Mỹ Quốc Chúng Thần

Lượt đọc: 96 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

❊ ❊ ❊

"Ba người có thể giữ được bí mật, nếu như trong đó có hai người đã chết." — Benjamin Franklin, "Poor Richard's Almanack".

Một chuỗi ba nghìn ngày, ngày nào cũng là những ngày trời đông giá rét, cột thủy ngân trên nhiệt kế chưa bao giờ nhích lên trên độ không, ngay cả vào lúc nhiệt độ cao nhất giữa trưa cũng không. Shadow không tài nào hiểu nổi trước khi có điện khí, trước khi có các loại mặt nạ bảo ôn, đồ lót giữ nhiệt siêu mỏng, và những công cụ du lịch tiện lợi, thoải mái xuất hiện, thì người xưa đã vượt qua mùa đông dài đằng đẵng như thế nào.

Anh lái xe đến cửa hàng bán đồ chơi, ngư nhị và dụng cụ câu cá đó, kết quả nhìn thấy cả một đống lớn "khuê ngư giả nhị" (mồi giả) do Hinzelmann tự tay chế tác. Chúng thú vị hơn nhiều so với tưởng tượng của anh: Đủ loại sâu giả với nhiều màu sắc khác nhau, tất cả đều được làm từ vũ mao và chỉ tơ, bên trong mỗi con sâu đều giấu một chiếc lưỡi câu.

Anh đặt ra nghi vấn đó về mùa đông với Hinzelmann.

"Thực sự muốn nghe sao?" Hinzelmann hỏi.

"Đương nhiên." Shadow đáp.

"Được rồi." Ông già nói, "Tình huống thường xuyên xảy ra là: Mọi người không phải là vượt qua mùa đông, mà là chết vì mùa đông. Đại đa số người chết vì giá rét, số lượng tương đương chết vì cửa sổ lùa gió, lò sưởi thông gió không tốt. Cuộc sống ngày xưa khó khăn lắm, cả mùa hè và mùa thu đều phải dùng để dự trữ lương thực và củi đốt cho mùa đông. Đáng sợ nhất vẫn là căn bệnh điên cuồng bùng phát vào mùa đông. Đài phát thanh nói rằng, điều này liên quan đến ánh nắng. Trong mùa đông, ánh nắng không đủ. Theo lời cha tôi, người ta cứ thế mà phát điên. Mọi người gọi đó là chứng điên cuồng mùa đông. Tình hình ở thị trấn Lakeside này đã đỡ hơn nhiều rồi, mấy thị trấn lân cận còn nghiêm trọng hơn. Khi tôi còn là một đứa trẻ đã có một câu đùa, vẫn được lưu truyền đến tận bây giờ: Nếu như nữ đầy tớ nhà anh cho đến tận tháng Hai mà vẫn chưa từng nảy ra ý định giết anh, thì cô ta chắc chắn là kẻ không có cốt cách."

"Thời đó, sách truyện quý như vàng sa vậy. Trước khi thị trấn xây dựng được thư viện có thể cho mượn sách, bất cứ thứ gì anh có thể đọc được đều là một khối tài sản lớn. Sau khi ông nội tôi nhận được một cuốn sách truyện do người anh trai sống ở Bavaria gửi tặng, tất cả cư dân ở thị trấn đều tập trung tại hội trường thị chính, nghe ông ấy đọc to những câu chuyện trong sách cho mọi người nghe. Người Phần Lan, người Ireland cùng tất cả những người khác thì khẩn khoản xin người Đức kể lại câu chuyện đó cho họ nghe."

"Từ đây đi về phía nam hai mươi dặm, tại thị trấn Guthrie, có người phát hiện một người phụ nữ đi bộ giữa mùa đông với chiếc áo khoác mở rộng, bên cạnh đầu người đó là một đứa trẻ sơ sinh đã chết. Cô ta không cho phép bất kỳ ai lấy đứa bé khỏi vòng tay mình." Ông trầm tư, lắc lắc đầu, đóng sầm ngăn kéo đựng mồi giả lại. "Hiện tại việc làm ăn rất tệ. Anh có muốn làm một chiếc thẻ thuê băng hình không? Các chuỗi cửa hàng cho thuê băng hình đã sắp mở đến tận đây rồi, đến lúc đó, chúng ta sẽ chẳng còn việc gì để làm nữa. Nhưng hiện tại, lượng băng hình để chọn ở chỗ chúng tôi vẫn khá nhiều." Shadow nhắc Hinzelmann rằng anh không có tivi, cũng không có đầu máy video. Anh thích Hinzelmann, thích những chuyện xưa mà ông lão hồi tưởng, thích những câu chuyện cường điệu mà ông kể, và cả nụ cười tinh quái như đứa trẻ trên mặt ông. Chỉ là, Shadow thực sự không muốn bật tivi, cũng không dám thú nhận với ông lão về việc chiếc tivi đó biết nói chuyện với anh.

Hinzelmann lục lọi lung tung trong ngăn kéo, cuối cùng lôi ra một chiếc hộp sắt tây. Nhìn bên ngoài thì có vẻ như nó từng được dùng để đựng quà Giáng sinh năm nào đó, có thể là loại hộp đựng sô cô la hoặc bánh quy. Trên nắp hộp có hình một ông già Noel lấm tấm vết rỉ sét, đang cầm một chai Coca-Cola, miệng mỉm cười hướng về phía miệng chai. Hinzelmann mở nắp kim loại của hộp, lấy ra một cuốn sổ tay và vài tờ phiếu trắng, nói: "Anh muốn để tôi ghi cho anh bao nhiêu?" "Bao nhiêu cái gì?" "Phiếu của xe phá băng. Xe sẽ lên mặt băng vào ngày hôm nay, vì vậy chúng tôi bắt đầu bán phiếu. Mỗi phiếu năm đô la, mười phiếu giá ưu đãi bốn mươi đô la, hai mươi phiếu bảy mươi lăm đô la. Mỗi tấm phiếu tương đương với việc anh mua một khoảng thời gian năm phút. Tất nhiên, chúng tôi không thể đảm bảo chiếc xe sẽ chìm xuống trong đúng năm phút mà anh đã mua, nhưng người nào có thời gian dự đoán gần nhất với thời điểm xe phá băng rơi xuống nước có thể thắng được 500 đô, nếu xe chìm xuống đúng trong khoảng năm phút mà anh mua, anh có thể thắng được 1000 đô. Mua phiếu càng sớm, càng có thể chọn được khoảng thời gian tốt. Có muốn xem qua hồ sơ chi tiết các năm không?" "Đương nhiên rồi." Hinzelmann đưa cho Shadow một tờ tư liệu được photo. Cái gọi là xe phá băng, thực chất là một chiếc xe cũ đã tháo bỏ động cơ và bình xăng, nó sẽ được đỗ trên mặt băng của hồ nước suốt cả mùa đông. Đợi đến một thời điểm nào đó sau khi mùa xuân đến, lớp băng trên mặt hồ bắt đầu tan chảy, khi lớp băng quá mỏng không thể chống đỡ nổi trọng lượng của chiếc xe, xe sẽ ép vỡ mặt băng và chìm xuống hồ. Theo ghi chép, thời điểm xe chìm xuống hồ sớm nhất là ngày 27 tháng Hai ("Đó là mùa đông năm 1998. Theo tôi thấy, mùa đông năm đó căn bản không xứng đáng được gọi là mùa đông."), muộn nhất là ngày 1 tháng Năm ("Năm 1950. Năm đó, muốn kết thúc mùa đông dường như chỉ có một cách: Cầm một chiếc cọc gỗ, đâm thẳng vào trái tim của mùa đông."). Nhìn là biết ngay, thời điểm xe chìm xuống hồ phổ biến nhất là đầu tháng Tư, thường là vào khoảng ba giờ chiều.

Tất cả các khoảng thời gian vào khoảng ba giờ chiều tháng Tư đều đã bị mua sạch, Hinzelmann đã gạch chúng đi trong cuốn sổ ghi thời gian. Shadow mua ba mươi phút, từ 9:00 sáng đến 9:30 sáng ngày 23 tháng Ba. Anh đưa cho Hinzelmann ba mươi đô la.

"Bán phiếu cho anh thật dễ dàng, người trong thị trấn mà ai cũng giống anh thì tốt biết mấy." Hinzelmann nói.

"Đây là để cảm ơn ông đã lái xe đưa tôi về nhà vào đêm đầu tiên tôi đến thị trấn." "Không, Mike." Hinzelmann đính chính, "Đây là vì những đứa trẻ." Ông bỗng chốc trở nên nghiêm túc, trên khuôn mặt già nua đầy nếp nhăn không còn chút biểu cảm tinh quái nào. "Chiều nay qua đây nhé, anh có thể giúp một tay đẩy xe lên mặt hồ." Ông đưa cho Shadow sáu tấm thẻ màu xanh, trên mỗi tấm thẻ đều có ghi ngày tháng và thời gian do Hinzelmann chú thích bằng nét chữ viết tay kiểu cũ. Tiếp đó, ông đăng ký thông tin chi tiết của mỗi khoảng thời gian vào cuốn sổ tay của mình.

"Hinzelmann," Shadow hỏi, "Ông đã từng nghe nói đến Eagle Stone chưa?" "Ở phía bắc thị trấn Lakeside? Không đúng, đó là sông Eagle. Tôi không rõ lắm." "Vậy còn Thunderbird thì sao?" "Ồ, trước đây trên đường số năm có một cửa hàng nông nghiệp Thunderbird, nhưng đóng cửa lâu rồi. Xem ra tôi không giúp gì được cho anh rồi." "Xem ra là vậy." "Này, tôi nói này, tại sao không đến thư viện tra thử xem? Rất nhiều người đến thư viện, nhưng phần lớn họ đều bị cuốn hút bởi những cuốn sách thanh lý mà thư viện đẩy ra trong tuần này. Tôi đã nói với anh thư viện ở đâu rồi phải không?" Shadow gật đầu chào tạm biệt ông. Anh thực sự hy vọng mình có thể nghĩ đến việc tận dụng thư viện sớm hơn. Anh lên chiếc xe địa hình màu tím, lái về phía nam đi lên đường chính, sau đó men theo ven hồ vòng đến điểm cực nam, đến được kiến trúc giống như lâu đài của thư viện thị chính. Anh bước vào thư viện, một tấm biển chỉ dẫn hướng xuống tầng hầm, trên đó viết "Sách thanh lý của thư viện". Quầy tiếp đón của thư viện nằm ở tầng một. Anh phủi tuyết trên giày.

Một người phụ nữ có ngoại hình khó gần, môi tô màu đỏ thẫm, hỏi anh bằng giọng điệu sắc bén xem có cần giúp đỡ không.

"Tôi cần một chiếc thẻ mượn sách thư viện," anh nói, "Hơn nữa, tôi muốn tìm hiểu tất cả những tư liệu liên quan đến Thunderbird." Khu vực "Tín ngưỡng và truyền thống bản địa Mỹ" nằm trên một giá sách độc lập ở một tháp pháo của lâu đài. Shadow lấy vài cuốn sách xuống, ngồi ở vị trí cạnh cửa sổ để đọc. Vài phút sau, anh đã hiểu ra Thunderbird là một loài chim khổng lồ thần bí, cư ngụ trên đỉnh núi cao, chúng có thể mang đến tia chớp, khi vỗ cánh còn có thể tạo ra tiếng sấm ầm ầm. Anh còn biết thêm rằng, một số bộ lạc người da đỏ tin rằng chính Thunderbird đã tạo ra thế giới. Anh đọc thêm nửa tiếng nữa, tiếc là không tìm thấy thêm nhiều tư liệu, trong mục lục của cuốn sách cũng không tìm thấy bất kỳ chỗ nào nhắc đến Eagle Stone.

Khi đặt cuốn sách cuối cùng lên giá, Shadow phát hiện có người đang nhìn chằm chằm vào mình. Đó là một đứa trẻ rất nhỏ với vẻ mặt nghiêm túc, đang lén nhìn anh từ khe hở của giá sách bên cạnh. Khi anh xoay người lại nhìn, khuôn mặt đó lập tức biến mất. Anh cố ý xoay lưng lại với đứa trẻ, xem nó có xuất hiện lần nữa hay không.

Trong túi anh có đồng tiền bạc Lady Liberty. Anh lấy đồng xu ra, đặt vào lòng bàn tay phải, xác định đứa trẻ có thể nhìn thấy, sau đó dùng ngón tay giấu đồng xu vào giữa kẽ ngón tay trái, xòe cả hai tay ra biểu thị cả hai tay đều trống không. Anh dùng tay trái che miệng, ho một tiếng, đồng xu liền nhảy múa qua lại trong hai tay.

"Đây là một thư viện rất đáng yêu." Shadow khen ngợi.

"Đây là một kiến trúc xinh đẹp. Nhưng thành phố này cần thêm một chút hiệu suất, bớt đi một chút mỹ hóa trang trí. Anh đã xem sách thanh lý ở dưới lầu chưa?" "Tôi không định xem." "Ồ, anh nhất định phải đến xem. Ở đó rất tuyệt." "Tôi sẽ ghi nhớ để xuống xem." "Anh cứ đến đại sảnh, rồi xuống lầu là tới. Rất vui được gặp anh, ông Ansel." "Cứ gọi tôi là Mike thôi." Anh nói.

Cô không nói gì nữa, chỉ nắm lấy tay Liam, dẫn cậu bé đi về phía khu thư viện thiếu nhi.

"Nhưng, mẹ ơi," anh nghe thấy giọng Liam đang nói, "Đó không phải là làm phép. Con đã thực sự nhìn thấy anh ấy làm nó biến mất, rồi lại biến ra từ mũi anh ấy. Con đã nhìn thấy!" Bức tranh sơn dầu của Tổng thống Abraham Lincoln trên tường đang nhìn xuống anh. Shadow bước xuống những bậc thang ốp gỗ trên nền đá cẩm thạch, đi đến tầng hầm của thư viện. Xuyên qua một cánh cửa, trước mắt là một căn phòng khổng lồ xếp đầy bàn, trên bàn chất đầy các loại sách, không hề có sự phân loại nào, xếp chồng chất lên nhau một cách hỗn loạn: Sách bìa mềm và sách bìa cứng, tiểu thuyết và phi tiểu thuyết, tạp chí định kỳ và bách khoa toàn thư, tất cả đều nằm trên bàn, có cuốn gáy sách hướng lên trên, có cuốn gáy sách hướng xuống dưới.

Shadow đi dạo đến cuối phòng, nơi có một cái bàn, bên trên xếp đầy những cuốn sách bìa da nhìn rất cũ kỹ, gáy mỗi cuốn sách đều ghi mã mục lục màu trắng. "Anh là người đầu tiên đến đây xem sách hôm nay." Người ngồi bên cạnh một đống thùng rỗng, túi rỗng và hộp thu ngân kim loại nhỏ đang mở nói, "Đa số mọi người chỉ mua tiểu thuyết kinh dị, sách đọc cho thiếu nhi và tiểu thuyết ngôn tình, ví dụ như sách của Jennie Garth hay Danielle Steel, đại loại thế." Người đó đang đọc cuốn "Vụ án Roger Ackroyd" của Agatha Christie. "Tất cả sách trên bàn đều là 50 xu một cuốn, một đô la có thể mua ba cuốn." Shadow cảm ơn người này, rồi tiếp tục dạo xem. Anh phát hiện ra cuốn "Lịch sử" của Herodotus, bìa da màu nâu đã bong tróc đôi chút. Cuốn sách này làm anh nhớ đến cuốn bìa mềm mà anh đã để lại trong tù. Ngoài ra còn có một cuốn tên là "Công xưởng ảo giác khiến người ta lóa mắt", bên trong dường như có vài ví dụ về ảo thuật bằng đồng xu. Anh mang hai cuốn sách đến chỗ người ở bên cạnh thùng thu ngân.

"Mua thêm một cuốn đi, vẫn chỉ một đô la thôi." Người đó nói, "Lấy đi thêm một cuốn đối với chúng tôi cũng là chuyện tốt. Chúng tôi cần trống bớt giá sách." Shadow lại đi bộ về phía những cuốn sách bìa da cũ nát. Anh quyết định giải cứu những cuốn sách ít có khả năng được người khác mua nhất, kết quả phát hiện mình không thể quyết định chọn giữa "Hình ảnh minh họa chuyên dụng dành cho bác sĩ nội khoa về các bệnh thường gặp ở niệu đạo" và "Biên bản họp hội đồng thị trấn Lakeside, 1872-1884". Anh lật xem hình minh họa trong cuốn y thư, cảm thấy ở đâu đó trong thị trấn có thể có một đứa trẻ tầm mười mấy tuổi sẽ dùng cuốn sách này để khoác lác, phô trương với bạn bè. Thế là anh lấy cuốn biên bản, giao cho người đàn ông ở cửa, người đó thu tiền của anh, bỏ tất cả sách vào một chiếc túi giấy màu nâu do tiệm thực phẩm Deli cung cấp.

Shadow rời thư viện. Trên đường về nhà, anh thưởng thức cảnh quan toàn bộ hồ nước, thậm chí có thể nhìn thấy tòa chung cư nơi mình ở, tọa lạc bên cầu, giống như ngôi nhà đồ chơi. Trên mặt băng gần cây cầu có người, khoảng bốn năm người, đang đẩy một chiếc xe màu xanh lục đậm đến trung tâm mặt hồ trắng xóa.

"Ngày 23 tháng Ba." Shadow hạ thấp giọng nói với hồ nước, "9 giờ sáng đến 9 giờ 30." Anh không biết hồ nước hay chiếc xe đó có thể nghe thấy lời anh nói hay không —— cho dù chúng có nghe thấy, anh cũng nghi ngờ liệu chúng có đáp ứng yêu cầu của anh không.

Gió lạnh thổi vào mặt anh, cảm giác rất đau.

Khi Shadow về đến nhà, cảnh sát trưởng Chad Mulligan đang đợi trước cửa chung cư của anh. Shadow vừa nhìn thấy xe cảnh sát, tim lập tức đập mạnh. Nhưng vị cảnh sát trưởng đó chỉ ngồi trên ghế viết cái gì đó, anh lúc này mới thở phào nhẹ nhõm.

Anh cầm túi đựng sách đi đến trước xe cảnh sát.

Mulligan hạ cửa sổ xe xuống. "Sách thanh lý của thư viện à?" Ông hỏi.

"Không sai." "Tôi khoảng hai ba năm trước đã mua cả một thùng sách của Robert Ludlum, vẫn luôn muốn đọc lại một lần cho kỹ. Cháu tôi cực kỳ thích sách của gã đó. Mấy ngày này, tôi cứ nghĩ, nếu mình trôi dạt đến một hòn đảo hoang, mang theo thùng sách Robert Ludlum đó, tôi sẽ có thời gian đọc sách cho thỏa thích." "Có chuyện gì cần giúp đỡ không, cảnh sát trưởng?" "Chẳng có chuyện gì cả, anh bạn. Tôi chỉ ghé qua đây xem anh sống thế nào thôi. Anh còn nhớ câu ngạn ngữ Trung Quốc đó không? 'Cứu người cứu đến cùng, tiễn Phật tiễn đến tây'. Tôi không nói là tôi cứu mạng anh tuần trước, nhưng vẫn muốn qua xem tình hình của anh thế nào. Chiếc xe màu tím của nhà Cansas thế nào rồi?" "Rất tốt." Shadow đáp, "Xe không tệ, lái rất tốt." "Rất vui được nghe anh nói vậy." "Tôi thấy người hàng xóm kế bên tôi ở thư viện," Shadow nói, "Bà Olsen. Tôi không biết..." "Không biết bà ta rốt cuộc có bệnh gì, bị kiến đốt vào mông à?" "Nếu ông muốn ví dụ như vậy." "Câu chuyện này thì dài dòng lắm. Nếu anh muốn lên xe đi cùng tôi một đoạn, tôi có thể kể cho anh nghe toàn bộ câu chuyện." Shadow hơi do dự. "Được thôi." Anh chui vào xe cảnh sát, ngồi ở ghế hành khách phía trước. Mulligan lái xe đến phía bắc thị trấn, sau đó tắt đèn xe, đỗ xe bên đường.

"Dathan Olsen quen Marguerite tại Đại học Wisconsin ở Stevens Point, rồi đưa cô ấy đến thị trấn Lakeside. Anh ta chuyên ngành báo chí, còn cô ấy thì học, chết tiệt, hình như là quản lý khách sạn gì đó. Khi họ mới đến thị trấn, cái cằm của bao nhiêu người đã kinh ngạc đến mức rớt xuống. Đó là chuyện của mười ba, mười bốn năm trước rồi. Cô ấy thực sự quá xinh đẹp…… Mái tóc đen mượt mà đó……" Ông dừng lại một chút, "Dathan chịu trách nhiệm quản lý khách sạn Mỹ ở thành phố Cadan, cách đây hai mươi dặm về phía tây. Nhưng dường như không có ai muốn ở lại Cadan, nên khách sạn đó nhanh chóng đóng cửa. Họ có hai đứa con trai. Lúc đó Sandy mười một tuổi, đứa nhỏ hơn —— có phải tên là Liam không? —— vẫn chỉ là một đứa trẻ sơ sinh."

"Dathan Olsen không phải là một người đàn ông dũng cảm. Anh ta từng là một cầu thủ bóng bầu dục trung học không tồi, nhưng đó e là lần cuối cùng anh ta có chí lớn. Dù sao thì, anh ta không đủ dũng cảm để nói với Marguerite rằng mình đã thất nghiệp. Cứ như vậy trôi qua một tháng, có lẽ hai tháng, mỗi sáng anh ta đều lái xe rời khỏi nhà, tối muộn mới quay về, than vãn rằng công việc ở khách sạn cực khổ thế nào." "Vậy mỗi ngày anh ta làm gì?" Shadow truy vấn.

"Ồ, tôi cũng không rõ. Tôi đoán anh ta có thể lái xe về phía bắc đến thị trấn Iron, hoặc đến thị trấn Deer Lake. Tôi đoán lúc đầu anh ta có lẽ vẫn đi tìm việc khắp nơi, nhưng không lâu sau, anh ta bắt đầu chè chén say sưa để giết thời gian, say khướt, phần lớn còn hồ đồ với gái mại dâm, có lẽ còn đánh bạc. Tôi chỉ biết, trong mười tuần anh ta đã tiêu sạch tất cả tiền trong tài khoản chung của hai người. Marguerite phát hiện tất cả chuyện này chỉ là vấn đề thời gian —— hắc, chúng ta đuổi theo!" Ông đột ngột khởi động xe, lao ra ngoài, đồng thời bật còi cảnh báo và đèn cảnh sát, làm gã đàn ông nhỏ con lái chiếc xe biển số bang Iowa lao xuống từ đường núi với tốc độ 70 dặm/giờ sợ đến vãi cả mật.

Kẻ vô lại bang Iowa bị phạt tiền. Sau đó Mulligan tiếp tục kể câu chuyện của mình.

"Tôi đang nói đến đâu rồi? Ồ, đúng rồi, nhớ ra rồi. Marguerite đuổi anh ta ra khỏi nhà, đệ đơn lên tòa án xin ly hôn. Mọi chuyện biến thành một cuộc chiến tranh giành quyền giám hộ con cái. Về loại chuyện này, tạp chí "People" gọi là thế đấy: Chiến tranh quyền giám hộ. Dathan chỉ giành được quyền thăm nom con cái, ngoài ra chẳng có gì cả. Lúc đó Liam vẫn còn rất nhỏ, Sandy lớn hơn nhiều, nó là một đứa trẻ ngoan, kiểu đứa trẻ sùng bái cha mình, nó không cho phép Marguerite nói một câu xấu nào về cha nó. Họ mất đi bất động sản, một ngôi nhà xinh đẹp, ở trên đường Daniel. Cô ấy dọn vào chung cư, còn anh ta thì rời khỏi thị trấn, mỗi sáu tháng quay về một lần, chỉ để làm cho tâm trạng mỗi người đều không vui vẻ."

"Cứ như vậy trôi qua vài năm. Mỗi lần quay về anh ta đều tiêu tiền mua quà cho bọn trẻ, nhưng thứ để lại cho Marguerite chỉ là những giọt nước mắt. Đa số người dân trong thị trấn của chúng tôi đều hy vọng anh ta đừng bao giờ quay lại nữa. Cha mẹ anh ta sau khi nghỉ hưu đã chuyển đến Florida sống, nói rằng họ không thể chịu đựng nổi mùa đông của bang Wisconsin nữa. Năm ngoái anh ta lại đến, nói muốn đưa bọn trẻ đến Florida để đón Giáng sinh. Marguerite nói không thể nào, bảo anh ta đừng có nằm mơ. Sự việc trở nên vô cùng khó chịu —— tôi buộc phải chạy qua giúp đỡ. Mâu thuẫn gia đình. Khi tôi đến, Dathan đang đứng ở sân trước la hét ầm ĩ, Marguerite vừa khóc vừa kêu, bọn trẻ đều sắp sợ phát điên rồi."

"Tôi dọa Dathan, nói sẽ nhốt anh ta trong phòng tạm giam qua đêm, cho anh ta tự kiểm điểm. Có một lúc, tôi còn tưởng anh ta định động thủ với tôi, nhưng anh ta nhát gan đến mức căn bản không dám động thủ. Tôi lái xe đưa anh ta đến bãi đỗ xe phía nam thị trấn, bảo anh ta tự kiểm điểm lại đi. Anh ta làm tổn thương cô ấy đủ nhiều rồi…… Ngày hôm sau anh ta rời khỏi thị trấn."

"Hai tuần sau, Sandy mất tích. Nó không lên xe buýt của trường. Nó nói với người bạn thân nhất của nó rằng nó sắp gặp được bố rồi, Dathan mang đến cho nó một món quà đặc biệt tuyệt vời: Đưa nó đến Florida đón Giáng sinh. Sau đó thì không ai nhìn thấy nó nữa. Án bắt cóc bởi người không có quyền giám hộ là khó giải quyết nhất, bởi vì anh rất khó tìm được một đứa trẻ không muốn bị người ta tìm thấy. Anh hiểu không?" Shadow nói anh hiểu. Anh đồng thời còn hiểu ra một vài chuyện khác: Chad Mulligan đã yêu Marguerite Olsen. Anh không biết đối phương có biết tình cảm của mình lộ liễu đến mức nào không.

Mulligan lại một lần nữa lái xe xuất kích, đèn cảnh sát nhấp nháy, lần này chặn lại là mấy thanh thiếu niên lái xe quá tốc độ đến 60 dặm/giờ. Ông không đưa phiếu phạt cho chúng. "Chỉ là bảo chúng học cách kính sợ Chúa trời thôi." Ông nhấn mạnh.

Đêm hôm đó, Shadow ngồi bên bàn ăn nhà bếp, cực lực tìm hiểu xem làm thế nào mới có thể biến đồng bạc một đô la thành đồng xu một xu. Đó là một trò ảo thuật với đồng xu mà anh tìm thấy trong cuốn "Công xưởng ảo giác khiến người ta lóa mắt", nhưng lời văn giải thích bên cạnh thực sự quá khiến người ta phát điên, giải thích mơ hồ không rõ ràng, đối với anh không có bất kỳ sự giúp đỡ nào. Ví dụ như nói: "Sau đó bằng thủ pháp quen dùng để làm biến mất đồng xu một xu." Hầu như mỗi đoạn văn đều phải thêm vào câu này. Shadow không biết "thủ pháp quen dùng" là gì, ý là pháp thuật rơi xuống? Hay chỉ là giấu trong tay áo? Hoặc là hét lớn một tiếng "Lạy Chúa, nhìn kìa, có con sư tử núi!", sau đó nhân lúc khán giả chuyển hướng sự chú ý mà nhét đồng xu vào túi? Anh ném đồng bạc của mình lên không trung, rồi đón lấy. Anh nhớ đến mặt trăng, cùng với người phụ nữ đã tặng mặt trăng cho anh. Anh tiếp tục nghiền ngẫm trò ảo thuật đó trong đầu, nhưng nghĩ thế nào cũng cảm thấy không làm được. Anh đi vào phòng tắm, đối mặt với gương tiếp tục luyện tập, kết quả chứng minh suy nghĩ của mình là chính xác, trò ảo thuật được viết rất đơn giản trong sách căn bản không thể thực hiện được. Anh thở dài, cất đồng xu vào túi, ngồi trên ghế sofa, trải một chiếc chăn nhỏ rẻ tiền đắp lên chân, sau đó mở cuốn "Biên bản họp hội đồng thị trấn Lakeside, 1872-1884". Chữ quá nhỏ, hầu như không nhìn rõ. Anh tùy tiện lật xem, xem những bức ảnh cũ của thời kỳ đó. Bên trong còn có vài tấm ảnh chụp chung của các thành viên hội đồng thị trấn Lakeside. Rất nhiều người để bộ ria mép dài, miệng ngậm tẩu thuốc bằng đất nung, đội những chiếc mũ dẹt hoặc sáng bóng, trông có vẻ như đều được đúc từ một khuôn. Anh không hề ngạc nhiên khi phát hiện, thư ký béo của hội đồng năm 1882 cũng họ Mulligan. Chỉ cần cạo sạch ria mép của ông ta, rồi cho ông ta giảm béo hai mươi pound, ông ta chính là một Chad Mulligan khác. Ông ta có phải là tằng tằng ngoại tôn của ông ta không? Anh muốn biết tổ tiên của Hinzelmann có phải cũng ở trong ảnh không, nhưng trong sách không có chỗ nào đề cập trong hội đồng thị trấn có một người như vậy. Tuy nhiên Shadow nhớ ra khi mình vừa tùy tiện lật xem ảnh, trong chính văn dường như có giới thiệu về một vị họ Hinzelmann, nhưng khi muốn tìm thì lại tìm không thấy, phông chữ nhỏ trong sách khiến mắt anh vừa mỏi vừa đau.

Anh đặt sách lên ngực, ý thức được mình bắt đầu ngủ gật, đầu cứ gục xuống. Ngủ trên ghế sofa có chút ngốc nghếch, anh nghĩ. Phòng ngủ chỉ cách đó vài bước chân, nhưng xét từ khía cạnh khác, năm phút nữa mới đi cũng không muộn, dù sao phòng ngủ và giường cũng sẽ không chạy đi đâu. Tuy nhiên, anh không định đi ngủ, chỉ là nhắm mắt nghỉ ngơi một chút…… Bóng tối đang gầm thét.

Anh đứng trên một vùng đất bằng phẳng rộng lớn, phía sau chính là nơi anh vừa mới phá vỡ mặt đất mà thoát ra, nơi đó đại địa từng ép chặt lấy anh. Những ngôi sao vẫn không ngừng rơi xuống từ bầu trời đêm, rơi trên mảnh đất màu đỏ, sau đó biến thành một người đàn ông hoặc một người phụ nữ. Người đàn ông để tóc dài đen nhánh, có gò má cao; còn người phụ nữ trông đều giống Marguerite Olsen. Những người này chính là những người sống trên các ngôi sao.

Họ dùng đôi mắt đen kiêu ngạo nhìn chằm chằm vào anh.

"Xin hãy nói cho tôi biết bí mật của Thunderbird." Shadow khẩn cầu nói, "Cầu xin các người đấy. Đây không phải vì bản thân tôi, mà là vì vợ tôi." Họ lần lượt quay lưng lại với Shadow. Khi không nhìn thấy khuôn mặt của họ, họ liền từng người từng người một biến mất vào trong đại địa. Nhưng người cuối cùng trong số họ (tóc của người đó có màu xám đậm, xen lẫn những lọn tóc trắng) trước khi quay người rời đi, người đó giang tay chỉ về phía bầu trời màu đỏ rượu vang.

"Anh tự mình đi hỏi họ đi." Người đó nói. Tia chớp mùa hè xẹt qua bầu trời, trong chớp mắt chiếu sáng mảnh đất này, từ bên này đường chân trời đến bên kia đường chân trời, cả bầu trời tràn ngập điện quang lưu động.

Bên cạnh anh là những tảng đá cao chót vót, đỉnh đá cao vút tận mây. Shadow bắt đầu leo lên tảng đá gần nhất. Tảng đá có màu ngà voi cũ kỹ. Anh leo lên một chỗ nhô ra, nơi có thể dùng tay bám vào, cảm thấy nó lại đâm đau anh. Đây là xương cốt! Shadow đột nhiên nghĩ đến, đây không phải là đá. Đây là xương cốt phong khô cổ xưa.

Đây là một giấc mơ. Trong mơ anh không có lựa chọn: Có lẽ là vì trong mơ không có bất cứ thứ gì cần anh phải đưa ra quyết định, có lẽ là vì mọi quyết định đều đã được đưa ra từ trước khi giấc mơ bắt đầu. Shadow tiếp tục leo lên phía trên. Tay anh rất đau, xương cốt dưới chân trần của anh vỡ vụn, rơi xuống dưới, vỡ thành những mảnh nhỏ. Gió dữ gào thét, xé rách anh. Anh nằm rạp người xuống, dán chặt vào vách đá, tiếp tục leo lên đỉnh.

Ngọn tháp được xây dựng từ cùng một loại xương cốt, anh không chỉ một lần ý thức được sự thật này. Mỗi khối xương đều bị phong khô, giống như một quả cầu, anh tưởng tượng chúng là vỏ trứng của một loài chim khổng lồ nào đó. Nhưng, trong ánh sáng của một tia chớp khác, anh phát hiện chúng không phải là trứng chim gì cả: Trên đó có những hốc mắt trống rỗng, còn có răng, đang hở răng cười một cách vô cảm.

Không biết từ đâu truyền đến tiếng chim kêu. Nước mưa đập vào mặt anh.

Anh cách mặt đất vài trăm feet, dán chặt vào mặt bên của tòa tháp đầu lâu leo lên phía trên. Tia chớp phun trào từ trong bóng tối dưới đôi cánh của đại điểu đang bay lượn quanh ngọn tháp —— đó là những con chim khổng lồ, màu đen, như chim cú, trên cổ mỗi con chim đều có những chiếc lông vũ hình vòng màu trắng. Những con chim khổng lồ, ưu nhã mà uy nghiêm, mỗi lần vỗ cánh đều làm nổ tung tiếng sấm ầm ầm giữa bầu trời đêm.

Chúng bay lượn quanh đỉnh tháp.

Shadow cảm thấy, sau khi dang đôi cánh ra, khoảng cách giữa hai cánh của chúng khoảng mười lăm đến hai mươi feet.

Lúc này, con chim đầu tiên rời khỏi quỹ đạo bay của nó, lao xuống phía anh, tia chớp màu xanh lam vỗ cánh rầm rầm dưới đôi cánh của nó. Anh ép thân thể vào khe hở giữa đống đầu lâu, vô số hốc mắt trống rỗng đang trừng mắt nhìn anh, hàm răng màu ngà voi đan xen vào nhau đang cười với anh. Thế nhưng anh vẫn tiếp tục leo lên trên, phấn đấu xuyên qua ngọn núi được chất thành từ đầu lâu, những cạnh sắc nhọn của đầu lâu cắt bị thương da thịt anh, khiến anh chán ghét, khủng khiếp, trong lòng tràn đầy kính sợ.

Lại một con chim khổng lồ lao về phía anh, móng vuốt chim to lớn như bàn tay người chộp lấy cánh tay anh.

Anh giang tay ra, muốn chộp lấy một chiếc lông vũ từ trên cánh của nó —— bởi vì khi anh trở về bộ lạc của mình, mà trong tay không có lông vũ của Thunderbird, anh sẽ cảm thấy vô cùng sỉ nhục, không thể trở thành một người đàn ông thực sự. Nhưng con chim lại bay lên phía trên, khiến anh không thể chộp được lông vũ. Thunderbird buông móng vuốt, vẫy cánh bay trở lại trong gió. Shadow tiếp tục leo lên phía trên.

Shadow cảm thấy ở đây chắc chắn có một nghìn cái đầu lâu, thậm chí có một triệu cái! Hơn nữa, không phải tất cả đầu lâu đều thuộc về con người. Cuối cùng, anh cuối cùng đứng trên đỉnh của ngọn tháp, Thunderbird khổng lồ bay lượn chậm rãi quanh anh, mỗi một cái cử động nhỏ của đôi cánh đều có thể thao túng sấm sét và bão tố.

Anh nghe thấy một âm thanh, đó là âm thanh của người đầu bò. Âm thanh gọi anh trong gió, nói cho anh biết những cái đầu lâu đó rốt cuộc thuộc về ai…… Tòa tháp đầu lâu rung lắc. Trong tiếng sấm sét ầm ầm, con Thunderbird lớn nhất lao xuống phía anh, đôi mắt của nó bắn ra tia chớp màu xanh trắng. Shadow bắt đầu rơi xuống, ngã từ trên đỉnh tòa tháp đầu lâu xuống…… Tiếng chuông điện thoại đang reo, Shadow thậm chí không biết điện thoại đã kết nối rồi. Anh choáng váng đứng dậy, cả người run rẩy, cầm lấy ống nghe điện thoại.

"Mẹ kiếp chết tiệt!" Wednesday gào thét lớn trong điện thoại, giọng điệu tức giận chưa từng có, "Anh có biết anh đang chơi trò quỷ gì không?" "Tôi ngủ quên rồi." Shadow ngơ ngác trả lời.

"Anh đang nghĩ cái quái gì thế? Gây ra động tĩnh lớn như thế! Tôi tốn công tốn sức đưa anh nhét vào cái nơi như thị trấn Lakeside đó, để anh ẩn mình đi, nhưng bây giờ còn có ý nghĩa gì nữa?" "Tôi mơ thấy Thunderbird……" Shadow nói, "Còn có một tòa tháp. Đầu lâu……" Anh cảm thấy nên thuật lại giấc mơ vừa rồi, việc này vô cùng quan trọng.

"Tôi biết anh đã mơ thấy gì! Mỗi người đều biết anh đã mơ thấy gì! Chúa toàn năng ơi, nếu anh cứ luôn nằm mơ thấy kiểu quảng cáo chết tiệt này, nói cho người khác biết anh đang trốn ở đâu, thì việc ẩn mình đi còn có ý nghĩa gì nữa?" Shadow không nói gì.

Đầu dây bên kia cũng bình tĩnh lại. "Trời vừa sáng tôi sẽ đến chỗ anh." Wednesday nói. Nghe giọng điệu, cơn giận của ông đã tiêu tan rồi. "Chúng ta cùng đi San Francisco, anh muốn ăn mặc kiểu gì thì cứ mặc kiểu đó đi." Điện thoại ngắt.

Shadow đặt điện thoại xuống thảm, cứng nhắc ngồi trên ghế sofa. Hiện tại là 6:00 sáng, bên ngoài vẫn tối đen như mực. Anh đứng dậy khỏi ghế sofa, cả người run cầm cập. Gió bên ngoài gào thét qua mặt hồ đóng băng, gần đó có người đang khóc, âm thanh chỉ cách một bức tường dày. Chắc chắn là Marguerite Olsen đang khóc. Tiếng nức nở kéo dài không dứt, tiếng khóc trầm thấp, kìm nén khiến người ta đau lòng.

Shadow đi vào phòng tắm tiểu tiện, sau đó quay lại phòng ngủ, đóng cửa phòng, nhốt tiếng khóc của người phụ nữ lại bên ngoài cửa. Gió lạnh bên ngoài vẫn đang gào thét, bi ai, dường như nó cũng đang tìm kiếm một đứa trẻ mất tích nào đó.

San Francisco tháng Một ấm áp ngoài dự kiến, những giọt mồ hôi nóng hổi làm đau gáy Shadow. Wednesday mặc một bộ vest màu xanh đậm, đeo một cặp kính gọng vàng, giống như một luật sư trong giới giải trí.

Hai người đi dọc theo đại lộ Haight, người đi đường trên phố, dân hippie và những kẻ ăn mày nhìn họ đi qua, nhưng không có ai chìa ra chiếc cốc giấy đựng đầy tiền lẻ về phía họ, không có một ai quấy rầy họ.

Cằm của Wednesday mím chặt. Shadow nhìn ra được, người này vẫn đang tức giận. Cho nên, sáng sớm hôm đó, khi chiếc Lincoln màu đen đỗ trước cửa chung cư của anh, anh không hỏi câu hỏi nào cả. Trên đường đến sân bay, hai người cũng không trò chuyện. Biết được Wednesday ngồi hạng nhất, còn chỗ ngồi của anh ở phía sau hạng phổ thông, Shadow lập tức trút được một hơi thở nhẹ nhõm.

Bây giờ là buổi chiều sắp đến tối. Sau thời đại của Gary, Shadow không còn đến San Francisco nữa, chỉ từng xem qua thành phố này trong phim với tư cách là bối cảnh câu chuyện. Anh kinh ngạc phát hiện, mình vậy mà lại cảm thấy nơi này vô cùng quen thuộc, hơn nữa, màu sắc của những ngôi nhà gỗ đơn lập đó lại rực rỡ như vậy, những ngọn đồi lại dốc như vậy, và khác biệt hoàn toàn với những nơi khác.

"Thật không thể tin nổi, nơi này và thị trấn Lakeside lại cùng thuộc về một quốc gia." Anh nói.

Wednesday trừng mắt nhìn anh một cái, lúc này mới mở miệng nói: "Không phải cùng một quốc gia. San Francisco và thị trấn Lakeside không cùng thuộc về một quốc gia, giống như New Orleans và New York, Miami và Minneapolis vậy." "Thế sao?" Shadow ôn hòa hỏi.

"Đương nhiên. Chúng có thể chia sẻ một số biểu tượng văn hóa đặc định, ví dụ như tiền giấy, chính phủ liên bang, chương trình giải trí vân vân. Dù sao thì, chúng ở trên cùng một mảnh đất, nhưng chỉ có vậy thôi. Chỉ có một số thứ giả tạo cho thấy chúng thuộc về cùng một quốc gia, ví dụ như đô la Mỹ, talk show đêm khuya và McDonald's." Hai người họ đi bộ vào một công viên ở cuối phố, "Đối với vị nữ sĩ mà chúng ta sắp tới thăm thì thái độ tốt một chút, nhưng cũng đừng tốt quá mức." "Tôi sẽ ứng phó được." Shadow nói.

Họ bước vào bãi cỏ.

Một cô gái trẻ, ước chừng còn chưa đến mười bốn tuổi, mái tóc nhuộm màu xanh, cam và hồng, đang nhìn chằm chằm khi họ đi ngang qua. Bên cạnh cô là một con chó lai, cổ đeo sợi dây thừng. Cô gái đó trông còn đói khát hơn cả con chó. Con chó sủa họ vài tiếng, rồi vẫy vẫy cái đuôi.

Shadow đưa cho cô bé một tờ một đô la, cô bé trừng mắt nhìn tờ tiền, dường như không hiểu đó là cái gì. “Mua thức ăn cho chó đi.” Shadow gợi ý. Cô bé gật gật đầu, nở nụ cười.

“Nói thẳng ra là,” Wednesday nói, “Cậu phải vô cùng thận trọng khi đối đãi với vị nữ sĩ mà chúng ta sắp tới thăm đây. Có lẽ cô ấy sẽ thích cậu, nhưng điều đó lại có thể còn tồi tệ hơn.” “Cô ấy là bạn gái của ông hay là cái gì khác?” “Không phải là gì cả.” Wednesday đáp. Cơn giận của ông dường như đã tiêu tan, hoặc chỉ là cất giữ lại để dùng cho tương lai. Shadow thầm nghĩ, có lẽ phẫn nộ chính là động lực thúc đẩy Wednesday hành động.

Trên bãi cỏ dưới gốc cây, một người phụ nữ đang ngồi, trước mặt trải một tấm khăn trải bàn giấy, bên trên bày biện rất nhiều hộp cơm nhựa đựng đầy thức ăn.

Cô ấy —— không, không thể gọi là béo, tuyệt đối không thể nói là béo, chỉ có thể dùng một từ mà Shadow chưa từng có cơ hội sử dụng để hình dung, đó là "đẫy đà". Cô có mái tóc vàng kim sáng bóng gần như bạc trắng, một nữ minh tinh điện ảnh nổi tiếng đã qua đời từ lâu cũng từng để kiểu tóc này. Đôi môi cô tô màu đỏ thẫm, tuổi tác trông chừng giữa hai mươi lăm đến năm mươi.

Khi họ đi lại gần, cô đang loay hoay chọn lựa trong một đĩa trứng muối. Wednesday bước đến bên cạnh, cô ngẩng đầu nhìn ông một cái, bỏ chiếc trứng đang cầm xuống, rồi lau tay. “Chào ông, lão lừa đảo này.” Miệng nói vậy nhưng trên mặt cô vẫn treo nụ cười. Wednesday cúi người cung kính, cầm tay cô lên, hôn nhẹ một cái.

“Trông cô thật mê người.” Ông nói.

“Chẳng lẽ tôi còn có thể trông như thế nào khác được sao?” Cô ngọt ngào vặn lại một câu, “Thôi bỏ đi, ông nói thế nào thì cũng là đồ lừa đảo cả thôi. Đến New Orleans đúng là một sai lầm —— tôi tăng cân rồi, ồ, chắc phải tầm ba mươi pound. Thật đấy, tôi thề. Tôi đi lại cũng bắt đầu lạch bạch như vịt, đến lúc ấy là tôi biết mình phải đi thôi. Bây giờ, chỉ cần bước đi một chút là hai bắp đùi đã cọ xát vào nhau rồi. Ông tin không?” Câu cuối cùng là nói với Shadow. Cậu không biết phải trả lời ra sao, cảm thấy mặt nóng ran. Người phụ nữ cười khoái chí. “Cậu ta vậy mà đỏ mặt kìa! Wednesday, cục cưng của tôi, ông vậy mà mang đến cho tôi một người biết đỏ mặt! Ông đúng là kẻ khiến người ta ngạc nhiên. Cậu ấy tên gì?” “Đây là Shadow.” Wednesday giới thiệu. Sự lúng túng của Shadow dường như làm cô thấy rất vui. “Shadow, chào hỏi Easter đi.” Shadow nói đại khái câu “Chào cô” hay gì đó tương tự, rồi người phụ nữ tiếp tục cười với cậu. Cậu cảm thấy mình như đang đứng dưới đèn pha —— loại đèn có thể khiến người ta tạm thời bị mù, thợ săn thường dùng nó để định vị nai, rồi nổ súng bắn hạ. Từ chỗ đứng, cậu có thể ngửi thấy mùi nước hoa trên người cô, một mùi hương say đắm, hòa quyện giữa nhài và kim ngân hoa, còn có mùi sữa ngọt và mùi cơ thể nữ giới.

“Những trò của cô gần đây thế nào rồi?” Wednesday hỏi.

Người phụ nữ —— Easter —— cười lên, cái kiểu cười tham gia cả vào toàn thân, tràn đầy hoan lạc. Làm sao có thể không yêu một người có nụ cười như vậy cho được? “Mọi thứ đều rất tốt.” Cô nói, “Còn ông thì sao, lão sói?” “Tôi hy vọng cô có thể gia nhập cùng chúng tôi.” “Đừng lãng phí thời gian nữa.” “Trước khi đuổi tôi đi, ít nhất hãy nghe tôi nói hết đã.” “Không thể nào, đừng làm phiền tôi nữa.” Cô nhìn về phía Shadow. “Ngồi đi, cứ tự nhiên ăn chút gì đó. Đây, cầm lấy cái đĩa này, xúc cho đầy vào. Mọi thứ đều rất ngon. Trứng, gà nướng, gà rán, sa lát gà, bên này còn có thịt thỏ, nói chính xác là thịt thỏ rừng. Thịt thỏ lạnh ăn rất ngon, cái bát đằng kia là món thỏ hầm. Để tôi xới cho cậu một đĩa nhé.” Nói là làm, cô lấy một cái đĩa nhựa, chất đầy thức ăn lên rồi mới đưa cho cậu. Sau đó, cô nhìn Wednesday một cái. “Ông có muốn không?” Cô hỏi.

“Tôi nghe theo sắp đặt của cô, cưng ạ.” Wednesday nịnh nọt đáp.

“Ông,” cô nói với ông, “Luôn miệng phun phân. Nhiều phân như thế, sao mắt ông vẫn chưa biến thành màu nâu đi.” Cô đưa cho ông một cái đĩa trống, “Ông tự mà ăn lấy.” Cô nói.

Ánh nắng buổi chiều tạo thành một vầng hào quang bạch kim phía sau lưng cô. “Shadow,” cô vừa gọi cậu, vừa thích thú gặm một cái đùi gà, “Cái tên hay thật. Nhưng tại sao họ lại gọi cậu là Shadow?”

Shadow liếm đôi môi khô khốc. “Khi tôi còn là một đứa trẻ,” cậu nói, “Mẹ tôi sống cùng với tôi. Chúng tôi, ý tôi là mẹ tôi, bà làm thư ký tại một loạt đại sứ quán Mỹ, chúng tôi chuyển từ thành phố này sang thành phố khác, đi khắp vùng Bắc Âu. Sau đó bà đổ bệnh, đành phải nghỉ hưu sớm, hai mẹ con quay về Mỹ. Tôi không biết phải giao tiếp với những đứa trẻ khác thế nào, nên tôi luôn tìm người lớn làm bạn, cứ như cái bóng, lủi thủi đi theo sau họ, chẳng nói gì cả. Tôi đoán chắc là mình muốn có người bên cạnh, nhưng bản thân tôi cũng không rõ lắm, lúc đó tôi chỉ là một đứa trẻ thôi.” “Giờ cậu đã trưởng thành rồi.” Cô nói.

“Vâng,” cậu đáp, “Tôi đã trưởng thành rồi.” Cậu xoay người đối mặt với Wednesday, ông đang múc thức ăn từ một cái bát đựng thứ trông có vẻ như là hoa cúc vạn thọ. “Chàng trai trẻ này có phải là người khiến ai cũng cảm thấy bất an đó không?” “Cô nghe thấy rồi sao?” “Tôi luôn dựng tai lên nghe ngóng.” Cô quay sang Shadow, “Cậu tốt nhất là tránh xa ra, đừng nhúng tay vào chuyện của họ. Trên thế giới này có quá nhiều nhóm nhỏ lén lút, mà chẳng có lấy nửa phần trung thành hay tình yêu. Dù là làm doanh nghiệp, kinh doanh độc lập hay chính phủ, thực ra đều trên cùng một con thuyền cả, chỉ là năng lực khác nhau mà thôi. Có kẻ chỉ vừa đủ năng lực, có kẻ lại quá mức lợi hại, đến mức nguy hiểm. Phải rồi, lão sói, tôi nghe được một câu chuyện cười, chắc ông sẽ thích đấy. ‘Làm sao để đảm bảo CIA không nhúng tay vào vụ ám sát tổng thống Kennedy?’” “Tôi nghe rồi.” Wednesday đáp.

“Tiếc thật.” Sự chú ý của cô lại quay về phía Shadow, “Nhưng màn kịch mà đám đặc công kia dựng lên thì lại không giống, chính là những gã đặc công mà cậu chạm trán ấy. Họ tồn tại, chỉ vì mọi người đều tin rằng họ cần phải tồn tại.” Cô rót vào một cái cốc giấy thứ đồ uống trông có vẻ là rượu vang trắng rồi đứng dậy. “Shadow là một cái tên hay,” cô nói, “Tôi muốn uống một cốc cà phê Mocha. Đi theo tôi.” Cô cất bước đi luôn. “Số thức ăn này thì sao?” Wednesday vội hỏi, “Cô không thể cứ vứt chúng ở đây được.” Cô cười, chỉ vào cô gái đang ngồi bên cạnh con chó, rồi dang rộng hai tay về phía đại lộ Hải Đặc và cả thế giới. “Cho họ ăn đi.” Cô bước đi, Wednesday và Shadow theo sát phía sau.

“Đừng quên,” vừa đi cô vừa nói với Wednesday, “Tôi rất giàu có, cuộc sống của tôi rất tốt đẹp. Tại sao tôi phải giúp ông?” “Cô là một trong số chúng tôi,” ông đáp, “Cô cũng giống như những người khác, bị người ta quên lãng, không còn được yêu thương, không còn được khắc ghi trong lòng. Cô nên đứng về phía này, điều đó rõ như ban ngày rồi.” Họ bước vào một quán cà phê bên vỉa hè rồi ngồi xuống. Bên trong chỉ có một nữ phục vụ, đeo một chiếc khuyên mũi, giống như dấu hiệu của chế độ đẳng cấp Ấn Độ. Trong quán còn một người phụ nữ đang pha cà phê sau quầy thu ngân. Nữ phục vụ bước đến bên họ, nở nụ cười mang tính nghề nghiệp, dẫn họ vào chỗ, rồi ghi lại món cà phê họ gọi.

Easter đặt bàn tay thon dài của mình lên mu bàn tay to rộng của Wednesday. “Tôi nói cho ông biết,” cô bảo ông, “Cuộc sống của tôi bây giờ rất ổn. Vào ngày lễ của tôi, họ vẫn sẽ tổ chức tiệc bằng trứng và thịt thỏ, còn có kẹo và trái cây tươi, tượng trưng cho sự tái sinh và giao phối. Họ đính đầy hoa tươi lên mũ, tặng nhau hoa tươi. Tất cả những thứ này đều được cử hành dưới danh nghĩa của tôi, số người tham gia lễ kỷ niệm năm sau lại đông hơn năm trước. Đều là dưới danh nghĩa của tôi đấy, lão sói.” “Thế nên, cô cho rằng vì lễ vật hiến tế của họ mà cô ngày càng béo tốt, ngày càng giàu có lên?” Ông lạnh lùng hỏi.

“Đừng có làm đồ khốn.” Giọng cô đột nhiên trở nên mệt mỏi, cô cúi đầu uống một ngụm cà phê.

“Đây là vấn đề rất nghiêm túc, cưng ạ. Dĩ nhiên, tôi biết, hàng triệu người tặng quà kỷ niệm dưới danh nghĩa của cô, họ vẫn sẽ thực hiện mọi nghi thức vào ngày lễ của cô, thậm chí còn tìm những quả trứng giấu kín. Nhưng trong số đó, có bao nhiêu người biết cô rốt cuộc là ai chứ? Phiền một chút, cô gái.” Lần này là nói với nữ phục vụ.

Ông hỏi: “Cô còn muốn một cốc cà phê nữa không?” “Không cần đâu, cưng. Tôi chợt nghĩ, có lẽ cô có thể giúp chúng tôi giải quyết tranh chấp. Bạn tôi và tôi đang tranh luận về ý nghĩa của từ ‘Lễ Phục sinh’. Cô biết ý nghĩa thực sự của từ này không?” Cô gái trừng mắt nhìn ông, như thể ông vừa phun ra một con cóc xanh từ trong miệng. Mãi một lúc sau cô mới cất lời: “Tôi chẳng biết gì về Cơ Đốc giáo cả, tôi là người ngoại đạo.” Người phụ nữ sau quầy thu ngân xen vào nói: “Tôi nghĩ, có lẽ là ‘Sự phục sinh của Đấng Cơ Đốc’ trong tiếng Latin hoặc ngôn ngữ nào đó.” “Thật sao?” Wednesday truy vấn.

“Dĩ nhiên rồi.” Người phụ nữ đó nói, “Easter, phương Đông, ông biết đấy, cảm giác giống như mặt trời mọc từ hướng Đông vậy.” “Đứa con của sự sống mới. Phỏng đoán này nghe cũng hợp lý.” Người phụ nữ đó cười, tiếp tục cắm cúi nghiên cà phê. Wednesday ngẩng đầu nhìn nữ phục vụ của họ. “Nếu cô không phiền, tôi nghĩ mình cần thêm một cốc Espresso nữa. Nói cho tôi nghe, với tư cách là người ngoại đạo, cô tôn thờ và sùng bái điều gì?” “Sùng bái?” “Không sai. Tôi nghĩ, là người ngoại đạo thì đối tượng để sùng bái chắc chắn phải rất nhiều. Cô đặt bàn thờ của ai trong nhà? Cô quỳ lạy cầu khẩn ai? Vào lúc bình minh và hoàng hôn, cô cầu nguyện với ai?” Đôi môi cô biến đổi hình dạng vài lần, nhưng vẫn không thốt nên lời. Cuối cùng cô mới cất lời: “Tôi sùng bái thần linh của nữ quyền, ông biết đấy, thần linh có thể khiến ông có sức mạnh.” “Dĩ nhiên. Vị thần nữ quyền mà cô tôn thờ ấy, ngài có tên không?” “Ngài là nữ thần tồn tại trong tâm hồn của tất cả chúng ta.” Cô gái đeo khuyên mũi đỏ mặt, “Ngài không cần tên.” “À!” Wednesday nói, lộ ra nụ cười không mấy thiện chí, “Vậy cô có từng vì bày tỏ lòng thành kính với ngài mà phóng túng hoan lạc không? Cô có từng uống rượu máu dưới trăng rằm, thắp nến đỏ trên giá nến bằng bạc không? Cô có từng khỏa thân bước vào những bọt biển, mê muội hát thánh ca cho vị nữ thần không tên tuổi này của cô, để sóng biển liếm láp đùi cô, giống như lưỡi của ngàn con báo cùng lúc liếm láp không?” “Ông đang trêu chọc tôi!” Cô tức giận nói, “Chúng tôi chưa bao giờ làm những chuyện ông nói cả.” Cô hít sâu một hơi, Shadow nghi ngờ cô có lẽ đang đếm từ một đến mười để giữ bình tĩnh. “Ở đây còn có ai muốn dùng cà phê không ạ? Ông có cần thêm một cốc Mocha nữa không, thưa bà?” Nụ cười của cô lại biến trở lại thành nụ cười nghề nghiệp khi họ mới bước vào.

Họ lắc đầu từ chối. Nữ phục vụ quay người đi đón tiếp những vị khách khác.

“Người này,” Wednesday nói, “Chính là kiểu người ‘không có tín ngưỡng, cũng chẳng thể hưởng thụ niềm vui của tín ngưỡng’. Đúng là người ngoại đạo thật. Được rồi, chúng ta ra ngoài dạo một lát đi, Easter thân mến, nhắc lại một lần nữa bài tập của chúng ta, được không? Tìm xem rốt cuộc có bao nhiêu người qua đường biết Lễ Phục sinh bắt nguồn từ một nữ thần bình minh tên là Eostre. Để xem nào —— tôi có ý này, chúng ta nên hỏi một trăm người qua đường. Chỉ cần có một người biết chân tướng này, cô có thể chặt một ngón tay của tôi. Nếu ngón tay không đủ dùng, còn có thể chặt ngón chân. Gom đủ hai mươi người không biết, cô sẽ phải qua đêm với tôi. Mỗi hai mươi người một đêm. Xác suất thắng thua rất có lợi cho cô, dù sao đây cũng là San Francisco, khắp phố toàn là người không tin Cơ Đốc giáo, còn có cả đống người ngoại đạo và phù thủy!” Đôi mắt màu xanh lá của cô nhìn chằm chằm vào Wednesday, Shadow cảm thấy đó là màu xanh biếc của ánh nắng chiếu trên lá xuân. Cô không nói một lời nào.

“Chúng ta có thể thử xem.” Wednesday tiếp tục nói, “Nhưng tôi đoán, đến cuối cùng, tôi vẫn sẽ đủ mười ngón tay mười ngón chân, một cái cũng không thiếu, lại còn phải ở trên giường cô đủ năm ngày. Thế nên, đừng nói với tôi là họ vẫn sùng bái cô, vẫn nhớ ngày lễ của cô. Môi họ tuy niệm tên cô, nhưng thực tế, cái tên đó đối với họ không có bất kỳ ý nghĩa nào cả. Không có ý nghĩa gì cả.” Trong mắt cô đột nhiên đẫm lệ. “Tôi biết,” cô khẽ nói, “Tôi đâu có ngốc.” Ông ép cô quá chặt rồi, Shadow thầm nghĩ.

Wednesday cúi đầu, vẻ mặt tỏ ra vô cùng hối lỗi. “Tôi rất xin lỗi,” ông nói. Trong giọng nói của ông dường như mang theo sự hối lỗi chân thành. “Chúng tôi cần cô. Chúng tôi cần tinh lực của cô, cần sức mạnh của cô. Khi bão tố ập đến, liệu cô có đứng về phía chúng tôi chiến đấu không?” Cô bắt đầu do dự. Cổ tay trái của cô xăm một chùm hoa lưu ly màu xanh.

“Được thôi,” sau một hồi suy nghĩ, cuối cùng cô cũng đồng ý, “Tôi nghĩ là tôi sẽ làm.” Người xưa nói rất đúng, Shadow thầm nghĩ, chỉ cần giả vờ thành khẩn, bạn có thể giành được sự tín nhiệm của người khác. Ngay sau đó, cậu lại thấy xấu hổ vì suy nghĩ của chính mình.

Wednesday tự hôn lên ngón tay mình, rồi chạm nhẹ vào má Easter. Ông gọi nữ phục vụ lại thanh toán, cẩn thận đếm vài tờ tiền, gấp tiền lại bỏ vào sổ thanh toán, rồi đưa cho nữ phục vụ.

Ông vừa chuẩn bị rời đi, Shadow liền gọi ông lại. “Cô gái, xin lỗi, tôi nghĩ cô đánh rơi thứ này.” Cậu nhặt từ trên sàn nhà lên một tờ mười đô la.

“Không phải của tôi.” Cô nói, liếc nhìn số tiền trong tay cậu.

“Tôi thấy nó rơi xuống mà, cô gái.” Shadow lễ phép nói, “Cô nên đếm lại tiền đi.” Cô đếm số tiền trong tay, vẻ mặt đầy bối rối, rồi mới nói: “Lạy Chúa, anh nói đúng thật. Ngại quá.” Cô lấy tờ mười đô la từ tay Shadow rồi vội vã rời đi.

Easter cùng họ đi ra vỉa hè bên ngoài. Ánh nắng ban ngày bắt đầu lịm dần. Cô gật đầu với Wednesday, lại chạm vào tay Shadow, nói với cậu: “Đêm qua cậu mơ thấy gì?” “Lôi điểu.” Shadow đáp, “Còn có một ngọn núi chất đầy xương khô.” Cô gật đầu. “Cậu biết những bộ xương đó là của ai không?” “Có một giọng nói nói cho tôi biết,” Shadow nói, “Ngay trong giấc mơ, giọng nói đó đã nói cho tôi biết.” Cô gật đầu, đợi cậu nói tiếp.

Cậu nói: “Giọng nói đó bảo tôi, tất cả đều là xương khô của tôi. Tất cả đều là xương khô của tôi trong quá khứ, hàng nghìn hàng vạn cái.” Cậu nhìn Wednesday, nói: “Tôi đoán, người này là một người thủ hộ.” Cô lại nở nụ cười rạng rỡ, vỗ vỗ cánh tay Shadow, rồi dọc theo vỉa hè rời đi. Cậu nhìn theo bóng dáng cô rời xa, cố gắng —— nhưng vẫn không thành công —— để không tưởng tượng đến dáng vẻ cặp đùi của cô cọ xát vào nhau khi đi lại.

Trên đường ngồi taxi ra sân bay, Wednesday đột nhiên quay sang Shadow: “Chết tiệt, rốt cuộc tại sao cậu lại nhúng tay vào chuyện tờ mười đô la đó?” “Ông đưa thiếu tiền cho cô ấy. Nếu cô ấy thu thiếu tiền, sẽ bị khấu trừ vào lương công ty.” “Chết tiệt, cậu quan tâm chuyện này làm cái quái gì.” Wednesday dường như thực sự nổi giận.

Shadow nghĩ ngợi một lát rồi mới đáp: “Vì tôi không hy vọng có bất kỳ ai làm chuyện đó với tôi. Cô ấy cũng có làm gì sai đâu.” “Không sai sao?” Wednesday trừng mắt nhìn ra xa, rồi nói, “Năm bảy tuổi, nó nhốt một con mèo vào tủ, nghe tiếng con mèo kêu thảm thiết bên trong suốt mấy ngày. Khi con mèo không còn kêu nữa, nó lôi xác con mèo từ trong tủ ra, bỏ vào một hộp giày rồi chôn ở sân sau. Nó chỉ muốn chôn cất gì đó. Nó luôn ăn trộm đồ ở nơi làm việc, thường thì số tiền không lớn. Năm ngoái nó đến thăm người bà ở viện dưỡng lão, kết quả là trộm một chiếc đồng hồ vàng quý giá từ bàn của bà lão nằm giường bên cạnh bà nó, lại còn đến vài phòng khác, trộm một ít tiền và vật dụng cá nhân. Những thứ đó đều là kỷ niệm của các cụ già trong những năm tháng vàng son của họ. Sau khi về nhà, nó không biết phải xử lý những món đồ trộm được ra sao, sợ bị người ta truy ra, bèn vứt quách đi.”

“Tôi hiểu rồi.” Shadow nói.

“Chưa hết, nó còn mắc bệnh lậu không triệu chứng.” Wednesday tiếp tục nói, “Nó nghi ngờ mình có thể đã nhiễm bệnh nhưng lại không chịu điều trị. Khi bạn trai trách nó lây bệnh tình dục cho anh ta, nó còn thấy rất ủy khuất. Nó biện hộ cho mình, từ chối gặp lại anh ta.” “Những chuyện này không quan trọng.” Shadow nói, “Ý tôi là, tôi biết ông muốn nói gì. Ông có thể ra tay với bất cứ ai, lừa gạt họ, rồi kể lại những chuyện xấu họ từng làm với tôi, để biện hộ cho chính mình.” “Đó là dĩ nhiên.” Wednesday nói, “Những người bị tôi lừa, họ đều từng làm những chuyện xấu tương tự. Những kẻ này tưởng mình có thủ đoạn độc đáo, thực ra phần lớn thời gian chỉ là đáng thương lặp đi lặp lại những thủ đoạn vốn đã có mà thôi.” “Thế nên ông trộm mười đô la của cô ta là hành vi chính xác rồi?” Wednesday trả tiền taxi, hai người bước vào sân bay, đi về phía cửa lên máy bay của họ. Vẫn chưa bắt đầu lên máy bay. Wednesday nói với cậu: “Tôi còn biết làm sao nữa? Bây giờ họ không còn hiến tế dê đực và bò đực cho tôi nữa, cũng không còn hiến tế những kẻ sát nhân, nô lệ, những kẻ bị treo trên giá và những linh hồn bị quạ ăn thịt cho tôi nữa. Họ tạo ra tôi, rồi họ lại quên lãng tôi. Như vậy công bằng sao?” “Mẹ tôi luôn nói: ‘Cuộc sống là bất công’.” Shadow nói.

“Bà ấy dĩ nhiên là sẽ nói như vậy rồi.” Wednesday nói, “Câu mà các bà mẹ hay nói nhất chính là câu này, còn có câu ‘Nếu tất cả bạn bè con đều nhảy xuống vực tự tử, liệu con có nhảy theo không?’” “Ông đưa thiếu cô gái đó mười đồng, tôi bù cho cô ấy mười đồng.” Shadow ngoan cố nói, “Tôi cho rằng việc tôi làm là đúng.” Có người thông báo máy bay của họ bắt đầu lên máy bay, Wednesday đứng dậy. “Mong rằng lựa chọn của cậu luôn sáng suốt như vậy.” Ông nói.

Vào lúc rạng sáng, Wednesday thả Shadow xuống trước căn hộ của cậu. Đợt rét đậm đã giảm rõ rệt. Nhưng thị trấn ven hồ vẫn lạnh lẽo như vậy, chỉ là không còn cái vẻ lạnh lẽo bất thường vượt quá thực tại như trước nữa. Khi họ đi qua thị trấn, bảng hiển thị giờ trên mặt bên ngân hàng M&A cho thấy lúc này là 3:30 sáng, nhiệt độ là 5 độ F.

Đến 9:30 sáng, cảnh trưởng Chad Mulligan gõ cửa phòng căn hộ của Shadow, hỏi cậu có quen một cô gái tên là Alison Mackelvey không.

“Tôi nghĩ là không.” Shadow ngái ngủ nói.

“Đây là ảnh của cô ấy.” Mulligan nói. Đó là một tấm ảnh thời trung học, Shadow lập tức nhận ra người trong ảnh: Cô gái đeo niềng răng cao su màu xanh.

“Ồ, đúng rồi, tôi quen. Cô ấy ngồi cùng chuyến xe buýt đường dài mà tôi đến thị trấn.” “Hôm qua anh ở đâu, anh Anderson?” Shadow cảm thấy thế giới của mình bắt đầu xoay chuyển, sắp rời xa cậu. Cậu biết mình không nên có bất kỳ cảm giác tội lỗi nào (Cậu là một trọng tội phạm dùng tên giả để sống, vừa mới được ân xá, một giọng nói lạnh lùng lặng lẽ nói trong đầu cậu, thế vẫn chưa đủ sao?) “Tôi ở San Francisco,” Shadow nói, “California. Tôi giúp chú tôi vận chuyển một chiếc giường bốn cọc.” “Anh có giữ cuống vé không? Có bất kỳ văn bản chứng minh nào tương tự không?” “Dĩ nhiên là có.” Trong túi sau quần cậu có hai cuống vé máy bay, cậu lấy ra. “Xảy ra chuyện gì vậy?” Chad Mulligan kiểm tra kỹ cuống vé máy bay. “Alison Mackelvey mất tích rồi. Cô ấy giúp việc tại hội từ thiện ở thị trấn ven hồ, phụ trách cho động vật ăn, dắt chó đi dạo các kiểu. Ngày nào sau khi tan học cô ấy cũng đến đó ở một lúc, sau khi đóng cửa buổi tối, người quản lý hội từ thiện là Dory Noble luôn lái xe đưa cô ấy về nhà. Nhưng hôm qua Alison không đến.” “Mất tích?” “Không sai. Bố mẹ cô bé đã gọi điện báo cảnh sát tối hôm qua. Đứa trẻ quá ngây thơ, luôn bắt xe quá giang đến hội từ thiện, nơi đó rất hoang vắng. Bố mẹ cô bé đã dặn cô bé không được làm vậy, nhưng đây đâu phải nơi xảy ra những chuyện như thế…… Người ở đây thậm chí còn không cần khóa cửa nhà, hơn nữa, những chuyện đó anh cũng đâu dễ giải thích cặn kẽ với bọn trẻ. Được rồi, xem lại ảnh đi.” Alison Mackelvey đang mỉm cười trong ảnh, niềng răng cao su trên răng trong ảnh là màu đỏ, không phải màu xanh.

“Anh có thể thành thật nói xem, anh không bắt cóc cô bé, cưỡng hiếp cô bé, sát hại cô bé, hoặc làm bất kỳ chuyện gì tương tự chứ?” “Lúc đó tôi đang ở San Francisco. Hơn nữa, tôi tuyệt đối sẽ không làm loại chuyện chết tiệt đó!” “Tôi cũng nghĩ vậy, bạn ạ. Anh có muốn đến giúp chúng tôi cùng tìm kiếm không?” “Tôi?” “Chính là anh. Sáng nay mang chó nghiệp vụ tìm khắp rồi, không phát hiện được gì.” Ông thở dài, “Ai, Mike, mong rằng cô bé chỉ là đến Twin City, tìm gã bạn trai khốn kiếp nào đó thôi.” “Anh nghĩ có khả năng đó không?” “Tôi nghĩ là có khả năng. Anh có muốn gia nhập đội tìm kiếm không?” Shadow nhớ lại tình hình nhìn thấy cô gái đó ở nông trang Herron và cửa hàng đồ gia dụng, còn có nụ cười e thẹn thoáng qua với niềng răng cao su màu xanh của cô. Cậu biết, một ngày nào đó, đợi sau khi cô trưởng thành, cô sẽ trở nên xinh đẹp mê người đến thế nào. “Tôi sẽ đến.” Cậu nói.

Trong sảnh lớn của sở cứu hỏa tập trung khoảng hơn hai mươi người nam nữ. Shadow nhận ra trong đó có Herron Zachman, còn có vài gương mặt trông rất quen. Trong đó có cảnh sát của sở cảnh sát, còn có những người mặc đồng phục màu nâu, đến từ văn phòng cảnh sát trưởng quận.

Chad Mulligan nói cho họ biết Alison Mackelvey khi mất tích mặc quần áo gì (áo khoác trượt tuyết màu đỏ thẫm, găng tay màu xanh, bên dưới mũ trùm đầu của áo trượt tuyết là mũ len màu xanh), rồi chia tình nguyện viên thành các tổ ba người. Shadow, Herron Zachman và một người tên là Barker lập thành một tổ. Ông nhắc nhở họ ngày ngắn, hơn nữa, nếu không may tìm thấy thi thể cô bé, ngàn vạn lần đừng phá hủy bất kỳ bằng chứng nào tại hiện trường, chỉ cần báo cáo bằng vô tuyến, yêu cầu chi viện là được. Nếu cô bé còn sống, họ phải cố gắng hết sức giữ thân nhiệt cho cô bé, cho đến khi nhân viên cứu hộ đến.

Họ xuất phát tìm kiếm dưới sự dẫn dắt của cảnh sát quận.

Herron Zachman, Barker và Shadow đi dọc theo rìa một vách núi đóng băng. Mỗi tổ ba người trước khi xuất phát rời đi đều được phát một chiếc bộ đàm cầm tay loại nhỏ.

Mây đen sà xuống thấp hơn, cả thế giới biến thành một mảng xám xịt. Trong ba mươi sáu giờ qua không có tuyết rơi, dấu chân trên lớp tuyết dày cứng có thể nhìn thấy rõ ràng.

Barker trông giống một sĩ quan quân đội đã giải ngũ, để một hàng ria mép mảnh dài và tóc mai trắng. Ông nói với Shadow, ông thực ra là một hiệu trưởng trường trung học đã nghỉ hưu. “Tôi không còn trẻ nữa. Những ngày này tôi vẫn dạy vài lớp, quản lý các hạng mục thi đấu của trường. Các cuộc thi luôn là môn hot trong trường. Còn thời gian thì đi săn. Tôi có một căn nhà gỗ nhỏ bên hồ Seven.” Sau khi xuất phát, Barker nói, “Một mặt, tôi hy vọng có thể tìm thấy cô bé, mặt khác, nếu cô bé thật sự bị tìm thấy, tôi hy vọng là người khác tìm thấy cô bé, chứ không phải chúng tôi. Anh hiểu ý tôi chứ?” Shadow hiểu ý ông.

Ba người không nói chuyện gì nhiều. Họ chậm rãi đi, tìm kiếm áo khoác trượt tuyết màu đỏ, hoặc găng tay màu xanh, mũ màu xanh, hoặc thi thể màu trắng. Barker cầm bộ đàm thỉnh thoảng lại liên lạc với Chad Mulligan xác nhận tình hình.

Đến bữa trưa, họ cùng các thành viên đội tìm kiếm khác ngồi trên xe buýt trường học, ăn bánh mì xúc xích uống canh nóng. Có người chỉ trỏ nói có một con chim ưng đuôi đỏ đứng trên một cái cây trơ trụi, người khác lại nói giống chim ưng săn mồi hơn. Con chim ưng đó bay đi, cuộc tranh luận cũng theo đó kết thúc.

Herron Zachman kể cho họ nghe một câu chuyện về chiếc kèn trumpet của ông nội anh. Khi đợt rét đậm ập đến, ông muốn thổi kèn trumpet. Bên ngoài kho thóc lạnh thấu xương, nhưng ông nội anh vẫn kiên trì luyện tập, nhưng lại không thể thổi ra bất kỳ âm thanh nào.

“Sau đó ông đi vào phòng, để kèn trumpet bên cạnh đống lửa để rã đông. Thế là hay rồi, cả nhà đang nằm trên giường ngủ, tiếng kèn trumpet rã đông đột nhiên phát ra từ trong kèn, dọa bà tôi sợ chết khiếp.” Thời gian buổi chiều dường như vô tận, họ vô công rồi nghề, khiến người ta nản lòng. Ánh nắng dần tan biến, cảnh vật phía xa dần dần không nhìn rõ nữa, rồi cả thế giới chuyển sang màu xanh thẫm. Gió lạnh gào thét, dữ dội đến mức gần như thổi rách da mặt. Khi xung quanh quá tối không thể tìm kiếm, Mulligan dùng bộ đàm thông báo cho họ tối nay dừng tìm kiếm, sẽ có người lái xe đến đón họ, đưa họ về sở cứu hỏa.

Khu phố bên cạnh sở cứu hỏa có một quán rượu, phần lớn thành viên đội tìm kiếm đều đến đó để chữa lành tâm trạng tồi tệ của mình. Mọi người đều mệt nhoài, tâm trạng nản lòng, cùng nhau bàn luận thời tiết sao mà lạnh thế, Alison rất có thể trong một hai ngày tới sẽ đột nhiên xuất hiện, hoàn toàn không biết mình đã gây ra bao nhiêu phiền phức cho mọi người.

“Đừng vì chuyện này mà cho rằng thị trấn này tệ,” Barker nói, “Thực ra đây là một thị trấn rất tốt.” “Thị trấn ven hồ,” một người phụ nữ vóc dáng mảnh mai tiếp lời, Shadow quên mất tên cô rồi, có lẽ không ai giới thiệu họ quen nhau, “Là thị trấn tốt nhất của quận North Wood. Anh có biết thị trấn ven hồ có bao nhiêu người thất nghiệp không?” “Không biết.” Shadow nói.

“Chưa đến hai mươi người.” Cô nói, “Dân số cư trú trong thị trấn và các khu vực lân cận hơn năm nghìn người. Chúng tôi có thể không giàu có lắm, nhưng ai cũng có việc làm. Ở đây không giống như những thị trấn khai khoáng ở phía bắc kia, rất nhiều nơi đã thành thị trấn hoang không người ở. Còn những thị trấn chủ yếu kinh doanh nông trang kia, vì giá sữa giảm hoặc giá lợn thịt hạ, cả thị trấn tiêu tùng luôn. Anh có biết ở khu vực Trung Tây nước Mỹ, nguyên nhân tử vong phi tự nhiên chủ yếu nhất của chủ nông trang là gì không?” “Tự sát?” Shadow đánh cược vận may hỏi.

Cô có vẻ mặt rất thất vọng. “Đúng, anh nói đúng. Tự sát.” Cô buồn bã lắc lắc đầu, rồi nói tiếp, “Gần đây có rất nhiều thị trấn chỉ tồn tại vì thợ săn và người đi nghỉ dưỡng. Những thị trấn đó kiếm tiền của những người này, rồi để họ mang theo chiến lợi phẩm đi săn hoặc một thân đầy vết cắn của côn trùng quay về nhà. Còn những thị trấn có công ty lớn kia, dường như mọi thứ đều rất tốt, nhưng đợi đến khi Walmart bắt đầu tái triển khai khu phân phối của họ, hoặc công ty 3M không còn sản xuất CD hoặc thứ gì đó ở đó nữa, đột nhiên, một loạt người không còn cách nào thanh toán nợ ngân hàng nữa. Xin lỗi, tôi không nhớ tên anh, anh là?” “Anderson.” Shadow nói, “Mike Anderson.” Thứ rượu cô uống là loại tự ủ tại địa phương, dùng nước hồ vào mùa xuân, vị rất ngon.

“Tôi là Kelly Noble,” cô tự giới thiệu, “Chị gái của Dory.” Khuôn mặt cô vẫn còn hơi đỏ lên vì bị đóng băng ở bên ngoài. “Tôi muốn nói là thị trấn ven hồ rất may mắn. Ở đây, thứ gì chúng tôi cũng có một chút: Nông trang, công nghiệp nhẹ, du lịch, thủ công mỹ nghệ, còn có trường học rất tốt.” Shadow nhìn cô có chút bối rối. Tất cả những gì cô nói đều có cảm giác hơi sáo rỗng. Cô dường như đang nghe một nhân viên tiếp thị nói chuyện, mà lại là một nhân viên tiếp thị vô cùng xuất sắc. Cô tin vào sản phẩm mình bán, và chắc chắn rằng khi bạn về nhà, bạn chắc chắn sẽ mua tất cả các loại bàn chải hoặc trọn bộ bách khoa toàn thư mà cô bán. Có lẽ vì phát hiện ra biểu cảm trên mặt cậu, cô lập tức nói: “Thật xin lỗi. Khi anh thực sự quá yêu một thứ gì đó, anh hoàn toàn không thể ngừng nói về nó. Anh làm nghề gì, anh Anderson?” “Chú tôi kinh doanh đồ cổ trên phạm vi toàn quốc, chú ấy cần tôi giúp vận chuyển những món đồ nặng. Công việc này không tệ, chỉ là không ổn định lắm.” Linh vật của quán bar, một con mèo đen, chui vào giữa hai chân Shadow, dựa trán vào giày cậu cọ xát. Nó nhảy lên, nằm trên ghế dài bên cạnh cậu, ngủ thiếp đi.

“Ít nhất anh cũng có thể đi du lịch khắp nơi.” Barker nói, “Ngoài công việc ra, anh còn làm gì khác không?” “Trên người anh có tám đồng xu hai mươi lăm xu không?” Shadow hỏi. Barker lấy tiền lẻ của ông ra, chỉ tìm được năm đồng xu, đẩy chúng từ trên bàn về phía trước mặt Shadow. Kelly Noble lấy ra ba đồng xu khác.

Cậu sắp xếp các đồng xu ngay ngắn, mỗi hàng bốn đồng. Sau đó, tay cậu không hề run, thuận lợi biểu diễn ma thuật đồng xu xuyên bàn. Cậu để bốn đồng xu xuyên qua mặt bàn gỗ, từ tay trái rơi vào tay phải.

Sau đó, cậu để tất cả tám đồng xu vào tay phải, tay trái cầm một cốc nước rỗng, dùng khăn tay che miệng cốc lại. Tiếp theo, cậu để các đồng xu lần lượt từng đồng một biến mất từ tay phải, đồng thời có thể nghe thấy tiếng đồng xu rơi vào trong chiếc cốc đã bị khăn che lại. Cuối cùng cậu mở tay phải ra, trưng ra lòng bàn tay đã không còn gì cả, rồi nhấc khăn tay ra, lộ ra tất cả đồng xu rơi trong cốc.

Cậu trả đồng xu lại cho họ, ba đồng trả cho Kelly Noble, năm đồng trả cho Barker, rồi lấy lại một đồng từ tay Barker, chỉ giữ lại cho ông bốn đồng. Cậu thổi một hơi vào đồng xu, biến đồng hai mươi lăm xu thành đồng một xu. Cậu trả tiền lại cho Barker. Barker đếm tiền, lại trố mắt kinh ngạc phát hiện trong tay ông vẫn là năm đồng xu hai mươi lăm xu.

“Anh đúng là một Houdini.” Herron Zachman vui vẻ cười nói, “Bậc thầy ma thuật!” “Chỉ là người yêu thích nghiệp dư thôi,” Shadow khiêm tốn nói, “Cách bậc thầy ma thuật còn xa lắm.” Nhưng trong lòng cậu vẫn thầm tự hào. Họ là nhóm khán giả trưởng thành đầu tiên của cậu.

Trên đường về nhà, cậu đến cửa hàng thực phẩm mua một hộp sữa. Cô gái tóc màu vàng nghệ đứng sau quầy thu ngân ở cửa trông rất quen mắt, mắt cô khóc hơi đỏ sưng, trên mặt đầy tàn nhang.

“Tôi biết bạn,” cái bóng nói, “Bạn là bạn của Allison, chúng ta đã gặp nhau trên xe buýt. Hy vọng bạn của bạn mọi chuyện đều ổn.” Cô khịt khịt mũi, gật gật đầu. “Tôi cũng vậy.” Cô dùng khăn tay lau mạnh mũi, rồi nhét lại vào tay áo.

Huy chương treo trước ngực cô viết: “Chào, tôi là kẻ lười biếng, hỏi tôi làm sao để giảm 20 cân trong 30 ngày nhé? Chỉ cần 30 ngày!” “Hôm nay tôi đã dành cả ngày để tìm nó, rất không may, không thu hoạch được gì.” Kẻ lười biếng gật đầu, chớp mắt kìm nước mắt. Cô lắc hộp sữa trước máy quét laser. Tiếng “tít” vang lên, giá tiền hiện ra trước mặt hai người. Cái bóng đưa cho cô hai đô la.

“Tôi không thể không rời khỏi cái thị trấn chết tiệt này.” Cô gái đột nhiên nghẹn ngào nói, “Chuyển đến Atlanta, sống cùng với mẹ tôi. Allison gặp chuyện, Sandy Wilson gặp chuyện năm ngoái, Jimmy là năm trước. Có lẽ sang năm tới lượt tôi gặp chuyện rồi.” “Sandy Wilson chẳng phải bị bố cô ấy đưa đi sao?” “Đúng vậy,” cô gái hậm hực nói, “Đương nhiên rồi. Jimmy đi đến California, Sarah Lancaster biến mất một cách kỳ lạ khi đi bộ đường dài, không bao giờ tìm thấy cô ấy nữa. Dù sao thì, tôi cũng phải đi đến Atlanta.” Cô hít một hơi thật sâu, nín thở một lúc. Tiếp đó, cô bất ngờ lộ ra nụ cười, vẻ mặt hậm hực biến mất không dấu vết. Không có gì lạ, chắc là do cấp trên dặn dò, khách hàng đến thì phải lộ ra nụ cười. Cô chúc cô gái kia có một ngày vui vẻ, rồi quay sang người phụ nữ với giỏ hàng đầy ắp phía sau, bắt đầu lấy hàng hóa ra quét giá.

Cái bóng mang theo sữa của mình lái xe rời đi, đi qua trạm xăng và chiếc tàu phá băng đang đậu trên mặt băng, băng qua cầu, trở về nhà mình.

◆ Đến Mỹ năm 1778 có một cô bé, chú của cô bé đã bán cô đi. Ông Abis dùng bàn tay hoàn mỹ không tì vết của mình viết lên những dòng này.

Câu chuyện thực ra chỉ có một câu như thế, những thứ khác chỉ là chi tiết.

Trong một số câu chuyện có vài chi tiết, cho thấy có những kiểu người như thế này, nếu chúng ta mở lòng với họ, chúng ta sẽ bị họ làm tổn thương sâu sắc. Ví dụ như, ở đây có một vị hảo tâm, không những bản thân ông ta là người tốt, mà bạn bè của ông ta cũng đều là người tốt; ông ta trung thành với vợ; ông ta cưng chiều con cái, hào phóng với chúng; ông ta quan tâm đến tổ quốc, ông ta tận tâm tận lực làm xong công việc của mình một cách chỉn chu. Thế nhưng, ông ta dùng hiệu suất và tấm lòng tốt của mình vào việc diệt chủng người Do Thái. Ông ta dùng âm nhạc mà mình thưởng thức làm nhạc nền, xoa dịu tâm lý hoảng loạn của người Do Thái; ông ta nhắc nhở họ, khi vào phòng hơi ngạt đừng quên nhớ số của mình, rất nhiều người vì quên số mà khi từ trong phòng ra đã lấy nhầm quần áo của người khác. Tất cả những gì ông ta làm đã an ủi trái tim sợ hãi của những người Do Thái đó, họ tự an ủi mình rằng họ vẫn còn có thể sống sót bước ra từ phòng hơi ngạt. Sau đó, vị tiên sinh tốt bụng này của chúng ta tỉ mỉ giám sát tất cả các chi tiết đưa thi thể vào lò thiêu. Nếu còn có điều gì khiến ông ta cảm thấy không thoải mái trong lòng, thì đó là, rốt cuộc ông ta vẫn để những con sâu bọ chết trong phòng hơi ngạt kia ảnh hưởng đến tâm trạng tốt của mình. Ông ta nghĩ, nếu ông ta thực sự là một người tốt từ đầu đến cuối, thì khi thanh trừ những con sâu bọ Do Thái trên trái đất này, ông ta chỉ nên cảm thấy vui mừng từ tận đáy lòng.

Có một cô gái, chú của cô đã bán cô đi. Viết xuống như vậy, sự việc này trông có vẻ rất đơn giản.

Không ai là một ốc đảo, Donne từng nói như vậy. Nhưng ông ấy sai rồi. Nếu chúng ta không phải là ốc đảo, chúng ta sẽ đánh mất bản thân, chết đuối trong nỗi bi ai của nhau. Chúng ta cô lập với nhau, tách biệt ngoài nỗi bi ai của người khác. Đây là bản năng tự bảo vệ. Chúng ta là những ốc đảo, hình dạng của chúng ta bị tất cả các câu chuyện vẽ lại nhiều lần. Hình dạng của ốc đảo sẽ không thay đổi: Một người sinh ra, lớn lên, rồi, vì lý do này hoặc lý do khác, chết đi. Được rồi, những chi tiết còn lại bạn có thể dùng kinh nghiệm của chính mình để lấp đầy. Câu chuyện của bạn cũng giống câu chuyện của người khác, không có nội dung độc đáo, nhưng cũng độc nhất vô nhị giống như cuộc đời của người khác. Cuộc sống giống như bông tuyết, cuộc đời của mỗi người đều là những bông tuyết có hình dạng khác nhau; cuộc sống giống như những hạt đậu trong quả đậu (bạn đã bao giờ thấy hạt đậu trong quả đậu chưa? Ý tôi là thực sự quan sát kỹ chúng ấy? Sau khi quan sát cận cảnh một phút, bạn tuyệt đối sẽ không nhầm lẫn một hạt đậu này với một hạt đậu khác), nhìn thì giống nhau, nhưng mỗi một hạt đều là độc nhất vô nhị.

Nếu không có sự tồn tại của cá thể, cái chúng ta nhìn thấy chỉ có thể là con số tổng quát: Một nghìn người chết, mười vạn người chết, “số người thương vong lên đến một triệu”. Nhưng khi có những cá thể sống động, dữ liệu thống kê liền biến thành những con người thực sự tồn tại —— nhưng đây cũng là một lời nói dối. Con số vẫn là vô cảm, không có bất kỳ ý nghĩa gì, cho dù mọi người có vì chúng mà cảm thấy đau khổ. Nhìn đứa trẻ này xem, bụng trướng lên, ruồi bu đầy khóe mắt, nó gầy đến mức chỉ còn da bọc xương. Nhưng, có những thứ này, bạn có thể biết được tên, tuổi, ước mơ và nỗi sợ hãi của nó không? Bạn có thể hiểu được nội tâm của nó không? Nếu bạn có thể, vậy hãy để chúng ta mổ xẻ thêm về chị gái của nó. Lúc này cô bé đang nằm trên mảnh đất nóng rực phía sau nó, cơ thể vặn vẹo, trướng phình. Được rồi, bạn cũng có thể cảm nhận được nội tâm của cô bé. Nhưng ngoài hai chị em đó ra, còn hàng nghìn đứa trẻ khác trở thành nạn nhân của nạn đói, hàng nghìn đứa trẻ sắp trở thành thức ăn cho vô số con giòi nhung nhúc của lũ ruồi. Chẳng lẽ chỉ có hai chị em đó là quan trọng, còn tất cả những đứa trẻ khác đều không đáng kể sao? Chúng ta vẽ ra một vạch cách ly bảo vệ, cách ly nỗi đau của chúng ra ngoài, an toàn ở trên ốc đảo thuộc về chính mình, để nỗi đau của chúng không thể làm hại chúng ta. Chúng bị chúng ta bao bọc trong một lớp màng cách ly trơn láng, an toàn, đầy vẻ sáng bóng, giống như trân châu, những khổ nạn mà chúng trải qua sẽ không khiến sâu thẳm linh hồn chúng ta cảm thấy bất kỳ nỗi đau chân chính nào.

Tiểu thuyết hư cấu cho phép chúng ta tiến vào đại não của họ, thông qua đôi mắt của họ nhìn ra thế giới bên ngoài. Trong câu chuyện, chúng ta sẽ dừng đọc trước khi nhân vật chính mà chúng ta đóng vai chết đi, hoặc trải nghiệm cái chết “đại diện” không chút đau đớn, sau đó nhảy ra khỏi câu chuyện này, ở trong thế giới thực nhẹ nhàng lật sang một trang mới, hoặc khép sách lại, tiếp tục cuộc sống thuộc về chính mình.

Cuộc sống của chính mình —— một cuộc sống vừa giống lại vừa khác với cuộc đời của những người khác.

Sự thật đơn giản nhất chính là: Có một cô gái, chú của cô đã bán cô đi.

Người ta thường nói, ở quê hương của cô gái đó, rất khó xác định ai là cha của đứa trẻ, nhưng ai là mẹ thì không phải là vấn đề gì cả. Quan hệ huyết thống và tài sản đều định đoạt theo dòng họ mẹ, nhưng quyền lợi lại nằm trong tay đàn ông. Thế là, một người đàn ông có quyền sở hữu tuyệt đối đối với con cái của chị em mình.

Ở nơi đó đã xảy ra một cuộc chiến tranh, quy mô rất nhỏ, không khác gì những cuộc xung đột nhỏ giữa hai bộ lạc làng mạc, gần như chỉ bằng một cuộc tranh cãi. Một ngôi làng thắng trong cuộc tranh cãi, và ngôi làng kia thì thua.

Sinh mệnh giống như hàng hóa, còn con người là tài sản tư hữu. Chế độ nô lệ là hủ tục đã kéo dài hàng ngàn năm ở nơi đó. Những kẻ buôn nô lệ Ả Rập đã hủy hoại vài vương quốc vĩ đại cuối cùng của Đông Phi, còn các quốc gia Tây Phi thì lại tự hủy hoại lẫn nhau.

Việc người chú của cặp song sinh này bán họ đi không gặp phải khó khăn gì, hơn nữa đây cũng không phải là chuyện gì lạ lùng. Tuy nhiên, song sinh luôn được coi là có ma lực, người chú sợ họ, sợ đến mức không dám nói cho họ biết việc mình bán họ đi, để tránh họ làm hại cái bóng của hắn, từ đó hại chết hắn. Hai đứa trẻ đều mười hai tuổi, cô bé tên là Odu, tên của loài chim bồ câu đưa thư; cậu bé tên là Ajao, tên của một vị vua đã khuất. Chúng là những đứa trẻ khỏe mạnh cường tráng, hơn nữa vì chúng là song sinh, một nam một nữ, người khác đã kể cho chúng nghe rất nhiều câu chuyện về các vị thần. Vì chúng là song sinh, chúng chăm chú nghe những câu chuyện đó và ghi nhớ tất cả.

Người chú của chúng là một kẻ vừa béo vừa lười. Nếu hắn có nhiều bò hơn vài con, có lẽ hắn sẽ bán bò chứ không bán trẻ con. Nhưng bò của hắn không nhiều đến thế. Hắn đã bán cặp song sinh. Chúng ta nói về hắn như vậy là đủ rồi, hắn sẽ không xuất hiện trong câu chuyện này nữa, vẫn là hãy để chúng ta xem cặp song sinh đó đi.

Chúng đi cùng những nô lệ khác bị bắt hoặc bị bán trong chiến tranh, đi được mười mấy dặm, đến một ngôi làng biên khu rất nhỏ, ở đây chúng lại bị bán lần nữa. Cặp song sinh cùng với những đứa trẻ mười ba tuổi khác, bị sáu người đàn ông cầm giáo dài và dao găm mua lại, đưa chúng đi đến biển lớn phía Tây, sau đó đi dọc theo đường bờ biển vài dặm. Hiện tại tổng cộng có mười lăm nô lệ, tay họ bị trói lỏng lẻo bằng dây thừng, còn dùng dây thừng nối cổ họ lại với nhau.

Odu hỏi người anh em Ajao của mình, hỏi chúng sẽ gặp phải chuyện gì.

“Anh không biết.” Cậu nói. Ajao là một cậu bé thích mỉm cười, răng cậu trắng đều tăm tắp, lúc cười sẽ lộ ra hàm răng đẹp. Nụ cười vui vẻ của cậu luôn khiến Odu cảm thấy vui vẻ tương tự. Thế nhưng hiện tại cậu không còn cười nữa, cậu cố gắng thể hiện sự dũng cảm trước mặt chị gái, đầu cậu ngẩng cao, ưỡn vai, giống như một chú chó con kiêu ngạo, đầy tính đe dọa, nhưng lại buồn cười.

Người đi phía sau Odu trong đội ngũ sợ đến mức răng va vào nhau. Hắn nói: “Chúng sẽ bán chúng ta cho ác ma da trắng, ác ma da trắng sẽ vận chuyển chúng ta từ mặt nước về nhà chúng.” “Sau đó chúng sẽ đối xử với chúng ta thế nào?” Odu tò mò hỏi.

Người đó không chịu nói gì nữa.

“Này?” Odu tiếp tục truy hỏi. Ajao muốn lén ngoái qua vai nhìn về phía sau. Khi đi đường không cho phép họ nói chuyện hoặc hát ca.

“Chúng có thể sẽ ăn thịt chúng ta.” Người đó nói tiếp, “Anh nghe người ta nói thế. Cho nên chúng mới cần nhiều nô lệ như vậy, vì chúng luôn cảm thấy đói.” Odu bật khóc. Ajao an ủi cô: “Đừng khóc, chị của anh. Chúng sẽ không ăn thịt chị đâu. Anh sẽ bảo vệ chị, các vị thần của chúng ta cũng sẽ bảo vệ chị.” Nhưng Odu vẫn đang khóc, mang theo tâm trạng nặng nề bước đi. Cô cảm thấy đau khổ, phẫn nộ và sợ hãi, đó là loại cảm giác mà chỉ trẻ con mới có thể cảm nhận được, tuyệt đối không thể kháng cự. Cô không thể nói với Ajao rằng, cô không lo lắng việc ác ma da trắng sẽ ăn thịt cô. Cô sẽ sống sót, cô chắc chắn về điểm này. Cô khóc vì sợ chúng sẽ ăn thịt em trai mình, mà cô không biết mình có thể bảo vệ cậu hay không.

Chúng đến một điểm mậu dịch, chúng sẽ dừng lại ở đây mười ngày. Sáng ngày thứ mười, chúng bị người ta lôi ra khỏi căn nhà gỗ nhỏ giam giữ chúng (nhà gỗ nhỏ những ngày cuối cùng vô cùng chật chội, người từ khắp nơi đều bị áp giải đến, họ dùng dây thừng trói thành một chuỗi nô lệ). Chúng bị áp giải ra vịnh biển, Odu nhìn thấy tàu bè đi đến, chuẩn bị đưa chúng đi.

Điều đầu tiên cô nghĩ đến chính là con tàu đó thật là vật khổng lồ, điều thứ hai nghĩ đến là nếu tất cả bọn họ đều lên tàu, con tàu đó sẽ quá nhỏ. Nó nhẹ nhàng nổi trên mặt nước, thuyền nhỏ trên tàu đi lại xuyên thấu, đưa nô lệ lên tàu. Ở đó, họ bị đeo gông cùm, sau đó bị thủy thủ lùa vào hầm tàu thấp hẹp. Những thủy thủ đó có người có làn da màu đỏ nâu hoặc màu đồng, mũi nhọn và râu quai nón kỳ lạ, nhìn trông giống như dã thú. Cũng có những thủy thủ nhìn giống như người cùng tộc của cô, giống như những kẻ đưa cô đến bờ biển. Đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị tách ra, lùa vào các khu vực khác nhau trong hầm tàu giam giữ nô lệ. Số lượng nô lệ thực sự quá nhiều, nhốt cùng nhau không dễ chút nào, cho nên vài chục người khác bị trói trên boong tàu, ngay dưới võng của thủy thủ.

Odu và những đứa trẻ khác bị nhốt cùng nhau, tách biệt với phụ nữ. Cô không bị đeo gông cùm, chỉ bị khóa trong hầm tàu. Ajao lại bị buộc phải nhốt cùng với đàn ông, hơn nữa còn bị đeo gông cùm, xếp thành một hàng như cá trích. Bên dưới boong tàu tỏa ra mùi hôi thối, dù thủy thủ đã lau chùi sạch sẽ một lần sau khi vận chuyển lô hàng trước, nhưng mùi hôi đã sớm thấm vào gỗ: đó là mùi của sợ hãi, phẫn nộ, tiêu chảy và cái chết, là mùi của sốt, điên cuồng và hận thù. Odu cùng những đứa trẻ khác ngồi trong không khí oi bức, cô có thể cảm thấy những đứa trẻ bên cạnh đều đang đổ mồ hôi. Một cơn sóng biển khiến một cậu bé nhỏ ngã nhào vào lòng cô, cậu ta nói xin lỗi bằng một loại ngôn ngữ mà Odu không hiểu. Cậu bé cố gắng mỉm cười với cô trong bóng tối.

Con tàu nhổ neo, hiện tại nó nặng nề nổi trên mặt biển.

Odu muốn biết lũ ác ma da trắng đó rốt cuộc đến từ nơi nào (thực ra không ai trong số chúng là da trắng thực sự. Sau khi trải qua sự tẩy lễ của gió biển và ánh mặt trời, màu da của chúng đều rất thâm trầm), chúng thực sự thiếu lương thực đến vậy sao, phải viễn chinh đến tận vùng đất của cô, mua người của cô về để sung đói? Hay là vì thịt của cô rất ngon, là món ăn hiếm có, mà những kẻ đó đã ăn chán ngấy thức ăn bình thường, chỉ có thịt tươi của những kẻ da đen trong nồi nấu đồ của chúng, mới có thể khiến chúng chảy nước miếng? Ngày thứ hai rời cảng, con tàu gặp bão. Bão không lớn lắm, nhưng boong tàu lại nghiêng ngả chao đảo, mùi chất nôn mửa trộn lẫn với mùi nước tiểu, mùi phân và mùi mồ hôi lạnh của sự sợ hãi. Mưa lớn thấm qua lỗ thông hơi trên trần hầm tàu nô lệ, trút xuống như thác, rơi lên người họ.

Sau một tuần hành trình, không còn nhìn thấy lục địa nữa. Nô lệ được phép tháo xích sắt. Họ bị cảnh cáo rằng, nếu không tuân thủ bất kỳ chế độ nào, gây ra bất kỳ rắc rối nào, họ đều sẽ phải chịu đựng sự trừng phạt khủng khiếp không tưởng.

Sáng sớm, nô lệ phải ăn đậu và bánh quy mang theo trên tàu, còn có một ngụm nhỏ nước chanh chua. Mặt họ khô khốc vặn vẹo biến dạng, họ bắt đầu ho, nói nhảm. Khi bị đổ nước chanh chua vào, có người sẽ rên rỉ gào thét, nhưng không cho phép họ phun nó ra. Nếu bị phát hiện họ phun nước chanh chua ra hoặc cố tình để nó nhỏ xuống từ miệng, họ sẽ phải chịu đòn roi.

Buổi tối, họ ăn thịt bò muối, mùi vị rất khó ăn, trên bề mặt màu xám của thịt có một lớp màng quang như cầu vồng. Đây vẫn là lúc hành trình mới bắt đầu. Hành trình tiếp tục, mùi vị thịt trở nên tồi tệ hơn nhiều.

Chỉ cần tìm được cơ hội, Odu và Ajao sẽ chen chúc ngồi cùng nhau, bàn luận về mẹ, về gia đình và bạn bè của họ. Đôi khi Odu kể cho Ajao nghe những câu chuyện, đó là những câu chuyện mẹ họ từng kể cho họ nghe, ví dụ như câu chuyện về vị thần ranh mãnh nhất, cơ trí nhất là Alaba, ngài là đôi mắt và đôi tai của thần Maou vĩ đại trên thế giới này, phụ trách mang tin tức đến cho thần Maou, sau đó mang về sự phản hồi của Maou.

Đến chiều tối, vì hành trình luôn đơn điệu, thủy thủ liền bắt nô lệ hát ca cho họ nghe, còn bắt họ nhảy điệu nhảy địa phương.

Odu rất may mắn, được phân vào giữa những đứa trẻ. Những đứa trẻ chen chúc nhau không được coi trọng, nhưng phụ nữ thì không may mắn như vậy. Trên một số tàu nô lệ, nô lệ nữ bị thủy thủ cưỡng hiếp hết lần này đến lần khác. Loại chuyện này chỉ là khoản thu nhập thêm vô hình cho thủy thủ đoàn trong quá trình hành trình. Con tàu này không giống những con tàu kia, nhưng không có nghĩa là không tồn tại chuyện cưỡng hiếp.

Hơn một trăm người đàn ông, phụ nữ và trẻ nhỏ chết trong hành trình, thi thể họ bị ném từ mạn tàu xuống đại dương. Có những nô lệ khi bị ném xuống đại dương vẫn chưa chết hẳn, những con sóng biển màu xanh lạnh lẽo khiến họ chìm xuống, họ thoát ra khỏi gông cùm, chết đuối trong nước, sau đó biến mất không thấy tăm hơi.

Odu và Ajao đang ở trên một con tàu Hà Lan, tuy nhiên họ không biết điểm này. Chỉ là một con tàu buôn nô lệ mà thôi, nó hoàn toàn có thể là một con tàu Anh, tàu Bồ Đào Nha, tàu Tây Ban Nha hoặc tàu Pháp.

Thủy thủ da đen trên tàu có màu da còn đen hơn cả Odu, họ bảo nô lệ nên đi đến đâu, nên đi như thế nào, lúc nào có thể nhảy múa, vân vân. Một buổi sáng, Odu phát hiện một trong số những người da đen đó cứ chằm chằm nhìn cô. Khi cô ăn cơm, người đó đi qua, không nói một lời, đứng từ trên cao nhìn cô.

“Tại sao anh lại làm như vậy?” Cô hỏi người đàn ông đó, “Tại sao anh lại phục vụ lũ ác ma da trắng đó?” Hắn cười với cô, như thể câu hỏi của cô là câu chuyện cười nực cười nhất mà hắn từng nghe. Sau đó hắn cúi người xuống, đôi môi gần như áp sát vào tai cô, hơi thở nóng hổi thổi vào tai cô, khiến cô rất không thoải mái. “Nếu tuổi của cô lớn hơn một chút nữa,” hắn nói với cô, “Tôi sẽ để cô kêu lên vui sướng dưới thân tôi. Có lẽ tối nay tôi sẽ đến tìm cô. Cô nhảy múa rất giỏi, tôi đã nhìn thấy.” Hắn dùng đôi mắt màu hạt dẻ nhìn cô, không hề sợ hãi, trên mặt thậm chí còn treo một nụ cười. “Nếu anh dám cắm thứ đó vào cơ thể tôi, tôi sẽ dùng hàm răng ở phía dưới của tôi cắn đứt nó. Tôi là người phụ nữ biết vu thuật, bên dưới tôi cũng mọc răng đấy.” Sắc mặt hắn trở nên rất khó coi, cô cảm thấy rất vui. Hắn không nói gì mà vội vàng rời đi.

Có vài nô lệ từ chối ăn cơm. Họ bị đánh đập tàn nhẫn, cho đến khi họ bỏ thức ăn vào miệng nuốt xuống. Nhưng hình phạt quá nghiêm khắc, có hai người vì vậy mà mất mạng. Từ đó về sau, trên tàu không còn ai muốn thông qua tuyệt thực để giành lấy tự do nữa. Có một người nam và một người nữ muốn nhảy từ mạn tàu xuống đại dương tự sát. Người nữ thành công, nhưng người nam bị cứu lên, hắn bị trói vào cột buồm đánh đập rất lâu, trên lưng toàn là máu tươi. Đến buổi tối, hắn vẫn bị trói vào cột buồm, không ai cho hắn ăn uống, hắn chỉ có thể uống nước tiểu của chính mình. Đến ngày thứ ba, hắn bắt đầu phát điên, nói nhảm. Đầu hắn sưng lên rất to, da mềm nhũn, giống như một quả dưa ngọt già. Khi hắn không còn nói nhảm nữa, họ ném hắn xuống đại dương. Năm ngày tiếp theo, những nô lệ thí đồ đào tẩu đó đều yên tĩnh ở yên trong gông cùm của họ? Ngu ngốc đối với nô lệ mà thôi, đây là một chuyến hành trình dài khủng khiếp. Đối với thủy thủ trên tàu cũng khó mà nhẫn chịu, bất quá họ đã sớm học được cách để bản thân trở nên sắt đá, giả vờ như họ chỉ giống như nông phu, mang theo gia súc tự nuôi của mình đi chợ.

Họ cập bến vào một ngày ấm áp dễ chịu, dừng đậu tại cảng Bridgetown trên đảo Barbados. Nô lệ bị thuyền nhỏ từ trên tàu đưa đến bờ, rồi bị đưa đến quảng trường thị trấn. Ở đó, có người hét lên bảo đóng ấn ký lên người họ, dùng gậy ngắn xua đuổi họ xếp thành một hàng. Tiếng cười vang lên, quảng trường lập tức chật cứng người, chọc họ, đâm họ. Những người đàn ông mặt đỏ gay gào thét, kiểm tra, hét lớn, bình luận, cá cược với nhau.

Odu và Ajao bị tách ra. Sự việc xảy ra quá nhanh. Một người đàn ông cao lớn cạy miệng Ajao, kiểm tra răng của cậu, nắn nắn cơ bắp trên cánh tay cậu, gật gật đầu, hai người đàn ông khác lập tức lôi Ajao đi. Cậu không đánh trả họ, chỉ lưu luyến nhìn Odu một cái, hét với cô một tiếng “Hãy dũng cảm lên”. Cô gật gật đầu, nước mắt lập tức trào ra, làm nhòe tầm mắt. Cô không nhịn được mà bật khóc nức nở. Chỉ cần hai người họ ở cùng nhau, họ là cặp song sinh, đầy ma lực và sức mạnh. Nhưng một khi bị tách rời, họ chỉ là hai đứa trẻ cảm thấy đau khổ.

Từ đó về sau cô không bao giờ gặp lại cậu nữa, chỉ duy nhất một lần, hơn nữa không phải là lúc còn sống.

Dưới đây là câu chuyện xảy ra với Ajao. Họ đưa cậu đến một nông trại trước, ở đó mỗi ngày họ đều đánh đập cậu vì những việc cậu đã làm hoặc chưa làm. Họ dạy cậu một chút tiếng Anh, còn đặt cho cậu một cái tên mới gọi là Black Jack, vì da của cậu đen như than chì. Cậu đào tẩu, nhưng họ dẫn chó săn đuổi theo cậu, đưa cậu trở lại nông trại, dùng rìu chặt đứt một ngón chân của cậu, cho cậu một bài học không bao giờ quên. Cậu muốn tuyệt thực để chết đói, nhưng khi cậu từ chối ăn cơm, họ đập gãy răng cửa của cậu, đổ thức ăn loãng vào miệng cậu. Cậu không có lựa chọn nào khác, chỉ có thể nuốt thức ăn xuống hoặc sống sờ sờ chết ngạt.

Vào thời đại đó, chủ nô thích những người sinh ra đã là nô lệ, xa xa hơn hẳn những nô lệ bị bán từ châu Phi sang. Những nô lệ sinh ra đã tự do luôn tìm cách đào tẩu, hoặc muốn tự sát, khiến lợi nhuận của họ tổn thất lớn.

Khi Black Jack mười sáu tuổi, cậu và vài nô lệ khác bị bán lại cho một đồn điền mía trên đảo Saint-Domingue. Họ đổi tên cho cậu, gọi gã nô lệ to con không có răng cửa này là Samson. Tại đồn điền, cậu gặp một người phụ nữ lớn tuổi đến từ ngôi làng của cậu — bà ấy trước kia là nô lệ làm việc nhà, nhưng sau đó ngón tay bà quá thô ráp, lại còn bị viêm khớp, thế là bị tống vào đồn điền. Bà nói cho cậu biết, người da trắng cố ý tách những nô lệ đến từ cùng một thị trấn, ngôi làng, cùng giữ một tín ngưỡng ra, để tránh họ hợp lại khởi nghĩa phản kháng. Chúng không thích nô lệ nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của chính mình.

Samson học được một chút tiếng Pháp, còn được dạy một chút giáo nghĩa Thiên Chúa giáo. Mỗi ngày trời chưa sáng, cậu đã phải bắt đầu cắt mía, làm liên tục cho đến tận sau khi mặt trời lặn.

Cậu có vài đứa con. Mặc dù bị nghiêm cấm, nhưng cậu vẫn cùng vài nô lệ khác lẻn vào rừng cây trong thời gian ngắn ngủi thuộc về mình vào ban đêm, nhảy điệu nhảy Kalinda, hát tán ca của Danbala (hình tượng của vị thần độc xà này là một con rắn màu đen). Cậu còn hát ca dâng lên Alaba, lên Ougu, Shango, Zaka và nhiều thần linh khác, tất cả những vị thần này đều là những vị thần mà nô lệ mang đến vùng đảo này, những vị thần này cư ngụ trong não của họ, bí mật sống trong trái tim họ.

Nô lệ ở đồn điền mía Saint-Domingue rất ít người có thể sống quá mười năm. Họ có thời gian nghỉ ngơi tự do: hai tiếng nóng nhất vào buổi trưa mỗi ngày và năm tiếng tối nhất vào ban đêm (từ mười một giờ đến bốn giờ sáng), nhưng đây cũng là khoảng thời gian duy nhất họ có thể trồng trọt chăm sóc lương thực thực dụng cho chính mình (chủ nhân của họ không chịu trách nhiệm nuôi dưỡng họ, chỉ cho họ một mảnh đất nhỏ để trồng trọt nuôi dưỡng chính mình), đồng thời cũng là thời gian họ ngủ và làm mộng. Cho dù như vậy, họ vẫn lợi dụng khoảng thời gian này để tập hội, nhảy múa, dâng lên lời tán ca cho thần linh. Thổ nhưỡng của Saint-Domingue rất phì nhiêu, ở đó, các vị thần Damballa, Kongo và Nago khiến rễ cây trồng cắm sâu xuống đất, quả thực lớn nhanh phì nhiêu. Họ còn hứa hẹn với những người thờ phụng họ trong đêm tối sẽ ban cho tự do.

Khi Samson hai mươi lăm tuổi, một con nhện cắn vào mu bàn tay phải của cậu. Vết thương rất nhanh bị nhiễm trùng, thịt trên mu bàn tay bắt đầu hoại tử. Không lâu sau, cả cánh tay sưng lên thành màu tím, tay cũng không nhấc lên nổi, cánh tay không ngừng co giật, đau đớn khó nhẫn.

Họ cho cậu uống rượu Rum loại kém, sau đó làm nóng dao rựa trên lửa, cho đến khi lưỡi dao biến thành màu hồng trắng. Họ dùng cưa cưa cánh tay cậu từ phần vai xuống, lại dùng lưỡi dao cháy đỏ thiêu đốt vết thương. Cậu sốt mê man suốt một tuần, sau đó lại quay về tiếp tục làm việc.

Người nô lệ chỉ có một cánh tay tên là Samson này đã tham gia cuộc khởi nghĩa nô lệ năm 1791.

Alaba trong rừng sâu khống chế cơ thể của Samson, ngài cưỡi trên người cậu, giống như người da trắng cưỡi ngựa vậy, ngài nói chuyện thông qua miệng của cậu. Cậu gần như không nhớ mình đã nói những gì, nhưng những người khác ở cùng cậu nói với cậu rằng, ngài hứa hẹn giải phóng họ, cho mọi người tự do. Cậu chỉ nhớ mình đã cương cứng, chỗ đó giống như một cây gậy lớn, cứng đến đau đớn khó đương. Cậu còn giơ cả hai tay lên —— một tay cậu hiện đang sở hữu, và một tay khác cậu đã vĩnh viễn mất đi —— hướng về phía mặt trăng lễ bái.

Họ giết một con heo, những người đàn ông phụ nữ trong đồn điền uống máu nóng của heo, thề rằng họ đã kết thành anh em chị em. Họ thề họ là một đội quân chiến đấu vì tự do, hướng về tất cả các vị thần minh của quê hương cũ trước khi họ bị bắt cóc mà thề.

“Nếu chúng ta hy sinh trong cuộc chiến với người da trắng,” họ nói với nhau, “Chúng ta sẽ có được sự tái sinh ở châu Phi, tại quê hương của chúng ta, tại bộ lạc của chúng ta sẽ tái độ trọng sinh.” Tham gia khởi nghĩa còn có một Samson khác, thế là họ gọi Ajao là Người Khổng Lồ Một Tay. Cậu thích suy nghĩ vấn đề, cậu được người ta sùng bái, cậu dũng cảm hy sinh bản thân, cậu giỏi lập mưu kế sách lược. Cậu nhìn thấy bạn bè và người yêu của mình lần lượt bị sát hại, thế nhưng cậu vẫn tiếp tục chiến đấu.

Họ chiến đấu suốt mười hai năm, đây là một cuộc kháng tranh điên cuồng, đẫm máu, tiến hành vì tự do. Họ chiến đấu với chủ đồn điền, chiến đấu với quân đội mà họ điều từ Pháp sang. Họ chiến đấu, tiếp tục chiến đấu. Cuối cùng, không thể tin nổi, họ cuối cùng cũng giành được thắng lợi.

Ngày 1 tháng 1 năm 1804, Saint-Domingue giành được độc lập. Rất nhanh, cả thế giới đều biết đến cuộc khởi nghĩa nô lệ này được gọi là Chiến tranh độc lập Haiti. Không may là, Người Khổng Lồ Một Tay đã không thể sống đến ngày nhìn thấy thắng lợi. Cậu tử trận vào tháng 8 năm 1802, bị một binh sĩ Pháp dùng lưỡi lê đâm chết.

Tại khoảnh khắc Người Khổng Lồ Một Tay qua đời (cậu từng được gọi là Samson, trước đó được gọi là Black Jack, nhưng trong lòng cậu, cậu mãi mãi là Ajao), chị gái của cậu cảm thấy lưỡi lê lạnh lẽo đâm vào xương sườn của mình (cô chỉ biết tên mình là Odu. Khi vừa đến một đồn điền ở Carolina, chủ nhân gọi cô là Mary, sau đó thành nô lệ làm việc nhà thì cô được gọi là Daisy, khi bị bán đến một gia đình họ Levy bên cạnh sông ở New Orleans, cô lại bị đổi tên thành Sukey). Tại khoảnh khắc đó, cô hét lên, khóc thảm thiết, không thể tự kiềm chế. Con gái song sinh của cô bị đánh thức, cũng bắt đầu gào khóc. Màu da đứa con mới sinh của cô là màu cà phê sữa, không giống những đứa trẻ da đen thui mà cô từng sinh ra ở đồn điền, nhạt hơn cả màu da khi cô còn là một cô bé. Những đứa trẻ sinh ra ở đồn điền đến mười tuổi, mười lăm tuổi sau, cô liền không bao giờ gặp lại chúng nữa. Vốn dĩ cô còn một đứa con gái, chết được một năm rồi, sau đó cô lại bị bán đi, rời xa con cái của mình.

Kể từ sau khi lên bờ, Sukey đã bị đánh đập rất nhiều lần, có một lần sau khi bị đánh còn bị người ta dùng muối sát vào vết thương. Còn có một lần, cô bị đánh đập quá nặng quá lâu, mấy ngày liền không thể ngồi xuống, thậm chí không dám để bất kỳ y phục nào chạm vào lưng mình. Khi còn trẻ, cô bị cưỡng hiếp rất nhiều lần, cả những người da đen chia sẻ tấm ván ngủ của chủ nhân, và cả người da trắng. Cô còn bị xích sắt xuyên qua, nhưng cô không khóc lóc. Kể từ sau khi em trai bị người ta vĩnh viễn đưa đi khỏi bên cạnh cô, cô chỉ khóc một lần. Lần đó là ở bang Bắc Carolina, lúc đó cô nhìn thấy thức ăn cho trẻ nô lệ và chó ăn bị đổ vào cùng một máng thức ăn, sau đó lại nhìn thấy đứa con nhỏ của mình tranh giành thức ăn thừa với chó. Cảnh tượng này trước kia cô cũng từng thấy, ở đồn điền ngày nào cũng có thể thấy, sau này còn sẽ thấy rất nhiều lần. Nhưng ngày đó, trái tim cô tan nát một khoảng thời gian, cô rất đẹp. Nhưng cuộc sống gian nan đau khổ đã để lại dấu ấn trên người cô, cô không còn xinh đẹp động lòng người nữa. Trên mặt cô đầy nếp nhăn, đôi mắt màu hạt dẻ đó chứa đựng quá nhiều đau khổ.

Từ mười một năm trước, lúc đó cô mới hai mươi lăm tuổi, cánh tay phải của cô đột nhiên bắt đầu teo rút. Không một người da trắng nào biết nguyên nhân. Thịt trên cánh tay dường như tan chảy từ trên xương xuống. Cánh tay phải của cô vẫn treo bên người, nhưng chỉ tốt hơn bộ xương khô bọc da một chút, gần như không thể di động. Kể từ đó, cô liền trở thành một nô lệ làm việc nhà.

Kỹ thuật nấu ăn và năng lực làm việc nhà của cô đã để lại ấn tượng sâu sắc cho gia đình Custard sở hữu đồn điền, nhưng cánh tay teo rút đó luôn khiến bà Custard không thoải mái, thế là cô bị bán cho gia đình Levy vừa mới chuyển từ Paris đến đây được một năm. Ông Levy là một người béo tốt, vui vẻ, ông ta cần một đầu bếp giỏi và một nữ hầu dọn dẹp tất cả công việc, hơn nữa ông ta cũng không mấy ghét bỏ cánh tay teo rút đó của Daisy. Một năm sau, họ trở về bang Louisiana, nô lệ Sukey cùng họ trở về.

Tại New Orleans, phụ nữ bắt đầu đến tìm cô, sau đó đàn ông cũng đến, đến mua thuốc trị bệnh và bùa yêu, còn có cả những bức tượng nhỏ. Trong đó có người da đen, nhưng cũng có người da trắng. Gia đình Levy đối với việc này nhắm một mắt mở một mắt. Có lẽ họ thích loại thanh vọng này, thích sở hữu một nô lệ khiến người khác sợ hãi và tôn kính. Tuy nhiên họ vẫn không bán cho cô sự tự do.

Đến buổi tối, Sukey sẽ lẻn ra bờ sông nhỏ, ở đó cô nhảy điệu Kalinda và điệu Bamboula. Giống như những vũ công ở Saint-Domingue và quê hương cô, người nhảy múa bên bờ sông nhỏ cũng có một con rắn đen, làm tín vật của đạo Voodoo. Nhưng cho dù như vậy, thần linh đến từ quê hương và thần linh ở các vùng khác của châu Phi lại không giống như cách phụ thân lên người em trai cô và người dân đảo Saint-Domingue, không phụ thân lên người cô. Cô vẫn kiên trì cầu khẩn họ, hô hoán tên của họ, cầu khẩn họ ban ân tứ.

Ban đầu, khi người da trắng bàn về cuộc khởi nghĩa nô lệ ở đảo Saint-Domingue cùng kết cục thất bại đã định của nó, cô từng đứng bên cạnh cẩn thận nghe lén —— “Hãy tưởng tượng xem! Một hòn đảo bị bộ lạc ăn thịt người chiếm giữ!” —— sau đó, cô phát hiện họ không còn bàn luận việc này nữa.

Rất nhanh, cô phát hiện họ giả vờ như trên thế giới này chưa từng có một nơi gọi là đảo Saint-Domingue. Còn về cái tên Haiti thì càng không bao giờ nhắc tới. Phảng phất như cả nước Mỹ đều cảm thấy, chỉ cần kiên quyết không thừa nhận, họ có thể khiến một hòn đảo lớn ở biển Caribbean biến mất theo ý muốn của họ.

Dưới sự chăm sóc của Sukey, những đứa con của gia đình Levy đã trưởng thành. Đứa con nhỏ nhất khi bập bẹ tập nói không biết gọi “Sukey”, chỉ gọi cô là Zozu-Mumu, cái tên này cứ thế được bảo lưu lại. Năm nay là năm 1821, Sukey đã hơn năm mươi tuổi, nhưng nhìn trông già hơn tuổi thật rất nhiều.

Lão Tát Ni Đề, người bán đường quả trước cửa tiệm tạp hóa ở Tạp Bỉ Đa, biết nhiều bí mật hơn cả Mã Lệ Tát La Bội, kẻ tự xưng là nữ vương Phục Đô. Cả hai người họ đều là những người da đen đã trở thành người tự do, trong khi Tổ Tổ Mụ Mụ đến tận bây giờ vẫn là nô lệ. Đúng như lời chủ nhân của bà nói, nô lệ thì đến chết vẫn là nô lệ.

Người phụ nữ trẻ tìm đến bà muốn biết rốt cuộc chồng mình đã xảy ra chuyện gì, liệu cô có trở thành góa phụ Mạt Thụy Tư hay không. Cô có bộ ngực cao, trẻ trung và kiêu ngạo. Trong người cô chảy dòng máu châu Phi, pha lẫn máu châu Âu và máu người Ấn Độ. Da cô màu nâu đỏ, mái tóc tỏa ánh đen, đôi mắt đen láy mà ngạo mạn. Chồng cô, Kiệt Khắc Mạt Thụy Tư, có lẽ đã chết rồi. Hắn có ba phần tư dòng máu người da trắng, sinh ra trong một gia đình từng rất kiêu ngạo, một gia đình di cư từ đảo Thánh Đa Minh Ca đến đây. Cũng giống như người vợ trẻ của mình, họ đều là những người sinh ra đã tự do.

“Kiệt Khắc của tôi đã chết rồi sao?” Góa phụ Mạt Thụy Tư hỏi. Cô là một thợ làm tóc chuyên phục vụ cho phụ nữ, đi hết nhà này sang nhà khác để chải chuốt kiểu tóc cho các quý bà thanh nhã ở Tân Áo Nhĩ Lương, giúp họ tham gia các hoạt động xã giao địa phương với vẻ ngoài rạng rỡ.

Tổ Tổ Mụ Mụ dùng xương để bói toán, rồi lắc lắc đầu. “Hắn đang ở cùng với một người đàn bà da trắng, ở đâu đó phía bắc nơi này.” Bà nói, “Đó là một người đàn bà da trắng với mái tóc màu vàng kim. Hắn vẫn còn sống.” Đây không phải ma pháp. Ở Tân Áo Nhĩ Lương, ai cũng biết Kiệt Khắc Mạt Thụy Tư rốt cuộc đã tư bôn với ai, cũng biết cả màu tóc của nhân tình hắn.

Tổ Tổ Mụ Mụ kinh ngạc nhận ra, góa phụ Mạt Thụy Tư dường như vẫn chưa biết Kiệt Khắc của cô ta đang trốn tại Khảo Nhĩ Phi Khắc Tư thị, mỗi đêm đều cắm cái "của quý" hỗn huyết của hắn vào thân thể người đàn bà da phấn trắng đó, hoặc nói đúng hơn là vào những đêm hắn không say bí tỉ. Sau khi uống say, thứ đó của hắn ngoài việc đi tiểu ra thì chẳng làm được trò trống gì. Có lẽ cô ta biết hết những điều này, hoặc có lẽ cô ta tìm đến bà vì một nguyên do khác.

Góa phụ Mạt Thụy Tư mỗi tuần đều đến thăm người nữ nô già này một hai lần. Một tháng sau, cô mang đến cho bà già lễ vật: dải băng buộc tóc, bánh ngọt, và một con gà trống đen.

“Tổ Tổ Mụ Mụ.” Người phụ nữ đó nói, “Bây giờ là lúc truyền dạy cho con những điều bà biết rồi.” “Được thôi.” Tổ Tổ Mụ Mụ, người vốn giỏi nhìn hướng gió đoán thời thế, đáp. Ngoài điều đó ra còn có một nguyên nhân khác. Góa phụ Mạt Thụy Tư từng thành thật nói rằng, khi sinh ra cô đã có ngón chân thừa, điều đó có nghĩa cô cũng là song sinh, nhưng đã giết chết người chị em song sinh của mình trong tử cung. Tổ Tổ Mụ Mụ còn có lựa chọn nào khác đây? Bà dạy cô cách xâu hạt nhân của hai hạt nhục đậu khấu bằng một sợi dây, đeo vào cổ cho đến khi sợi dây đứt. Sau đó, cô có thể dùng hai hạt nhân này để chữa chứng tạp âm tim; bắt một con cóc chưa từng bay (nhảy) bao giờ, mổ bụng nó rồi đặt lên đầu bệnh nhân có thể giúp bệnh nhân hạ sốt. Bà còn dạy cô cách chế tạo túi ước nguyện, đó là một chiếc túi da nhỏ, bên trong đựng mười ba đồng xu một xu, chín hạt bông, và một sợi lông lợn đen. Tổ Tổ Mụ Mụ còn dạy cô cách xoa bóp đại tử để nguyện vọng trở thành hiện thực.

Góa phụ Mạt Thụy Tư học được tất cả những gì Tổ Tổ Mụ Mụ dạy. Nhưng thực tế, cô không có chút hứng thú nào với những vị thần linh đó, mối quan tâm của cô chỉ là vu thuật thiết thực. Ví dụ như thả một con ếch sống vào mật ong rồi bỏ vào tổ kiến, sau đó, đợi khi thịt ếch bị kiến ăn sạch, chỉ còn lại bộ xương trắng tinh, kiểm tra kỹ lưỡng sẽ phát hiện ra bên trong có một khúc xương hình trái tim dẹt, và một khúc xương hình cái móc. Khúc xương hình móc này gài vào quần áo của gã đàn ông nào, hắn sẽ yêu bạn; còn khúc xương hình trái tim kia thì nhất định phải bảo quản cẩn thận (nếu thất lạc, tình yêu của người yêu bạn sẽ chuyển hóa thành sự thù hận đối với bạn). Nếu cả hai khúc xương đều được xử lý đúng cách, người đàn ông bạn ưng ý sẽ trở thành vật trong lòng bàn tay bạn.

Cô còn học được cách bỏ bột rắn khô vào phấn thơm mà tình địch hay dùng, có thể khiến đối phương bị mù mắt. Còn nếu muốn tình địch tự mình chết đuối, thì phải lấy một món đồ lót của ả, lộn trái nó lại, rồi vào đúng giờ ngọ dạ đem đốt dưới chân tường gạch.

Tổ Tổ Mụ Mụ dạy góa phụ Mạt Thụy Tư cách sử dụng rễ Thế Giới Kỳ Căn, chính là rễ của cây chinh phục giả Ước Hàn, có rễ to, có rễ nhỏ. Bà truyền thụ cho cô cách dùng máu rồng, hiệt thảo và ngũ chỉ thảo, dạy cô cách pha chế “Trà ngày càng tiêu tụy” và “Thuốc mê hồn ngoan ngoãn đi theo ta”.

Tất cả những kiến thức này, Tổ Tổ Mụ Mụ đều truyền hết cho góa phụ Mạt Thụy Tư. Thế nhưng, người đàn bà già nua này vẫn rất thất vọng. Bà đã dốc hết sức mình, muốn truyền thụ cho cô những kiến thức chân thật nhất, sâu sắc nhất ẩn giấu bên dưới những biểu tượng, bà muốn kể cho cô nghe những câu chuyện về Lai Cách Ba Ba Ba, Mã Ô, vị thần rắn độc Ngải Đa Uy Đa của giáo Phục Đô, cùng tất cả các vị thần linh khác. Nhưng, góa phụ Mạt Thụy Tư không có chút hứng thú nào với những vị thần đến từ những vùng đất xa xôi đó. (Bây giờ ta có thể nói cho các ngươi biết cái tên lúc cô ta chào đời, sau này cái tên này vang danh bốn phương, nổi tiếng thế giới: Mã Lệ Lặc Phất Ngõa. Tuy nhiên, vị này không phải là Mã Lệ Lặc Phất Ngõa nổi tiếng mà các ngươi từng nghe danh, mà là mẹ của bà ta. Vị này cuối cùng lại trở thành góa phụ Cách Lai Bình). Nếu nói đảo Thánh Đa Minh Ca là một vùng đất đen màu mỡ thích hợp cho các vị thần châu Phi sinh tồn, thì mảnh đất trồng ngô và dưa hấu, sản xuất tôm hùm đất và bông này, đối với thần linh mà nói, lại là vùng đất cằn cỗi và hoang vu.

“Cô ta không muốn tìm hiểu về các vị thần.” Tổ Tổ Mụ Mụ phàn nàn với người bạn tri kỷ Khắc Lai Mạn Đình. Khắc Lai Mạn Đình làm công việc giặt giũ quần áo, rèm cửa và ga trải giường cho rất nhiều gia đình trong vùng. Trên mặt Khắc Lai Mạn Đình có một vết sẹo bỏng loang lổ, một đứa con của bà chính là vì bàn ủi lật đổ mà bị bỏng chết.

“Vậy thì đừng dạy cô ta nữa.” Khắc Lai Mạn Đình hiến kế.

“Ta dạy cô ta, nhưng cô ta không nhìn ra giá trị chân chính của những kiến thức đó —— cái cô ta thấy chỉ là cô ta có thể dùng nó để làm gì. Ta cho cô ta kim cương, nhưng thứ cô ta thích lại là những hạt cườm thủy tinh đẹp đẽ; ta cho cô ta loại rượu vang đỏ ngon nhất, nhưng cô ta lại uống nước sông; ta cho cô ta món chim cút mỹ vị, nhưng cô ta lại chỉ muốn ăn chuột.” “Vậy tại sao bà vẫn kiên trì dạy cô ta?” Khắc Lai Mạn Đình hỏi.

Tổ Tổ Mụ Mụ nhún đôi vai gầy guộc, cánh tay teo tóp cũng theo đó rung lên.

Bà không thể trả lời. Bà có thể nói rằng lý do bà truyền thụ kiến thức cho người khác là vì bà vẫn còn sống, và cảm thấy biết ơn vì điều đó. Đây là sự thật, bà đã chứng kiến quá nhiều người chết rồi. Bà có thể nói rằng bà mơ ước một ngày nào đó nô lệ có thể được giải phóng, khi cuộc khởi nghĩa của họ ở Lạp Phổ Lạp Tư thất bại, từ sâu trong thâm tâm, bà biết rằng nếu không có sự giúp đỡ của các vị thần đến từ châu Phi, không có sự sủng ái và giúp đỡ của thần Lai Cách Ba và thần Mã Ô, họ không thể đánh bại những chủ nô da trắng, vĩnh viễn không thể trở về quê hương của mình.

Từ cái đêm kinh hoàng hơn hai mươi năm về trước, khi bà choàng tỉnh từ trong cơn mộng, cảm nhận thấy lưỡi kiếm lạnh lẽo đâm vào xương sườn, sinh mệnh của Tổ Tổ Mụ Mụ thực ra đã kết thúc rồi. Bây giờ bà sống không phải là thực sự sống, mà là sức mạnh của lòng thù hận đang chống đỡ lấy bà. Nếu ngươi hỏi mối thù hận trong lòng bà là gì, bà sẽ không kể cho ngươi về mối thù hận của một cô bé mười hai tuổi trên con thuyền đầy mùi xú uế, mối hận đó đã đóng vảy trong lòng bà từ lâu —— vì bà đã trải qua quá nhiều trận đòn roi, quá nhiều đêm bị đeo xiềng xích, quá nhiều cuộc chia ly sinh tử, quá nhiều đau khổ. Tuy nhiên, có lẽ bà sẽ kể cho ngươi chuyện về con trai bà, chỉ vì chủ nhân của họ phát hiện đứa trẻ đó biết đọc biết viết, kết quả là đã chặt đứt ngón tay cái của nó. Bà cũng có thể kể cho ngươi chuyện về con gái bà, nó mới mười hai tuổi mà đã bị cai thầu cưỡng hiếp, còn mang thai tám tháng; họ còn đào một cái hố trên đất đỏ, để đứa con gái bụng mang dạ chửa của bà nằm sấp lên đó, rồi họ đánh đập nó cho đến khi lưng nó máu thịt be bét. Dù có cái hố mang tác dụng bảo vệ đó, con gái bà vẫn mất đi đứa trẻ trong bụng, và cả sinh mệnh của chính nó. Lần bất hạnh đó xảy ra vào một buổi sáng chủ nhật, tất cả người da trắng đều đi lễ đường…… Quá nhiều hồi ức đau thương, quá nhiều thù hận.

“Sùng bái họ đi.” Sau nửa đêm, Tổ Tổ Mụ Mụ nói với góa phụ trẻ Mạt Thụy Tư bên bờ suối nhỏ. Cả hai đều cởi trần, mồ hôi đầm đìa trong đêm hè ẩm ướt. Dưới ánh trăng trắng, màu da càng thêm trầm đậm.

Chồng của góa phụ Mạt Thụy Tư là Kiệt Khắc (ba năm sau hắn chết với khuôn mặt biến dạng hoàn toàn, chỉ nhờ vài đặc điểm mới nhận ra được) từng kể cho Mã Lệ nghe về một vài vị thần của đảo Thánh Đa Minh Ca, nhưng cô chẳng để tâm chút nào. Trong mắt cô, sức mạnh bắt nguồn từ nghi thức tôn giáo, chứ không phải đến từ thần linh.

Tổ Tổ Mụ Mụ cùng góa phụ Mạt Thụy Tư khẽ ngâm xướng, họ dậm chân, khóc rống trong đầm lầy. Người phụ nữ tự do thuộc sắc tộc da màu này và người nữ nô với cánh tay teo tóp kia, họ cùng nhau ngâm xướng trong con suối nhỏ tựa như con rắn đen.

“Ngoài việc khiến vận thế của bản thân hưng vượng, khiến kẻ địch suy tàn ra, vẫn còn nhiều thứ cần phải học.” Tổ Tổ Mụ Mụ nói.

Rất nhiều ngôn ngữ trong nghi thức, những ngôn ngữ mà bà từng biết, cũng là ngôn ngữ mà huynh đệ bà biết —— những ngôn ngữ này đang trào ra từ trong ký ức của bà. Bà nói với Mã Lệ Lặc Phất Ngõa, bản thân ngôn ngữ không quan trọng, quan trọng là âm tiết và tiết tấu. Ca hát dậm chân trong con suối nhỏ như rắn đen khiến cô sinh ra một cảm giác như được trở về ngày cũ. Bà có thể nhìn thấy tiết tấu của những bài ca dao đó, nhìn thấy tiết tấu của vũ điệu Tạp Lâm Đạt, nhìn thấy tiết tấu của vũ điệu Ban Bố Lạp —— tất cả những nhịp điệu âm nhạc và vũ đạo châu Phi sinh ra gần xích đạo này, đang chậm rãi lan tỏa trên mảnh đất giữa đêm khuya, lan tỏa cho đến tận cả quốc gia. Cả mảnh đất đều đang run rẩy, lắc lư dưới nhịp đập của những vị thần cổ xưa trên mảnh đất mà bà từng rời bỏ.

Bà quay người đối diện với Mã Lệ xinh đẹp, nhìn thấy dáng vẻ của chính mình trong mắt cô: một người đàn bà già nua da đen, nếp nhăn xếp chồng trên mặt, cánh tay khô khốc như xương trắng treo cứng đờ bên thân. Bà còn nhìn thấy đôi mắt của chính mình trong mắt đối phương, một đôi mắt từng chứng kiến con mình và chó tranh giành thức ăn trong máng ăn. Bà đã nhìn thấy chính mình. Giờ phút này, lần đầu tiên bà biết được sự chán ghét và kinh hãi trong lòng người phụ nữ trẻ đó đối với mình.

Bà cười ha hả, ngồi xổm xuống, dùng bàn tay còn lành lặn nhặt lên một con rắn đen. Con rắn đó dài bằng con mèo nhỏ, to như sợi dây thừng trên thuyền.

“Cho cô đấy.” Bà nói, “Đây chính là thần Phục Đô của chúng ta.” Bà bỏ con rắn không hề phản kháng này vào một chiếc giỏ mà Mã Lệ mang đến.

Sau đó, dưới ánh trăng, cảnh tượng mà mắt thường không thể nhìn thấy được cuối cùng đã phụ thể lần cuối. Bà nhìn thấy huynh đệ A Gia Tô của mình. Cậu không còn là cậu bé mười hai tuổi mà lần cuối bà gặp ở thị trường nữa, mà là một người đàn ông trưởng thành cao lớn hói đầu. Cậu cười, lộ ra hàm răng không còn răng cửa, trên lưng in hằn những vết roi sâu hoắm. Tay trái cậu nắm một cây loan đao, còn cánh tay phải chỉ còn lại một đoạn tàn gốc.

Bà chìa bàn tay trái vẫn còn lành lặn của mình ra.

“Đừng đi, ở lại một lát.” Bà khẽ nói, “Ta sẽ đến chỗ của em. Rất nhanh thôi, ta sẽ được ở cùng với em rồi.” Mã Lệ Lặc Phất Ngõa vẫn tưởng rằng bà già đó đang nói chuyện với mình.

[Dịch từ bản hv] ChuongId:12
Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.