Mỹ Quốc Chúng Thần

Lượt đọc: 154 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Năm

❊ ❊ ❊

Sự sống chẳng qua chỉ là một đóa phù dung sớm nở tối tàn, cái chết luôn lầm lũi theo sát như hình với bóng. Nàng chỉ là khách thuê trọ tạm thời trong căn phòng, còn gã là kẻ ác ôn đang chờ sẵn trên cầu thang.

—— W. E. Henley, “Sự sống chẳng qua chỉ là một đóa phù dung”

Sáng thứ Bảy, chỉ có Zorya Utrennyaya là đã thức dậy và nói lời tạm biệt với họ. Bà nhận bốn mươi lăm đô la từ Mr. Wednesday và còn khăng khăng đòi viết một tờ biên nhận cho ông. Tờ biên nhận được viết ở mặt sau của một phiếu giảm giá đồ uống đã hết hạn, những chữ cái được viết to và nguệch ngoạc. Trong ánh nắng buổi sớm, trông bà giống như một con búp bê, gương mặt già nua trang điểm tinh xảo, mái tóc vàng búi cao trên đầu.

Mr. Wednesday hôn lên tay bà để từ biệt. “Cảm ơn sự hiếu khách nồng hậu của bà, thưa quý cô,” ông nói những lời ngọt ngào, “bà và những người chị em xinh đẹp quyến rũ của bà tỏa sáng rực rỡ như bầu trời vậy.”

“Ông đúng là một lão già hư hỏng.” Bà lắc ngón tay với ông, rồi ôm ông thêm một lần nữa. “Hãy bảo trọng,” bà dặn dò, “tôi không muốn nghe tin ông rời bỏ chúng tôi đâu.”

“Tin tức kiểu đó cũng sẽ khiến tôi đau buồn khôn xiết, người yêu dấu của tôi.”

Bà bắt tay Cái Bóng để từ biệt. “Zorya Polunochnaya đánh giá rất cao về cậu,” bà nói, “tôi cũng vậy.”

“Cảm ơn.” Cái Bóng lịch sự đáp, “cũng cảm ơn bữa tối của bà nữa.”

Bà ngạc nhiên nhướng mày. “Cậu thích ăn ư? Vậy có cơ hội nhất định phải quay lại nhé.”

Mr. Wednesday và Cái Bóng bước xuống cầu thang. Cái Bóng thò tay vào túi áo khoác rồi lại rút ra. Đồng xu bạc một đô la nằm lạnh lẽo trong lòng bàn tay cậu, nó lớn hơn và nặng hơn bất kỳ đồng xu nào cậu từng dùng. Cậu cầm nó bằng kỹ thuật ảo thuật truyền thống, mép lòng bàn tay thả lỏng tự nhiên, sau đó duỗi tay ra, để đồng xu trượt ra phía trước, dùng ngón trỏ và ngón út nhẹ nhàng giữ lấy, động tác trôi chảy và tự nhiên.

“Làm tốt lắm.” Mr. Wednesday nói.

“Đang học thôi, vẫn chưa nhập môn.” Cái Bóng nói, “Kỹ thuật thuần túy thì tôi biết khá nhiều, cái khó nhất là dẫn dụ khán giả nhìn vào bàn tay sai.”

“Vậy sao?”

“Đúng vậy,” Cái Bóng nói, “đây gọi là ‘đánh lạc hướng’.” Cậu đưa ngón giữa xuống dưới đồng xu, đẩy nhẹ, đưa đồng xu về phía sau lòng bàn tay, lần mò giữ nhẹ nó ở đó. Thế nhưng đồng xu lại trượt khỏi tay cậu, lạch cạch rơi xuống cầu thang. Mr. Wednesday cúi người nhặt nó lên.

“Cậu không thể đối xử với món quà người khác tặng mình như vậy.” Mr. Wednesday không hài lòng nói, “Với những thứ như thế này, cậu phải nắm chặt nó trong lòng bàn tay mới đúng. Đừng có ném nó lung tung nữa.” Ông kiểm tra đồng xu, trước tiên nhìn mặt có hình con đại bàng, sau đó lật lại xem mặt có hình Nữ thần Tự do. “À, Nữ thần Tự do, cô ấy rất đẹp, phải không?” Ông ném đồng xu lại cho Cái Bóng, cậu chộp lấy từ trên không trung rồi làm nó biến mất. Trông có vẻ như cậu đang nắm nó trong tay trái, nhưng thực ra đồng xu đang ở tay phải, sau đó cậu lại làm nó xuất hiện trở lại, rồi lại xuất hiện trong tay trái. Cuối cùng, đồng xu lặng lẽ nằm trong lòng bàn tay phải của cậu. Có nó ở đó, khiến người ta cảm thấy rất dễ chịu.

“Nữ thần Tự do,” Mr. Wednesday nói, “cũng như vô số vị thần mà người Mỹ sở hữu, đều có nguồn gốc từ nước ngoài. Để chiều lòng sự nhạy cảm của người Mỹ, người Pháp đã che đi bộ ngực đầy đặn của vị tiểu thư người Pháp này, rồi mới tặng nó như một món quà cho New York.” Ông nhăn mũi với một chiếc bao cao su đã qua sử dụng trên bậc cầu thang dưới, lộ vẻ ghê tởm, dùng mũi giày đá nó sang cạnh cầu thang, “Có người sẽ vô tình giẫm phải và gãy cổ mất.” Ông lầm bầm đầy bất mãn, “Giống như vỏ chuối vậy, chỉ có những kẻ hạ lưu và máu lạnh nhất mới vứt lung tung khắp nơi.” Ông đẩy cửa tòa nhà ra ngoài, ánh nắng chiếu rọi lên người họ. “Nữ thần Tự do, hay chính là Tự do,” họ đi về phía chiếc xe, Mr. Wednesday tiếp tục lớn tiếng bình luận, “thực ra là một con điếm, chỉ có thể làm tình trên tấm đệm trải đầy xác chết.”

“Thật sao?” Cái Bóng tò mò hỏi.

“Có căn cứ cả đấy,” Mr. Wednesday nói, “là do một người Pháp đưa ra. Đó là lý do tại sao họ dựng tượng ở cảng New York: mấy con điếm luôn thích làm trò đó trên đống rác vận chuyển. Cậu muốn giơ cao ngọn đuốc đến đâu cũng được, người yêu dấu à, nhưng dưới váy cô vẫn có lũ chuột, và cả thứ *** lạnh lẽo chảy dọc theo đôi chân.” Ông mở khóa xe, để Cái Bóng ngồi vào ghế phụ.

“Tôi thấy cô ấy rất đẹp.” Cái Bóng vừa nói vừa đưa đồng bạc lại gần để nhìn. Khuôn mặt Nữ thần Tự do trên đồng bạc khiến cậu cảm thấy hơi giống Zorya Polunochnaya.

“Và đây,” Mr. Wednesday vừa lái xe vừa nói, “chính là sự ngu xuẩn của đàn ông từ xưa đến nay. Theo đuổi thân xác ngọt ngào mà hoàn toàn không nhận ra đó chỉ là lớp vỏ bọc của máu thịt xương cốt, là thức ăn của giòi bọ. Không có ý xúc phạm đâu, nhưng thứ cậu làm đêm qua chẳng qua chỉ là một đống thức ăn cho giòi bọ mà thôi.” Cái Bóng chưa từng thấy Mr. Wednesday nói nhiều như vậy. Cậu cảm thấy, tính cách của vị sếp mới này đã bắt đầu chuyển từ hướng nội sang hướng ngoại. “Vậy ra, ông không phải người Mỹ?” Cái Bóng hỏi ông.

“Không ai là người Mỹ thực thụ cả.” Mr. Wednesday nói, “Gốc gác không phải là nước Mỹ. Đây là quan điểm của tôi.” Ông nhìn đồng hồ, “Trước khi ngân hàng đóng cửa, chúng ta vẫn còn vài tiếng đồng hồ. Tiện thể nói luôn, đêm qua cậu đối phó với Czernobog, làm rất khá. Dù tôi thế nào cũng sẽ kéo ông ta vào, nhưng cậu lại khiến ông ta tự nguyện tham gia, vượt xa mong đợi của tôi.”

“Chỉ vì ông ta muốn giết tôi sau khi xong việc thôi.”

“Sẽ không đâu. Như cậu đã chỉ ra rất thông minh, ông ta đã già rồi, cú đòn chí mạng đó có khi chỉ khiến cậu, nói sao nhỉ, bị liệt cả đời, trở thành một kẻ tàn phế không còn chút hy vọng nào. Cho nên, dù Czernobog có thoát khỏi rắc rối sắp tới, cậu vẫn có hy vọng.”

“Ngoài ra, chúng ta còn việc gì phải làm ở đây không?” Cái Bóng bắt chước giọng điệu của Mr. Wednesday, rồi lại ước mình đừng làm thế.

“Tất nhiên là có.” Mr. Wednesday đỗ xe ở bãi đỗ xe trước cửa ngân hàng, “Ở đây,” ông nói, “chính là ngân hàng tôi định cướp. Phải vài tiếng nữa ngân hàng mới đóng cửa. Chúng ta cứ vào chào hỏi trước đã.” Ông ra hiệu cho Cái Bóng. Cái Bóng miễn cưỡng xuống xe theo sau. Nếu lão già này thực sự định làm chuyện gì ngu ngốc, Cái Bóng không thấy có lý do gì để để camera giám sát quay lại mặt mình. Nhưng sự tò mò thôi thúc cậu bước vào ngân hàng. Cậu cúi đầu nhìn sàn nhà suốt dọc đường, còn không ngừng dùng tay xoa mũi, cố gắng thực hiện thêm nhiều cử động nhỏ để che mặt.

“Thưa cô, vui lòng cho tôi vài tờ phiếu gửi tiền.” Mr. Wednesday hỏi nhân viên ngân hàng đang đứng lẻ loi.

“Ở đằng kia ạ.”

“Cảm ơn. Nếu tôi cần gửi tiền vào ban đêm…?”

“Vẫn là mẫu đơn đó thôi.” Cô ấy mỉm cười thân thiện, “Biết két gửi tiền ban đêm ở đâu không ạ? Ra cửa chính, trên bức tường bên tay trái.”

“Cảm ơn rất nhiều.” Mr. Wednesday lấy vài tờ phiếu gửi tiền, mỉm cười chào tạm biệt nhân viên ngân hàng rồi cùng Cái Bóng rời khỏi đó.

Mr. Wednesday đứng trên vỉa hè một lúc, gãi râu trầm tư giây lát. Ông đến bên cạnh cây ATM và két gửi tiền ban đêm gắn trên tường, kiểm tra kỹ lưỡng. Sau đó, ông dẫn Cái Bóng băng qua đường đến siêu thị đối diện, mua cho mình một cây kem mềm sô-cô-la, mua cho Cái Bóng một cốc sô-cô-la nóng. Trên tường lối vào siêu thị có gắn một điện thoại công cộng, bên dưới là các áp phích quảng cáo cho thuê nhà và nhận nuôi chó mèo. Mr. Wednesday ghi lại số điện thoại công cộng đó. Hai người lại băng qua đường.

“Thứ chúng ta cần nhất bây giờ,” Mr. Wednesday đột nhiên nói, “chính là một trận tuyết. Một trận tuyết lớn đáng ghét. ‘Tưởng tượng’ cho tôi một trận tuyết được không?”

“Ông nói gì cơ?”

“Tập trung sự chú ý vào những đám mây đen kia kìa, những đám mây trên bầu trời phía Tây ấy. Để tầng mây dày hơn và đen hơn. Tưởng tượng bầu trời xám xịt, gió lạnh gào thét thổi từ Bắc Cực đến. Tưởng tượng cảnh tuyết rơi.”

“Tôi không nghĩ nó sẽ có tác dụng gì.”

“Vớ vẩn. Ít nhất thì cũng làm cho đầu óc cậu có việc để làm.” Mr. Wednesday nói rồi mở cửa xe, “Điểm đến tiếp theo là chuỗi cửa hàng in ấn Kinko’s, nhanh lên.”

Tuyết. Cái Bóng ngồi ở ghế phụ, vừa nhấm nháp sô-cô-la nóng, vừa tưởng tượng trong đầu. Những bông tuyết lớn, chói mắt, bay lả tả từ bầu trời xuống, dưới bầu trời xám xịt trông thật tinh khiết và trắng xóa. Đầu lưỡi khẽ liếm, dường như có thể nếm được hương vị mùa đông từ cảm giác lạnh lẽo của bông tuyết. Bông tuyết khẽ hôn lên má bạn, nhưng lại mang sức mạnh có thể đông chết người. Lớp tuyết dày mười hai inch như kẹo bông gòn, có thể trang điểm cả thế giới thành một vương quốc cổ tích, khiến mọi thứ trở nên thật đẹp đẽ…

Mr. Wednesday dường như đang nói gì đó với cậu.

“Gì cơ? Tôi không nghe thấy.” Cái Bóng hỏi.

“Tôi nói chúng ta đến nơi rồi.” Mr. Wednesday nói, “Đầu óc cậu đang nghĩ gì vậy?”

“Tôi đang tưởng tượng về một trận tuyết lớn.” Cái Bóng nói.

Trong cửa hàng in ấn Kinko’s, Mr. Wednesday bắt đầu photo những tờ phiếu gửi tiền vừa lấy từ ngân hàng. Ông bảo nhân viên trong cửa hàng in nhanh cho mình hai bộ danh thiếp, mỗi bộ mười cái. Đầu Cái Bóng bắt đầu đau lên, giữa hai bả vai cũng cảm thấy rất khó chịu. Không biết có phải do đêm qua ngủ không thoải mái không, cơn đau đầu có thể là kết quả của việc ngủ trên ghế sofa.

Mr. Wednesday ngồi trước màn hình máy tính, đang viết một bức thư, rồi với sự giúp đỡ của nhân viên trong cửa hàng, in ra vài tấm biển báo viết hoa.

Tuyết. Cái Bóng tiếp tục nghĩ, trong tầng khí quyển cao, bao quanh một hạt bụi nhỏ, ngưng kết thành những tinh thể nước nhỏ hoàn hảo, mỗi đường hoa văn đều là hình lục giác không đều, các tinh thể tuyết kết hợp lại, tạo thành bông tuyết, rơi xuống từ trên cao. Vô số bông tuyết trắng nhỏ bé, bao phủ toàn bộ Chicago, lớp tuyết trên mặt đất dày thêm từng tấc một…

“Cầm lấy,” Mr. Wednesday nói, đưa cho Cái Bóng một cốc cà phê miễn phí ở cửa hàng Kinko’s, trên bề mặt cà phê còn nổi một đám bọt mỡ hòa tan chưa hết. “Tôi thấy gần được rồi. Cậu thấy sao?”

“Cái gì gần được rồi?”

“Tuyết gần được rồi. Chúng ta không muốn cả thành phố bị tê liệt hoàn toàn, phải không?”

Bầu trời bây giờ là một màu xám như tàu chiến. Tuyết đang rơi. Đúng vậy, thực sự có tuyết rơi rồi.

“Thực ra không phải tôi làm, đúng không?” Cái Bóng hơi mơ hồ, “Ý tôi là, chuyện có tuyết hay không thực ra chẳng liên quan gì đến tôi cả, đúng không?”

“Uống cà phê đi.” Mr. Wednesday nói, “Hàng đểu đấy, nhưng có thể làm dịu cơn đau đầu.” Ông nói thêm một câu, “Làm tốt lắm!”

Mr. Wednesday thanh toán cho nhân viên cửa hàng Kinko’s, rồi mang theo biển báo, thư từ và danh thiếp ra ngoài. Ông mở cốp xe, đặt giấy tờ vào một chiếc hộp sắt màu đen lớn, rất giống loại hộp mà nhân viên bảo vệ ngân hàng thường mang theo. Mr. Wednesday đóng cốp xe, đưa cho Cái Bóng một tấm danh thiếp.

“A. Haydock, Giám đốc An ninh của Công ty Dịch vụ Bảo an A1?” Cái Bóng tò mò hỏi, “Người này là ai?”

“Chính là cậu đấy.”

“A. Haydock?”

“Đúng vậy.”

“A là viết tắt của cái gì?”

“Alfredo? Alfonso? August? Ambrose? Tùy cậu thôi.”

“Ồ, hiểu rồi.”

“Tên tôi là James O’Gorman,” Mr. Wednesday nói, “bạn bè gọi tôi là Jamie. Nhìn này, tôi cũng có một tấm danh thiếp.”

Họ quay lại xe. Mr. Wednesday nói: “Nếu cậu có thể tưởng tượng một cách nghiêm túc về ‘A. Haydock’ giống như tưởng tượng cảnh tuyết rơi, chúng ta sẽ sớm kiếm được rất nhiều tiền đáng yêu, đủ để mời bạn bè tôi đi uống rượu ăn tối vào tối nay.”

“Tôi không muốn bị tống vào tù lần nữa đâu.”

“Cậu sẽ không bị bắt đâu.”

“Chúng ta đã đạt được thỏa thuận là không để tôi làm chuyện phạm pháp rồi mà.”

“Sẽ không để cậu làm đâu. Chỉ cần cậu giúp tôi một việc nhỏ, tham gia vào một chút hoạt động tội phạm, rồi là có thể chia số tiền trộm được. Cứ tin tôi đi, đảm bảo cậu vẫn thuần khiết như một đóa hoa hồng, không có vấn đề gì cả.”

“Không có vấn đề gì? Ý ông là trước hay sau khi lão bạn già người Slav kia đập nát đầu tôi?”

“Thị lực của ông ta không còn tốt nữa.” Mr. Wednesday nói, “Có khi ông ta chẳng đánh trúng cậu đâu. Bây giờ là thứ Bảy, ngân hàng trưa nay mới đóng cửa, chúng ta vẫn còn một chút thời gian dư thừa cần giết. Cậu muốn ăn trưa không?”

“Muốn,” Cái Bóng nói, “đói sắp chết rồi.”

“Tôi biết một nơi tốt.” Mr. Wednesday nói. Ông vừa lái xe vừa ngân nga một giai điệu, âm điệu rất nhẹ nhàng, nhưng Cái Bóng không nghe ra đó là khúc nhạc gì. Bông tuyết rơi lả tả, hệt như những gì Cái Bóng vừa tưởng tượng, khiến cậu nảy sinh một cảm giác tự hào kỳ lạ. Xét từ góc độ lý trí, cậu tất nhiên biết mình tuyệt đối không thể kiểm soát việc tuyết rơi, cũng như biết đồng bạc trong túi tuyệt đối không phải do mặt trăng biến thành. Nhưng nói đi cũng phải nói lại…

Họ đỗ xe trước một tòa nhà lớn như túp lều. Một tấm biển ghi rất rõ ràng, chỉ cần 4.99 đô la, muốn ăn bao nhiêu tùy thích. “Tôi yêu nơi này.” Mr. Wednesday nói.

“Đồ ăn rất ngon sao?” Cái Bóng hỏi.

“Không phải.” Mr. Wednesday nói, “Nhưng bầu không khí ở đây tuyệt vời lắm, cậu nhất định không được bỏ lỡ.”

Cái Bóng gọi món gà rán, cảm thấy vị rất tuyệt. Ăn xong cậu mới hiểu, cái gọi là bầu không khí mà Mr. Wednesday thích, hóa ra là chỉ công việc kinh doanh nằm ở phía bên kia tòa nhà. Nhìn vào tấm áp phích lớn treo ngang phòng, đây là một kho hàng chuyên bán các loại tài sản thế chấp thanh lý phá sản.

Mr. Wednesday quay lại phía chiếc xe, mang theo một chiếc vali. Ông xách chiếc vali vào nhà vệ sinh nam. Cái Bóng nghĩ thầm, dù cậu có muốn hay không, chẳng bao lâu nữa cậu sẽ biết rốt cuộc Mr. Wednesday có ý định gì. Thế là, cậu không đi theo vào nhà vệ sinh, chỉ dạo quanh các kệ hàng thanh lý, xem xét những món hàng đang bán: những hộp cà phê ghi “Chỉ dùng trên máy bay”; đồ chơi Ninja Rùa và mô hình công chúa She-Ra cho trẻ tuổi teen; gấu Teddy biết phát ra bài hát yêu nước khi bật công tắc; thịt đóng hộp; ủng cao su và các loại giày đi mưa khác; kẹo dẻo trái cây; đồng hồ in hình Bill Clinton; cây thông Noel mini có trang trí; lọ muối và tiêu làm hình động vật; ma-nơ-canh; trái cây; tượng nữ tu; và cả bộ dụng cụ làm người tuyết mà Cái Bóng thích nhất, “Bạn chỉ cần thêm một chút tuyết và trí tưởng tượng!”. Bên trong thậm chí còn có những con mắt bằng nhựa, những chiếc mũi và những chiếc nút bằng nhựa đã làm sẵn.

Điều Cái Bóng đang suy nghĩ trong lòng là, làm sao khiến người ta cảm thấy có thể hái mặt trăng từ trên trời xuống, biến thành một đồng bạc một đô la – kỹ thuật này rốt cuộc chơi như thế nào. Và điều gì đã khiến một người phụ nữ đã chết trèo từ trong mộ ra, còn đi xuyên qua cả thị trấn để nói chuyện với mọi người.

“Nơi này tuyệt lắm phải không?” Mr. Wednesday bước ra từ nhà vệ sinh. Tay vẫn còn ướt, ông lau khô bằng khăn tay. “Bên trong hết khăn giấy rồi.” Ông giải thích. Ông đã thay một bộ quần áo. Bây giờ ông mặc một chiếc áo khoác màu xanh sẫm và chiếc quần cùng tông, cà vạt đan màu xanh, cùng một chiếc áo len dày màu xanh, sơ mi trắng, giày đen. Trông giống một nhân viên bảo vệ. Cái Bóng nói cho ông biết suy nghĩ của mình.

“Tôi còn có thể nói gì nữa đây, chàng trai trẻ?” Mr. Wednesday nói, cầm lấy một con cá vàng làm bằng nhựa nổi đang để trong bể cá, (“Sẽ không phai màu, cũng không cần cậu cho ăn.”), “Chỉ có thể chúc mừng con mắt tinh tường của cậu thôi. Cậu thấy cái tên Arthur Haydock thế nào? Arthur là một cái tên không tệ.”

“Quá tầm thường.”

“Này, vậy thì cậu tự nghĩ một cái đi. Được rồi, chúng ta quay lại thành phố thôi. Bây giờ đúng là thời điểm tuyệt vời để cướp ngân hàng, rồi tôi sẽ có chút tiền tiêu vặt thoải mái.”

“Hầu hết mọi người,” Cái Bóng nói, “đều rút tiền một cách đàng hoàng từ cây ATM.”

“Lạ thật, đây chính là dự định của tôi – gần như là vậy.” Mr. Wednesday đỗ xe ở bãi đỗ xe của siêu thị đối diện con phố nơi có ngân hàng, lấy từ cốp xe ra cái hộp sắt, một tấm kẹp giấy và một còng tay. Ông treo còng tay lên thắt lưng bên trái. Tuyết vẫn đang rơi, ông đội một chiếc mũ màu xanh có vành, treo một thẻ nhận dạng bằng ni-lông vào túi trước ngực áo khoác. Trên mũ và thẻ nhận dạng đều viết Công ty Dịch vụ Bảo an A1. Ông kẹp phiếu gửi tiền vào tấm kẹp giấy. Sau đó, cả người ông đột nhiên lười biếng hẳn đi, trông chẳng khác nào một viên tuần cảnh đã nghỉ hưu. Không hiểu sao, lại còn lộ ra cái bụng bia.

“Bây giờ,” ông nói, “cậu ra quầy thực phẩm siêu thị mua chút đồ, rồi đứng chờ cạnh điện thoại. Nếu có ai hỏi, cậu cứ nói là đang đợi điện thoại của bạn gái, xe cô ấy bị hỏng giữa đường rồi.”

“Nhưng tại sao cô ấy lại phải gọi cho tôi ở đây?”

“Quỷ tha ma bắt, làm sao tôi biết được.” Mr. Wednesday đeo một đôi bịt tai màu hồng đã bạc màu, đóng cốp xe lại. Bông tuyết rơi trên chiếc mũ và đôi bịt tai màu xanh đen của ông.

“Trông tôi thế nào?” Ông hỏi.

“Rất nực cười.” Cái Bóng thành thật nói.

“Nực cười?”

“Hoặc là nói hơi ngốc nghếch chút.” Cái Bóng nói.

“Ồ, ngốc nghếch, nực cười. Rất tốt.” Mr. Wednesday cười lên. Đôi bịt tai khiến ông trông rất đáng tin, đồng thời lại ngốc nghếch đáng yêu. Ông sải bước qua đường, đi dọc theo lề đường đến cửa ngân hàng. Cái Bóng bước vào siêu thị, bắt đầu xem màn biểu diễn của ông.

Mr. Wednesday treo một tấm biển “Đang hỏng” màu đỏ nổi bật lên cây ATM, quấn một dải băng đỏ bên ngoài chỗ gửi tiền ban đêm, dán lên đó một tờ thông báo vừa in ra. Cái Bóng nhìn đầy hứng thú.

Trên biển viết: “Đang bảo trì nâng cấp để phục vụ quý khách tốt hơn. Xin lỗi vì sự bất tiện tạm thời này.” Mr. Wednesday quay người, đối mặt với đường phố đứng đó. Ông trông rất lạnh, như một nhân viên bảo vệ cấp thấp.

Một người phụ nữ trẻ đi qua định dùng máy ATM, Mr. Wednesday lắc đầu, giải thích rằng máy hỏng rồi. Cô ấy chửi thề một câu, rồi lập tức xin lỗi, bỏ đi.

Một chiếc xe đỗ lại, một người đàn ông cầm một túi tiền nhỏ màu xám và một chiếc chìa khóa bước ra. Cái Bóng nhìn thấy Mr. Wednesday xin lỗi anh ta, để anh ta ký tên lên tấm kẹp giấy, kiểm tra phiếu gửi tiền của anh ta, khá vất vả mới viết xong một tờ biên nhận, rồi cất bản sao đi. Cuối cùng, ông mở chiếc hộp sắt màu đen của mình ra, bỏ túi tiền của người đàn ông đó vào.

Người đàn ông run cầm cập trong gió tuyết, dậm chân liên tục, sốt ruột chờ đợi lão bảo vệ này hoàn thành xong bộ quy trình vô nghĩa đó, như vậy anh ta mới có thể gửi số tiền mình chuẩn bị, thoát khỏi cái lạnh, vội vã rời đi. Vừa nhận được biên nhận tiền gửi, anh ta lập tức chui vào xe, rời khỏi đó.

Mr. Wednesday mang chiếc hộp sắt băng qua đường đi tới, mua một cốc cà phê nóng trong siêu thị.

“Chào buổi chiều, chàng trai trẻ.” Khi đi ngang qua Cái Bóng, ông cười với cậu như một ông chú, “Thời tiết lạnh thật đấy.” Ông quay lại phía bên kia đường, nhận lấy những túi tiền hoặc phong bì màu xám đựng tiền từ tay mọi người. Chiều thứ Bảy, chính là lúc mọi người đem doanh thu cả ngày hoặc tiền lương cả tuần của mình vào ngân hàng gửi, mà ông lại là một lão bảo vệ làm việc nghiêm túc có trách nhiệm, mặc dù đeo đôi bịt tai màu hồng nực cười.

Cái Bóng mua vài tờ tạp chí để đọc, “Thợ săn gà tây”, “Nhân vật”, và cả “Tuần báo tin tức thế giới” – lý do là vì bức ảnh đáng yêu về con quái vật chân to trên bìa – rồi tiếp tục nhìn ra ngoài cửa sổ.

“Có cần giúp gì không?” một người đàn ông trung niên da đen hỏi cậu, có lẽ là quản lý ở đây.

“Cảm ơn anh bạn, không cần đâu. Tôi đang đợi một cuộc điện thoại. Xe bạn gái tôi bị hỏng giữa đường.”

“Có thể là vấn đề của ắc quy xe.” Người đó nói, “Cái thứ đó thời hạn hiệu lực chỉ có 3 năm, hoặc 4 năm, nhưng người ta cứ hay quên. Mấy kẻ bán xe này, lắp một chiếc ắc quy tốt thì tốn thêm của họ bao nhiêu tiền chứ!”

“Đúng vậy.” Cái Bóng nói.

“Cứ đợi ở đây đi, chàng trai to con.” Người quản lý bỏ đi.

Tuyết lớn biến cảnh quan đường phố thành một thế giới trong quả cầu tuyết trong suốt, từng chi tiết đều sống động như thật.

Cái Bóng thưởng thức, bị cảm động sâu sắc. Cậu không nghe thấy tiếng nói chuyện bên kia đường, cảm giác như đang xem một bộ phim câm thời kỳ cũ. Một màn kịch câm, nhưng biểu cảm sống động, nhìn rõ mồn một: Lão bảo vệ là một gã hơi thô lỗ, nhưng nghiêm túc nhiệt tình, hơi làm màu, nhưng hoàn toàn là vì thiện ý. Mọi người đều giao tiền của mình cho ông, rồi bỏ đi, cảm thấy vui vẻ hơn một chút vì đã quen biết ông.

Ngay lúc này, xe cảnh sát xuất hiện trước cửa ngân hàng. Tim Cái Bóng chùng xuống. Mr. Wednesday nâng mũ về phía cảnh sát, chậm rãi đi đến bên cạnh xe cảnh sát. Ông chào hỏi, thò tay vào cửa kính đang mở để bắt tay cảnh sát, gật đầu, rồi lục lọi một hồi trong túi áo, tìm ra một tấm danh thiếp và một bức thư, đưa cho cảnh sát trong xe. Cuối cùng, ông chậm rãi nhấp một ngụm cà phê.

Điện thoại vang lên, Cái Bóng nhấc ống nghe, cố gắng để giọng mình nghe thật chán chường phiền muộn. “Công ty bảo vệ A1.” Cậu nói vào điện thoại.

“Tôi có thể nói chuyện với ông A. Haydock không?” Cảnh sát bên kia đường hỏi trong điện thoại.

“Tôi chính là Andy Haydock. Xin mời nói.” Cái Bóng nói.

“Ông Haydock, chúng tôi là cảnh sát.” Cảnh sát trong xe cảnh sát bên kia đường tiếp tục nói, “Có phải các ông sắp xếp một nhân viên bảo vệ trước cửa Ngân hàng Đệ nhất Illinois, ngay góc đường Market và Second không?”

“Ồ, đúng vậy. Là Jamie O’Gorman. Có vấn đề gì không, cảnh sát trưởng? Jamie vẫn giữ quy tắc chứ? Không say xỉn chứ?”

“Không vấn đề gì, thưa ông. Người của ông biểu hiện rất tốt, thưa ông. Chúng tôi chỉ muốn xác nhận mọi thứ bình thường.”

“Phiền anh nhắn lại với Jamie, nếu còn phát hiện cậu ta uống rượu trong giờ làm việc, thưa sĩ quan, cậu ta sẽ bị sa thải. Công việc bay màu, để nó cút đi. Yêu cầu của Công ty Dịch vụ Bảo an A1 chúng tôi là vô cùng nghiêm ngặt.”

“Những lời này e là không nên để tôi nói với cậu ấy, thưa ông. Cậu ấy làm việc tốt lắm. Sở dĩ chúng tôi quan tâm đến chuyện này là vì công việc này thông thường cần hai bảo vệ cùng làm. Hiện tại thế này quá nguy hiểm, một nhân viên bảo vệ không vũ khí, đơn độc xử lý số tiền lớn như vậy.”

“Nói với tôi cũng vô ích, hãy nói với mấy gã keo kiệt ở Ngân hàng Đệ nhất Illinois ấy. Người tôi đặt ở vị trí đó đều là những người xuất sắc nhất. Xuất sắc giống như anh vậy.”

Cái Bóng phát hiện mình bắt đầu làm quen dần với nhân vật mình đang đóng, cậu thậm chí cảm thấy mình thực sự đã trở thành Andy Haydock: cậu dập tắt điếu thuốc rẻ tiền trong gạt tàn, dù là chiều thứ Bảy nhưng vẫn có một đống tài liệu chờ xử lý; nhà anh ta ở thị trấn Schaumburg, vẫn nuôi một nhân tình trong căn hộ nhỏ ven hồ. “Anh biết không, nghe giọng anh đúng là một chàng trai trẻ thông minh, sĩ quan, anh…”

“Tôi tên là Myerson.”

“Sĩ quan Myerson. Nếu anh cần một công việc làm thêm cuối tuần, hoặc chờ sau khi anh rời khỏi cảnh đội, bất kể lý do rời chức là gì, anh đều có thể gọi cho tôi. Chúng tôi luôn cần nhân tài xuất sắc. Anh có danh thiếp của tôi chưa?”

“Có rồi, thưa ông.”

“Giữ tấm danh thiếp đó,” Andy Haydock giả mạo nói, “nhớ gọi cho tôi.”

Xe cảnh sát rời đi, Mr. Wednesday lại đội tuyết quay về vị trí, tiếp tục đối phó với những người xếp hàng chờ đợi nộp tiền của mình cho ông.

“Cô ấy vẫn ổn chứ?” Quản lý siêu thị thò đầu ra từ trong cửa hàng, quan tâm hỏi, “Bạn gái cậu ấy?”

“Thật sự là lỗi ắc quy,” Cái Bóng nói, “tôi vẫn phải đợi tiếp.”

“Đàn bà.” Người quản lý thở dài một tiếng, “Hy vọng người phụ nữ của cậu xứng đáng để cậu đợi.”

Đêm đông đến đặc biệt sớm, ánh sáng buổi chiều vụt biến mất, sắc trời dần chuyển sang xám tối, đèn đường bắt đầu sáng lên. Thêm nhiều người giao tiền lương cả tuần của mình cho Mr. Wednesday. Đột nhiên, như thể nhận được tín hiệu nào đó mà Cái Bóng không nhìn thấy, Mr. Wednesday đi về phía bức tường, dỡ tấm biển “Đang hỏng” xuống, di chuyển khá khó khăn qua mặt đường lầy lội, đi về phía bãi đỗ xe. Cái Bóng đợi tại chỗ một phút, rồi đi theo sau.

Mr. Wednesday đã ngồi trong hàng ghế sau của chiếc xe, ông mở hộp kim loại, đang phân loại từng món đồ bên trong rồi đặt lên ghế sau.

“Lái xe.” Ông ra lệnh, “Đến Ngân hàng Đệ nhất Illinois ở đại lộ Bang.”

“Diễn thêm lần nữa?” Cái Bóng hỏi, “Có quá đà không? Ngộ nhỡ vận may xoay chiều thì sao?”

“Không phải.” Mr. Wednesday nói, “Chúng ta đi làm chút thủ tục ngân hàng.”

Khi Cái Bóng lái xe, Mr. Wednesday ngồi ở ghế sau, lấy tiền mặt ra từ đống túi gửi tiền dày cộm, biên nhận vẫn để lại trong túi. Ông lấy tiền mặt từ phong bì ra, đặt lại vào hộp kim loại. Cái Bóng đỗ xe cách lề đường 50 thước trước cửa ngân hàng, tránh phạm vi giám sát của camera giám sát. Mr. Wednesday xuống xe, nhét phong bì vào khe gửi tiền ban đêm. Ông mở cửa an toàn của ngân hàng ban đêm, ném túi tiền màu xám vào trong, rồi đóng cửa lại.

Ông trèo vào xe ngồi ở ghế phụ.

“Đi quốc lộ I-90,” Mr. Wednesday nói, “đi dọc theo biển báo đường đến phía Tây Madison.” Cái Bóng bắt đầu lái xe.

Khi họ rời đi, Mr. Wednesday quay đầu nhìn ngân hàng phía sau. “Nhìn này, cậu nhóc,” ông vui vẻ nói, “mánh này sẽ khiến bọn họ lú lẫn hết cả. Nhưng muốn thực sự kiếm được số tiền lớn, cậu phải làm việc này vào lúc 4:30 sáng Chủ Nhật. Lúc đó, tất cả các hộp đêm và quán bar vừa mới chốt sổ doanh thu đêm cuối tuần của họ xong. Chỉ cần chọn đúng ngân hàng, để mắt đến mấy gã mang theo số tiền khổng lồ – những người này thường là mấy gã béo tốt chân chất, đôi khi còn mang theo vài vệ sĩ, nhưng đều chẳng phải kẻ thông minh nhạy bén gì – một đêm là có thể cướp đi hai ba trăm nghìn đô la.”

“Nếu thực sự dễ lấy như thế,” Cái Bóng hỏi, “sao không thấy ai cũng làm thế này?”

“Vì đây không phải là công việc không rủi ro,” Mr. Wednesday nói, “đặc biệt là vào lúc 4:30 sáng.”

“Ông muốn nói là cảnh sát đặc biệt cảnh giác vào lúc 4:30 sáng?”

“Không phải đâu. Nhưng vệ sĩ sẽ đặc biệt cẩn thận, cho nên mọi chuyện có thể trở nên rất khó giải quyết.” Ông đếm ra một xấp tiền 50 đô la, cộng thêm một xấp nhỏ 20 đô la, cân nhắc trọng lượng trong tay, đưa cho Cái Bóng. “Cho cậu,” ông nói, “đây là tiền lương tuần đầu tiên của cậu.”

Cái Bóng không đếm, trực tiếp nhét tiền vào túi. “Vậy ra, đây là công việc của ông, ông kiếm tiền bằng cách này?” Cậu hỏi.

“Tôi hiếm khi làm thế này, trừ khi cần kiếm một số tiền lớn trong thời gian rất ngắn. Nói chung, tôi luôn lừa tiền từ những kẻ hoàn toàn không biết mình bị lừa. Loại người này không bao giờ than phiền, đợi lần tới khi cậu lừa họ, họ vẫn sẽ ngoan ngoãn xếp hàng chờ đợi cậu.”

“Gã tên Sweeney đó nói ông là một kẻ lừa đảo.”

“Hắn nói đúng. Nhưng tôi không chỉ là một kẻ lừa đảo, tôi cần cậu cũng không chỉ để làm việc này, Cái Bóng ạ.”

Họ lái xe đi tới trong bóng tối, những bông tuyết bay múa dưới chùm sáng đèn pha, lao thẳng về phía kính chắn gió. Cảnh tượng này có một sức mạnh thôi miên.

“Trên thế giới chỉ có quốc gia này,” Mr. Wednesday đột nhiên phá vỡ sự tĩnh lặng, lên tiếng, “quan tâm đến việc chính nó là gì.”

“Cái gì?”

“Các quốc gia khác đều biết mình là gì. Không ai đi khám phá tâm hồn của Na Uy, hay linh hồn của Mozambique cả. Chúng biết chúng là gì.”

“Ý ông là…?”

“Chỉ là nghĩ ra tiếng thôi.”

“Ông chắc chắn đã đến nhiều quốc gia rồi?”

Mr. Wednesday không nói gì, Cái Bóng nhìn ông.

“Không,” Mr. Wednesday thở dài, “tôi chưa từng đến quốc gia nào khác.”

Họ dừng lại ở trạm xăng để đổ xăng. Mr. Wednesday mặc bộ đồ bảo vệ, xách chiếc vali chui vào nhà vệ sinh. Sau khi bước ra, ông đã thay một bộ vest màu xám thẳng thớm, dưới chân là giày da màu nâu, còn có một chiếc áo khoác màu nâu dài đến đầu gối, trông như hàng Ý.

“Sau khi đến Madison thì làm gì?”

“Đi đường cao tốc 14 về phía Tây đến Spring Green. Chúng ta phải gặp những người khác ở một nơi gọi là Nhà trên Vách đá. Cậu đã đến đó chưa?”

“Chưa.” Cái Bóng nói, “Nhưng tôi đã thấy biển báo chỉ đường đến đó.”

Ở nước Mỹ này, các biển báo dẫn đến Nhà trên Vách đá có ở khắp mọi nơi, lòng vòng, khó hiểu. Illinois, Minnesota, Wisconsin, đều có loại biển báo này, Cái Bóng đoán ngay cả ở xa tận Iowa cũng có. Chúng nói cho cậu biết có một nơi tên là Nhà trên Vách đá tồn tại. Cái Bóng nhìn biển chỉ dẫn, cảm thấy vô cùng hiếu kỳ. Ngôi nhà đó có thực sự chênh vênh đứng trên một vách đá không? Vách đá đó rốt cuộc có gì thú vị? Còn ngôi nhà đó nữa? Trước đây cậu cũng từng nghĩ đến, nhưng ngay lập tức vứt nó ra sau đầu. Cậu vốn không có hứng thú tham quan những cái gọi là điểm du lịch ven đường này.

Họ rời khỏi đường cao tốc liên bang của Madison, lái xe qua tòa nhà thủ phủ có mái vòm tròn (lại là một thế giới trong quả cầu tuyết chân thực). Sau đó họ lái xuống đường cao tốc liên bang, rẽ vào đường thị trấn. Lái xe gần một tiếng đồng hồ, đi qua vài thị trấn nhỏ có cái tên kiểu như “đất đen”, rồi rẽ vào một con đường hẹp, đi qua vài bồn hoa lớn, phủ đầy tuyết trắng, phía trên cuộn những con rồng giống như thằn lằn. Bãi đỗ xe cạnh rừng cây hầu như trống không.

“Bọn họ sắp đóng cửa rồi.” Mr. Wednesday nói.

“Nơi này rốt cuộc là thứ gì?” Cái Bóng hỏi. Họ đi xuyên qua bãi đỗ xe, đi về phía một tòa nhà bằng gỗ thấp, không mấy nổi bật.

“Đây là một điểm du lịch được dựng lên ven đường, thu hút người ta đến tham quan,” Mr. Wednesday nói, “tốt nhất trong cả nước Mỹ. Nói cách khác, nó là một nơi tràn đầy sức mạnh.”

“Nói lại lần nữa xem?”

“Rất đơn giản,” Mr. Wednesday nói, “ở các quốc gia khác, sau bao nhiêu năm, con người chỉ cần liếc mắt là nhận ra những nơi sở hữu sức mạnh thần kỳ. Có khi có thể là một nơi hình thành tự nhiên, có khi là một sự tồn tại đặc biệt. Mọi người biết ở đó chắc chắn từng xảy ra chuyện gì quan trọng, chúng là tiêu điểm, là kênh dẫn, hoặc là một cánh cửa sổ, dẫn đến vị thần vô sở bất tại. Thế là, họ xây dựng đền thờ, hoặc nhà thờ ở những nơi này, hoặc dựng lên những vòng tròn đá, hoặc… này, cậu hiểu ý tôi rồi chứ?”

“Nước Mỹ cũng vậy mà, khắp nơi trên toàn quốc đều có nhà thờ.” Cái Bóng nói.

“Đúng, không chỉ mỗi làng mỗi thị trấn đều có, đôi khi ngay cả mỗi con phố đều có. Nhưng nếu nói đến việc nổi bật, gây chú ý, chúng ở cùng một cấp độ với phòng khám nha sĩ. Tuy nhiên, ở nước Mỹ, vẫn có người cảm thấy mình nhận được sự cảm triệu, cảm thấy trong hư không siêu thoát phàm tục có tiếng nói đang triệu gọi mình. Để đáp lại sự triệu gọi này, họ dựng lên một kiến trúc kỳ quái, hình dáng giống như một cái chai bia ở những nơi mà họ chưa từng đặt chân đến, hoặc dựng lên một ngôi nhà dơi khổng lồ mà lũ dơi ít có khả năng trú ngụ. Đây chính là các điểm du lịch ven đường. Du khách chỉ cảm thấy một loại sức mạnh nào đó thu hút mình đến nơi này, tham quan nơi này. Nếu là bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới, mọi người sẽ lập tức biết, một loại sức mạnh siêu thoát phàm tục đã chạm đến mình. Còn ở nước Mỹ, du khách chỉ mua một que kem nóng rồi đi dạo, nhìn xung quanh. Từ góc độ này mà nói, họ cảm nhận được một loại sức mạnh mà chính họ cũng không thể miêu tả; từ góc độ khác mà nói, họ lại cảm thấy một loại sự trống rỗng mà không thể giải thích!”

“Ông đúng là có những lý thuyết kỳ quái khác người.” Cái Bóng nói.

“Đây không phải lý thuyết kỳ quái gì đâu, chàng trai trẻ.” Mr. Wednesday nói, “Chẳng bao lâu nữa, chính cậu sẽ hiểu thôi.”

Cửa bán vé chỉ còn một quầy mở. “Còn nửa tiếng nữa chúng tôi ngừng bán vé,” cô gái bán vé nói, “anh biết đấy, muốn đi dạo một vòng bên trong, ít nhất cần hai tiếng đồng hồ.” Mr. Wednesday dùng tiền mặt mua vé cho cả hai.

“Vách đá ở đâu?” Cái Bóng hỏi.

“Ở dưới ngôi nhà.” Mr. Wednesday trả lời.

“Vậy ngôi nhà lại ở đâu?”

Mr. Wednesday đặt ngón tay lên môi, hai người đi về phía trước. Đi vào bên trong không bao xa, liền nhìn thấy một chiếc đàn piano tự động đang chơi một bản nhạc, hơi lạc điệu, đoán chừng hẳn là một điệu Polka Tây Ban Nha nhẹ nhàng. Nơi này trông giống ký túc xá nam độc thân thập niên 60, chỉ là có sự thay đổi to lớn về cấu trúc hình học. Bên trong có đồ thủ công bằng đá, những đống chăn, những chụp đèn thủy tinh màu phai nhạt hình nấm khổng lồ và xấu xí. Phía trên cầu thang hình xoắn ốc còn có một căn phòng khác nhồi nhét đầy những món đồ nhỏ.

“Nghe nói đây là do ông Frank Lloyd Wrong xây dựng, người này là anh em sinh đôi độc ác của ông Frank Lloyd Right.” Mr. Wednesday cười khúc khích vì trò đùa của chính mình.

“Tôi từng thấy nơi này trên một chiếc áo phông.” Cái Bóng nói.

Sau khi lên lên xuống xuống qua rất nhiều bậc thang, họ đi đến một căn phòng hình chữ nhật dài, tất cả đều được xây bằng thủy tinh, căn phòng nhô ra ngoài, giống như một mũi kim đâm ra, bên dưới vài trăm thước là vùng hoang dã đen trắng xen kẽ. Cái Bóng đứng đó, nhìn ra bên ngoài tuyết rơi bay đầy trời.

“Đây là Nhà trên Vách đá?” Cậu mơ hồ hỏi.

“Coi là vậy đi. Đây là ‘Ngôi nhà Cực hạn’, là một phần của Nhà trên Vách đá, nhưng là xây thêm sau này. Người bạn trẻ của tôi, ngôi nhà đá này, chúng ta còn chưa chạm được đến một góc của nó đâu.”

“Tôi nhớ đến lý thuyết ông vừa nói.” Cái Bóng nói, “Theo cách nói của ông, thì Disney World chính là nơi linh thiêng nhất của quốc gia này rồi?”

Mr. Wednesday nhíu mày, gãi râu. “Walt Disney đã mua một mảnh rừng cam ở miền Trung Florida, xây dựng nên một thế giới giải trí trên đó. Nơi đó không có bất kỳ ma lực nào cả. Disney World ban đầu chắc còn chút đồ thật, chút sức mạnh nào đó có lẽ được bảo lưu lại, chỉ là đã bị bóp méo rất nhiều, khiến người ta rất khó tiếp cận. Xét cho cùng, rất nhiều nơi ở Florida đều có ma lực thực sự, chỉ cần mở mắt ra là có thể thấy. À, đằng kia có tiên cá… đi theo tôi, đi hướng này.”

Ở đâu cũng có âm nhạc: âm nhạc chói tai, khó nghe, bộ gõ rất nhẹ và âm nhạc cũ kỹ lỗi thời. Mr. Wednesday lấy ra một tờ năm đô la, nhét vào máy đổi tiền, đổi ra một nắm đồng xu kim loại màu đồng. Ông nhét cho Cái Bóng một đồng. Cái Bóng nhận lấy, phát hiện một cậu bé đang chăm chú nhìn mình, bèn đặt đồng xu kim loại vào giữa ngón cái và ngón trỏ, loáng cái làm nó biến mất. Cậu bé chạy đến bên cạnh mẹ, kéo mạnh vạt áo khoác của mẹ. Nhưng mẹ cậu đang soi xét một bức tượng ông già Noel có mặt ở khắp nơi tại đây, trên đó viết: Địa điểm này trưng bày số lượng vượt quá 6000 cái.

Cái Bóng theo Mr. Wednesday đi ra ngoài, dọc theo biển báo đi đến “Phố ngày hôm qua”.

“Bốn mươi năm trước, Alex Jordan – khuôn mặt của ông ta được in trên đồng xu kim loại trong tay phải của cậu đấy, Cái Bóng – bắt đầu xây dựng nhà trên một vách đá cao ngất. Nơi này không thuộc về ông ta. Ngay cả bản thân ông ta cũng không thể nói cho cậu biết tại sao ông ta lại làm vậy. Mọi người chạy đến xem ông ta xây nhà – những người tò mò, những người khó hiểu, và một loại người khác: không tò mò, cũng không khó hiểu, và tuyệt đối không thể nói cho cậu biết lý do họ đến xem là gì. Thế là, ông ta đã làm điều mà bất kỳ người Mỹ lý trí sáng suốt nào trong thời đại của ông ta nên làm: ông ta bắt đầu thu phí du khách. Tất nhiên không đắt lắm, có thể chỉ cần năm xu, hoặc một hào. Ông ta tiếp tục mở rộng, người đến tham quan cũng ngày càng nhiều.

“Ông ta thu tiền vé năm xu, một hào đó, bắt đầu xây dựng một công trình lớn hơn, kỳ lạ hơn. Ông ta xây dựng nhà kho trong nền móng bên dưới ngôi nhà, bên trong bày đầy những món đồ để người ta tham quan, mà mọi người cũng thực sự đến. Hàng năm đều có hàng triệu người đến đây tham quan du lịch.”

“Tại sao?”

Mr. Wednesday chỉ mỉm cười, không trả lời. Họ bước vào “Phố ngày hôm qua” ánh đèn mờ mịt, hai bên là cây cối. Những con búp bê bằng sứ thời Victoria với đôi môi đỏ mọng ngồi từng hàng trong tủ kính cửa hàng đầy bụi bặm, nhìn ra phía họ, giống như đạo cụ trong phim kinh dị. Dưới chân họ dẫm trên đá cuội, trên đỉnh đầu là mái nhà tối tăm, bên tai còn có âm thanh nền âm nhạc chói tai. Họ đi ngang qua một chiếc hộp thủy tinh nhồi nhét đầy những con rối rách nát, đi qua một chiếc hộp nhạc vàng có màu sắc quá lòe loẹt được đặt trong hộp thủy tinh. Họ đi qua phòng khám nha sĩ và cửa hàng thuốc.

Cuối phố là một chiếc hộp thủy tinh khổng lồ, bên trong có một con rối nữ, ăn mặc như một phù thủy bói toán người Digan.

“Được rồi.” Mr. Wednesday nói lớn, âm thanh át cả âm nhạc, “Trước khi làm việc lớn, điều nên làm nhất chính là thỉnh giáo Nữ thần Vận mệnh Norns. Chúng ta giả định vị phù thủy này là Nữ thần Vận mệnh của chúng ta, thế nào?” Ông nhét một đồng xu kim loại màu đồng có in hình Nhà trên Vách đá vào khe nhét tiền. Máy móc chấn động, bắt đầu vận hành. Người phụ nữ Digan nâng cánh tay lên, rồi hạ xuống. Một mẩu giấy nhỏ bật ra từ khe nhét tiền.

Mr. Wednesday cầm lên nhìn một chút, lầm bầm một tiếng, gấp nó lại đặt vào túi.

“Không cho tôi xem lời tiên tri à? Tôi sẽ cho ông xem phần của tôi.” Cái Bóng nói.

“Tương lai của một người đàn ông là việc riêng của chính anh ta.” Mr. Wednesday nói với vẻ mặt cứng đờ, “Tôi sẽ không yêu cầu xem phần của cậu đâu.”

Cái Bóng nhét đồng xu kim loại vào khe nhét tiền, rồi nhận được mẩu giấy của mình. Trên đó viết:

Mỗi lần kết thúc đều là một khởi đầu mới.

Con số may mắn của bạn là không có

Màu sắc may mắn của bạn là cái chết

Châm ngôn: Cha nào con nấy.

Cái Bóng nhăn mặt. Cậu gấp tờ giấy lời tiên tri lại, đặt vào túi áo sát người.

Họ tiếp tục đi vào sâu bên trong, đi xuống một lối đi màu đỏ, đi qua nhiều căn phòng, bên trong bày những chiếc ghế trống, trên đó đặt các nhạc cụ. Tất cả nhạc cụ đều đang tự động chơi, hoặc trông giống như đang tự động chơi. Chỉ cần bạn bỏ vào một đồng xu, phím đàn sẽ được nhấn xuống, chũm chọe va chạm, không khí nén đi vào kèn clarinet và kèn oboe. Cái Bóng quan sát kỹ một chút, với niềm vui không mấy tốt lành, cậu phát hiện tay máy khi chơi nhạc cụ dây, dây cung không hề thực sự tiếp xúc với nhạc cụ, hoặc là còn cách một khoảng, hoặc là vị trí lệch lạc. Không biết âm thanh nhạc cậu nghe được thực sự là do những nhạc cụ này chơi ra, hay là băng ghi âm được phát lại.

Cảm giác như đã đi được vài cây số, họ đến một căn phòng tên là “Thiên hoàng Nhật Bản”. Một bức tường trong đó chất đầy những con ma-nơ-canh ăn mặc theo kiểu phương Đông thế kỷ 19 chỉ xuất hiện trong ác mộng, bên trong có những tay trống robot mặc giáp màu nâu đen như bọ cánh cứng, gõ chũm chọe và trống, đứng trên vị trí được trang trí bằng họa tiết rồng của họ, trừng mắt nhìn ra phía mọi người. Những con ma-nơ-canh đang chơi khúc nhạc dày vò thính giác “Vũ điệu của cái chết”.

Czernobog ngồi trên ghế dài, đối diện với robot Thiên hoàng. Ngón tay ông gõ nhẹ theo nhịp điệu âm nhạc. Tiếng sáo ồn ào, tiếng chuông chũm chọe chói tai.

Mr. Wednesday ngồi xuống bên cạnh ông ta, Cái Bóng quyết định mình tốt nhất vẫn nên tiếp tục đứng. Czernobog chìa tay trái ra, trước tiên bắt tay Mr. Wednesday, sau đó bắt tay Cái Bóng. “Rất vui được gặp hai người.” Nói xong, ông ta ngồi lại tiếp tục lắng nghe, trông có vẻ khá thưởng thức đoạn nhạc này.

“Vũ điệu của cái chết” đến cao trào như bão táp, tiến tới hồi kết trong tiếng nhạc không hòa hợp. Tất cả nhạc cụ đều lạc điệu nghiêm trọng, càng tăng thêm cảm giác của cõi âm. Sau đó, một khúc nhạc mới bắt đầu.

“Vụ cướp ngân hàng của ông tiến hành thế nào rồi?” Czernobog hỏi, “Tiến hành không tệ chứ?” Ông ta đứng dậy, hơi miễn cưỡng rời khỏi căn phòng “Thiên hoàng Nhật Bản” và thứ âm nhạc khó nghe gầm rú bên trong.

“Trôi chảy tự nhiên, như con rắn chui vào thùng bơ vậy.” Mr. Wednesday nói.

“Tôi có một khoản lương hưu ở lò mổ,” Czernobog nói, “tôi không có yêu cầu gì quá đáng cả.”

“Lương hưu không duy trì được bao lâu đâu,” Mr. Wednesday nói, “chẳng có gì là vĩnh hằng cả.”

Họ đi qua thêm nhiều hành lang, đi qua thêm nhiều máy nhạc tự động. Cái Bóng bắt đầu nhận ra họ không đi theo tuyến đường tham quan đã quy định, mà dường như đi theo một tuyến tham quan khác theo kế hoạch của riêng Mr. Wednesday. Họ đi xuống một con dốc, Cái Bóng bắt đầu trở nên mơ hồ, vì con đường này dường như từng đi qua rồi.

Czernobog đột nhiên túm lấy cánh tay Cái Bóng. “Nhanh lên, lại đây.” Ông ta nói rồi kéo cậu đến trước một tủ kính khổng lồ bên tường. Bên trong là một mô hình nổi, một kẻ lang thang nằm trong nghĩa trang nhà thờ trước cửa nhà thờ. “Ác mộng của kẻ say rượu”, nhãn dán trên đó giải thích, giải thích rằng đây là một chiếc máy xem bằng đồng xu thế kỷ 19, ban đầu được đặt ở một nhà ga xe lửa nào đó ở Anh. Khe nhét tiền được cải tạo, phù hợp để bỏ vào đồng xu kim loại màu đồng có hình Nhà trên Vách đá.

“Bỏ tiền vào đi.” Czernobog thúc giục.

“Tại sao?” Cái Bóng mơ hồ khó hiểu.

“Nghe tôi, cậu không xem cái này không được đâu.”

Cái Bóng nhét đồng xu vào. Kẻ say rượu nằm trong nghĩa địa bắt đầu nâng chai rượu lên, uống một ngụm. Một tấm bia mộ bật lên, xuất hiện một xác sống giơ hai tay ra. Một tấm bia mộ khác lật ra, bông hoa trước bia mộ biến thành đầu lâu đang mỉm cười. Một hồn ma xuất hiện bên phải nhà thờ, phía bên trái nhà thờ thì hiện ra một thứ có sừng nhọn và khuôn mặt chim chóc đáng lo ngại, chỉ chớp mắt đã biến mất. Một cái bóng xám trắng, một hồn ma chỉ xuất hiện trong ác mộng, lặng lẽ di chuyển từ bia mộ vào trong bóng tối, rồi biến mất. Ngay lúc này, cửa nhà thờ đột nhiên mở ra, mục sư bước ra. Hồn ma, bóng ma và xác sống trong nháy mắt biến mất sạch, trên nghĩa địa chỉ còn lại mục sư và kẻ say rượu. Mục sư khinh miệt nhìn thoáng qua kẻ say rượu, rồi quay vào phòng, cánh cửa phía sau ông ta đóng lại. Bây giờ chỉ còn lại một mình kẻ say rượu.

Câu chuyện được kể bằng cách vận hành dây cót này khiến người ta cực kỳ khó chịu. Quá khó chịu, Cái Bóng nghĩ, câu chuyện bắt đầu bằng dây cót không có quyền khiến người ta khó chịu đến thế này.

“Biết tại sao tôi cho cậu xem cái này không?” Czernobog hỏi.

“Không biết.” “Đây mới là thế giới, thế giới chân thực. Ở ngay đó, trong cái tủ kia.” Họ đi qua một căn phòng đỏ như máu, bên trong chật ních đàn organ ống dùng trong các rạp hát cũ và những ống đàn khổng lồ, trông như những thùng ủ rượu bằng đồng thau to lớn được mang từ nhà máy rượu tới.

“Chúng ta đi đâu vậy?” Cái Bóng hỏi.

“Phòng vòng quay ngựa gỗ,” Czernobog nói.

“Biển chỉ dẫn tới phòng vòng quay ngựa gỗ đã qua từ lâu rồi, đi qua bao nhiêu lần rồi mà.” “Họ đi đường của họ, chúng ta đi đường vòng. Đôi khi, đi đường vòng lại là cách nhanh nhất.” Chân Cái Bóng bắt đầu đau nhức, anh hoàn toàn không đồng tình với lời của Czernobog.

Ở căn phòng trên lầu, một cỗ máy tự động đang chơi bản “Vườn Bạch Tuộc”. Giữa phòng là mô hình một con vật khổng lồ giống cá voi đen, trong cái miệng bằng sợi thủy tinh khổng lồ đó còn có một mô hình con tàu, lớn bằng con tàu thật. Họ đi vòng qua bên cạnh, tiến đến “Sảnh Lữ Hành”. Ở đó có những chiếc xe làm bằng gạch men, cùng những mô hình chú gà do Rube Goldberg thiết kế, trên tường dán những tờ quảng cáo ố vàng của dao cạo râu Miến Điện.

Cuộc sống đầy gian nan, vất vả nhọc nhằn cả đời, giữ cho cằm sạch sẽ, không còn nỗi lo râu ria.

Dao cạo râu Miến Điện.

Còn có một câu quảng cáo: Anh ta dũng cảm gánh vác áp lực, hiểm lộ cũng phải khuất phục trước anh ta, chỉ những kẻ cùng dám gánh vác trách nhiệm mới là bạn hữu thực sự của anh ta.

Dao cạo râu Miến Điện. Họ đi tới cuối một con dốc, phía trước có một cửa hàng bán kem nhỏ. Cửa hàng kem vẫn chưa đóng cửa, cô gái đang lau bàn bên trong lại treo trên mặt vẻ biểu cảm “đã đóng cửa”, nên họ đành phải sang quán cà phê pizza bên cạnh. Quán cà phê vắng tanh, bên trong chỉ có một người đàn ông da đen luống tuổi, ông mặc một bộ đồ kẻ caro sáng màu, đeo đôi găng tay màu vàng nhạt. Lão già vóc người nhỏ thó, chính là kiểu ông già trông như thể bị thời gian trôi qua làm cho teo nhỏ lại. Ông đang ăn một chiếc kem sundaes khổng lồ chất đầy những viên kem, uống một cốc cà phê cỡ đại. Trong chiếc gạt tàn trước mặt ông còn có một điếu xì gà đen nhỏ đang cháy dở.

“Ba cốc cà phê.” Mr. Wednesday bảo Cái Bóng đi mua cà phê, còn mình thì vào nhà vệ sinh.

Cái Bóng mua cà phê xong, quay lại bên cạnh Czernobog. Czernobog đã ngồi cạnh ông lão da đen, lén lút hút thuốc, như thể sợ bị ai bắt gặp vậy. Ông lão da đen thì vui vẻ nghịch ngợm chiếc kem sundaes của mình, gần như quên mất điếu xì gà nhỏ. Nhưng ngay khi Cái Bóng xuất hiện, ông lập tức cầm lấy điếu xì gà, rít một hơi thật mạnh, rồi nhả ra hai vòng khói. Vòng khói đầu to hơn, vòng sau nhỏ hơn, vừa vặn xuyên qua vòng khói đầu tiên. Sau đó ông cười phá lên, đắc ý cực điểm.

“Cái Bóng, vị này là Ngài Nancy.” Czernobog giới thiệu.

Ông lão đứng dậy, chìa bàn tay phải đeo găng màu vàng nhạt ra. “Rất vui được biết cậu,” nụ cười của ông rất rạng rỡ, “Ta biết chắc chắn cậu chính là người đó. Cậu làm việc cho tên khốn một mắt già nua kia, đúng không?” Ông nói chuyện hơi có chút giọng mũi, có lẽ là giọng vùng Tây Ấn.

“Tôi làm việc cho Mr. Wednesday,” Cái Bóng nói, “Mời ông ngồi.” Czernobog tiếp tục hút thuốc.

“Ta cho rằng,” cuối cùng ông lên tiếng, giọng nói lộ vẻ chán nản, “loại người như chúng ta sở dĩ mê mẩn khói thuốc, chẳng qua là vì khói thuốc gợi chúng ta nhớ về những vật tế lễ họ từng đốt cho chúng ta. Ngày xưa, chỉ cần họ muốn cầu xin sự tán đồng của chúng ta, cầu xin sự vui lòng của chúng ta, khói hương sẽ cuộn lên nghi ngút.” “Họ chưa bao giờ cho ta thứ đó.” Ngài Nancy nói, “Cùng lắm chỉ là một đống trái cây tươi, hoặc là cà ri cừu, đồ uống mát lạnh, kèm theo một cô ả ngực bự làm bạn với ta.” Ông mỉm cười lộ hàm răng trắng, còn nháy mắt với Cái Bóng.

“Giờ thì mất sạch rồi,” Czernobog nói tiếp, vẫn đầy chán nản, “Chẳng còn gì cả.” “Chuyện này thì, trái cây bây giờ ta kiếm được hoàn toàn không thể so với ngày xưa,” Ngài Nancy nói, mắt ông lấp lánh, tràn đầy thần thái, “Nhưng chỉ cần có tiền, gái ngực bự vẫn kiếm được. Không gì tuyệt hơn gái ngực bự. Có kẻ sẽ nói, đàn bà mua bằng tiền chẳng ra gì. Nhưng ta nói cho cậu biết, vào buổi sáng lạnh giá, chỉ có gái ngực bự mới có thể khởi động cỗ máy này của ta.” Nancy cười lớn, cái kiểu cười khùng khục, vừa ho vừa hắng giọng, nhưng ông cười rất sảng khoái. Về lý trí, Cái Bóng nên ghét người này, nhưng anh lại nhận ra mình vô thức thích ông già này.

Mr. Wednesday từ nhà vệ sinh bước ra, bắt tay với Nancy. “Cái Bóng, con muốn ăn gì không? Làm miếng pizza, hay cái sandwich?” “Con không đói,” Cái Bóng nói.

“Để ta dạy con một chút nhé.” Ngài Nancy nói, “Giữa hai bữa ăn có thể sẽ cách nhau một khoảng thời gian rất dài. Nếu có người mời con ăn, nhất định phải nhớ đồng ý. Ta không còn trẻ nữa, nhưng ta có thể nói với con điều này: Đừng bao giờ nói “không” với cơ hội đi vệ sinh, ăn uống, hay chợp mắt nửa giờ. Hiểu ý ta không?” “Con hiểu, nhưng bây giờ con thật sự không đói.” “Con là một gã cao lớn,” Nancy nói, đôi mắt già nua màu nâu đỏ nhìn chằm chằm vào đôi mắt màu xám nhạt của Cái Bóng, “Một gã khổng lồ. Nhưng ta phải nói với con, trông con không thông minh lắm. Ta từng có một đứa con trai, nói về độ ngốc nghếch của nó, thì cứ như thể nó vơ vét tích trữ được cả đống khi có đợt đại hạ giá ngu ngốc mua một tặng hai vậy. Con làm ta nhớ đến nó.” “Nếu ông không phiền, tôi sẽ coi lời ông là lời khen,” Cái Bóng lịch sự nói.

“Khi ông trời phát não cho mọi người, con lại ngủ quên mất, không kịp nhận. Ta nói con ngốc, con lại coi là lời khen ư?” “Coi là lời khen, là vì ông so sánh tôi với người nhà của ông.” Ngài Nancy dập tắt điếu xì gà, phủi sạch đống tro bụi không hề tồn tại trên găng tay. “Nói như vậy, có lẽ con không phải là lựa chọn tệ nhất mà lão chột kia đưa ra.” Ông ngẩng đầu nhìn Mr. Wednesday, “Tối nay sẽ có bao nhiêu người của chúng ta đến, ông có biết chừng nào không?” “Ta đã gửi tin cho tất cả những người ta có thể tìm thấy.” Mr. Wednesday nói, “Rõ ràng là, không thể nào tất cả mọi người đều tới kịp. Còn một số khác,” ông liếc nhìn Czernobog một cái, “có lẽ căn bản không muốn tới. Nhưng ta tin rằng chúng ta có thể chắc chắn ít nhất vài chục người sẽ có mặt. Những chuyện bàn bạc sau khi gặp mặt sẽ được truyền đi thông qua họ.” Họ tiếp tục đi tới, băng qua một bộ giáp trưng bày (“Hàng giả thời Victoria.” Khi đi ngang qua bộ giáp trong tủ kính, Mr. Wednesday nói, “Hàng dỏm, mũ giáp thế kỷ 12 được sao chép vào thế kỷ 17, miếng đệm tay thế kỷ 15...”) Mr. Wednesday đẩy cửa thoát hiểm, dẫn họ đi vòng quanh bên ngoài tòa nhà. (“Thật không chịu nổi mấy cái cửa ra ra vào vào này,” Ngài Nancy phàn nàn, “Ta không còn trẻ như xưa nữa, ta đến từ vùng nhiệt đới mà.”) Họ đi dọc theo một lối đi có mái che, bước vào một cánh cửa khác. Họ đã tới phòng vòng quay ngựa gỗ.

Đàn organ ống đang tấu nhạc, là bản valse của Strauss, giai điệu nhẹ nhàng sôi nổi, thỉnh thoảng lại vọt ra một hai nốt nhạc chênh phô. Trên bức tường họ bước vào treo những con ngựa gỗ kiểu dáng cổ xưa, có tới hàng trăm con, vài con cần sơn lại, vài con cần lau chùi sạch sẽ. Phía trên ngựa gỗ là hàng chục thiên thần mọc cánh, dáng vẻ giống như những ma-nơ-canh trong cửa hàng, vài thiên thần để lộ bộ ngực mà người ta không phân biệt nổi giới tính, vài thiên thần đã mất cả tóc giả, đang đờ đẫn nhìn xuống dưới trong bóng tối.

Sau đó, họ nhìn thấy vòng quay ngựa gỗ đó.

Một tấm biển báo ghi rằng, đây là vòng quay ngựa gỗ quy mô lớn nhất thế giới: tổng trọng lượng là bao nhiêu, trên những chiếc đèn chùm kiểu Gothic treo bao nhiêu bóng đèn (hàng ngàn cái), cấm bất kỳ ai leo lên bệ của vòng quay, cấm cưỡi lên các con vật trên vòng quay.

Thật là những con vật kỳ lạ kỳ quái làm sao! Cái Bóng sững sờ nhìn, không khỏi bị thu hút. Hàng trăm con vật kích thước thật đang xoay chuyển trên mâm xoay của vòng quay ngựa gỗ. Có những con vật tồn tại trong thế giới thực, cũng có những con vật chỉ xuất hiện trong ảo tưởng, lại có những con vật là sự kết hợp của cả hai. Mỗi con vật đều khác biệt. Anh thấy người cá nữ và người cá nam, nhân mã và kỳ lân, voi (một con lớn và một con voi nhỏ), chó bun, ếch và phượng hoàng, còn có ngựa vằn, hổ, nhân sư và quái vật xà tinh, thiên nga kéo xe ngựa, bò trắng, cáo, cặp song sinh hải mã, thậm chí còn có cả rắn biển. Tất cả các con vật đều có màu sắc rực rỡ, trông như thật. Mỗi khi một bản valse kết thúc, một bản nhạc khác lập tức vang lên, vòng quay ngựa gỗ không ngừng xoay chuyển, tốc độ không hề giảm xuống. “Cái này dùng để làm gì?” Cái Bóng hỏi, “Ý tôi là, được rồi, đây là vòng quay ngựa gỗ lớn nhất thế giới, có hàng trăm loài vật, hàng ngàn bóng đèn, không ngừng xoay chuyển, mà lại chưa từng có ai cưỡi lên. Đã không cho cưỡi, thì nó dùng để làm gì?” “Nó không phải để cưỡi tùy tiện, không phải dành cho con người cưỡi,” Mr. Wednesday giải thích, “Nó ở đây, là để người ta tán dương nó, sùng bái nó. Nó có ma lực.” “Nó giống như một cái bánh xe cầu nguyện, cứ xoay mãi, xoay mãi,” Ngài Nancy bổ sung, “Dùng để tích tụ sức mạnh.”

“Vậy, chúng ta gặp những người khác ở đâu?” Cái Bóng hỏi tiếp, “Tôi nhớ ông nói là có thể gặp họ ở đây. Nhưng giờ nơi này trống không.” Mr. Wednesday lại lộ ra nụ cười đáng sợ của ông. “Cái Bóng,” ông cảnh cáo, “câu hỏi của con quá nhiều rồi. Ta trả tiền lương cho con không phải để con tới đây đặt câu hỏi.” “Xin lỗi.” “Được rồi, đứng qua đó, đỡ chúng ta lên.” Mr. Wednesday nói, đi tới một bên bệ của vòng quay ngựa gỗ, ngay cạnh đó là tấm bảng hướng dẫn của vòng quay và biển cảnh báo nghiêm cấm leo lên vòng quay.

Cái Bóng vốn định nói gì đó, nhưng vẫn đỡ từng người một lên mép bệ vòng quay. Động tác của Mr. Wednesday vô cùng vụng về, Czernobog thì tự mình trèo lên, chỉ vịn vào vai Cái Bóng một chút để giữ thăng bằng, còn Ngài Nancy thì nhẹ bẫng như thể không có trọng lượng. Cả ba ông già đều leo lên mép vòng quay, bước tới một bước, nhảy lò cò một cái, nhảy lên mâm xoay của vòng quay ngựa gỗ.

“Này!” Mr. Wednesday hét lên với anh, “Sao con còn chưa lên?” Cái Bóng do dự một chút, anh vội liếc nhìn ra ngoài xem có nhân viên nào của House on the Rock để ý đến họ không, sau đó mới dùng tay chống nhẹ lên bệ, bước lên bậc thang của vòng quay ngựa gỗ lớn nhất thế giới. Cái Bóng cảm thấy rất vui vẻ, lại có chút hoang mang, bởi anh nhận ra mình hoàn toàn không quan tâm đến việc phá vỡ lệnh cấm để leo lên vòng quay, cảm giác cũng giống như buổi chiều giúp Mr. Wednesday đi cướp ngân hàng vậy.

Mỗi ông già đều chọn một con quái vật. Mr. Wednesday cưỡi lên lưng một con sói vàng, Czernobog cưỡi một con nhân mã mặc giáp, mặt nó ẩn sau chiếc mũ giáp bằng kim loại. Nancy cười khúc khích, vắt vẻo lên lưng một con sư tử khổng lồ đang chuẩn bị chồm lên, người thợ điêu khắc đã tạc con sư tử ở tư thế đang gầm thét. Ông vỗ vỗ vào thân sư tử. Bản valse của Strauss đưa họ xoay chuyển một cách trang nghiêm.

Mr. Wednesday đang mỉm cười, Nancy vui vẻ cười ha hả, là kiểu cười sảng khoái của người già, ngay cả Czernobog luôn âm trầm nét mặt trông cũng vô cùng vui vẻ. Cái Bóng cảm thấy như thể đột nhiên trút bỏ được một gánh nặng. Ba ông già cưỡi trên vòng quay ngựa gỗ lớn nhất thế giới, chơi rất vui. Nhưng nếu họ bị người ta đuổi ra khỏi đây thì sao? Làm thế này liệu có đáng không? Để có thể cưỡi vòng quay ngựa gỗ lớn nhất thế giới, len lỏi giữa những con quái vật hùng vĩ xinh đẹp này, có đáng để phải trả giá không? Dù chỉ là cái giá nhỏ nhất? Cái Bóng nhìn một con chó bun, một quái vật người cá và một con voi cõng chiếc kiệu voi bằng vàng. Cuối cùng, anh leo lên lưng một con quái vật mình hổ đầu chim, nắm chặt lấy nó.

Bản valse “Dòng Danube Xanh” vang vọng trong tâm trí anh, hàng ngàn bóng đèn trên đèn chùm cùng tỏa sáng, ánh đèn phản chiếu lẫn nhau, khiến người ta lóa mắt mê mẩn. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi của một nhịp tim, Cái Bóng lại trở về làm một đứa trẻ, chỉ cần được cưỡi vòng quay ngựa gỗ thôi là đã vô cùng hạnh phúc. Anh ngồi bất động, cưỡi con quái vật có cánh mình hổ đầu chim, cảm thấy mình đang ở trung tâm của thế giới, cả thế giới đang xoay quanh anh.

Cái Bóng nghe thấy chính mình đang cười lớn, tiếng cười át cả tiếng nhạc. Anh cảm thấy rất sảng khoái. Như thể 36 giờ qua chưa từng xảy ra, như thể ba năm qua chưa từng xảy ra, như thể cuộc đời anh đã biến mất trong cơn mơ ban ngày của một đứa trẻ. Anh như đang cưỡi trên vòng quay ngựa gỗ ở Công viên Cổng Vàng, San Francisco, đó là lần đầu tiên anh đi du lịch xa, vừa quay lại Mỹ, trước đó là một cuộc hành trình dài đằng đẵng, ô tô, tàu thủy, đổi vô số phương tiện giao thông. Mẹ anh đứng bên cạnh anh, tự hào nhìn anh, còn anh đang mút cây kem sắp chảy, nắm chặt lấy con ngựa gỗ, hy vọng âm nhạc đừng bao giờ ngừng lại, vòng quay ngựa gỗ đừng bao giờ chậm lại, hành trình đừng bao giờ kết thúc. Cứ thế xoay mãi, xoay mãi, xoay mãi... Sau đó, ánh đèn đột nhiên tắt ngóm, Cái Bóng nhìn thấy các vị thần.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.