàn cân đối, hoặc không quá nổi bật, nhưng nhìn tổng thể bạn sẽ không ngần ngại thốt lên rằng cô là một cô gái rất dễ thương. Tôi ước gì tôi có thể khen cô về trí tuệ và tính tình của cô như đã khen cô về vóc dáng và khuôn mặt.

Tuy nhiên các bạn chớ nghĩ rằng tôi sắp sửa tiết lộ điều gì đó khủng khiếp về tính nết của nàng tiểu thư ấy. Rosalie rất vui vẻ và có thể rất dễ thương đối với những người không làm trái ý cô. Đối với tôi, khi tôi mới đến, cô lạnh lùng và kiêu kỳ, sau đó xấc láo và hống hách. Nhưng, khi chúng tôi quen nhau hơn, cô dần dần dẹp bỏ cái kiểu ra vẻ ta đây đi, và qua thời gian, cô được gán cho tôi như thể cô là yếu tố tạo nên danh tiếng của tôi, là vị thế của tôi bởi vì cô hiếm khi quên cái thực tế rằng tôi là một người làm thuê, và là con gái một mục sư nghèo. Tuy nhiên, trên hết, tôi tin rằng cô nể tôi hơn cô nghĩ bởi vì tôi là người duy nhất trong nhà cho thấy một cách kiên định những nguyên tắc sống tốt, có thói quen nói thật, và nỗ lực làm tròn nhiệm vụ của mình. Và tôi phải nói điều này, không phải để tự khen mình mà để các bạn thấy hoàn cảnh không may mắn của cái gia đình mà hiện tại tôi đang phục vụ. Không có một thành viên nào của gia đình đó khiến tôi thấy tiếc vì thiếu nguyên tắc sống một cách đáng buồn như cô Murray, không chỉ bởi cô mến tôi, mà bởi vì mặc dù có những nhược điểm, ở cô có những điều thú vị và dễ thương khiến tôi thực sự thích cô − khi cô không khuấy động sự tức giận trong tôi hoặc làm tôi mất bình tĩnh bằng cách bộc lộ quá nhiều khuyết điểm của mình. Tuy nhiên, tôi vui lòng thuyết phục bản thân rằng những khuyết điểm đó là do ảnh hưởng của sự giáo dục chứ không phải là bản chất của cô. Cô chưa bao giờ được dạy dỗ một cách tử tế để phân biệt đúng sai. Giống như các em mình, từ khi còn bé xíu cô đã hành hạ các vú em, các gia sư, và những người hầu. Cô không được dạy để tiết chế những ham muốn của mình, kiểm soát sự nóng giận hoặc kiềm chế ý thích, hoặc hy sinh thú vui của bản thân vì lợi ích của người khác. Về bản chất, cô là người tốt, chưa bao giờ hung bạo, quá khích hoặc rầu rĩ, nhưng vì lúc nào cũng được nuông chiều và vì khinh thường lý trí nên cô hay gắt gỏng và có tính khí thất thường. Trí tuệ của cô không được trau dồi. Hiểu biết của cô nông cạn. Cô sở hữu tính hoạt bát, có khả năng hiểu khá nhanh, có chút năng khiếu âm nhạc và khả năng tiếp thu ngôn ngữ tốt, nhưng mười lăm tuổi rồi mà cô chẳng đạt được gì đáng kể về tri thức. Đến cái tuổi ấy, tính thích phô trương khuấy động các khả năng của cô, và thúc đẩy cô chú ý luyện rèn hơn, nhưng chỉ là luyện rèn những tài vặt dễ phô trương mà thôi.

Khi tôi đến làm việc ở nhà đó, tình trạng của cô vẫn y như thế. Cô chẳng chịu học môn gì, trừ tiếng Pháp, tiếng Đức, âm nhạc, hát, khiêu vũ, thêu thùa, và học vẽ theo kiểu đá đưa − môn vẽ có thể tạo ra sự phô trương lớn nhất với sức lao động nhỏ nhất, và thường thì phần lớn việc hoàn thành một bức tranh của cô đều do tôi thực hiện. Đối với âm nhạc và ca hát, ngoài những bài học thỉnh thoảng cô tiếp thu từ tôi, cô theo học thầy giỏi nhất trong vùng, và với những môn này, cũng như trong lĩnh vực khiêu vũ, cô dĩ nhiên đạt được sự thông thạo. Thực ra, dù là gia sư, tôi thường nói với cô rằng cô đã dành quá nhiều thời gian cho âm nhạc, còn mẹ cô nghĩ rằng dù cô thích âm nhạc, cô cũng không thể bỏ quá nhiều thời gian để tiếp thu một môn nghệ thuật hấp dẫn như vậy được. Tôi không biết thêu thùa nhưng, qua những gì tôi học được từ cô học trò của mình và tự học, chẳng bao lâu sau khi tôi đến đó, học trò của tôi đã khiến tôi trở nên hữu dụng bằng hàng chục cách khác nhau. Tất cả những phần việc nhạt nhẽo của cô đều được đẩy sang tôi, chẳng hạn như căng khung thêu, thực hiện các mũi thêu trên vải bố, phân loại len và lụa, tạo nền, đếm mũi thêu, sửa lỗi, hoàn thành nốt những “công trình” thêu thùa mà cô đã chán làm.

Mười sáu tuổi, cô Murray là một cô gái thích nô đùa, tuy nhiên, không đến nỗi trái với tự nhiên và vượt quá sự cho phép đối với một cô bé ở tuổi đó, nhưng ở tuổi mười bảy thì xu hướng này, cũng như tất cả những điều khác, bắt đầu phải nhượng bộ trước khát khao thống trị, và chẳng bao lâu bị nuốt chửng bởi tham vọng quyến rũ và làm lóa mắt người khác giới. Nhưng tôi miêu tả cô như vậy là đủ rồi. Bây giờ tôi muốn kể về em gái cô.

Cô Matilda Murray quả thực là một cô gái hoang dã, không được rèn giũa. Cô ít hơn chị mình khoảng hai tuổi rưỡi. Các đường nét của cô không nhỏ nhắn như cô chị, nước da của cô đen hơn. Đáng lẽ cô có thể trở thành một cô gái đẹp, nhưng khung xương của cô to và dáng người hơi cứng nên khó có thể gọi cô là một cô bé xinh xắn, và hiện tại cô không quan tâm đến điều đó lắm. Rosalie biết tất cả những điểm hấp dẫn của mình và đề cao chúng hơn vốn có, coi trọng chúng hơn mức cần thiết, nghĩ chúng đẹp hơn gấp ba lần vốn có. Matilda nghĩ rằng mình như vậy là ổn, nên ít quan tâm đến hình thức, nhưng cô còn quan tâm ít hơn đến việc trau dồi trí tuệ cũng như việc đạt được những kỹ năng để phô trương. Thái độ mà cô thể hiện khi học bài và luyện âm nhạc có thể khiến bất cứ người gia sư nào thất vọng. Bất cứ lúc nào, và bất luận thế nào, những bài tập của cô đều phải rất dễ, rất ngắn, và nếu chúng được làm, thì cũng chỉ được làm qua loa cho xong chuyện vào những lúc ít thuận tiện nhất, theo những cách có lợi ít nhất đối với cô, và ít hài lòng nhất đối với tôi. Nửa giờ học nhạc của cô trôi qua theo kiểu cò cưa ký cưa, chẳng khác gì tra tấn. Trong khi đó cô hành hạ tôi một cách không thương tiếc, làm gián đoạn bài học bằng những lần sửa lỗi lắt nhắt, hoặc vì không chịu chỉnh sửa những lỗi mà cô đã mắc phải, hoặc làm điều gì đó vô lý tương tự như vậy. Một vài lần tôi dám phê bình cô một cách nghiêm túc vì thái độ vô lý đó, nhưng mỗi lần làm như vậy, tôi đều nhận được những lời khiển trách từ mẹ cô, khiến tôi tin rằng nếu tôi muốn giữ việc làm của mình, thì tôi thậm chí phải để tiểu thư Matilda muốn làm gì tùy thích.

Tuy nhiên khi các bài học của cô kết thúc, thái độ cáu kỉnh của cô cũng chấm dứt. Trong khi cô cưỡi con ngựa non ưa hoạt động của mình hoặc nô đùa cùng những con chó hoặc cùng chị gái và các em trai, đặc biệt là với cậu em John mà cô rất cưng chiều, cô vui vẻ lắm. Là một sinh vật, Matilda khỏe mạnh, đầy sức sống, ưa hoạt động. Là một con người, cô dốt nát một cách man rợ, khó bảo, cẩu thả, vô lý và hậu quả là, cô khiến cho bất cứ ai làm nhiệm vụ dạy dỗ cô cũng hiểu rằng, việc cải thiện cách cư xử của cô, và giúp cô đạt được những kỹ năng để phô trương giống như chị của cô, những kỹ năng mà cô khinh thường, là một việc cực nhọc. Mẹ của cô phần nào ý thức được những khuyết điểm của con gái, và đã lên lớp cho tôi nhiều lần về cách làm thế nào để hình thành khiếu thẩm mỹ ở cô, và cố gắng để khơi dậy, chăm chút lòng kiêu hãnh tiềm ẩn trong cô, và bằng cách nói gần nói xa, khen nịnh thật khéo léo để khiến cô chú ý đến những mục tiêu được mong đợi − điều mà tôi sẽ không làm. Bà cũng bảo tôi nên chuẩn bị và làm bằng phẳng con đường học hành cho đến khi cô có thể lướt nhẹ trên đó mà không phải ráng sức chút nào − điều mà tôi không thể làm bởi vì không gì có thể được dạy vì bất cứ mục đích nào mà không đòi hỏi sự cố gắng ở phía người học.

Về hạnh kiểm, Matilda là một cô bé liều lĩnh, cứng đầu, hung dữ, và không tuân theo lẽ phải. Một bằng chứng cho thấy trạng thái tinh thần tồi tệ của cô là, cô đã học được từ cha mình thói văng tục, chửi bậy luôn mồm. Mẹ cô rất sốc trước “cung cách chẳng có chất tiểu thư chút nào” của cô và không biết “tại sao cô lại nhiễm cái thói đó”. “Nhưng cô có thể sẽ sớm tống khứ cái thói chửi bậy ấy đi, cô Grey ạ”, bà nói, “đó chỉ là một thói quen thôi, và nếu mỗi lần con bé văng tục, chửi bậy, cô nhẹ nhàng nhắc nhở nó, thì tôi tin chắc rằng nó sẽ sớm bỏ được thói quen ấy.” Tôi không chỉ “nhẹ nhàng nhắc nhở” cô Matilda, mà còn cố làm cho cô hiểu chửi bậy là một thói xấu như thế nào, gây khó chịu cho đôi tai của những người tử tế ra sao, nhưng tất cả đều vô ích. Tôi chỉ được đáp lại bằng một tiếng cười xòa, và câu “Ồ, cô Grey, cô sốc đến thế kia ư!” hoặc “Ôi! Em không thể nhịn được”, hoặc “Đáng lẽ cha không nên dạy em, em học tất cả từ cha đấy, và từ thằng đánh xe ngựa”.

Khi tôi đến làm gia sư cho gia đình họ, em trai của cô, cậu bé John, và cũng là cậu chủ Murray, đã mười một tuổi. Đó là một cậu bé khỏe mạnh, mập mạp, xinh trai. Có lẽ bản chất của cậu hiền lành, trung thực và có thể trở thành một chàng trai tốt nếu như được giáo dục tử tế nhưng bây giờ cậu hung dữ như một con gấu con, ngỗ ngược, vô kỷ luật, dốt nát, và khó dạy − ít nhất, đối với một gia sư, theo cách nhìn của mẹ cậu. Các thầy giáo của cậu ở trường có thể quản lý cậu tốt hơn − thật may cho tôi, khoảng một năm sau khi tôi đến, cậu được gửi đến trường. Tình trạng dốt tiếng Latin đến mức đáng hổ thẹn của cậu, và dốt cả từ những môn học cần thiết cho đến những môn ít được coi trọng hơn được quy trách nhiệm cho một giáo viên nữ dốt nát, người đã dám đương đầu với những gì mà mình hoàn toàn không có khả năng để đương đầu. Đúng mười hai tháng sau đó, tôi được giải thoát khỏi em cậu, người cũng được gửi đến trường trong tình trạng dốt nát đáng xấu hổ y như anh trai mình.

Cậu Charles là đứa con cưng của mẹ cậu. Cậu nhỏ hơn anh John của cậu một tuổi, nhưng còi cọc, xanh xao, lười hoạt động và yếu ớt hơn nhiều. Đó là một cậu bé ích kỷ, hèn nhát, hay hờn dỗi, chỉ hăng hái khi làm những trò tinh quái, và chỉ nhanh trí trong việc nghĩ ra những lời nói dối, không chỉ để che giấu những lỗi của mình mà còn để khiến người khác bị chê bai, căm ghét một cách hiểm độc. Quả thực, cậu chủ Charles là một nỗi phiền toái rất lớn đối với tôi. Chung sống hòa bình với cậu đã là một cuộc thử thách, trông nom và dạy dỗ cậu còn khó khăn hơn nhiều, dạy dỗ cậu hoặc cố gắng dạy dỗ cậu là việc gian nan không thể tưởng tượng nổi. Mười tuổi, cậu không thể đọc nổi một dòng dễ nhất trong cuốn sách đơn giản nhất, và theo nguyên tắc của mẹ cậu, cậu phải được mớm từng từ trước khi cậu có thời gian ngập ngừng hoặc ngẫm nghĩ để tự đánh vần chúng, và thậm chí cậu không được nói cho biết rằng những cậu bé khác tiến bộ hơn cậu, như một cách để kích thích sự cố gắng ở cậu, bởi vậy không ngạc nhiên, trong hai năm tôi chịu trách nhiệm dạy học cho cậu, cậu chẳng tiến bộ hơn trước là bao. Lượng kiến thức ít ỏi về ngữ pháp tiếng Latin, và những môn khác, được nhắc đi nhắc lại với cậu cho tới khi cậu thích nói những gì cậu biết thì nói, không thích thì thôi, và sau đó cậu được giúp để nói những gì cậu biết. Nếu cậu làm sai một phép tính đơn giản, thì người dạy cậu phải chỉ ra chỗ sai ngay lập tức, và làm lại phép tính ấy cho cậu, thay vì để cậu rèn khả năng tự phát hiện các lỗi sai của mình. Với kiểu học đó, dĩ nhiên cậu chẳng tội gì phải cố gắng tránh mắc lỗi, mà thường xuyên viết bừa các con số ra, chẳng thèm tính toán gì hết.

Không phải lúc nào tôi cũng tuân theo những nguyên tắc, luật lệ đó. Làm như thế là trái với lương tâm của tôi, nhưng tôi hiếm khi dám đi trệch khỏi nó dù chỉ ở mức độ nhẹ nhất mà không tự mình chuốc lấy cơn thịnh nộ của đứa học trò nhỏ, và tiếp theo là của mẹ nó, người được cậu kể lại một cách cường điệu và đầy ác ý mọi vi phạm của tôi hoặc thêm thắt những chi tiết không có thật. Thường thì, hậu quả là tôi sẽ đứng trước nguy cơ mất việc hoặc tự bỏ việc. Nhưng vì những người thân của mình, tôi dập lòng kiêu hãnh, trấn áp sự phẫn nộ trong mình, cố gắng trụ lại cho tới khi tên bạo chúa nhỏ của tôi được gửi đến trường. Cha của cậu ta tuyên bố rằng giáo dục tại nhà “chẳng đi đến đâu cả. Đối với thằng bé, điều đó là rõ ràng. Mẹ nó đã làm hư hỏng nó một cách quá đáng, còn gia sư của nó đã bó tay với nó.”

Tôi xin kể thêm chút nữa về Horton Lodge và những gì diễn ra ở đó, bởi tôi biết từ trước đến giờ những dòng miêu tả của tôi khá khô khan. Ngôi nhà đó rất đáng chiêm ngưỡng, hơn hẳn nhà ông Bloomfield về mức độ cổ kính, kích cỡ, và vẻ đẹp. Khu vườn tuy không được bố trí một cách đầy thẩm mỹ nhưng thay vì có những bãi cỏ được xén phẳng phiu, ở đó những cây non được bảo vệ bởi những hàng rào, những lùm cây dương thẳng tắp và cả một vườn linh sam, có một vườn cảnh rộng lớn thấp thoáng bóng hươu nai và được làm đẹp bởi những cây cổ thụ xanh tươi. Vùng thôn quê xung quanh cũng rất đẹp, xa xa là những cánh đồng màu mỡ, những khóm cây xanh mướt mát, những con đường nhỏ được viền bởi cây xanh, và những bờ giậu ngời lên màu xanh tươi được điểm xuyết những bông hoa dại, nhưng nó bằng phẳng một cách buồn tẻ đối với một người sinh ra và lớn lên giữa những ngọn đồi nhấp nhô.

Chúng tôi sống cách nhà thờ của làng gần hai dặm, bởi vậy sáng thứ Bảy nào cỗ xe ngựa của gia đình cũng được dùng tới. Ông bà Murray nghĩ họ có mặt ở nhà thờ một lần trong ngày thứ Bảy là đủ, nhưng thường thì các con của họ thích đến đó lần thứ hai, lang thang quanh khu nhà thờ cả ngày. Nếu các học trò của tôi chọn đi bộ và cho tôi đi cùng, thì điều đó tốt cho tôi, bởi vì nếu đi bằng xe ngựa thì tôi phải nhét mình vào góc xa nhất so với cửa sổ, và phải ngồi quay lưng lại phía những con ngựa kéo xe: một vị trí lúc nào cũng khiến tôi buồn nôn, và nếu tôi không buộc phải rời khỏi nhà thờ giữa buổi lễ, thì lời cầu kinh của tôi sẽ bị phá rối bởi cảm giác ngột ngạt, buồn nôn, và nỗi sợ tình trạng khó ở của mình sẽ tăng lên. Một cơn đau đầu đáng ghét sẽ hành hạ tôi suốt cả ngày, thay vì cảm giác về sự nghỉ ngơi, thư giãn, sự linh thiêng, và sự thú vị trong tĩnh lặng.

“Cô Grey, thật lạ là xe ngựa luôn làm cô buồn nôn: nó chẳng làm em buồn nôn bao giờ”, tiểu thư Matilda nói.

“Chị cũng chẳng buồn nôn bao giờ”, chị của cô nói, “nhưng chị dám nói rằng chị cũng sẽ như vậy nếu chị ngồi ở cái chỗ − cái chỗ kinh khủng mà cô ấy ngồi. Cô Grey, em ngạc nhiên vì cô có thể chịu đựng nổi khi phải ngồi ở chỗ đó đấy!”

“Tôi buộc phải chịu đựng, bởi vì tôi không có sự lựa chọn nào khác”, tôi đã định trả lời như vậy, nhưng rồi tôi chỉ đáp: “Ồ! Chỉ một đoạn đường ngắn thôi mà, và nếu tôi không nôn ở trong nhà thờ, thì tôi chẳng cảm thấy phiền vì chuyện đó đâu.”

Nếu tôi phải mô tả về sự sắp đặt và giờ giấc sinh hoạt hằng ngày thì đó quả là một việc khó đối với tôi. Tất cả các bữa ăn của tôi đều diễn ra trong phòng học cùng với các học trò của mình, vào những lúc họ muốn. Đôi khi họ gọi người đem bữa chính lên phòng khi mà nhà bếp vẫn còn đang nấu nướng. Đôi khi họ để thức ăn chờ họ trên bàn cả tiếng đồng hồ, để rồi sau đó lại cáu kỉnh vì món khoai tây đã nguội ngắt, còn nước xốt trên món bánh đã đông cứng lại. Đôi khi họ dùng bữa trà vào lúc bốn giờ: thường thì họ nổi giận đùng đùng với những người hầu vì bữa trà không được dọn lên đúng vào lúc năm giờ, và khi mệnh lệnh của họ được tuân thủ, họ cứ để nguyên trà trên bàn, không đụng tới cho đến bảy hoặc tám giờ.

Việc học bài của họ cũng chẳng có giờ giấc nhất định. Quyết định và sự tiện lợi của tôi không bao giờ được đếm xỉa tới. Đôi khi Matilda và John quyết tâm “giải quyết tất cả các bài học trước bữa ăn sáng”, và sai một người hầu gọi tôi dậy lúc năm giờ rưỡi mà không hề cảm thấy ngại hoặc có một lời xin lỗi. Đôi khi tôi được báo cho biết phải dạy học vào đúng sáu giờ, và phải thay quần áo thật khẩn trương, lao xuống phòng học chỉ để thấy chưa có bóng một học trò nào của mình ở đó, đợi một lúc lâu trong cảm giác sốt ruột và rồi phát hiện ra rằng họ đã thay đổi ý định, và hiện vẫn đang ngủ, hoặc có thể, nếu là một buổi sáng mùa hè đẹp trời, chị Brown đến nói với tôi rằng các tiểu thư và các công tử quyết định sẽ tận hưởng một ngày nghỉ, và khi chị báo cho tôi biết điều đó, họ đã đi chơi rồi, còn tôi thì cứ đợi bữa sáng cho tới khi sắp ngất xỉu. Còn họ, tất nhiên đã ăn lót dạ trước khi đi.

Thường thì họ học bài ở ngoài trời, và tôi chẳng có gì để phản đối, trừ một điều rằng tôi thường xuyên bị nhiễm lạnh vì ngồi trên bãi cỏ ẩm ướt, hoặc vì phơi sương giá vào buổi tối, hoặc vì gió lùa, những điều mà dường như chẳng ảnh hưởng gì đến họ. Quả thực họ rất khỏe: tuy nhiên, đáng lẽ họ phải được giáo dục để nghĩ cho những người có sức khỏe kém hơn mình. Nhưng tôi không trách họ vì những gì có lẽ là nhược điểm của bản thân tôi, bởi vì tôi chưa bao giờ phản đối việc ngồi ở nơi nào mà họ thích: tôi chọn chấp nhận rủi ro hơn là làm họ khó chịu vì sự tiện lợi của mình. Cái cách học của họ cũng bất bình thường chẳng kém gì sự thất thường được thể hiện trong cách họ lựa chọn thời gian và chỗ học. Trong khi tiếp thu bài giảng của tôi, hoặc nhắc lại những gì mình đã học, họ thường nằm ườn trên xô pha, trên thảm, ngáp dài, nói chuyện với nhau, hoặc nhìn ra ngoài cửa sổ. Trong khi đó tôi không thể chọc lò sưởi hoặc nhặt chiếc khăn tay tôi đánh rơi mà không bị các học trò của mình phê bình, hoặc được nói cho biết rằng “mẹ không thích tôi cẩu thả như vậy”.

Những người hầu thấy cả bố mẹ và các con của nhà đó không coi trọng gia sư nên cũng điều chỉnh thái độ cho hợp với kiểu hành xử ấy. Tôi thường bảo vệ họ chống lại sự bạo ngược và bất công của những cô chủ, cậu chủ nhỏ ấy bất chấp rủi ro đối với bản thân mình, và tôi luôn cố gắng để làm phiền họ ít nhất có thể, nhưng họ hoàn toàn không nghĩ đến sự thoải mái của tôi, xem thường những yêu cầu của tôi, coi khinh những chỉ dẫn của tôi. Tôi tin rằng không phải tất cả những người hầu đều như vậy, nhưng nhìn chung những người hầu trong gia đình đó kém hiểu biết, không quen suy nghĩ và không biết phải trái, rất dễ bị sự cẩu thả và tấm gương xấu của những người có quyền lực cao hơn mình làm hư hỏng.

Thỉnh thoảng tôi cảm thấy mình bị tha hóa bởi cuộc sống mà mình đang sống, cảm thấy xấu hổ về sự đầu hàng của mình trước vô số sự sỉ nhục. Đôi khi tôi nghĩ mình là một kẻ ngốc cứ quan tâm nhiều đến họ, và sợ mình thiếu hụt một cách đáng buồn tính nhún nhường của người theo đạo Cơ Đốc, hoặc thiếu tình yêu thương như Kinh thánh đã nhắc tới: “Tình yêu thương và nhân từ, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, dung thứ mọi sự, nín chịu mọi sự.”

Nhưng, qua thời gian và với sự kiên nhẫn, những khó khăn bắt đầu giảm bớt chút ít. Sự cải thiện diễn ra rất chậm, và hầu như không rõ rệt, nhưng tôi đã được giải thoát khỏi những học trò nam (đó là một sự thuận lợi không nhỏ), còn những học trò nữ, như tôi đã kể sơ qua về từng người, đã trở nên bớt xấc xược hơn và bắt đầu cho thấy những dấu hiệu của sự quý mến. “Cô Grey là một người kỳ quặc. Cô chẳng bao giờ khen nịnh, và không khen người ta được đến một nửa mức cần thiết, nhưng bất cứ khi nào cô nói tốt về ai, hoặc những điều liên quan đến ai, thì người đó có thể chắc chắn rằng sự ủng hộ của cô là thật lòng. Cô rất sẵn lòng giúp đỡ người khác, ít nói, nhìn chung trầm tính, nhưng có một số điều khiến cô nổi giận. Mọi người không quan tâm nhiều đến điều đó, nhưng không làm cô bực vẫn tốt hơn, bởi vì khi cô vui, cô trò chuyện với họ, và đôi khi cô rất dễ thương và hài hước: về điểm ấy, cô hoàn toàn khác với mẹ. Cô có ý kiến riêng về mọi chủ đề, và giữ vững lập trường của mình − thường thì những ý kiến của cô chẳng thú vị gì, bởi vì cô luôn nghĩ đến cái đúng, cái sai, và luôn có sự sùng kính lạ lùng dành cho những vấn đề liên quan đến tôn giáo, yêu mến những người tốt một cách không thể hiểu nổi.”

THƯ VIỆN EBOOK (TVE-4U) Tác phẩm Người Gia Sư - Agnes Grey Tác giả Anne Brontë Người dịch Nguyễn Bích Lan Tủ sách Văn học nước ngoài Thể loại Kinh điển phương Tây Phát hành LimBooks NXB NXB Hà Nội 08/2017 —✥— EBOOK©VCTVEGROUP 20-05-2019
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.