Tất cả mọi thứ trên lục địa này đều có quy mô siêu lớn. Sông ngòi bát ngát vô biên, khí hậu khi thì buốt giá lúc lại thiêu đốt, phong cảnh vô tiền khoáng hậu, ngay cả tiếng sấm dường như cũng đặc biệt chấn động vang dội. Sự hỗn loạn của quốc gia này làm lung lay tất cả các hiến pháp và chương trình. Những sai lầm mà chính người của chúng ta đã gây ra tại nơi đây — sự xử lý bất thỏa đáng của chúng ta, những mất mát của chúng ta, sự nhục nhã của chúng ta, và cả sự hủy diệt của chúng ta — ở nơi này cũng đều có quy mô siêu lớn.
— Thư của ngài Carlisle gửi George Selwyn, năm 1778.
Từ tiểu bang Georgia, Tennessee, cho đến tận Kentucky, trên mái của hàng trăm nhà kho cũ đều treo những tấm bảng quảng cáo, cho người ta biết đâu mới là thắng cảnh quan trọng nhất ở vùng đông nam nước Mỹ. Trên một con đường khúc khuỷu xuyên qua rừng rậm, các tài xế sẽ đi ngang qua một nhà kho cũ kỹ bằng gỗ đỏ đã mục nát từ lâu, nhìn thấy trên mái nhà sơn dòng chữ: "Tham quan Rock City, kỳ quan thứ tám của thế giới". Còn bên cạnh đó, trên mái của một chuồng bò sắp đổ nát, sơn những dòng chữ in màu trắng: "Tại Rock City nhìn xuống bảy tiểu bang, kỳ quan thế giới". Dưới sự dẫn dắt sai lệch của những tấm biển quảng cáo này, tài xế sẽ tưởng rằng Rock City nằm ngay khúc cua gần phía trước, chứ không phải xa tít dưới chân núi Lookout cách đó một ngày lái xe. Nơi đó nằm ở tiểu bang Georgia, ngay phía tây nam thành phố Chattanooga, Tennessee.
Núi Lookout thực ra không hẳn là một ngọn núi, mà chỉ là một đỉnh núi nhỏ cao một cách vô lý, đứng ở vị trí cao nhìn xuống. Trước khi người da trắng tới, một nhánh của người da đỏ Cherokee là tộc Chickamauga đã sinh sống ở đó. Họ gọi đỉnh núi ấy là "Chatotonoqi", dịch ra có nghĩa là: Ngọn núi nơi điểm cao nhất biến thành một chấm nhỏ.
Năm 1830, Andrew Jackson ban hành Đạo luật tái phân định người da đỏ, trục xuất người da đỏ khỏi vùng đất của họ, bao gồm toàn bộ tộc Choctaw, Chickamauga, Cherokee và Chickasaw. Đội kỵ binh Mỹ đã ép buộc bất cứ ai còn đi lại được phải thực hiện chuyến hành trình dài cả ngàn dặm, đi bộ đến khu định cư mới dành cho người da đỏ, tức bang Oklahoma sau này. Đây là một con đường di cư đầy máu và nước mắt, là một cuộc diệt chủng không chính thức. Hàng ngàn người đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã chết trên dọc đường đi. Kẻ thắng làm vua, kẻ thua làm giặc. Về điểm này, không ai có thể nói gì cả.
Có một cách nói: Ai kiểm soát được núi Lookout, người đó sẽ kiểm soát được vùng đất này. Dẫu sao, đây vừa là một nơi linh thiêng, vừa là điểm cao nhất của địa phương. Thời Nội chiến, nơi đây từng nổ ra một trận chiến: Trận chiến trên mây. Đó là trận đánh ngày đầu tiên của một cuộc đại chiến. Sau đó, quân Bắc đã làm được điều tưởng chừng không thể hoàn thành, quét sạch và chiếm lấy dãy núi Missionary khi chưa nhận được lệnh của cấp trên. Quân Bắc kiểm soát núi Lookout, quân Bắc giành được thắng lợi trong cuộc Nội chiến.
Trên núi Lookout có rất nhiều đường hầm và hang động, một số rất cổ xưa. Hầu hết các hang động hiện nay đều đã bị chặn lại. Mặc dù vậy, một thương gia địa phương vẫn khai quật ra một thác nước ngầm, đặt tên là thác Ruby, du khách có thể đi thang máy để đến đó. Đây là một điểm du lịch, nhưng nơi thu hút du khách nhất vẫn là đỉnh núi Lookout. Rock City nằm ở đó.
Ban đầu, Rock City là một khu vườn trang điểm cho sườn núi, những con đường nhỏ trong vườn dẫn dắt du khách đi vòng quanh các tảng đá, leo lên tảng đá, hoặc xuyên qua giữa những tảng đá. Họ bỏ tiền xu vào một khe nhận tiền, đi qua cầu treo, rồi dùng ống nhòm trả phí để thưởng ngoạn phong cảnh phía xa. Người ta nói rằng vào những ngày trời quang đãng hiếm hoi, nếu không khí đặc biệt trong lành, có thể nhìn thấy cảnh sắc của vài tiểu bang. Nơi đó giống như một địa ngục đông nghịt người, lối đi bộ chật cứng du khách, hàng năm có hàng triệu người đổ xô đến, chen chúc vào hang động, xem những mô hình búp bê được chiếu đèn từ phía sau (bày trí thành các khung cảnh câu chuyện trong những bài đồng dao và truyền thuyết thần thoại). Khi rời đi, trong lòng họ đều có chút mơ hồ, không hiểu tại sao mình lại đến, cũng không biết rốt cuộc đã xem được những gì, và liệu có chơi thỏa thích ở đó hay không.
Họ từ khắp mọi miền nước Mỹ đổ về núi Lookout. Họ không phải là du khách. Có người lái xe đến, có người đi máy bay, có người đi xe buýt, có người đi tàu hỏa, còn có những người đi bộ đến. Có một số người bay đến — bay rất thấp, và chỉ bay trong đêm tối mịt mù. Lại có vài người từ dưới lòng đất mà lên. Rất nhiều người dọc đường xin quá giang, cầu xin những tay lái mô tô hoặc tài xế xe tải đang căng thẳng hãy cho họ đi nhờ. Những người có xe hơi hoặc xe tải, nếu nhìn thấy những người đó ở ven đường, tại các trạm nghỉ chân đường dài, hoặc trong các quán ăn ven đường, và nhận ra thân phận của họ, sẽ chủ động cho họ đi nhờ.
Họ bụi bặm đầy mặt, thân xác mỏi mệt cập bến chân núi Lookout. Họ ngước nhìn sườn núi cao chót vót phủ đầy cây xanh, nhìn thấy — hoặc nói đúng hơn là tưởng tượng họ nhìn thấy — những con đường, khu vườn và thác nước ở Rock City phía trên kia.
Nhóm người đầu tiên đến vào sáng sớm, nhóm thứ hai thì đến vào lúc hoàng hôn. Trong những ngày tiếp theo, người của họ vẫn tiếp tục lục tục hội tụ về đây.
Một chiếc xe tải chuyển nhà cho thuê rách nát dừng lại, bước ra vài nàng Vila và Rusalka mệt mỏi rã rời vì chuyến hành trình dài, lớp trang điểm trên mặt họ hơi nhòe, tất dài bị móc rách, mi mắt sưng húp, trông cực kỳ mệt mỏi.
Cạnh một lùm cây dưới chân núi, một con ma cà rồng đã có tuổi đưa một điếu thuốc Marlboro cho một gã trông giống như con vượn, khoác trên mình bộ da màu cam rối bù. Nó lịch sự nhận lấy điếu thuốc, hai người vai kề vai, yên lặng hút thuốc.
Một chiếc Toyota Previa dừng bên đường, trên xe bước xuống bảy nam nữ người Trung Quốc. Nhìn chung, họ trông ai nấy đều sạch sẽ gọn gàng, mặc những bộ âu phục màu đen mà công chức cấp thấp ở một số quốc gia ưa chuộng. Một người trong số đó cầm bảng ghi chép có kẹp giấy, kiểm kê những túi golf khổng lồ lấy ra từ thùng xe. Trong túi golf chứa những thanh bảo kiếm có tay cầm sơn mài, còn có những cây gậy và chiếc gương được chạm khắc tinh xảo. Vũ khí được phân phát cho từng cá nhân, mỗi người đều kiểm tra kỹ lưỡng rồi ký nhận vào sổ.
Một diễn viên hài từng rất nổi tiếng, được cho là đã qua đời từ những năm 1920, bò ra khỏi chiếc xe rỉ sét của mình, trút bỏ quần áo. Ông ta có một đôi chân dê, cùng một cái đuôi rất ngắn, lắc lư qua lại như dê.
Bốn người Mexico kết bạn cùng đến, ai nấy đều tươi cười rạng rỡ, mái tóc đen nhánh sáng bóng. Họ truyền tay nhau một chai rượu, chai rượu được đựng trong túi giấy màu nâu để tránh bị người khác nhìn thấy, bên trong chứa một loại chất lỏng pha trộn giữa bột sô-cô-la, cồn và máu tươi.
Một người đàn ông thấp bé, râu đen, trên đầu đội một chiếc mũ phớt đen bẩn thỉu, mai tóc mai để một lọn tóc xoăn, khoác một chiếc khăn choàng cầu nguyện có tua rua thô ráp. Anh ta đi băng qua bãi cỏ, gia nhập vào đám đông. Người đồng hành của anh ta đứng cách đó vài bước chân, chiều cao gấp đôi anh ta, da có màu xám trắng như loại đất sét Ba Lan hảo hạng, trên trán xăm chữ, nghĩa là "Sự thật".
Nhiều người hơn nữa lần lượt kéo đến. Một chiếc xe taxi dừng lại, vài Rakshasa — tộc ác quỷ trên tiểu lục địa Ấn Độ — chui ra khỏi xe, đi dạo xung quanh, quan sát những người dưới chân núi, không nói một lời. Cuối cùng, họ tìm thấy Mama-ji. Bà ta hai mắt khép hờ, đôi môi mấp máy, đang cầu nguyện. Trong số những người này, họ chỉ nhận ra bà, nhưng vì những trận ác chiến tàn khốc đã diễn ra với bà trong quá khứ nên họ do dự, không dám lại gần. Bà đưa tay vuốt ve chuỗi vòng cổ đầu lâu trên cổ, làn da màu nâu dần dần biến thành màu đen, màu đen trong vắt như hắc ngọc và đá obsidian. Đôi môi bà lật ngược ra ngoài, để lộ những chiếc răng nanh trắng dài nhọn hoắt đáng sợ. Bà mở tất cả các con mắt, rồi vẫy tay gọi Rakshasa, bảo họ đến bên cạnh mình, chào đón họ như thể đang gọi những đứa con của chính mình vậy.
Những ngày gần đây, bão đã chuyển hướng sang phía bắc và phía đông, nhưng áp lực và cảm giác xao động bao trùm trong không khí vẫn chưa hề giảm bớt. Dự báo thời tiết địa phương cảnh báo mọi người rằng vùng áp cao sẽ hình thành lốc xoáy. Ban ngày ở đây rất ấm áp, nhưng ban đêm lại lạnh thấu xương.
Họ chia thành nhiều nhóm nhỏ không chính thức, có nhóm phân chia theo quốc tịch, có nhóm theo chủng tộc, có nhóm theo tính cách, thậm chí theo giống loài. Ai nấy trông đều đầy vẻ lo âu, và dáng vẻ vô cùng mệt mỏi.
Có một vài người đang trò chuyện, thỉnh thoảng có tiếng cười vang lên, nhưng chỉ là những tiếng cười thưa thớt. Hầu hết mọi người đều im lặng không nói. Những lốc bia sáu lon được truyền tay nhau trong đám đông.
Vài người đàn ông và phụ nữ địa phương cũng đi băng qua bãi cỏ, cử động cơ thể có phần kỳ quái. Khi cất tiếng nói, giọng nói của họ là giọng của những Loa đang chiếm giữ cơ thể họ. Một người đàn ông da đen cao lớn nói bằng giọng của Papa Legba, vị thần chịu trách nhiệm mở cánh cổng tử thần. Còn Baron Samedi, tử thần của giáo phái Voodoo, thì nhập vào cơ thể một cô gái hoang dã tuổi vị thành niên đến từ Chattanooga (có lẽ vì để mắt tới chiếc mũ cao lụa đen mà cô đội lệch trên đầu), thế nên, khi cô nói chuyện, phát ra chính là giọng trầm thấp của Baron. Cô hút một điếu xì gà khổng lồ, chỉ huy ba "Djinn" — thần của người chết. Ba vị Djinn này cư ngụ trong cơ thể ba anh em tuổi trung niên, họ mang theo súng săn làm vũ khí, thích kể những câu chuyện đùa tục tĩu đến mức đáng kinh ngạc. Kiểu đùa đó chỉ có chính họ mới thấy buồn cười, khiến họ cười mãi không dứt bằng giọng khàn đặc.
Hai người phụ nữ da đỏ tộc Chickamauga không rõ tuổi tác đi dạo quanh đó. Họ mặc quần jeans xanh dính dầu mỡ và áo khoác da cũ kỹ, nhìn những con người này, cùng sự chuẩn bị chiến đấu của họ. Đôi khi họ sẽ chỉ trỏ, rồi lắc đầu. Họ không có ý định tham gia vào cuộc xung đột sắp tới.
Mặt trăng mọc từ phía đông. Còn một ngày nữa là đến trăng tròn, mặt trăng dường như chiếm trọn một nửa bầu trời. Sau khi nó mọc lên, một tầng ánh sáng màu cam đỏ thẫm bao phủ lấy dãy núi. Mặt trăng càng lên càng cao, kích thước theo đó mà thu nhỏ lại, ánh trăng cũng biến thành màu trắng bệch. Cuối cùng, mặt trăng treo lơ lửng trên không trung cao vút như một chiếc đèn lồng.
Nhiều người như vậy đang chờ đợi ở đây. Dưới ánh trăng, dưới chân núi Lookout, họ kiên nhẫn chờ đợi.
Laura thấy khát.
Người sống sẽ cháy rực trong tâm trí cô. Đôi khi rất yên tĩnh, như một ngọn nến, đôi khi lại như ngọn đuốc rực lửa. Vì vậy cô rất dễ dàng tránh né họ, cũng rất dễ dàng tìm thấy họ. Thế nhưng, Cái Bóng lại cháy lên một cách kỳ lạ, treo trên cái cây đó, tỏa ra thứ ánh sáng cực kỳ độc đáo thuộc về chính anh.
Có một lần, cô trách móc anh không thực sự sống. Lúc đó cô đã chết, hai người nắm tay nhau cùng đi. Khi đó, cô thật lòng mong có thể nhìn thấy anh bùng lên những tia lửa do cảm xúc kích động mà sinh ra, có thể nhìn thấy thứ gì đó không tầm thường, dù thứ đó là gì đi nữa.
Cô vẫn nhớ mình từng đi bên cạnh anh, một lòng hy vọng anh có thể hiểu những gì cô nói với anh.
Nhưng bây giờ, Cái Bóng treo mình trên cây, thoi thóp, đồng thời lại bùng nổ sức sống chưa từng có. Cô nhìn sinh mệnh của anh yếu dần đi, đồng thời lại sống một cách thực sự, chưa từng có. Anh cầu xin cô ở lại cùng anh, ở đây vượt qua cả đêm nay. Anh tha thứ cho cô rồi... có lẽ đã tha thứ cho cô. Nhưng tha thứ hay không không quan trọng. Cô chỉ biết một điều: Anh đã thay đổi.
Cái Bóng bảo cô hãy đến nông trại, nói rằng họ sẽ cho cô nước uống. Nhưng trong căn nhà nông trại không có ánh đèn, cô cũng không cảm thấy có người ở bên trong. Tuy nhiên, anh nói họ sẽ chăm sóc cô. Cô đẩy cửa nông trại một cái, cánh cửa tự động mở ra, bản lề rỉ sét kêu lên những tiếng rít chói tai đầy phản kháng.
Trong lá phổi trái của cô có thứ gì đó đang chuyển động, thứ đó bò trườn ngoe nguẩy, khiến cô không kìm được mà ho lên.
Cô phát hiện mình bước vào một hành lang hẹp, con đường phía trước gần như bị chặn đứng hoàn toàn bởi một cây đàn piano lớn phủ đầy bụi bặm. Bên trong căn nhà có mùi ẩm mốc. Cô đi vòng qua cây đàn, đẩy một cánh cửa khác, kết quả là bước vào một phòng khách rách nát. Trên tường vẽ những họa tiết, trong phòng bày đầy đồ đạc sắp đổ nát. Một ngọn đèn dầu đang cháy trên bệ lò sưởi, lò sưởi bên dưới đang đốt những viên than, nhưng vừa rồi khi ở ngoài nhà, cô không nhìn thấy cũng không ngửi thấy mùi khói. Cô cảm thấy những viên than đang cháy dường như không làm căn phòng ấm lên chút nào, nhưng Laura thà đổ lỗi điều này cho tòa nhà cũ kỹ này, nó thực sự quá lạnh lẽo.
Cái chết khiến Laura đau đớn, phần lớn sự đau đớn xuất phát từ sự thiếu thốn, thiếu nước, thiếu nhiệt lượng. Cảm giác khát cháy bỏng thiêu khô từng tế bào trong cơ thể cô, cơ thể và xương cốt không thể sản sinh ra chút nhiệt lượng nào. Đôi khi, cô sẽ không tự chủ được mà nghĩ: Ngọn lửa lách tách trên giàn hỏa táng liệu có mang lại nhiệt lượng cho cô không, tấm chăn màu nâu làm từ lớp đất mềm dưới lòng đất liệu có khiến cô cảm thấy ấm áp không, đại dương lạnh lẽo liệu có thể xoa dịu cơn khát của cô không... Cô đột nhiên nhận ra, căn phòng này không hề không có người.
Ba người phụ nữ ngồi sát nhau trên một chiếc ghế sofa cũ kỹ, trông như một nhóm triển lãm nghệ thuật. Chất liệu của ghế sofa là lớp nhung màu nâu đã phai màu, cũ nát, một trăm năm trước, nó từng có màu vàng nhạt rực rỡ. Từ sau khi cô bước vào, ánh mắt của họ vẫn luôn dõi theo cô, nhưng không ai lên tiếng nói câu nào.
Laura không ngờ họ lại xuất hiện ở đây.
Có thứ gì đó đang ngoe nguẩy trong khoang mũi cô. Laura lấy ra một tờ giấy ăn từ trong ống tay áo, bắt đầu hỉ mũi. Cô vo tờ giấy lại, ném cùng với thứ bên trong vào đống than đang cháy, nhìn nó nhăn nhúm, biến đen, bùng lên ngọn lửa màu cam trong đám cháy. Chỉ thấy mấy con giòi đó cũng nhăn nhúm, đổi màu trong ngọn lửa, cuối cùng bốc cháy.
Cô quay người đối diện với những người phụ nữ trên ghế sofa. Từ khi cô bước vào phòng khách, họ vẫn luôn bất động, đến một cơ bắp, một sợi tóc cũng không hề cử động. Họ vẫn nhìn chằm chằm vào cô.
"Chào các cô, đây là nông trại của các cô à?" Cô hỏi.
Người phụ nữ cao nhất gật đầu. Đôi tay cô ta đỏ ửng, vẻ mặt lạnh lùng.
"Cái Bóng — chính là người đang treo trên cái cây ngoài kia, anh ấy là chồng tôi. Anh ấy bảo tôi nói với các cô, xin các cô cho tôi chút nước uống." Trong nội tạng cô có thứ gì đó rất lớn đang chuyển động, nó ngoe nguẩy một hồi, rồi lại dừng lại.
Người phụ nữ thấp nhất leo xuống khỏi ghế sofa. Khi cô ta ngồi trên ghế sofa, chân còn chưa chạm đất. Cô ta vội vã chạy ra khỏi phòng.
Sau tiếng mở cửa đóng cửa, bên ngoài căn nhà nông trại truyền đến một tiếng cọt kẹt rất lớn, mỗi lần đều kèm theo tiếng nước bắn tung tóe.
Rất nhanh, người phụ nữ nhỏ nhắn đã quay lại. Cô ta bưng một chiếc vò đất màu nâu, bên trong chứa đầy nước. Cô ta cẩn thận đặt chiếc vò lên bàn, rồi quay người trở lại ghế sofa. Cô ta vặn vẹo cơ thể leo lên ghế sofa, ngồi lại bên cạnh các chị em của mình.
"Cảm ơn." Laura đi tới cạnh bàn, nhìn quanh bốn phía, muốn tìm cốc uống nước, nhưng không nhìn thấy gì cả. Cô xách chiếc vò đất lên, phát hiện nó nặng hơn nhiều so với vẻ ngoài. Nước trong vò đặc biệt trong lành tinh khiết.
Cô đưa vò lên miệng, uống lấy uống để.
Nước rất lạnh, lạnh hơn bất kỳ loại nước nào cô có thể tưởng tượng. Nó làm đóng băng lưỡi, răng và cổ họng cô. Nhưng cô vẫn tiếp tục uống, cô không thể dừng lại, cảm giác nước lạnh thấu đến tận dạ dày, lạnh đến tận nội tạng, trái tim và mạch máu của cô.
Nước như băng lỏng, chảy vào trong cơ thể cô.
Rất lâu sau, cô mới đột ngột nhận ra vò nước đã cạn sạch, có chút kinh ngạc đặt chiếc vò không về lại trên bàn.
Những người phụ nữ đó vẫn luôn bình tĩnh quan sát cô. Sau khi chết, dù là suy nghĩ hay nói chuyện, Laura không còn cần dùng phương pháp ẩn dụ nữa, mọi chuyện nên thế nào thì chính là thế đó. Thế nhưng bây giờ, nhìn ba người phụ nữ trên ghế sofa, cô phát hiện mình nghĩ đến bồi thẩm đoàn, là những nhà khoa học đang quan sát động vật thí nghiệm.
Đột nhiên, cô bắt đầu run rẩy, những cơn run rẩy co giật. Cô đưa tay bám vào bàn, muốn giữ thăng bằng, nhưng cái bàn đột ngột nghiêng sang một bên, như muốn tránh né cô vậy. Cuối cùng khi bám chắc được bàn, cô dữ dội nôn thốc nôn tháo. Cô nôn ra mật, dung dịch formaldehyde, vô số con rết và giòi. Sau đó, cô cảm thấy mình bắt đầu bài tiết, bắt đầu đi tiểu, chất bảo quản nhanh chóng bài tiết ra khỏi cơ thể cô, ướt sũng. Nếu cô còn có thể kêu cứu, cô nhất định sẽ hét lên, nhưng sàn nhà lao đến vồ lấy cô, cô ngã xuống. Nếu cô còn có hơi thở, cú va chạm này sẽ va đến mức khiến cô không thở nổi.
Thời gian nhấn chìm cô, rót vào trong cơ thể cô, gào thét xoay vần như bão cát. Hàng ngàn ký ức ùa về trước mắt trong một khoảnh khắc: Cô bị lạc trong cửa hàng, đó là trước lễ Giáng sinh, cô tìm khắp nơi cũng không thấy bố đâu; cô ngồi trong quán bar Gitchi, gọi một ly cocktail dâu tây, hẹn hò với một chàng trai to lớn vẻ mặt nghiêm túc, thầm nghĩ không biết trình độ hôn của anh ta thế nào; cô ở trong xe, chiếc xe lắc lư nghiêng ngả, Robbie gào thét với cô, cột sắt chống va chạm cuối cùng đã chặn được chiếc xe, nhưng không thể chặn được người trong xe tiếp tục lao về phía trước do ảnh hưởng của quán tính... Dòng nước thời gian, nó đến từ suối Yoda, suối nguồn vận mệnh. Nó không phải là nước sự sống, không hoàn toàn là thế. Nhưng thứ tưới tắm cho rễ của Cây Thế Giới chính là dòng nước thời gian. Trên đời không còn loại nước nào kỳ diệu tương tự như nó nữa.
Khi Laura tỉnh lại, nông trang trống không một bóng người. Cô run rẩy không thể kiểm soát, hơi thở ngưng kết thành một màn sương trắng trong không khí lạnh lẽo buổi sớm. Trên mu bàn tay cô có một vết trầy xước, trên vết thương có một chút thứ gì đó ẩm ướt — máu tươi màu đỏ rực.
Và rồi, cô biết mình nên đi đến nơi nào. Cô đã uống dòng nước thời gian từ suối nguồn vận mệnh, cô có thể nhìn thấy ngọn núi đó trong tâm trí mình.
Cô liếm sạch máu trên mu bàn tay, lớp màng mỏng do nước bọt tạo thành khiến cô vô cùng kinh ngạc. Sau đó, cô lên đường.
Đây là một ngày của tháng Ba ẩm ướt, lạnh đến mức bất thường. Cơn bão mấy ngày trước lao thẳng về phía các tiểu bang miền nam, điều này có nghĩa là Rock City trên núi Lookout sẽ chẳng có du khách nào cả. Đèn trang trí Giáng sinh vừa mới tháo xuống, du khách tham quan mùa hè vẫn chưa tới.
Thế nhưng, nơi đây vẫn tập trung rất nhiều người. Sáng hôm đó thậm chí còn có một chiếc xe buýt du lịch đến, từ trong xe bước ra hơn mười người đàn ông phụ nữ. Làn da của họ đều rám nắng màu trà hoàn mỹ không tì vết, đầy bóng bẩy, trên mặt treo nụ cười khiến người khác cảm thấy an tâm. Nhìn cách ăn mặc trang điểm của họ, dường như là những người dẫn chương trình thời sự. Bạn gần như có thể tưởng tượng ra, ngay cả trên người họ cũng tỏa ra ánh sáng huỳnh quang nhàn nhạt, khi bước đi, hình dáng của họ trông hơi mơ hồ một chút. Một chiếc xe Hummer màu đen dừng lại trước Rock City.
Nhóm người truyền hình này tập trung đi qua Rock City, dừng lại bên cạnh một tảng đá khổng lồ luôn giữ trạng thái cân bằng không hề di chuyển, dùng giọng nói dễ chịu, đầy lý trí trò chuyện với nhau.
Họ không phải là nhóm du khách duy nhất ở đây. Nếu như dạo quanh các con đường bên trong Rock City vào ngày hôm đó, bạn có lẽ sẽ phát hiện ra, ở đây vừa có những người trông như ngôi sao điện ảnh, cũng có những người như người ngoài hành tinh, còn có một số người đơn giản giống như khái niệm về con người, chứ không phải thực thể con người. Bạn có lẽ sẽ nhìn thấy những người này, nhưng khả năng cao hơn là, bạn căn bản sẽ không chú ý đến sự tồn tại của họ.
Họ đi xe limousine, xe thể thao, hoặc xe SUV bốn bánh siêu lớn đến đây. Rất nhiều người đeo kính râm, rõ ràng đã quen với việc trong nhà hay ngoài trời đều đeo kính râm, không muốn tháo ra, cứ tháo ra là cảm thấy không thoải mái. Khắp nơi đều là làn da xinh đẹp được nhuộm nắng kỹ lưỡng, những bộ âu phục vừa vặn, kính râm, nụ cười hoặc cái cau mày chừng mực. Tất cả đều đã đến — chiều cao khác nhau, ngoại hình khác nhau, độ tuổi và phong độ khác nhau.
Những người này chỉ có một điểm chung, là một loại biểu cảm, một loại biểu cảm vô cùng đặc biệt, như thể đang nói: Bạn biết tôi, hoặc, bạn nên biết tôi. Sự thân thuộc này đồng thời tạo cho bạn một cảm giác khoảng cách. Thần thái, thái độ của họ, không chỗ nào không thể hiện một niềm tin: Họ tin rằng thế giới này tồn tại vì họ, và hoan nghênh họ, họ là người được mọi người tôn sùng và yêu mến.
Cậu bé béo cũng đi trong số họ, bước chân lười biếng. Những người tuy không có bất kỳ kỹ năng xã giao nào nhưng vẫn đạt được thành công rực rỡ, phần lớn đều có bước đi kiểu này. Chiếc áo khoác màu đen của cậu đập phành phạch trong gió.
Một sinh vật đứng ở cửa tiệm đồ uống Mother Goose ho một tiếng, thu hút sự chú ý của cậu. Sinh vật đó rất vạm vỡ, ngón tay cầm một lưỡi dao mổ, cạo trên mặt. Trên mặt nó mọc đầy khối u. "Chắc chắn sẽ là một trận đại chiến." Nó nói, giọng dính nhớp.
"Sẽ chẳng có trận đại chiến nào cả." Cậu bé béo nói, "Mẹ kiếp chẳng qua chỉ là một sự thay đổi, một cuộc chỉnh đốn. Như Lão Tử của Đạo gia vậy, những hình thức như chiến tranh sớm đã lỗi thời mẹ kiếp rồi." Sinh vật mọc u trên mặt chớp chớp mắt nhìn cậu. "Cứ chờ xem." Nó chỉ nói một câu đó.
"Muốn nói gì thì nói." Cậu bé béo nói, "Tôi đang tìm Ngài World. Ông có nhìn thấy ông ta không?" Sinh vật đó dùng lưỡi dao mổ cạo mặt, ép khối u ở môi dưới càng nhô ra hơn. Nó gật đầu, nói: "Ông ta ở đằng kia." Cậu bé béo đi về hướng nó chỉ, ngay cả một lời cảm ơn cũng không nói. Sinh vật mọc khối u không lên tiếng, cho đến khi cậu bé béo đi ra khỏi phạm vi tầm nhìn của nó.
"Chắc chắn sẽ có một trận ác chiến." Sinh vật mọc khối u nói với một người phụ nữ có những đốm huỳnh quang lấp lánh trên mặt.
Cô ta gật đầu, tiến lại gần hơn. "Trước đại chiến, ông có cảm giác gì?" Giọng điệu cô ta tràn đầy sự cảm thông.
Nó chớp chớp mắt, rồi nói cho cô ta biết.
Chiếc xe Ford Explorer của Mr. Town có một bộ định vị toàn cầu, một màn hình huỳnh quang nhỏ sẽ hiển thị vị trí của xe dựa theo chỉ dẫn vệ tinh. Nhưng, rời khỏi Fort Black, lái lên con đường nông thôn, anh ta vẫn bị lạc. Những con đường lái xe qua dường như hoàn toàn khác với những lộ trình hỗn loạn hiển thị trên màn hình. Cuối cùng, anh ta dừng xe trên một con đường nông thôn, hạ cửa sổ xe xuống, hỏi thăm một người phụ nữ béo đang dắt chó đi dạo vào buổi sáng xem đi đến Nông trại Cây Tần Bì như thế nào.
Cô ta gật đầu, chỉ một hướng, lại nói thêm vài câu. Anh ta không nghe hiểu lời cô ta, nhưng vẫn nói một câu vô cùng cảm ơn, rồi đóng cửa sổ xe lại, lái xe về hướng đại khái mà cô ta chỉ.
Anh ta tiếp tục lái khoảng bốn mươi phút, lái qua con đường nông thôn này đến con đường nông thôn khác, nhưng không có con đường nào là con đường anh ta cần tìm. Town bực bội cắn môi dưới.
"Tôi quá già rồi, không thích hợp làm công việc này nữa." Anh ta tự nói ra tiếng với chính mình.
Anh ta đã gần 50 tuổi, dành nửa đời người trong một cơ quan chính phủ lấy các chữ cái viết tắt làm tên. Hơn mười năm trước, công việc của anh ta có một sự thay đổi. Ngay cả bản thân anh ta cũng nói không rõ, từ lúc đó trở đi, anh ta có tính là đã rời khỏi cơ quan chính phủ, chuyển sang làm việc cho doanh nghiệp tư nhân hay không. Đôi khi anh ta cảm thấy mình không còn là người của chính phủ nữa, đôi khi lại cảm thấy mình vẫn đang làm việc cho chính phủ. Mặc kệ đi, chỉ có đám dân thường trên đường phố mới thực sự tin rằng giữa hai cái đó có sự khác biệt.
Ngay lúc anh ta không còn hy vọng tìm thấy nông trại, chiếc xe leo lên một sườn dốc, nhìn thấy tấm biển báo viết tay trên cổng nông trại. Viết rất đơn giản, giống như người khác nói với anh ta vậy: "Nông trại Cây Tần Bì". Anh ta dừng chiếc Ford Explorer, ra khỏi xe, mở sợi dây điện thắt cổng nông trại, quay trở lại xe, lái vào trong.
Chuyện này cũng giống như luộc ếch vậy, anh ta nghĩ, bạn bỏ ếch vào trong nước lạnh, rồi đun nóng. Đợi đến khi ếch phát hiện không ổn, nó đã bị luộc chín rồi. Thế giới mà anh ta đang làm việc chính là như vậy. Dưới chân không có mặt đất vững chắc, nước trong vò đã sôi ùng ục rồi.
Lúc mới điều chuyển sang bộ phận đặc vụ, mọi việc trông có vẻ rất đơn giản. Bây giờ thì — không phải phức tạp, anh ta nghĩ, mà là kỳ quái. Hai giờ sáng hôm đó, anh ta ngồi trong văn phòng của Ngài World, nhận nhiệm vụ của mình. "Anh nhớ kỹ chưa?" Ngài World hỏi, đưa cho anh ta một con dao găm có vỏ bao bằng da màu đen. "Cắt cho ta một cành cây, chiều dài không được quá hai feet." "Rõ." Anh ta nói, không kìm được lại hỏi, "Tại sao phải làm chuyện này, thưa ngài?" "Vì ta ra lệnh cho anh làm." Ngài World nhàn nhạt nói, "Tìm cái cây đó, hoàn thành nhiệm vụ, rồi hội hợp với ta ở Chattanooga. Đừng lãng phí thời gian." "Còn tên khốn đó thì sao?" "Ý anh là Cái Bóng? Nếu anh nhìn thấy hắn, hãy tránh xa hắn. Đừng chạm vào hắn, thậm chí đừng quấy rầy hắn. Ta không muốn anh biến hắn thành một liệt sĩ. Hiện tại trong ván bài này không có chỗ cho liệt sĩ." Ông ta mỉm cười, trên mặt có vết sẹo, để lộ nụ cười. Ngài World rất dễ cảm thấy vui vẻ, Mr. Town đã phát hiện ra mấy lần rồi. Lần trước ở Kansas, anh ta đóng vai trò tài xế, nhưng lại cảm thấy rất vui vẻ.
"Nhưng —" "Không cần liệt sĩ, Town." Town gật đầu tỏ ý đã hiểu, cắm dao găm vào bao, đè nén ngọn lửa giận dữ đang dâng trào trong lòng, chôn sâu nó vào đáy lòng.
Mối hận của Mr. Town đối với Cái Bóng đã trở thành một phần của chính bản thân anh ta. Lúc ngủ, anh ta sẽ nhìn thấy gương mặt biểu cảm nghiêm túc của Cái Bóng, nhìn thấy nụ cười nửa miệng của hắn. Loại biểu cảm đó khiến Town rất muốn đấm một cú thật mạnh vào bụng hắn. Sau khi ngủ thiếp đi, anh ta đều có thể cảm thấy hàm răng mình nghiến chặt, huyệt thái dương căng lên, cổ họng nóng rát.
Anh ta lái chiếc Ford Explorer băng qua bãi cỏ, đi qua căn nhà nông trại sắp đổ nát, leo lên một con dốc, rồi nhìn thấy cái cây đó. Anh ta dừng xe bên cạnh cây, tắt máy. Đồng hồ trên bảng điều khiển hiển thị bây giờ là 6:38 sáng. Anh ta để chìa khóa lại trong xe, đi về phía cái cây.
Cái cây này cao bất thường, cành lá rậm rạp, và dường như tồn tại một quy chuẩn đo lường hoàn toàn thuộc về chính nó, khiến Town không nói rõ được rốt cuộc nó cao 50 feet, hay cao tới tận 200 feet. Vỏ cây có màu xám của loại cà vạt lụa cao cấp.
Ở một độ cao cách mặt đất, một người đàn ông khỏa thân bị những sợi dây chằng chịt đan xen trói chặt vào thân cây. Dưới gốc cây thì bày một thứ gì đó được bọc trong ga trải giường, Town đi ngang qua mới chú ý tới. Anh ta đá đá vào ga trải giường, khuôn mặt bị đạn phá hủy một nửa của Mr. Wednesday lộ ra, ngơ ngác trừng mắt nhìn anh ta.
Town đi đến dưới gốc cây, vòng qua thân cây đi ra phía sau, tránh tầm nhìn của căn nhà nông trại, cởi khóa quần, tiểu một bãi vào thân cây. Anh ta kéo khóa quần lên, đi đến phía căn nhà, tìm thấy một cái thang gỗ, vác nó đến dưới gốc cây. Anh ta cẩn thận tựa thang vào thân cây, theo thang leo lên trên.
Cái Bóng không có lấy một chút sức sống, treo lơ lửng trong sợi dây trói hắn vào cây. Town không biết người này còn sống hay không: ngực anh ta không có sự phập phồng của hơi thở. Dù sao thì, anh ta sống hay chết đều như nhau.
"Chào, tên khốn." Town nói to, Cái Bóng không hề cử động.
Town bước lên nấc thang cao nhất, rút dao găm ra. Anh ta tìm thấy một cành cây nhỏ, dường như phù hợp với yêu cầu của Ngài World. Anh ta dùng lưỡi dao găm chém xuống gốc cành cây, sau khi chém đứt một nửa thì dùng tay bẻ cành cây xuống. Cành cây này dài khoảng 30 inch.
Anh ta cắm dao găm trở lại bao, theo thang leo xuống. Khi đi ngang qua phía đối diện Cái Bóng, anh ta dừng lại. "Trời ạ, tôi thật sự hận ông đến tận xương tủy!" Anh ta nói một cách độc địa. Anh ta thật sự muốn rút súng lục ra, bắn chết hắn, nhưng anh ta biết không thể làm thế. Thế là, anh ta giơ cành cây lên, bày ra tư thế ám sát, đâm giả về phía đối phương. Chỉ là một động tác theo bản năng, nhưng lại chứa đầy sự thất vọng và giận dữ. Anh ta tưởng tượng trong tay mình cầm là một ngọn giáo thật sự, đâm vào bụng Cái Bóng, khuấy đảo thật mạnh bên trong.
"Được rồi." Anh ta nói to, "Không còn thời gian nữa." Anh ta lập tức nghĩ, bắt đầu tự nói chuyện với mình, đây là dấu hiệu đầu tiên của sự phát điên. Anh ta lại bước xuống mấy nấc thang, rồi nhảy một cái, nhảy thẳng xuống đất. Anh ta nhìn cành cây đang cầm trong tay, cảm thấy mình giống như một đứa trẻ. Cầm một cành cây, nhưng lại giả vờ nó là một thanh bảo kiếm hoặc ngọn giáo. Mình hoàn toàn có thể tùy tiện chặt một cành cây từ bất cứ cái cây nào, anh ta nghĩ, không nhất thiết phải là cái cây này. Mẹ kiếp ai mà biết được chứ.
Anh ta lại nghĩ, Ngài World nhất định sẽ biết.
Anh ta để thang về lại cạnh căn nhà nông trang. Ánh mắt liếc qua một cái, anh ta cảm thấy có thứ gì đó đang chuyển động. Anh ta nhìn xuyên qua cửa sổ vào trong. Căn phòng tối tăm chứa đầy đồ đạc rách nát, vôi trên tường đều bong tróc. Trong một khoảnh khắc, dường như trong ảo giác nửa mơ nửa tỉnh, anh ta tưởng tượng mình nhìn thấy ba người phụ nữ, đang ngồi trong phòng khách đen ngòm.
Một người trong đó đang đan len, người kia mắt nhìn chằm chằm vào anh ta, còn một người rõ ràng đang ngủ. Người phụ nữ đang nhìn chằm chằm vào anh ta đột nhiên cười rộ lên, miệng toác ra rất lớn, nụ cười gần như rộng bằng cả khuôn mặt cô ta, khóe miệng từ bên tai này kéo tận sang bên tai kia. Sau đó, cô ta giơ một ngón tay lên đặt trên cổ, nhẹ nhàng lướt từ một bên cổ sang bên kia.
Anh ta tưởng mình đã nhìn thấy, ngay trong căn phòng trống rỗng đó, xảy ra chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Định thần nhìn lại, ngoại trừ đồ đạc cũ nát mục nát, cái gì cũng không có. Trong phòng căn bản không có người.
Anh ta dụi dụi mắt.
Town đi trở lại chiếc xe Ford Explorer màu nâu, leo lên xe. Anh ta ném cành cây lên ghế hành khách bọc da màu trắng bên cạnh, vặn chìa khóa trong bộ đánh lửa. Thời gian trên bảng điều khiển hiển thị thế mà lại là 6:37 sáng. Anh ta kiểm tra đồng hồ đeo tay của mình, những con số nhấp nháy trên đó là 13:58.
Tuyệt thật. Anh ta nghĩ, hoặc là mình đã ở trên cái cây đó suốt tám tiếng đồng hồ, hoặc là thời gian đã quay ngược lại một phút. Nhưng anh ta khẳng định đây chỉ là sự trùng hợp, hai cái đồng hồ vừa vặn cùng bị hỏng một lúc.
Trên cây, cơ thể Cái Bóng bắt đầu chảy máu. Vết thương nằm ở phần xương sườn, máu từ trong vết thương chậm rãi chảy xuống. Máu rất đặc, hơn nữa là màu đen.
Đỉnh núi Lookout mây đen giăng kín.
Easter ngồi dưới chân núi, giữ một khoảng cách với những người khác, nhìn ánh mặt trời buổi sớm lộ ra trên dãy núi phía đông vào lúc bình minh. Trên cổ tay trái của bà xăm một chuỗi hoa lưu ly màu xanh, bà có chút lơ đãng dùng ngón cái tay phải vuốt ve hình xăm đó.
Một đêm khác đến rồi đi, cái gì cũng chưa xảy ra. Mọi người vẫn tiếp tục kéo đến, có người đi một mình, cũng có người đi thành đôi thành cặp. Tối hôm qua có vài người đến từ phía tây nam, trong đó có hai đứa trẻ cao như cây táo. Ngoài ra còn có một thứ bà chỉ liếc nhìn qua một cái, trông có vẻ to bằng chiếc xe Volkswagen Beetle, nhưng lại không có đầu. Họ biến mất trong lùm cây dưới chân núi đó.
Không có ai đến làm phiền họ, những người ở thế giới bên ngoài dường như chẳng có ai chú ý đến sự tồn tại của họ. Bà tưởng tượng những du khách bình thường ở Rock City nhìn xuống qua ống nhòm trả phí, mặc dù ống kính chĩa thẳng vào khu cắm trại dựng tạm bợ này và những người đang ở dưới chân núi này của họ, nhưng vẫn không nhìn thấy gì cả, chỉ có thể nhìn thấy rừng cây, bụi rậm và đá tảng.
Bà ngửi thấy mùi khói bay tới từ đống lửa đang nấu ăn, trong gió lạnh buổi bình minh trộn lẫn mùi thịt xông khói nướng. Một người nào đó ở phía bên kia khu cắm trại bắt đầu thổi kèn harmonica, âm nhạc khiến bà không kìm được mà mỉm cười, cơ thể cũng theo đó mà lắc lư nhẹ nhàng. Trong ba lô của bà có một cuốn sách bìa mềm, bà muốn đợi ánh sáng đủ sáng rồi bắt đầu đọc sách.
Trên không trung cao có hai chấm đen, rất nhanh xuất hiện dưới tầng mây: một chấm đen nhỏ và một chấm đen lớn. Trong gió sớm, một giọt mưa rơi xuống mặt bà.
Một cô gái khỏa thân đi ra từ khu cắm trại, đi về phía hướng bà. Cô ta dừng lại dưới một cái cây, kéo váy lên, ngồi xổm xuống tiện thể giải quyết nhu cầu. Đợi cô ta giải quyết xong, Easter chào hỏi cô ta. Cô gái đi lại đây.
"Chào buổi sáng, thưa bà." Cô ta nói, "Chiến tranh sắp sửa bắt đầu rồi." Đầu lưỡi màu hồng phấn của cô ta khao khát liếm liếm đôi môi đỏ thẫm. Trên vai cô ta vắt một chiếc cánh quạ màu đen, còn mang theo lông vũ. Chuỗi vòng cổ trên cổ treo một chiếc chân quạ. Trên cánh tay cô ta đầy những hình xăm màu xanh, có đường nét, hoa văn và những nút thắt phức tạp.
"Sao cháu biết?" Cô gái cười. "Cháu là Macha, nữ thần Morrigan. Khi chiến tranh sắp tới gần, cháu có thể ngửi thấy mùi vị của nó trong không khí. Cháu là nữ thần chiến tranh, điều cháu muốn nói là, hôm nay máu tươi chắc chắn sẽ tràn ngập thung lũng." "Ồ." Easter nói, "Được rồi. Cháu có thể đi rồi." Bà ngước nhìn chấm nhỏ trên bầu trời, nó như một tảng đá vậy, lộn nhào rơi về phía các bà.
"Chúng ta sẽ chiến đấu với họ, chúng ta sẽ giết họ, giết sạch từng người một." Cô gái tiếp tục nói, "Chúng ta sẽ lấy đầu họ làm chiến lợi phẩm, quạ sẽ ăn mắt và xác chết của họ." Chấm đen đó dần dần biến thành một con chim, dang đôi cánh, nương theo luồng khí của cơn gió giật buổi sáng mà bay lượn.
Easter nghiêng đầu hỏi: "Nữ thần chiến tranh, cháu có kỹ năng gì không ai biết không, biết trước ai sẽ thắng, ai có thể săn được đầu ai?" "Cháu không có." Cô gái nói, "Cháu chỉ có thể ngửi thấy mùi của chiến tranh, chỉ biết được chừng đó thôi. Nhưng chúng ta sẽ thắng, phải không? Chúng ta nhất định phải thắng. Cháu thấy những gì họ làm với vị Cha toàn năng rồi. Hoặc là họ chết, hoặc là chúng ta vong." "Phải vậy," Easter nói, "Ta nghĩ cũng vậy." Cô gái lại cười cười, đi trở lại khu cắm trại trong ánh bình minh mờ ảo. Easter hạ thấp tay xuống, chạm vào một mầm non màu xanh vừa mới nhú lên khỏi mặt đất, mỏng manh như lưỡi dao. Ngón tay bà vừa chạm vào nó, nó lập tức bắt đầu phát triển nhanh chóng, lá cây từng lớp từng lớp mở ra, thân leo xoay vòng, quấn quýt, thay đổi. Cuối cùng, thực vật dưới tay bà biến thành một củ hoa tulip màu xanh. Sau khi mặt trời mọc, hoa tulip sẽ nở rộ.
Easter ngẩng đầu nhìn con chim ưng đó. "Ta có thể giúp gì cho cháu không?" Bà hỏi.
Con chim ưng đó đang bay lượn chậm rãi ở độ cao 15 feet trên đỉnh đầu bà, rồi lướt xuống phía bà, đáp xuống mặt đất bên cạnh bà. Nó nhìn chằm chằm bà, trong đôi mắt tràn đầy sự điên cuồng.
"Chào, nhóc đáng yêu." Bà nói, "Hình dáng thật sự của cháu là thế nào?" Chim ưng hơi do dự nhảy nhót về phía bà, rồi, nó không còn là một con chim ưng nữa, biến thành một người đàn ông trẻ tuổi. Anh ta nhìn bà, rồi cúi đầu nhìn bãi cỏ. "Bà?" Anh ta nói. Ánh mắt anh ta dời đi không định hướng, một lát nhìn cỏ, một lát nhìn bầu trời, một lát nhìn bụi rậm, chính là không nhìn bà.
"Ta?" Bà hỏi, "Ta làm sao?" "Bà." Lời của anh ta lại ngừng lại, dường như đang cố gắng sắp xếp tư duy, đủ loại biểu cảm kỳ quái lướt qua trên khuôn mặt anh ta từng cái một. Anh ta dành quá nhiều thời gian làm một con chim rồi, bà nghĩ, đã quên mất làm người như thế nào. Bà kiên nhẫn chờ đợi. Cuối cùng, anh ta cũng mở miệng nói: "Bà sẽ đi với tôi không?" "Có lẽ vậy. Cháu muốn ta đi đâu?" "Người trên cây đó, anh ta cần bà. Một vết thương linh hồn, trên cơ thể anh ta. Máu chảy ra, ngừng rồi. Tôi nghĩ anh ta chết rồi." "Chiến tranh sắp nổ ra rồi. Ta không thể đi lung tung vào thời khắc mấu chốt được." Người đàn ông khỏa thân không trả lời gì cả, chỉ đứng trên mặt đất, đổi từ chân này sang chân kia, dường như không chắc chắn về trọng lượng của mình, dường như anh ta bình thường luôn nghỉ ngơi trên không trung hoặc trên cành cây đung đưa, chứ không phải trên mặt đất cố định không nhúc nhích. Anh ta lại mở miệng nói: "Nếu anh ta thực sự chết vĩnh viễn, mọi thứ kết thúc rồi." "Nhưng chiến tranh —" "Nếu anh ta chết, ai thắng không còn quan trọng nữa." Xem ra anh ta cần một cái chăn, một ly cà phê ngọt, cần có người đưa anh ta đến nơi nào đó, để anh ta ở bên đó vừa run rẩy vừa lảm nhảm, cho đến khi đầu óc tỉnh táo lại. Anh ta lạnh đến mức ép chặt cánh tay vào hai bên hông.
"Anh ta ở đâu? Có gần đây không?" Anh ta nhìn chằm chằm vào bông hoa tulip, lắc đầu. "Rất xa." "Ồ," bà nói, "Ở đây cần ta. Ta không thể rời đi. Tại sao cháu muốn ta đi cùng cháu đến đó? Biết đấy, ta không giống như cháu, ta không biết bay." "Phải." Horus nói, "Bà không biết bay." Anh ta ngẩng đầu, vẻ mặt nghiêm túc, chỉ vào một chấm đen khác đang bay lượn trên đỉnh đầu họ, lúc này nó đang bay từ trong tầng mây đen tối rơi xuống, không ngừng lớn dần lên. "Ông ta thì biết."
Lái xe lung tung không mục đích mấy tiếng đồng hồ, Town bắt đầu ghét bộ định vị toàn cầu, gần như sâu đậm bằng mức anh ta ghét Cái Bóng. Nhưng kiểu ghét này không có cảm xúc mạnh mẽ thực sự nào. Tìm đường đến nông trại, tìm thấy cái cây Tần Bì khổng lồ đó, quá trình này rất gian nan, nhưng tìm đường rời khỏi nông trại dường như còn khó hơn. Bất kể anh ta đi con đường nào, bất kể anh ta lái xe về phía con đường nông thôn hẹp nào — những con đường khúc khuỷu ở Virginia ban đầu chắc chắn là do đàn hươu và đàn bò giẫm ra — đến cuối cùng, anh ta đều sẽ phát hiện mình lại vòng trở lại trước nông trại, nhìn thấy tấm biển viết tay treo trên cổng: Nông trại Cây Tần Bì.
Thật sự là phát điên, phải không? Anh ta buộc phải hồi tưởng kỹ lưỡng con đường đã đi qua, chỗ nào rẽ phải thì sửa thành rẽ trái, chỗ nào rẽ trái thì sửa thành rẽ phải.
Mặc dù hướng rẽ khác nhau, anh ta vẫn vòng trở lại, lần nữa trở lại cổng nông trại. Trên trời là tầng mây bão dày đặc, trời nhanh chóng tối sầm xuống, cảm giác bây giờ đã là buổi tối, chứ không phải buổi sáng. Anh ta còn phải lái một chặng đường rất dài, với tốc độ này, anh ta tuyệt đối không thể kịp quay về thành phố Chattanooga trước buổi chiều.
Điện thoại di động của anh ta hiển thị "Không có tín hiệu", bản đồ gấp trong hộp đựng đồ của xe chỉ có những con đường chính, đường liên bang và đường cao tốc, không đánh dấu những con đường nông thôn mà anh ta đang chú ý nhất lúc này.
Gần đó cũng không có ai để hỏi đường. Những ngôi nhà xung quanh cách con đường rất xa, trong nhà cũng không có ánh đèn hoan nghênh khách. Bây giờ đến cả bình xăng cũng sắp cạn rồi. Anh ta có thể nghe thấy tiếng sấm ầm ầm truyền đến từ phía xa, vài giọt mưa nặng nề đập vào kính chắn gió.
Vì vậy, khi nhìn thấy người phụ nữ đang đi bộ dọc ven đường, Town phát hiện mình không kìm được mà lộ ra nụ cười. "Cảm ơn Chúa." Anh ta nói ra tiếng, lái xe đến bên cạnh cô ta rồi dừng lại. Anh ta hạ cửa sổ xe xuống: "Chào cô. Rất xin lỗi, tôi hơi bị lạc đường. Cô có thể chỉ cho tôi từ đây làm sao để lên đường cao tốc số 81 không?" Cô ta nhìn anh ta qua cửa sổ phía ghế hành khách đang mở, nói: "Ừm, rất khó để giải thích rõ ràng, nhưng nếu anh muốn, tôi có thể chỉ đường cho anh." Gương mặt cô ta tái nhợt, mái tóc bị mưa làm ướt sũng vừa đen vừa dài.
"Lên xe đi." Town nói, thậm chí không hề do dự một chút nào, "Đầu tiên, chúng ta phải đổ xăng cho xe đã." "Cảm ơn." Cô ta nói, "Tôi đang cần đi nhờ xe." Cô ta vừa nói vừa lên xe. Đôi mắt cô ta xanh đến mức khó tin. "Trên ghế có một cành cây." Cô ta có chút mơ hồ khó hiểu.
"Ném ra ghế sau là được rồi. Cô muốn đi đâu?" Anh ta hỏi, "Cô à, nếu cô có thể dẫn đường cho tôi đến trạm xăng, rồi lên đường cao tốc, tôi có thể lái xe đưa cô đến tận cửa nhà." Cô ta nói: "Cảm ơn. Nhưng tôi nghĩ nơi tôi muốn đến có lẽ xa hơn chỗ của anh. Chỉ cần có thể đưa tôi đến đường cao tốc, tôi đã rất cảm kích rồi. Có lẽ tài xế xe tải có thể cho tôi đi nhờ một đoạn." Nói xong, khóe miệng cô ta nhếch lên, lộ ra một nụ cười có chút bướng bỉnh. Chính nụ cười này khiến Town hạ quyết tâm.
"Cô à," anh ta nói, "Tôi có thể cung cấp cho cô dịch vụ ân cần hơn bất kỳ tài xế xe tải nào." Anh ta có thể ngửi thấy mùi nước hoa của cô, mùi thơm quá nồng nàn, hơi khó chịu, dường như là mùi hoa mộc lan hoặc mùi hoa đinh hương. Nhưng anh ta không bận tâm.
"Tôi muốn đi bang Georgia." Cô ta nói, "Một chặng đường rất dài." "Tôi đi thành phố Chattanooga, tôi có thể cố gắng đưa cô đi xa nhất có thể." "Được, anh tên là gì?" Cô ta hỏi.
"Mọi người đều gọi tôi là Mark." Mr. Town nói. Khi tán tỉnh phụ nữ trong quán bar, anh ta thường sẽ nói tiếp: "Người đặc biệt thân với tôi đều luôn gọi tôi là Big Mark." Vẫn nên đợi thêm một lát nữa mới nói câu đó, trên đường còn một khoảng thời gian rất dài, có vài tiếng đồng hồ để tìm hiểu đối phương. "Còn cô?" "Laura." Cô ta nói với anh ta.
"Rất tốt, Laura." Anh ta nói, "Hai chúng ta nhất định sẽ trở thành bạn tốt."
Cậu bé béo tìm thấy Ngài World trong Rainbow Room — một thắng cảnh trên con đường nhỏ, trên kính cửa sổ bên trong dán từng dải màng nhựa trong suốt màu xanh lá, màu đỏ và màu vàng. Ông ta đang mất kiên nhẫn đi từ cửa sổ này sang cửa sổ khác, lần lượt nhìn ra ngoài, lần lượt nhìn thấy thế giới màu vàng, thế giới màu xanh lá và thế giới màu đỏ. Tóc ông ta màu cam đỏ, ngắn đến mức gần như sát da đầu, trên người mặc một chiếc áo khoác gió đắt tiền hiệu Burberry.
Cậu bé béo ho một tiếng. Ngài World ngẩng đầu liếc cậu một cái.
"Xin lỗi, Ngài World?" "Chuyện gì? Mọi thứ đều đang tiến hành theo kế hoạch chứ?" Cậu bé béo cảm thấy miệng khô khốc, cậu liếm liếm môi, nói: "Tôi đã sắp xếp xong xuôi rồi. Chỉ là trực thăng vẫn chưa xác định được." "Khi chúng ta cần, trực thăng sẽ bay tới." "Rất tốt." Cậu bé béo nói, "Rất tốt." Cậu vẫn đứng tại chỗ, không nói chuyện, cũng không chuẩn bị rời đi. Trên trán cậu có một vết bầm tím.
Một lát sau, Ngài World hỏi: "Còn chuyện gì khác không?" Một khoảng im lặng. Cậu bé béo nuốt một ngụm nước bọt, gật đầu. "Có chút chuyện khác," cậu nói, "Vâng." "Nếu chúng ta nói chuyện riêng, anh sẽ thấy thoải mái hơn chứ?" Cậu bé lại gật đầu.
Ngài World đưa cậu bé đến trung tâm làm việc của ông ta, đó là một hang động ẩm ướt, bên trong bày những mô hình búp bê yêu tinh say rượu, ánh sáng mờ ảo như ánh trăng. Một tấm bảng bên ngoài hang động cảnh báo du khách không nên vào trong trong quá trình cải tạo. Hai người ngồi xuống những chiếc ghế nhựa.
"Tôi có thể giúp gì cho anh?" Ngài World hỏi.
"Vâng, được, đúng vậy. Hai chuyện. Vâng. Thứ nhất, chúng ta còn đang chờ đợi cái gì? Thứ hai... câu hỏi thứ hai có chút khó. Ông xem, chúng ta có súng, chúng ta có hỏa khí. Còn họ, họ chỉ có mẹ kiếp dao kiếm, dao găm, và mẹ kiếp búa, rìu đá, những thứ đại loại như vậy. Binh khí sắt lỗi thời. Mà chúng ta có mẹ kiếp bom thông minh!" "Những loại vũ khí đó chúng ta sẽ không dùng." Ngài World bình tĩnh chỉ ra.
"Tôi biết. Ông đã nói rồi, tôi biết, làm vậy cũng được. Nhưng, ông xem, từ sau khi tôi xử lý con đàn bà đó ở Los Angeles, tôi đã..." Cậu dừng lại, làm một bộ mặt quỷ, dường như không muốn nói tiếp nữa.
“Cảm thấy bất an sao, có vấn đề gì à?”
“Không sai, từ hay lắm, có vấn đề. Nghe cứ như mấy đứa trẻ có vấn đề ấy. Thú vị, thực sự thú vị.”
“Rốt cuộc là cái gì đang làm cậu bận lòng?”
“Chúng ta giao chiến, chúng ta giành chiến thắng.”
“Đó là lý do khiến cậu bận lòng sao? Tôi lại thấy điều đó chỉ làm chúng ta vui mừng, khiến chúng ta phấn khởi hân hoan.”
“Nhưng, dù sao thì bọn họ cũng sẽ chết. Bọn họ là bồ câu viễn khách, là chó sói túi, đúng chứ? Cứ tiếp tục thế này, nó sẽ biến thành một cuộc thảm sát.”
“Ừm.” Ngài World gật đầu đồng ý.
Ông ta đã hiểu ý của cậu ta rồi, thật tốt quá. Cậu bé mập tiếp tục nói: “Ông xem, không phải chỉ mình tôi có cảm nhận này. Tôi đã nói chuyện với những người bên Điện tử Hiện đại, bọn họ đều hy vọng có thể giải quyết chuyện này trong hòa bình, còn Bàn tay Vô hình thì hy vọng dùng áp lực thị trường để tự động giải quyết vấn đề này. Ông biết đấy, tôi đại diện cho tiếng nói của lý trí.”
“Đúng vậy. Nhưng thật không may, cậu vẫn còn một vài thông tin chưa biết.” Nụ cười khiến khuôn mặt ông ta lộ ra vết sẹo vặn vẹo.
Cậu bé chớp chớp mắt. Cậu hỏi: “Ngài World? Môi của ngài sao thế?”
Ngài World thở dài. “Một câu thôi,” ông ta nói, “Từng có người khâu miệng tôi lại. Đó là chuyện của rất lâu về trước rồi.”
“Ồ,” cậu bé mập hỏi, “Thủ đoạn băng đảng thực thụ nhỉ.”
“Phải. Cậu muốn biết rốt cuộc chúng ta đang đợi cái gì không? Cậu muốn biết tại sao tối qua chúng ta không phát động tấn công không?” Cậu bé mập gật đầu. Cậu bắt đầu đổ mồ hôi, toàn là mồ hôi lạnh.
“Chúng ta không phát động tấn công, là vì tôi đang đợi một cành cây nhỏ.”
“Cành cây?”
“Nói đúng lắm. Cành cây. Cậu biết tôi định dùng cành cây làm gì không?”
Cậu ta lắc đầu. “Yên tâm, tôi sẽ không nói ra đâu. Tại sao chứ?”
“Tôi có thể nói cho cậu biết,” Ngài World bình tĩnh nói, “Nhưng ngay sau đó, tôi buộc phải giết cậu.”
Ông ta nháy mắt, áp lực căng thẳng bất an trong phòng lập tức tan biến.
Cậu bé mập khúc khích cười, tiếng cười trầm đục, nghẹt mũi phát ra từ sâu trong cổ họng. “Được rồi,” cậu nói, “Hì hì, được, ha ha. Nhận được rồi, Hành tinh Công nghệ đã nhận được tín hiệu, âm thanh rất rõ ràng.”
Ngài World lắc đầu, một tay đặt lên vai cậu bé mập. “Này,” ông ta hỏi, “Cậu thực sự muốn biết sao?”
“Đương nhiên.”
“Vậy được rồi,” Ngài World nói, “Vì nể tình chúng ta là bạn bè. Sau đây là câu trả lời của tôi: Tôi muốn có được cành cây đó, sau đó, tôi sẽ ném nó đi vào khoảnh khắc hai quân giao chiến. Ngay khoảnh khắc ném đi, cành cây sẽ biến thành một ngọn trường thương. Sau đó, trường thương vẽ một đường vòng cung trên không trung chiến trường, lúc đó, tôi sẽ lớn tiếng hô lên ‘Ta hiến dâng trận chiến này cho Odin’.”
“Hả?” Cậu bé mập mơ hồ hỏi, “Tại sao?”
“Sức mạnh,” Ngài World vừa nói vừa gãi cằm, “Còn cả thức ăn nữa. Sự kết hợp của cả hai. Cậu xem, kết quả của trận chiến này không quan trọng, quan trọng là tạo ra sự hỗn loạn, và cả sự thảm sát.”
“Tôi không hiểu.”
“Để tôi làm mẫu cho cậu xem. Đại loại giống như thế này.” Ngài World nói, “Nhìn này!”
Ông ta rút từ trong túi áo khoác Burberry ra một con dao găm thợ săn cán gỗ, động tác lưu loát, một nhát đâm vào phần thịt mềm dưới hàm cậu bé mập, đẩy mạnh lên phía não bộ. “Ta hiến dâng cái chết này cho Odin.” Ngay khoảnh khắc lưỡi dao đâm vào, ông ta nói.
Có thứ gì đó chảy lên tay ông ta, nhưng không phải máu tươi, cùng lúc đó, từ sau đôi mắt cậu bé mập truyền ra một loạt tiếng lách tách. Trong không khí tràn ngập mùi dây điện cách điện bị cháy.
Tay cậu bé mập co giật kịch liệt, cậu ta ngã xuống, biểu cảm trên mặt pha trộn giữa sự hoang mang và đau đớn tột cùng. “Nhìn cậu ta kìa.” Ngài World nói với không trung, như thể đang trò chuyện với ai đó, “Nhìn dáng vẻ của nó kìa, cứ như thể nhìn thấy một chuỗi 0 và 1 biến thành một đàn chim nhỏ đầy màu sắc lấp lánh rồi bay đi mất vậy.”
Lối đi bằng đá trống rỗng, không ai trả lời lời nói của ông ta.
Ngài World vác thi thể lên vai, như thể nó chẳng có chút trọng lượng nào. Ông ta mở tấm phông nền phía sau mô hình búp bê yêu tinh, giấu thi thể sau tấm phông, dùng chiếc áo khoác dài màu đen trên người người chết đắp lên thi thể. Tối nay xử lý thi thể sau, ông ta nghĩ, lại lộ ra nụ cười có sẹo. Giấu một cái xác trên chiến trường thật sự quá dễ dàng. Không ai phát hiện ra, cũng không ai bận tâm.
Trong chốc lát, nơi này lặng ngắt như tờ. Sau đó vang lên một giọng nói thô lỗ, không phải giọng của Ngài World, đầu tiên là hắng giọng một cái, rồi nói: “Màn mở đầu này không tệ.”