Mabinogion

Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bà Chủ Suối Nguồn

❊ ❊ ❊

Vua Arthur khi ấy đang ngự tại Caerlleon bên bờ sông Usk. Một ngày nọ, nhà vua ngồi trong gian phòng của mình, cùng với Owain con trai của Urien, Kynon con trai của Clydno, và Kai con trai của Kyner; trong khi hoàng hậu Gwenhwyvar và các thị nữ đang ngồi thêu thùa bên cửa sổ. Nếu có ai nói rằng cung điện của Arthur có người gác cổng, thì thực ra là không có. Glewlwyd Gavaelvawr túc trực ở đó để làm nhiệm vụ đón tiếp khách khứa cùng người lạ, tiếp đón họ với tất cả sự kính trọng, thông báo cho họ biết về nề nếp và phép tắc trong Triều đình, đồng thời chỉ dẫn cho những ai muốn vào Đại sảnh, vào yết kiến nhà vua, hay tìm nơi nghỉ ngơi.

Chính giữa căn phòng, Vua Arthur ngồi trên một chiếc ghế làm bằng sọt sậy xanh, bên trên trải một tấm vải sa tanh màu lửa, và một chiếc gối sa tanh đỏ kê dưới khuỷu tay ngài.

Bấy giờ Arthur cất tiếng: “Nếu trẫm nghĩ rằng các ngươi không chê cười trẫm, trẫm sẽ chợp mắt một lát trong lúc chờ bữa ăn. Còn các ngươi có thể giải trí bằng cách kể cho nhau nghe những câu chuyện, và xin Kai một vạc rượu mật cùng ít thịt.” Nói rồi nhà vua chìm vào giấc ngủ. Kynon con trai của Clydno liền đòi Kai món quà mà Arthur đã hứa với họ. “Ta cũng muốn nghe câu chuyện hay mà ngài ấy đã hứa với ta,” Kai nói. “Không,” Kynon đáp, “trước tiên ngươi hãy làm theo lệnh của Arthur thì hay hơn, rồi chúng ta sẽ kể cho ngươi nghe câu chuyện hay nhất mà chúng ta biết.” Thế là Kai đi xuống nhà bếp và hầm rượu mật, trở lên với một vạc rượu mật, một chiếc cốc vàng, cùng một nắm xiên thịt nướng. Họ ăn thịt nướng và bắt đầu uống rượu mật. “Nào,” Kai giục, “đã đến lúc các ngươi phải kể chuyện cho ta rồi.” “Kynon,” Owain nói, “hãy trả cho Kai câu chuyện mà ngài ấy đáng được nhận.” “Thật lòng mà nói,” Kynon bảo, “huynh lớn tuổi hơn, là người kể chuyện giỏi hơn, lại từng chứng kiến nhiều điều kỳ diệu hơn đệ; vậy huynh hãy kể chuyện cho Kai đi.” Owain đáp: “Hãy bắt đầu trước đi, với câu chuyện hay nhất mà đệ biết.” “Được thôi,” Kynon nhận lời.

“Ta là con một của thân phụ và thân mẫu, bản tính vô cùng hoài bão và gan dạ. Ta tưởng rằng trên đời này chẳng có thử thách nào là quá lớn đối với mình, và sau khi đã trải qua mọi cuộc phiêu lưu ở quê nhà, ta liền sửa soạn trang bị, lên đường du hành qua những vùng đất hoang vu và xa xôi. Cuối cùng, ta tình cờ đến thung lũng đẹp nhất trên đời, nơi có những hàng cây cao lớn đều tăm tắp; một con dòng chảy qua thung lũng, và có một lối mòn chạy dọc theo bờ sông. Ta đi theo lối mòn ấy cho đến tận trưa, tiếp tục hành trình suốt phần còn lại của thung lũng cho đến khi chiều tà; và ở tận cùng vùng đồng bằng, ta bắt gặp một lâu đài lớn và nguy nga, dưới chân đài là một dòng thác xiết. Khi ta đến gần lâu đài, ta nhìn thấy hai thiếu niên tóc vàng uốn quăn, đầu đội vòng nguyệt quế bằng vàng, mặc áo sa tanh vàng và đi giày có khóa vàng ở mu bàn chân. Mỗi người cầm trên tay một chiếc cung ngà voi, căng bằng gân hươu đực; mũi tên của họ làm bằng xương cá voi, có lông đuôi công, và đầu mũi tên bằng vàng. Họ mang theo đoản kiếm có lưỡi bằng vàng và chuôi bằng xương cá voi, và đang đứng tập bắn đoản kiếm.

Cách đó không xa, ta thấy một người đàn ông đang độ tuổi tráng niên, râu vừa được cạo gò, mặc áo choàng và áo khoác bằng sa tanh vàng; viền cổ áo khoác có đính một dải ruy băng vàng. Chân ngài đi giày da hoa văn, buộc bằng hai khuy vàng. Khi nhìn thấy ngài, ta tiến lại gần và chào hỏi, và ngài lịch sự đáp lời ta ngay khi vừa nghe thấy lời chào. Rồi ngài cùng ta đi về phía lâu đài. Trong lâu đài chẳng có ai sinh sống ngoài những người ở trong một đại sảnh nọ. Ở đó, ta thấy hai mươi tư thiếu nữ đang ngồi thêu sa tanh bên cửa sổ. Ta nói thật với ngươi đấy, hỡi Kai, rằng người kém xinh nhất trong số họ còn đẹp hơn cả thiếu nữ xinh đẹp nhất mà ngươi từng thấy trên hòn đảo Britain, và người ít đáng yêu nhất trong số họ còn đáng yêu hơn cả hoàng hậu Gwenhwyvar, vợ của Arthur, vào những lúc nàng xuất hiện lộng lẫy nhất trong lễ vật dâng hiến vào ngày lễ Giáng Sinh hay dịp Phục Sinh. Họ đứng dậy khi ta bước tới, và sáu người trong số đó dắt ngựa, cởi giáp cho ta; sáu người khác nhận lấy vũ khí và rửa sạch chúng trong một chiếc chậu cho đến khi sáng bóng. Nhóm sáu người thứ ba trải khăn lên bàn và chuẩn bị đồ ăn. Nhóm sáu người thứ tư cởi bỏ y phục lấm blem của ta, thay vào những bộ đồ mới gồm áo lót, áo chẽn bằng vải lanh mịn, áo dài, áo khoác ngoài, và áo choàng sa tanh vàng viền vàng bản rộng. Họ đặt những chiếc gối có vỏ bọc bằng vải lanh đỏ ở bên dưới lẫn xung quanh ta, rồi ta ngồi xuống. Sáu thiếu nữ dắt ngựa lúc nãy đã tháo yên cho ngựa thạo việc chẳng khác gì những chàng hầu cận cừ khôi nhất trên hòn đảo Britain. Bỗng họ mang tới những chiếc chậu bạc đựng nước rửa tay cùng khăn vải lanh, có chiếc màu xanh, chiếc màu trắng; và ta rửa tay. Chẳng mấy chốc, người đàn ông bước vào ngồi vào bàn ăn. Ta ngồi cạnh ngài, và bên dưới ta là tất cả các thiếu nữ, ngoại trừ những người đứng hầu bàn. Bàn ăn làm bằng bạc, khăn trải bàn bằng vải lanh; mọi vật dụng dọn lên bàn đều làm bằng vàng, bạc, hoặc sừng trâu. Thức ăn được mang tới cho chúng ta. Quả thực, hỡi Kai, ta thấy ở đó đủ mọi loại thịt và mọi loại rượu mà ta từng thấy ở bất cứ đâu; nhưng thức ăn và thức uống ở đó được phục vụ chu đáo hơn bất kỳ nơi nào khác mà ta từng biết.

Cho đến khi bữa ăn trôi qua được nửa chừng, cả người đàn ông lẫn các thiếu nữ đều không nói một lời nào với ta; nhưng khi nhận thấy ta muốn trò chuyện hơn là ăn tiếp, ngài bắt đầu hỏi thăm thân thế của ta. Ta đáp rằng ta rất vui vì có người chịu trò chuyện cùng mình, và việc người ta trò chuyện với nhau không bị coi là tội lỗi lớn tại Triều đình này. Người đàn ông liền bảo: ‘Hỡi thủ lĩnh, chúng ta muốn trò chuyện với ngươi từ nãy, nhưng ngài ngại làm phiền ngươi trong bữa ăn; giờ thì chúng ta có thể hàn huyên rồi.’ Bấy giờ ta kể cho ngài nghe ta là ai, mục đích chuyến hành trình của mình, và rằng ta đang đi tìm xem có ai giỏi hơn ta hay không, hay liệu ta có thể chiến thắng tất cả. Người đàn ông nhìn ta, mỉm cười và nói: ‘Nếu ta không sợ làm ngươi quá phiền lòng, ta đã chỉ cho ngươi điều ngươi đang tìm kiếm rồi.’ Nghe vậy, lòng ta trở nên lo lắng và ưu tư; nhận ra điều đó, ngài tiếp lời: ‘Nếu ngươi thà muốn ta chỉ ra điều bất lợi cho ngươi còn hơn là điều có lợi, ta sẽ làm vậy. Hãy ngủ lại đây tối nay, và sáng mai thức dậy thật sớm, đi theo con đường ngược lên thung lũng cho đến khi ngươi đến khu rừng mà ngươi vừa đi qua. Đi sâu vào trong rừng một đoạn, ngươi sẽ gặp một con đường rẽ phải, cứ theo đó mà đi cho đến khi ngươi tới một bãi đất trống được che khuất bởi vòm cây, ở giữa có một gò đất. Ngươi sẽ thấy một gã đàn ông da ngăm đen vóc dáng khổng lồ đang ngồi trên đỉnh gò đất ấy. Thân hình hắn to lớn bằng hai người bình thường gộp lại. Hắn chỉ có một chân và một con mắt mọc ngay chính giữa trán. Hắn mang theo một chiếc gậy sắt, và chắc chắn rằng không có hai người nào trên đời này có thể nhấc nổi chiếc gậy nặng nhọc ấy. Hắn không hề khôi ngô chút nào, trái lại trông vô cùng dữ tợn; hắn chính là kẻ gác rừng ở đây. Xung quanh hắn có tới hàng ngàn con thú hoang đang gặm cỏ. Hãy hỏi hắn lối ra khỏi bãi đất trống, hắn sẽ đáp lại ngắn gọn và chỉ cho ngươi con đường dẫn đến thứ ngươi đang tìm kiếm.’

Đêm hôm đó đối với ta thật dài đằng đẵng. Sáng hôm sau, ta thức dậy, sửa soạn trang giáp, leo lên lưng ngựa và đi thẳng qua thung lũng vào trong rừng; ta đi theo con đường rẽ mà người đàn ông đã chỉ cho đến khi tới bãi đất trống. Ở đó, ta kinh ngạc trước số lượng thú hoang nhiều gấp ba lần những gì người đàn ông đã tả. Gã da ngăm đen vẫn ở đó, đang ngồi trên đỉnh gò đất. Dù gã đàn ông kia đã nói với ta rằng hắn rất khổng lồ, nhưng khi trực tiếp nhìn thấy, ta thấy hắn còn to lớn vượt xa lời miêu tả. Còn về chiếc gậy sắt mà người đàn ông bảo là sức hai người khiêng, ta dám chắc, hỡi Kai, rằng bốn chiến binh lực lưỡng cũng phải nhọc nhằn lắm mới nhấc nổi; vậy mà thứ đó lại đang nằm trong tay gã da ngăm đen. Hắn chỉ mở miệng khi ta cất lời hỏi. Bấy giờ ta hỏi hắn có quyền uy gì đối với đám thú vật kia. ‘Ta sẽ cho ngươi thấy, gã lùn ạ,’ hắn đáp. Nói rồi hắn cầm gậy quật một cú mạnh vào con hươu đực khiến nó rống lên thảm thiết, và tiếng rống ấy hiệu triệu muôn thú tụ tập lại đông đảo như những vì sao trên bầu trời, đến nỗi ta khó lòng tìm nổi một chỗ trống để đứng giữa bầy thú. Có cả rắn, rồng và đủ loại muôn thú khác nhau. Hắn nhìn chúng rồi ra lệnh cho chúng đi ăn; chúng liền cúi đầu, tỏ lòng thành kính với hắn như thần dân đối với chúa tể.

Bấy giờ gã da ngăm đen quay sang bảo ta: ‘Hỡi gã lùn, ngươi đã thấy quyền uy của ta đối với lũ thú này chưa?’ Khi ta hỏi đường đi, thái độ của hắn trở nên vô cùng cộc cằn; dẫu vậy, hắn vẫn hỏi ta muốn đi đâu. Khi ta nói rõ thân thế và mục đích tìm kiếm, hắn liền chỉ đường. ‘Hãy đi,’ hắn bảo, ‘theo con lối mòn dẫn về phía đầu bãi đất trống, leo lên sườn dốc đầy cây cối cho đến khi tới đỉnh; ở đó ngươi sẽ thấy một khoảng trống rộng lớn tựa như một thung lũng, và chính giữa có một cái cây cao với những tán lá xanh hơn cả những hàng cây thông xanh nhất. Dưới gốc cây đó là một dòng suối, bên cạnh suối có một phiến đá cẩm thạch, và trên phiến đá đặt một chiếc bát bạc được nối bằng một sợi xích bạc để không ai có thể lấy mất. Hãy lấy chiếc bát, múc một bát nước hắt lên phiến đá, ngươi sẽ nghe thấy một tiếng sấm sét vang dội đến mức tưởng chừng trời đất đang rung chuyển vì giận dữ. Cùng với tiếng sấm sẽ là một trận mưa lớn đến nỗi ngươi khó lòng chịu nổi mà sống sót. Đó sẽ là những hạt mưa đá; và sau trận mưa, thời tiết sẽ quang tạnh trở lại, nhưng mọi chiếc điều trên cây sẽ bị cuốn trôi sạch. Ngay sau đó, một đàn chim sẽ bay tới đậu trên cành; và ở quê hương ngươi chưa từng nghe thấy khúc ca nào ngọt ngào đến thế. Đúng vào lúc ngươi đang say đắm nhất trong tiếng hót của loài chim, ngươi sẽ nghe thấy tiếng thở dài cùng những lời oán thán vọng đến dọc theo thung lũng. Ngươi sẽ nhìn thấy một hiệp sĩ cưỡi con ngựa đen tuyền như than, mặc áo nhung đen, tay cầm ngọn giáo có cờ hiệu bằng vải lanh đen; hắn sẽ phi đến giao chiến với ngươi bằng tốc độ nhanh nhất. Nếu ngươi bỏ chạy, hắn sẽ đuổi kịp; còn nếu ngươi đứng lại, chắc chắn như việc ngươi là một hiệp sĩ cưỡi ngựa, hắn sẽ đánh cho ngươi rơi xuống đất. Và nếu ngươi không gặp rắc rối trong chuyến phiêu lưu đó, ngươi chẳng cần phải tìm kiếm rắc rối nào nữa suốt quãng đời còn lại.’

Thế là ta tiếp tục lên đường cho đến khi lên tới đỉnh dốc, và ở đó ta thấy mọi thứ y hệt như những gì gã da ngăm đen đã miêu tả. Ta tiến lại gần cái cây, nhìn thấy dòng suối bên dưới, tấm bia cẩm thạch và chiếc bát bạc gắn xích bên cạnh. Ta bèn cầm chiếc bát lên, múc một bát nước hắt mạnh lên phiến đá; ngay lập tức, kìa, tiếng sấm vang lên, dữ dội hơn nhiều so với những gì gã da ngăm đen cảnh báo; sau tiếng sấm là trận mưa đá; và ta nói thật với ngươi, hỡi Kai, chẳng có con người hay con thú nào chịu nổi trận mưa ấy mà còn sống. Bởi vì không một hạt mưa đá nào bị cản lại bởi da hay thịt cho tới khi nó đâm thấu vào tận xương. Ta đành xoay hông ngựa về phía mưa, dùng mũi khiên che phần đầu và cổ ngựa, tay giữ phần trên của khiên che đầu mình. Cứ thế ta chống chọi qua cơn mưa. Khi ngước nhìn lên cây, ta chẳng thấy còn sót lại một chiếc lá nào, rồi bầu trời trở nên trong sáng. Ngay lúc đó, lũ chim bay đến đậu trên cành và cất tiếng hót. Quả thực, hỡi Kai, ta chưa từng nghe thấy giai điệu nào tuyệt vời đến thế, dù là trước đây hay sau này. Và khi ta đang mải mê thưởng thức tiếng chim hót, bỗng có một giọng nói than van vang lên từ thung lũng, tiến đến gần ta và cất lời: ‘Hỡi Hiệp sĩ, điều gì đã đưa ngươi đến đây? Ta đã làm gì sai với ngươi mà ngươi lại đối xử với ta và tài sản của ta như ngày hôm nay? Ngươi không biết rằng trận mưa hôm nay đã không để lại bất kỳ sinh linh nào, dù là người hay thú, sống sót trong vương quốc của ta hay sao?’ Ngay lúc ấy, một hiệp sĩ cưỡi ngựa đen xuất hiện, mặc chiếc áo nhung đen tuyền và khoác áo choàng vải lanh đen. Chúng ta lao vào giao chiến, và vì cú xung trận quá hung hãn, chẳng mấy chốc ta đã bị đánh ngã gật. Sau đó, vị hiệp sĩ luồn thân giáo qua dây cương ngựa của ta, phi ngựa đi mang theo cả hai con ngựa, để mặc ta nằm đó. Hắn thậm chí còn chẳng thèm ngó ngàng tới ta để bắt giam hay tước đoạt vũ khí. Thế là ta đành quay về theo con đường cũ. Khi đến bãi đất trống của gã da ngăm đen, ta thú nhận với ngươi, hỡi Kai, thật là một phép màu khi ta không tan chảy thành vũng nước vì nỗi hổ thẹn trước sự chế nhạo của hắn. Đêm hôm đó, ta trở về lâu đài cũ, nơi ta đã trọ qua đêm hôm trước. Ta được tiếp đón nồng hậu hơn đêm trước, được thết tiệc thịnh soạn hơn, và trò chuyện thoải mái với những người trong lâu đài; chẳng ai đả động gì đến chuyến đi đến suối nguồn của ta, và ta cũng chẳng hé răng nửa lời với ai; ta ở lại đó qua đêm. Sáng hôm sau thức dậy, ta thấy người ta đã chuẩn bị sẵn một con ngựa cái lông bay tối màu, với hai lỗ mũi đỏ như máu; sau khi mặc giáp và để lại lời chúc phúc, ta quay về Triều đình của mình. Con ngựa đó ta vẫn còn giữ, hiện đang ở chuồng ngựa đằng kia. Và ta khẳng định rằng ta sẽ không bao giờ bán nó cho dù đổi lấy con ngựa cái tốt nhất trên hòn đảo Britain.'

Quả thực, hỡi Kai, chưa từng có ai thú nhận về một chuyến phiêu lưu mang lại sự hổ thẹn cho bản thân nhiều đến thế; và thật lạ lùng cho ta khi thấy rằng, dù trước hay sau đó, ta chưa từng nghe ai khác ngoài chính mình biết về cuộc phiêu lưu này, và câu chuyện ấy lại tồn tại ngay trong vương quốc của Vua Arthur mà không có bất kỳ ai khác tình cờ khám phá ra.”

Owain bỗng cất lời: “Giờ thì, há chẳng phải sẽ rất hay nếu chúng ta đi tìm hiểu nơi đó hay sao?”

“Bởi danh dự của bạn ta,” Kai châm chọc, “ngươi thường xuyên nói ra những điều mà ngươi chẳng bao giờ dám làm bằng hành động.”

Gwenhwyvar liền lên tiếng: “Thật lòng mà nói, thà ngươi bị treo cổ còn hơn, hỡi Kai, lại đi dùng những lời lẽ bất lịch sự như vậy với một người như Owain.”

Kai đáp: “Bởi danh dự của bạn ta, thưa Hoàng hậu kính mến, lời khen của người dành cho Owain cũng chẳng nhiều hơn của ta là bao.”

Vừa lúc đó, Vua Arthur tỉnh giấc và hỏi xem ngài vừa chợp mắt được một lúc lâu chưa.

Owain cung kính đáp: “Dưa bệ hạ, ngài vừa ngủ một lát thôi ạ.”

“Đã đến giờ chúng ta dùng bữa chưa?”

“Thưa ngài, đến giờ rồi ạ.”

Tiếng kèn hiệu rửa tay vang lên, nhà vua cùng toàn thể hoàng gia bước vào bàn ăn. Khi bữa ăn kết thúc, Owain lui về phòng riêng để chuẩn bị ngựa chiến và vũ khí.

Sáng hôm sau, khi ánh bình minh vừa ló rạng, chàng mặc giáp, leo lên lưng ngựa chiến và lên đường băng qua những vùng đất xa xôi cùng những dãy núi hoang vu. Cuối cùng, chàng cũng đến được thung lũng mà Kynon đã miêu tả; chàng chắc chắn rằng đây chính là nơi mình đang tìm kiếm. Vừa đi dọc theo dòng sông trong thung lũng, chàng vừa dò theo dòng nước cho đến khi ra tới vùng đồng bằng và nhìn thấy lâu đài. Khi đến gần, chàng thấy các thiếu niên đang tập ném đoản kiếm ở đúng nơi mà Kynon từng thấy, và người đàn ông da vàng chủ nhân của lâu đài cũng đang đứng ngay gần đó. Owain vừa cất lời chào thì liền được ông ta đáp lễ.

Chàng tiến thẳng về phía lâu đài, bước vào căn phòng quen thuộc và trông thấy các thiếu nữ đang ngồi trên những chiếc ghế bằng vàng miệt mài thêu thùa. Vẻ đẹp và nét duyên dáng của họ khiến Owain sững sờ, thấy còn lộng lẫy hơn nhiều so với những gì Kynon đã kể. Họ đứng dậy tiếp đón Owain y như đã từng làm với Kynon, và bữa ăn họ dọn ra khiến Owain vô cùng hài lòng.

Khoảng giữa bữa ăn, người đàn ông da vàng hỏi Owain về mục đích chuyến đi. Owain liền trải lòng: “Ta đang đi tìm vị hiệp sĩ canh giữ suối nguồn.” Nghe vậy, người đàn ông da vàng mỉm cười, bảo rằng ngài cũng chẳng hào hứng gì khi chỉ dẫn chuyến phiêu lưu ấy cho Owain giống như từng làm với Kynon. Dẫu vậy, ngài vẫn kể lại mọi chi tiết cho Owain, rồi họ đi nghỉ ngơi.

Sáng hôm sau, Owain thấy các thiếu nữ đã chuẩn bị sẵn ngựa cho mình. Chàng lên đường và tới bãi đất trống nơi gã da ngăm đen đang ngự trị. Vóc dáng khổng lồ của gã còn khiến Owain kinh ngạc hơn cả lời kể của Kynon; chàng cất tiếng hỏi đường và được gã chỉ dẫn. Owain cứ thế tiến bước theo lời dặn cho đến khi tới cái cây xanh tốt; chàng nhìn thấy dòng suối, phiến đá bên cạnh và chiếc bát đặt trên đó. Owain cầm chiếc bát lên, múc đầy nước hắt lên phiến đá. Ngay lập tức, tiếng sấm vang rền, theo sau là trận mưa lớn dữ dội hơn nhiều so với lời Kynon miêu tả, và rồi bầu trời quang đãng trở lại. Khi Owain ngước nhìn cái cây, không còn sót lại một chiếc lá nào trên cành. Ngay tức khắc, đàn chim bay đến đậu trên cây và cất tiếng hót. Vào khoảnh khắc âm điệu ấy làm Owain say đắm nhất, chàng thấy một hiệp sĩ đang cưỡi ngựa phi tới qua thung lũng. Chàng liền thủ thế sẵn sàng, lao vào giao chiến vô cùng quyết liệt. Sau khi đâm gãy cả hai ngọn giáo, họ rút kiếm ra, giáp lá cà đấu tay đôi. Owain vung kiếm chém một nhát xuyên qua mũ sắt, mũ giáp, kính che mặt, xuyên qua cả da, thịt và xương, làm bị thương đến tận đại não của vị hiệp sĩ. Cảm nhận được vết thương chí mạng, vị hiệp sĩ đen liền quay đầu ngựa tháo chạy. Owain phóng ngựa bám sát phía sau, dẫu khoảng cách chưa đủ gần để ra đòn kết liễu. Đúng lúc ấy, Owain nhìn thấy một lâu đài nguy nga tráng lệ hiện ra trước mắt. Họ tiến đến cổng lâu đài. Vị hiệp sĩ đen vừa kịp lọt vào trong thì cánh cổng lưới sắt sập xuống ngay sau lưng Owain; nó chém trúng con ngựa của chàng ngay phía sau yên, cắt đôi con ngựa ra làm hai đoạn, đồng thời tiện đứt cả phần tua rua trên đôi giày ống của Owain. Cánh cổng sắt sập thẳng xuống mặt đất. Phần tua rua cùng nửa con ngựa nằm ở phía bên ngoài, trong khi Owain và nửa thân ngựa còn lại bị kẹt ở giữa hai lớp cổng, và cánh cổng phía trong đã đóng sập lại khiến chàng không thể tiến hay lùi; Owain rơi vào tình thế vô cùng ngặt nghèo.

Trong lúc ngặt nghèo ấy, qua một khe hở trên cổng, chàng nhìn thấy một con phố nằm ngay trước mặt với hai hàng nhà cửa san sát ở hai bên. Chàng thấy một thiếu nữ tóc vàng uốn quăn, đầu đội vòng nguyệt quế bằng vàng, mặc chiếc áo sa tanh màu vàng và đi đôi giày da hoa văn. Nàng tiến lại gần cổng và ra lệnh mở cửa. “Trời cao chứng giám, thưa tiểu thư,” Owain nói, “từ phía này ta mở cửa cho nàng còn khó hơn là nàng tìm cách giải cứu cho ta.” Thiếu nữ đáp: “Thật là xót xa khi ngươi không thể thoát thân, và mọi phụ nữ đều có bổn phận phải cứu giúp ngươi, bởi ta chưa từng thấy ai trung thành với các quý cô hơn ngươi. Ngươi là một người bạn chân thành nhất, một người tình chung thủy nhất. Vì vậy,” nàng quả quyết, “bất cứ điều gì trong khả năng để giúp ngươi thoát thân, ta đều sẽ làm. Hãy nhận chiếc nhẫn này, đeo vào ngón tay sao cho viên đá quay vào trong lòng bàn tay, rồi nắm chặt tay lại. Chừng nào ngươi còn che giấu nó, nó sẽ che giấu ngươi. Khi bọn chúng bàn tính xong, chúng sẽ quay lại đây để lôi ngươi ra xử tử; và chúng sẽ vô cùng tiếc nuối khi không thể tìm thấy ngươi. Ta sẽ đợi ngươi ở bệ lên xuống ngựa đằng kia; ngươi sẽ nhìn thấy ta dẫu ta không thể thấy ngươi, thế nên hãy đến đặt tay lên vai ta để ta biết rằng ngươi đang ở gần. Và hãy đi theo con đường ta dẫn lối rời khỏi đây.”

Nói rồi nàng rời đi, còn Owain làm đúng theo mọi điều nàng dặn. Người trong lâu đài kéo đến tìm Owain để hành quyết, nhưng khi chỉ thấy nửa thân con ngựa, họ vô cùng bàng hoàng chưng hửng.

Owain tàng hình giữa đám đông, tiến đến chỗ thiếu nữ và đặt tay lên vai nàng; nàng liền cất bước dẫn đường, Owain lặng lẽ theo sau cho đến khi tới trước cửa một căn phòng lớn đẹp đẽ. Thiếu nữ mở cửa, hai người bước vào rồi khép cửa lại. Owain đưa mắt nhìn quanh phòng và nhận ra không có lấy một chiếc đinh nhỏ nào mà không được sơn những màu sắc rực rỡ, không có một tấm ván ốp tường nào mà không chạm khắc những hình thêu dát vàng tinh xảo.

Thiếu nữ nhóm lửa, múc nước vào một chiếc chậu bạc, vắt tấm khăn vải lanh trắng lên vai rồi đưa nước cho Owain rửa mặt. Sau đó, nàng dọn ra một chiếc bàn bạc cẩn vàng, trên trải khăn vải lanh vàng, và mang đồ ăn tới. Quả thật, Owain chưa từng thấy loại thịt nào mà lại không có mặt ở đây, và chúng được nấu nướng ngon hơn bất cứ nơi nào chàng từng đặt chân đến. Chàng cũng chưa từng thấy cảnh bày biện thức ăn thức uống nào tuyệt vời đến thế. Mọi vật dụng dọn cơm cho chàng đều làm bằng vàng hoặc bạc. Owain ăn uống no say cho đến tận xế chiều, bỗng nghe thấy tiếng hò hét hỗn loạn vang lên khắp lâu đài; Owain bèn hỏi thiếu nữ điều gì đang xảy ra. “Họ đang làm lễ xức dầu thánh,” nàng đáp, “cho vị quý tộc chủ nhân của lâu đài này.” Rồi Owain đi ngủ.

Chiếc giường mà thiếu nữ chuẩn bị cho chàng sang trọng chẳng kém gì của vua Arthur; nó được làm bằng nhung đỏ, da thú, sa tanh, lụa mỏng và vải lanh mịn. Giữa đêm khuya, họ nghe thấy tiếng khóc than thê thảm. “Tiếng kêu gì thế này?” Owain hỏi. “Vị quý tộc chủ nhân lâu đài đã qua đời rồi,” thiếu nữ đáp. Và chẳng mấy chốc khi trời vừa hửng sáng, họ lại nghe thấy tiếng la hét cùng tiếng khóc lóc vô cùng lớn. Owain bèn hỏi nguyên nhân. “Họ đang khiêng thi hài vị quý tộc chủ nhân lâu đài đến nhà thờ.”

Owain đứng dậy, mặc quần áo vào, mở một ô cửa sổ phòng và phóng tầm mắt nhìn ra lâu đài; chàng không thể thấy nổi điểm dừng hay ranh giới của dòng người đông nghịt đang ngập tràn các con phố. Ai nấy đều mang giáp trụ đầy đủ; đi cùng họ là vô số phụ nữ cả đi ngựa lẫn đi bộ, cùng toàn bộ tăng lữ trong thành đang cất tiếng hát vang. Owain có cảm giác như bầu trời đang rung chuyển bởi tiếng gào thét đinh tai nhức óc, tiếng kèn trống rộn ràng và tiếng kinh kệ ngân vang. Giữa dòng người tấp nập ấy, chàng nhìn thấy cỗ quan tài được phủ một tấm lụa trắng, xung quanh thắp nến sáng rực, và những kẻ khiêng quan tài đều có địa vị không dưới một nam tước quyền thế.

Chưa bao giờ Owain chứng kiến một đám tang rực rỡ xiêm y sa tanh, lụa là đến thế. Đi theo sau đoàn người, chàng thấy một vị phu nhân có mái tóc vàng buông xõa ngang vai, dính đầy máu; nàng khoác chiếc áo sa tanh vàng đã rách tơi tả, chân đi giày da hoa văn. Thật đáng kinh ngạc khi những đầu ngón tay của nàng không hề bầm dập dẫu nàng cứ vỗ đập vào nhau vô cùng bạo lực. Quả thực, nàng sẽ là người phụ nữ đẹp nhất mà Owain từng thấy nếu nàng ở trong bộ dạng bình thường. Tiếng khóc của nàng át cả tiếng gào thét của đàn ông lẫn tiếng kèn trống. Ngay khoảnh khắc nhìn thấy vị phu nhân ấy, trái tim Owain đã bùng cháy ngọn lửa tình yêu, khiến chàng say đắm hoàn toàn.

Chàng liền gạn hỏi thiếu nữ xem vị phu nhân đó là ai. “Trời cao chứng giám,” thiếu nữ đáp, “nàng được mệnh danh là người phụ nữ đẹp nhất, đoan trang nhất, rộng lượng nhất, khôn ngoan nhất và cao quý nhất. Nàng chính là chủ nhân của tôi, được gọi là Bà chủ Suối Nguồn, người vợ của vị hiệp sĩ mà ngài đã ra tay sát hại hôm qua.” Owain thốt lên: “Quả thật, nàng là người phụ nữ mà ta yêu tha thiết.” Thiếu nữ đáp: “Thưa ngài, quả thật, nàng ấy cũng sẽ yêu ngài sâu đậm đấy.”

Nói đoạn, thiếu nữ đứng dậy, nhóm lửa, bắc một nồi nước lên đun ấm; nàng mang theo tấm khăn vải lanh trắng quàng vào cổ Owain, cầm chiếc cốc ngà cùng chậu bạc đựng nước ấm để gội đầu cho chàng. Tiếp đó, nàng mở một chiếc hộp gỗ lấy ra một cây dao cạo có chuôi ngà đính hai chiếc đinh tán vàng. Nàng cạo râu cho chàng, dùng khăn lau khô đầu và cổ. Rồi nàng đứng dậy dọn đồ ăn lên cho Owain. Quả thực, chưa bao giờ Owain được dùng một bữa ăn ngon và được phục vụ chu đáo đến thế.

Khi chàng dùng bữa xong, thiếu nữ sắp xếp lại giường ngủ. “Hãy lại đây,” nàng nói, “và nghỉ ngơi đi, ta sẽ đi làm mối cho ngài.” Owain đi ngủ, còn thiếu nữ khép cửa phòng lại rồi tiến thẳng về phía lâu đài. Khi đến nơi, nàng chỉ thấy toàn tang tóc và đau thương; vị nữ bá tước đang chìm trong phòng riêng, đau buồn đến mức chẳng muốn nhìn mặt bất kỳ ai. Luned đến cúi chào nhưng không được nàng đar lời. Thiếu nữ bèn cúi người xuống bên nàng và cất lời: “Điều gì khiến người đau khổ đến mức chẳng thèm hé răng với ai thế này?” “Luned,” vị bá tước thở dài, “có biến cố gì xảy ra với ngươi sao mà lâu nay ngươi chẳng đến thăm ta trong cơn hoạn nạn? Thật tệ cho ngươi, khi ta đã ban cho ngươi biết bao của cải mà ngươi lại chẳng thề đến xem ta lúc khốn cùng. Ngươi tệ lắm.” Luned đáp: “Thật lòng mà nói, ta cứ ngỡ sự minh mẫn của người phải cao hơn thế chứ. Việc người cứ mãi tiếc thương một người đàn ông tốt hay bất cứ thứ gì mình không thể có được, há lại là chuyện khôn ngoan sao?” “Ta thề với trời đất,” vị nữ bá tước phẫn nộ, “rằng trên đời này chẳng có ai sánh bằng chàng.” “Không đâu,” Luned phản bác, “một kẻ xấu xí cũng tốt chán, hoặc thậm chí còn hơn thế là khác.” “Ta thề,” nữ bá tước gầm lên, “nếu ta không ngần ngại chuyện ra tay xử tử một kẻ do chính tay ta nuôi dưỡng, ta đã đem ngươi ra chém đầu vì dám đưa ra sự so sánh xấcược đó rồi. Còn bây giờ, ta sẽ lưu đày ngươi.” Luned mỉm cười: “Ta rất vui vì người chẳng có lý do nào khác để trừng phạt ta, ngoài việc ta muốn mang lại điều tốt đẹp cho người trong khi người chẳng biết đâu là mối lợi của mình. Và từ nay về sau, điều gở sẽ giáng xuống bất kỳ ai trong chúng ta chủ động chìa cành ô-liu làm hòa trước; dù là ta tìm đến sự tha thứ của người, hay chính người tự nguyện sai người gọi ta.”

Nói rồi Luned quay lưng bỏ đi; vị nữ bá tước đứng dậy bước theo ra tận cửa phòng, rồi bắt đầu ho lớn. Khi Luned ngoảnh lại, nữ bá tước liền ra hiệu gọi; thế là nàng quay lại. Nữ bá tước bèn bảo: “Quả thật, tính nết ngươi thật ngang ngạnh; nhưng nếu ngươi thực sự biết điều gì có ích cho ta, hãy nói cho ta nghe xem.” Luned đáp: “Xin vâng.”

“Người thừa biết rằng nếu không dùng gươm giáo và chiến đấu, người chẳng thể nào giữ nổi cơ đồ này; vậy chớ chần chừ nữa, hãy mau chóng tìm lấy một kẻ đủ sức bảo vệ lãnh địa đi.” “Nhưng ta phải làm thế nào?” nữ bá tước hỏi. Luned hiến kế: “Ta sẽ chỉ cho người. Nếu người không thể bảo vệ suối nguồn, người sẽ mất vương quốc; mà chẳng ai có thể bảo vệ suối nguồn ngoại trừ một hiệp sĩ thuộc triều đình của Arthur. Ta sẽ đến cung điện của Arthur, và nếu ta trở về mà không mang theo một chiến binh có tài canh giữ suối nguồn giỏi giang, hoặc thậm chí còn xuất sắc hơn người từng trấn giữ trước đây, thì ta nguyện gánh lấy tai ương.” “Việc đó khó lắm đấy,” nữ bá tước e ngại. “Dù sao thì, cứ đi và chứng minh những gì ngươi hứa đi.”

Luned lên đường với cái cớ đến triều đình của Arthur; nhưng thực chất nàng quay trở lại căn phòng nơi nàng để Owain, và ở lại đó cùng chàng khoảng thời gian tương đương với hành trình đi đến cung điện của Vua Arthur. Hết khoảng thời gian ấy, nàng sửa soạn trang phục rồi đến yết kiến nữ bá tước. Vị nữ bá tước vô cùng mừng rỡ khi gặp lại nàng và hỏi han tin tức từ kinh thành. “Ta mang đến cho người những tin tuyệt vời nhất đây,” Luned phấn khởi nói, “vì ta đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Khi nào người muốn ta dẫn vị thủ lĩnh đi cùng ta đến yết kiến đây?” Nữ bá tước đáp: “Hãy đưa chàng ta đến gặp ta vào trưa mai, ta sẽ triệu tập toàn thể thần dân trong thành đến hội ngộ vào lúc đó.”

Luned trở về nhà. Trưa hôm sau, Owain diện lên mình chiếc áo dài, áo khoác ngoài và áo choàng sa tanh vàng viền ruy băng vàng bản rộng; chân đi đôi giày cao bằng da hoa văn đính những chiếc khuy vàng hình sư tử. Họ tiến thẳng đến phòng của nữ bá tước.

Vị nữ bá tước vô cùng hoan hỉ trước sự xuất hiện của họ; nàng đăm đăm nhìn Owain rồi thốt lên: “Luned, vị hiệp sĩ này trông không giống một kẻ lữ hành chút nào.” Luned đáp: “Thưa phu nhân, điều đó có hại gì chứ?” Nữ bá tước khẳng định chắc nịch: “Ta dám chắc chắn rằng, chẳng có ai khác ngoài kẻ này đã tước đoạt linh hồn của phu quân ta.” Luned tỉnh bơ: “Càng tốt cho người chứ sao, thưa phu nhân, bởi nếu hắn không mạnh hơn phu quân người thì sao có thể đánh bại ngài ấy. Chuyện đã qua thì không thể thay đổi, cứ để nó trôi đi đi.” Nữ bá tước bảo: “Ngươi hãy lui về đi, để ta còn suy tính thêm.”

Hôm sau, nữ bá tước triệu tập toàn thể thần dân lại, chỉ cho họ thấy tước hiệu bá tước của nàng đang đứng trước cảnh không ai bảo vệ, và nó chẳng thể giữ được nếu thiếu ngựa chiến, vũ khí cùng tài nghệ quân sự. Nàng tuyên bố: “Do đó, đây là lựa chọn ta đưa ra cho các ngươi: hoặc một trong số các ngươi cưới ta làm vợ, hoặc cho phép ta tìm một người chồng từ phương xa đến để bảo vệ lãnh địa này.”

Thế là họ đi đến thống nhất rằng tốt hơn hết nên để nàng tự do kết hôn với một người từ nơi khác đến; ngay sau đó, nàng cho vời các giám mục và tổng giám mục đến để chủ trì lễ cưới của nàng với Owain. Và các nam nhân trong vùng đều đến cúi đầu tuyên thệ trung thành với Owain.

Từ đó, Owain thay phiên dùng gươm giáo để bảo vệ suối nguồn. Cách thức chàng trấn thủ như sau: Bất cứ khi nào có hiệp sĩ nào đến thách đấu, chàng đều đánh bại họ, bắt họ nộp tiền chuộc tương xứng với giá trị, rồi đem số chiến lợi phẩm thu được chia hết cho các nam tước và hiệp sĩ của mình; vì thế, không một ai trên đời này được thần dân yêu quý hơn chàng. Cuộc sống cứ thế trôi qua trong bình yên suốt ba năm trời.

Vào một ngày nọ, khi Gwalchmai cùng Vua Arthur bước ra ngoài dạo bước, nhà vua trông có vẻ vô cùng ưu tư và buồn bã. Gwalchmai xót xa khi thấy Arthur như vậy, bèn cất tiếng hỏi: “Thưa bệ hạ! Chuyện gì đã xảy ra với ngài vậy?” Arthur đáp: “Thật lòng mà nói, hỡi Gwalchmai, ta vô cùng đau buồn vì sự vắng mặt của Owain suốt ba năm nay, và ta chắc chắn sẽ chết nếu năm thứ tư trôi qua mà vẫn không được gặp lại cậu ấy. Giờ đây ta dám chắc rằng, chính vì câu chuyện mà Kynon con trai của Clydno kể ngày trước đã khiến ta mất đi Owain.” Gwalchmai liền trấn an: “Ngài chẳng cần phải triệu tập binh mã toàn vương quốc vì chuyện này đâu, bởi chính ngài và các cận thần dư sức để đòi lại công lý cho Owain nếu cậu ấy đã tử trận; hoặc giải cứu nếu cậu ấy bị giam cầm; và nếu cậu ấy còn sống, chúng ta sẽ đưa cậu ấy trở về cùng ngài.” Mọi chuyện được quyết định theo đúng lời Gwalchmai.

Thế là Vua Arthur cùng các cận thần sửa soạn lên đường đi tìm Owain, tổng số quân lính lên tới ba nghìn người, chưa kể tùy tùng. Kynon con trai của Clydno làm người dẫn đường. đoàn người đến lâu đài mà Kynon từng đặt chân tới, và thấy các thiếu niên vẫn đang tập ném lao ở chốn cũ, còn người đàn ông da vàng thì đứng ngay gần đó. Nhận ra Arthur, ông ta liền tiến lại chào hỏi và mời đoàn người vào lâu đài; Arthur nhận lời và họ cùng bước vào. Dù đoàn tùy tùng đông đảo là thế, sự hiện diện của họ dường như lọt thỏm trong không gian vô cùng rộng lớn của lâu đài. Các thiếu nữ lại đứng dậy chu toàn việc tiếp đón, và sự phục vụ của họ khiến tất cả mọi người trầm trồ kinh ngạc, cho rằng chưa từng thấy ở đâu chu đáo đến thế; ngay cả các cậu bé chăm ngựa đêm hôm đó cũng được đối đãi chẳng thua kém gì Vua Arthur trong chính cung điện của mình.

Sáng hôm sau, Arthur tiếp tục lên đường dưới sự dẫn đường của Kynon, và tiến đến nơi gã da ngăm đen đang ngự trị. Vóc dáng gã khiến Arthur không khỏi kinh ngạc. Họ tiếp tục leo lên đỉnh dốc rợp bóng cây, băng qua thung lũng cho đến khi tới cái cây xanh, tận mắt nhìn thấy dòng suối, chiếc bát và phiến đá. Ngay lúc đó, Kai bước đến thưa với Arthur: “Thưa bệ hạ, thần hiểu rõ ý nghĩa của những thứ này, và thần xin ngài cho phép thần được hắt nước lên phiến đá để nghênh đón thử thách đầu tiên.” Arthur gả lời chuẩn y.

Kai bèn múc đầy một bát nước hắt thẳng lên phiến đá, lập tức sấm chớp đùng đùng, theo sau là trận mưa trút nước. Một cơn giông bão khủng khiếp chưa từng thấy, khiến nhiều binh lính trong đoàn tùy tùng của Arthur thiệt mạng ngay trong trận mưa ấy. Khi mưa ngớt, bầu trời quang đãng trở lại; họ ngước nhìn lên cây và thấy nó trụi lá hoàn toàn. Ngay sau đó, bầy đàn chim sà xuống cành cất tiếng hót ngân vang ngọt ngào hơn bất cứ giai điệu nào họ từng nghe. Rồi họ thấy một hiệp sĩ cưỡi ngựa đen tuyền, mặc áo sa tanh đen đang phóng như bay về phía họ. Kai liền xông lên nghênh chiến, và chẳng mất nhiều thời gian để Kai bị đánh ngã gật. Vị hiệp sĩ rút lui, còn Arthur cùng đạo quân dựng trại nghỉ qua đêm.

Sáng hôm sau, họ nhìn thấy tín hiệu thách đấu được cắm trên ngọn giáo của vị hiệp sĩ. Kai bước đến thưa với Arthur: “Thưa bệ hạ, dẫu thần đã bị đánh ngã ngày hôm qua, nếu ngài cho phép, thần rất sẵn lòng tái đấu với vị hiệp sĩ ấy hôm nay.” “Ngươi cứ đi đi,” Arthur đáp. Kai tiến về phía vị hiệp sĩ. Và ngay tại chỗ, hắn lại bị đánh gục, ngọn giáo của đối thủ đâm thẳng vào trán, xé toạc mũ sắt và mũ giáp, cắm sâu vào da thịt rộng bằng cả mũi giáo cho đến tận xương. Kai lê thân lết lếch quay về với đồng đội.

Sau đó, lần lượt từng người trong số các cận thần của Arthur bước ra khiêu chiến với vị hiệp sĩ, cho đến khi chẳng còn ai chưa nếm mùi thất bại, ngoại trừ Arthur và Gwalchmai. Arthur tự mình mặc giáp để nghênh chiến. Gwalchmai liền can ngăn: “Thưa bệ hạ, xin hãy cho phép thần được giao đấu với hắn trước.” Arthur gật đầu đồng ý. Gwalchmai tiến ra nghênh chiến, khoác trên người và cho cả ngựa mặc chiếc áo choàng danh dự bằng sa tanh do con gái Bá tước Rhangyw gửi tặng, nhờ bộ trang phục này mà không ai trong quân đoàn nhận ra chàng. Hai bên lao vào giao chiến, quần thảo suốt từ sáng đến tận chiều tà mà không ai hạ nổi đối phương.

Ngày hôm sau, họ tiếp tục dùng những cây giáo chắc nịch để giao tranh, nhưng vẫn bất phân thắng bại.

Đến ngày thứ ba, họ dùng những ngọn giáo vô cùng vững chắc. Cơn giận dữ bùng nổ khiến cả hai lao vào chiến đấu cuồng nhiệt suốt cho đến trưa. Cú va chạm mạnh đến mức đứt cả đai nịt yên ngựa, khiến cả hai văng qua phế hậu ngựa rơi bịch xuống đất. Họ lập tức chồm dậy, rút kiếm giáp lá cà; đám đông chứng kiến trận chiến đều kinh hoàng thầm nhủ chưa từng thấy hai con người nào dũng mãnh và uy lực đến thế. Nếu lúc đó là nửa đêm, ánh lửa phát ra từ những đường kiếm va chạm cũng đủ thắp sáng cả một vùng. Bỗng Gwalchmai lãnh một nhát kiếm làm lệch tung mũ giáp sang một bên, khiến vị hiệp sĩ nhận ra đó chính là Gwalchmai. Owain liền cất tiếng: “Hỡi huynh Gwalchmai, do chiếc áo choàng danh dự che khuất nên đệ không nhận ra huynh là người nhà; xin hãy nhận lấy thanh kiếm và vũ khí của đệ.” Gwalchmai đáp: “Chính huynh mới là kẻ chiến thắng, hỡi Owain; hãy cầm lấy thanh kiếm của đệ.” Thấy vậy, Arthur bước tới gần. Gwalchmai thưa: “Thưa bệ hạ, đây chính là Owain, người đã đánh bại thần và nhất quyết không chịu nhận vũ khí của thần.” Owain tiếp lời: “Thưa bệ hạ, ngài ấy mới là người chiến thắng thần, và ngài ấy cũng không chịu nhận thanh kiếm của thần.” Arthur liền bảo: “Hãy trao cho ta hai thanh kiếm của các ngươi, như vậy là không ai chiến thắng ai cả.” Nói đoạn, Owain ôm chầm lấy cổ Arthur trong niềm xúc động tột cùng. Toàn bộ quân lính ùa lên vây quanh Owain, chen chúc ôm chầm lấy chàng khiến đám đông suýt xảy ra hỗn loạn nguy hiểm tính mạng.

Đêm đó họ lui về nghỉ ngơi, và sáng hôm sau Arthur sửa soạn lên đường trở về. Owain bỗng thưa rằng: “Thưa bệ hạ, ngài làm vậy là không phải phép; đệ đã xa cách ngài suốt ba năm nay, và trong ngần ấy thời gian cho đến tận ngày hôm nay, đệ vẫn luôn chuẩn bị một bữa tiệc để chờ đón ngài vì biết thế nào ngài cũng đến tìm đệ. Xin hãy ở lại đây cho đến khi ngài và đoàn tùy tùng hồi phục sau chặng đường dài mệt mỏi.”

Thế là tất cả kéo nhau về lâu đài của Bà chủ Suối Nguồn, và bữa tiệc được chuẩn bị suốt ba năm trời đã được thưởng thức cạn sạch trong vòng ba tháng. Chưa bao giờ họ có một bữa tiệc nào ngon lành và vui vẻ đến thế. Đến khi Arthur chuẩn bị khởi hành, ngài bèn cử sứ thần đến cầu khẩn nữ bá tước cho phép Owain được đi cùng ngài trong ba tháng, để chàng ra mắt các vương công quý tộc và những vị phu nhân xinh đẹp trên hòn đảo Britain. Nữ bá tước đành ngậm ngùi chấp thuận dẫu lòng đầy xót xa. Thế là Owain cùng Arthur trở về hòn đảo Britain. Và khi đã quây quần bên người thân bạn bè, thay vì ba tháng, chàng lại ở lại đó tận ba năm.

Một ngày nọ, khi Owain đang ngồi dùng bữa tại thành phố Caerlleon bên bờ sông Usk, bỗng một thiếu nữ cưỡi con ngựa bay bờm uốn quăn ướ đẫm mồ hôi phóng vụt vào, bộ cương ngựa và yên xe lấp lánh sắc vàng. Nàng khoác bộ y phục sa tanh màu vàng rực, tiến thẳng đến chỗ Owain, giật lấy chiếc nhẫn trên ngón tay chàng và lạnh lùng tuyên bố: “Kẻ lừa đảo, phản trắc, vô ơn, nhục nhã và không có râu sẽ phải chịu sự trừng phạt này.” Nói đoạn, nàng quay đầu ngựa phi đi.

Lúc này, ký ức về cuộc phiêu lưu xưa chợt ùa về trong tâm trí Owain, khiến chàng vô cùng dằn vặt đau đớn; dùng bữa xong, chàng lui về phòng riêng âm thầm thu xếp ngay trong đêm. Sáng hôm sau, chàng không đến triều đình nữa mà lang thang đến những vùng đất xa xôi tận cùng thế giới và những dãy núi hoang sơ hiểm trở. Chàng cứ thế bôn ba cho đến khi y phục rách rưới tả tơi, thân hình tàn tạ gầy gò, râu tóc mọc dài lê thê. Chàng sống hòa mình giữa bầy dã thú, ăn uống cùng chúng cho đến khi chúng trở nên quen thuộc; nhưng rồi sức lực suy kiệt khiến chàng chẳng thể tiếp tục đồng hành cùng chúng nữa. Chàng lầm lũi rời đỉnh núi xuống thung lũng, bước vào một khu rừng đẹp nhất trần gian thuộc quyền sở hữu của một nữ bá tước góa chồng.

Một ngày nọ, nữ bá tước cùng các thị nữ dạo bước bên hồ nước giữa khu viên, và họ vô cùng kinh hãi khi phát hiện ra một hình hài con người. Dẫu sợ hãi, họ vẫn tiến lại gần, chạm vào người và quan sát kỹ lưỡng. Họ nhận ra người đàn ông này vẫn còn thở, dẫu đang kiệt sức vì cái nắng gay gắt. Nữ bá tước vội vã quay về lâu đài, lấy một chiếc bình đựng đầy thuốc mỡ quý giá giao cho một thị nữ: “Hãy cầm lấy thứ này, mang theo con ngựa và y phục đằng kia, đặt lại gần chỗ người đàn ông chúng ta vừa gặp. Xức thứ cao dược này gần tim hắn; nếu hắn còn sống, sự linh nghiệm của thuốc sẽ giúp hắn tỉnh lại. Sau đó hãy ẩn nấp quan sát hành động của hắn.”

Thị nữ tuân lệnh lên đường, đổ toàn bộ lọ thuốc mỡ lên người Owain, đặt ngựa và y phục ngay cạnh rồi nấp đi quan sát. Chẳng mấy chốc, nàng thấy hắn cử động cánh tay, ngồi dậy, ngắm nghía thân hình tơi tả của mình và tỏ vẻ hổ thẹn trước bộ dạng nhếch nhác. Bấy giờ hắn phát hiện ra con ngựa và đống y phục ở bên cạnh, liền lê lết bò tới kéo bộ đồ rơi ra từ yên ngựa về phía mình. Hắn mặc đồ vào, rồi chật vật leo lên lưng ngựa. Lúc này thị nữ mới bước ra lộ diện và chào hỏi. Owain vui mừng khôn xiết khi gặp lại con người, liền hỏi đây là vùng đất nào. Thị nữ đáp: “Thưa ngài, một nữ bá tước góa chồng là chủ nhân của lâu đài kia; khi phu quân qua đời, ngài để lại cho nàng hai lãnh địa bá tước, nhưng giờ đây nàng chỉ còn giữ lại được mỗi khu dinh thự này chưa bị tước đoạt bởi một tên Bá tước trẻ tuổi hàng xóm, chỉ vì nàng từ chối gả cho hắn.” Owain thốt lên: “Thật là đáng tiếc.” Thế là chàng cùng thiếu nữ tiến về lâu đài; chàng xuống ngựa, được nàng sắp xếp cho ở một căn phòng dễ chịu, nhóm lửa sưởi ấm rồi để chàng nghỉ ngơi.

Thị nữ quay trở lại bẩm báo và trao lại chiếc bình rỗng cho nữ bá tước. “Hả! Cô gái kia,” nữ bá tước ngạc nhiên hỏi, “số thuốc mỡ đâu cả rồi?” “Chẳng phải thần đã dùng hết rồi sao?” nàng đáp. “Ôi trời,” nữ bá tước than thở, “sao ta có thể dễ dàng tha thứ cho ngươi được chứ; thật xót xa khi ta lại lãng phí số cao dược trị giá bảy mươi lạng vàng cho một kẻ xa lạ chẳng quen biết. Dù sao đi nữa, ngươi hãy chăm sóc hắn cho đến khi bình phục hoàn toàn.”

Thị nữ tuân lệnh, chu cấp cho Owain đầy đủ thức ăn, nước uống, lò sưởi, nơi chốn và cả thuốc men cho đến khi chàng khỏe mạnh trở lại. Chỉ trong vòng ba tháng, chàng đã hồi phục hoàn toàn phong độ ngày xưa, thậm chí còn tuấn tú lẫy lừng hơn cả trước kia.

Một ngày nọ, Owain nghe thấy những tiếng động ầm ĩ cùng thanh âm vũ khí va chạm khắp lâu đài, bèn hỏi thiếu nữ nguyên do. Nàng đáp: “Vị Bá tước mà thần từng nhắc tới đã dẫn một đại quân đến vây hãm lâu đài để ép nữ bá tước đầu hàng.” Owain liền hỏi xem trong lâu đài có ngựa chiến và áo giáp nào không. Thị nữ quả quyết: “Nàng có những thứ tốt nhất trên đời này.” Owain liền bảo: “Nàng có thể đi xin giúp ta mượn một bộ giáp và con ngựa được không, để ta ra ngoài nghênh diện đạo quân kia?” “Thần xin tuân mệnh,” thiếu nữ đáp.

Nàng đến gặp nữ bá tước thuật lại lời Owain. Nghe xong, nữ bá tước bật cười: “Quả thật, ta sẵn sàng tặng luôn cho chàng ta ngựa và giáp trụ vĩnh viễn; chưa từng ai sở hữu bộ giáp hay con ngựa nào tuyệt vời như thế, và ta rất mừng vì hôm nay chàng ấy dùng nó, kẻo mai này rơi vào tay kẻ thù mất. Dù vậy, ta chẳng biết chàng định làm gì với chúng nữa.”

Nữ bá tước lập tức ra lệnh dắt ra một chiến mã đen tuyền với chiếc yên bằng gỗ sồi cùng đầy đủ áo giáp cho cả người lẫn ngựa. Owain tự mình mặc giáp, leo lên lưng ngựa, dẫn theo hai cậu bé tùy tùng trang bị giáp mã tận răng. Khi tiến đến sát đạo quân của tên Bá tước, họ không thể nhìn thấy nổi điểm dừng hay ranh giới của đại quân đông nghịt. Owain liền hỏi hai tùy tùng xem tên Bá tước đang ở cánh quân nào. “Ở cánh quân có bốn lá cờ vàng đằng kia kìa,” họ chỉ tay đáp, “hai lá đi trước, hai lá theo sau hắn.” Owain liền bảo: “Giờ thì hai ngươi hãy quay về đợi ta ở cổng lâu đài.” Họ quay lưng đi, còn Owain phóng ngựa thẳng tới chỗ tên Bá tước. Bằng một đòn hiểm hóc, Owain hất văng hắn ra khỏi yên ngựa, quay đầu ngựa phi thẳng về phía cổng lâu đài nơi hai tùy tùng đang chờ đợi. Cả hai cùng tung vó vào trong. Owain trói gặt tên Bá tước đem dâng làm quà cho nữ bá tước, và cất lời: “Xin dâng tặng phu nhân để đáp lại lọ thuốc mỡ thần kỳ ngày trước.”

Đạo quân của tên Bá tước đóng trại vây kín lâu đài. Để đổi lấy mạng sống, hắn buộc phải trả lại cho nữ bá tước hai vùng lãnh địa mà hắn đã cướp đoạt; đồng thời dâng hiến một nửa vương quốc của chính mình, toàn bộ vàng bạc châu báu cùng những con tin để chuộc lại sự tự do.

Owain cất bước ra đi. Mặc cho nữ bá tước và toàn thể thần dân khẩn khoản nài nỉ ở lại, chàng vẫn một mực chọn cách lang thang qua những vùng đất xa xôi và hoang dã.

Trong lúc bôn ba, chàng nghe thấy tiếng gào thét đinh tai nhức óc phát ra từ trong rừng sâu. Tiếng kêu lặp lại lần thứ hai rồi lần thứ ba. Owain hướng thẳng về phía phát ra âm thanh, và trước mắt chàng là một khối đá khổng lồ lởm chởm nằm giữa khu rừng, bên vách đá có một tảng đá màu xám nứt ra một đường lớn, bên trong khe nứt có một con mãng xà đang ẩn mình. Ngay cạnh tảng đá là một con sư tử đen, cứ mỗi lần con sư tử toan bước đi là con rắn lại lao ra tấn công. Owain tuốt gươm tiến lại gần khối đá; khi con rắn phóng mình lao tới, chàng vung kiếm chém một nhát đứt đôi thân nó. Chàng lau sạch gươm rồi tiếp tục lên đường như trước. Nào ngờ, con sư tử cứ lẽo đẽo bám theo sau, quấn quýt bên chân chàng chẳng khác gì một chú chó săn được nuôi dưỡng từ bé.

Cứ thế họ đồng hành suốt cả ngày trời cho đến khi chiều tà. Khi đến giờ nghỉ ngơi, Owain xuống ngựa, tháo cương thả con ngựa ra một khoảng đồng cỏ bằng phẳng rợp bóng cây. Chàng chùi đá đánh lửa, và ngay khi đống lửa vừa bén, con sư tử liền lăng xăng kiếm củi đủ dùng suốt ba đêm mang tới rồi biến mất tăm. Chẳng mấy chốc, nó quay trở lại mang theo một con hươu đực lớn béo múp, ném phịch xuống trước mặt Owain, người liền mang nó đến bên đống lửa.

Owain lột da con hươu, cắt thành từng miếng thịt xiên vào những chiếc que cắm quanh đống lửa. Phần thịt còn lại chàng nhường cho con sư tử ăn ngấu nghiến. Đúng lúc ấy, chàng nghe thấy một tiếng thở dài não nề sát bên mình, rồi tiếng thứ hai, thứ ba vang lên. Owain lớn tiếng hỏi xem đó có phải là tiếng thở dài của con người không, và nhận được câu trả lời khẳng định. “Ngươi là ai?” Owain hỏi. Giọng nói cất lên nghẹn ngào: “Thật lòng mà nói, tôi chính là Luned, nữ thị nữ của Bà chủ Suối Nguồn.” Owain kinh ngạc: “Ngươi làm gì ở đây thế này?” Nàng sụt sùi: “Tôi bị giam cầm ở đây vì vị hiệp sĩ đến từ triều đình của Arthur đã cưới nữ bá tước làm vợ. Chàng ở lại đó một thời gian ngắn rồi lên đường trở về triều đình của Arthur và không bao giờ quay lại nữa. Chàng là người bạn thân thiết nhất đời tôi. Bỗng hai gã cận thần trong phòng nữ bá tước vu khống và gọi chàng là kẻ lừa đảo. Tôi liền cãi lại rằng hai kẻ tiểu nhân các người không đáng xách dép cho chàng. Thế là chúng tống giam tôi vào ngục đá này, tuyên bố tôi sẽ bị đem ra xử tử trừ phi chính chàng quay về giải cứu vào một thời điểm nhất định; và hạn chót chỉ còn cách ngày mai có một ngày thôi. Tôi chẳng có ai để sai phái đi tìm chàng cả. Ngài ấy tên là Owain con trai của Urien.” Owain giật mình: “Và ngươi có chắc chắn rằng nếu vị hiệp sĩ đó biết chuyện này, chàng sẽ đến cứu ngươi không?” “Tôi dám lấy tính mạng ra để đảm bảo điều đó,” nàng khóc nức nở.

Khi những xiên thịt nướng vừa chín tới, Owain chia đôi phần ăn cho mình và thiếu nữ; sau khi ăn uống xong, họ trò chuyện cùng nhau cho đến tận sáng hôm sau. Khi mặt trời ló rạng, Owain cất tiếng hỏi nàng xem quanh đây có nơi nào có thể xin chút thức ăn và chỗ nghỉ chân qua đêm nay không. Nàng đáp: “Thưa ngài, có đấy ạ; hãy băng qua con suối đằng kia, đi dọc theo bờ sông, chẳng mấy chốc ngài sẽ thấy một lâu đài nguy nga tráng lệ với vô số ngọn tháp cao vút; vị Bá tước chủ nhân nơi đó là người hiếu khách nhất trên đời. Ngài có thể trọ lại đó qua đêm.”

Chưa từng có lính gác nào làm tròn trách nhiệm hơn con sư tử canh chừng cho Owain suốt đêm hôm ấy.

Owain siết lại yên cương cho ngựa, băng qua bến nước và xuất hiện trước cổng lâu đài. Chàng bước vào và được tiếp đón vô cùng trọng thị. Ngựa chiến được chăm sóc chu đáo, cỏ khô chất đống đầy chuồng. Con sư tử liền lon ton đi thẳng vào nằm ngay máng cỏ của ngựa khiến chẳng ai trong lâu đài dám đến gần. Sự đón tiếp mà Owain nhận được ở đây thực sự vượt xa mọi nơi chàng từng đi qua, ngặt một nỗi ai nấy đều mang vẻ mặt đau khổ như thể có tang tóc cận kề. Đến giờ dùng bữa, vị Bá tước ngồi một bên Owain, còn bên kia là cô con gái duy nhất của ông. Owain chưa từng thấy người con gái nào xinh đẹp đến thế. Con sư tử lững thững bước vào ngồi ngay giữa hai chân Owain, và chàng gắp đủ mọi món ăn ngon nhất của mình để đút cho nó. Dẫu vậy, nỗi u buồn của những con người nơi đây vẫn bao trùm nặng nề.

Giữa bữa ăn, vị Bá tước cất lời chào mừng Owain. Owain liền bảo: “Này chủ nhân, giờ thì ngài nên vui vẻ lên chứ.” Vị Bá tước thở dài: “Chúa mới biết được, sự xuất hiện của ngài không hề làm chúng tôi buồn phiền, nhưng thực sự chúng tôi đang gánh chịu một nỗi lo tang tóc vô bờ.” “Chuyện gì thế?” Owain hỏi. Vị Bá tước đáp: “Ta có hai người con trai, hôm qua chúng lên núi đi săn. Trên ngọn núi ấy có một con quái vật chuyên sát hại và ăn thịt người, hắn đã bắt cóc hai đứa con trai ta; và ngày mai là hạn chót hắn đặt ra, hắn đe dọa sẽ giết chết các con ta ngay trước mắt ta nếu ta không dâng nộp cô con gái duy nhất này cho hắn. Hắn mang hình hài con người nhưng to lớn khổng lồ chẳng khác gì yêu tinh.”

Owain trầm ngâm: “Thật là bi thảm. Vậy ngài định tính sao?” Vị Bá tước nghẹn ngào: “Chúa chứng giám, thà rằng các con ta bị sát hại bất đắc kỳ tử, còn hơn là tự tay dâng con gái mình cho ác ôn giày vò hủy diệt.” Họ tiếp tục trò chuyện sang những chuyện khác, và Owain ở lại đó qua đêm.

Sáng hôm sau, những tiếng la hét chói tai vang lên báo hiệu sự xuất hiện của tên khổng lồ mang theo hai chàng trai trẻ. Vị Bá tước vừa lo bảo vệ lâu đài vừa đau đáu cứu hai người con. Owain lập tức mặc giáp, cầm vũ khí bước ra nghênh chiến với con quái vật, con sư tử lầm lũi theo sát phía sau. Vừa thấy Owain giáp trụ lững thững tiến lại, tên khổng lồ lồng lộn lao vào tấn công. Con sư tử gầm lên giáp lá cà với tên khổng lồ còn hung tợn hơn cả Owain. Tên khổng lồ hoảng hốt thét lên: “Chà, ta chẳng ngán gì việc đấu tay đôi với ngươi, ngặt nỗi vướng cái con quái thú quái quỷ này bên cạnh.” Nghe vậy, Owain liền quay lại dắt con sư tử vào trong lâu đài, đóng sập cửa nhốt nó lại rồi mới quay ra tiếp tục chiến đấu. Con sư tử bên trong nghe tiếng đấm đá hiểm nghèo của chủ nhân liền gầm thét đinh tai nhức óc. Nó lồng lộn cào cấu leo lên tận nóc đại sảnh của Bá tước, trèo lên đỉnh lâu đài rồi tung mình nhảymặt đất phi thẳng ra chiến trận cứu chủ. Con sư tử vung móng vuốt giáng một cú chí mạng xé toạc thân hình tên khổng lồ từ vai xuống hông, lòi cả tim ra ngoài, khiến gã đổ gục xuống chết tươi. Owain liền trao trả hai chàng trai trẻ về vòng tay cha họ.

Vị Bá tước khẩn khoản nài nỉ Owain ở lại, nhưng chàng nhất quyết từ chối, vội vã lên đường tiến về bãi cỏ nơi Luned đang bị giam cầm. Khi đến nơi, chàng chứng kiến một giàn hỏa thiêu lớn đã được dựng sẵn, hai thanh niên tóc hung uốn quăn đang lôi Luned ra để ném vào biển lửa. Owain tiến đến chất vấn họ về tội danh của nàng. Họ đáp trả bằng giao ước giữa đôi bên y hệt như những gì thiếu nữ từng kể tối qua. “Và,” chúng bồi thêm, “Owain đã thất hứa không đến cứu ả, thế nên chúng ta lôi ả ra thiêu sống.” Owain dõng dạc tuyên bố: “Thật lòng mà nói, chàng ấy là một hiệp sĩ chân chính, nếu biết thiếu nữ lâm nguy, chắc chắn chàng sẽ không ngồi yên; nhưng nếu các ngươi chấp nhận để ta thay thế chàng đấu kiếm với các ngươi, ta xin sẵn sàng.” Hai tên gã gật đầu: “Được thôi, vì đấng tối cao đã sinh ra chúng ta.”

Cả hai lao vào tấn công Owain khiến chàng vô cùng vất vả chống đỡ. Đúng lúc ngặt nghèo ấy, con sư tử phá cửa chạy đến trợ chiến, hai chủ tớ hợp sức áp đảo hai tên thanh niên. Chúng hoảng sợ kêu lên: “Hỡi thủ lĩnh, giao kèo ban đầu là đấu tay đôi một chọi một, cớ sao ngươi lại chơi xấu dùng đến con quái thú này?” Owain bèn nhốt con sư tử vào chính căn ngục đá từng giam giữ Luned, chặn đá lấp kín cửa lại rồi quay ra chiến đấu sòng phẳng với hai kẻ phản bội. Dẫu vậy, sức khỏe Owain không còn được như trước khiến chàng bị ép vào thế hạ phong. Con sư tử bên trong ngục nghe tiếng gầm thét giao chiến liền điên cuồng cào cấu thủng cả bức tường đá, tung mình lao ra chiến trường kết liễu ngay lập tức hai tên thanh niên. Thế là Luned được cứu thoát khỏi giàn hỏa thiêu trong gang tấc.

Sau đó, Owain cùng Luned trở về lãnh địa của Bà chủ Suối Nguồn. Khi rời khỏi đó, chàng đưa nữ bá tước cùng về triều đình của Arthur, và nàng chính là người vợ kề cận bên chàng suốt phần đời còn lại.

Chàng tiếp tục lên đường tìm đến vương quốc của gã da ngăm đen độc ác, giao chiến với hắn dưới sự yểm trợ của con sư tử trung thành cho đến khi hạ gục được đối thủ. Khi bước vào đạiảnh của gã man rợ, chàng bàng hoàng chứng kiến hai mươi tư vị phu nhân xinh đẹp nhất trần đời đang bị giam cầm. Xiêm y trên người họ rách nát chẳng đáng giá nổi hai mươi tư đồng xu, khuôn mặt đượm buồn thảm thiết như cái chết. Owain ân cần hỏi han nguyên nhân nỗi buồn. Họ nghẹn ngào đáp: “Chúng tôi đều là con gái các vị Bá tước, theo chồng đến đây trong niềm hạnh phúc ngập tràn. Chúng tôi từng được đón tiếp trọng thể với biết bao yến tiệc hoan hỉ. Nào ngờ sau đó chúng tôi bị chuốc thuốc mê, và trong cơn bất tỉnh ấy, con quỷ độc ác chủ nhân lâu đài này đã tàn sát toàn bộ phu quân chúng tôi, cướp đoạt ngựa chiến, y phục cùng vàng bạc châu báu; thi hài chồng chúng tôi vẫn còn nằm lại đâu đây trong căn nhà này cùng nhiều nạn nhân khác nữa. Hỡi thủ lĩnh, đó là nguyên nhân nỗi đau đớn của chúng tôi, và chúng tôi rất tiếc khi ngài đặt chân đến đây, e rằng tai họa sẽ giáng xuống đầu ngài.”

Nghe đến đây, lòng căm phẫn dâng trào trong lòng Owain. Chàng bước ra ngoài lâu đài, và chạm trán một hiệp sĩ đang tiến tới chào hỏi mình niềm nở như thể huynh đệ chí cốt. Đó chính là gã da ngăm đen độc ác. Owain lạnh lùng tuyên bố: “Thật lòng mà nói, ta đến đây không phải để làm bạn với ngươi.” Hắn cười gằn: “Vậy thì ngươi sẽ chẳng tìm thấy chút tình hữu nghị nào đâu.” Cả hai lập tức lao vào quần thảo dữ dội. Owain đánh bại hắn, trói quặt hai tay ra sau lưng. Tên man rợ bấy giờ mới van xin tha mạng: “Hỡi lãnh chúa Owain, sấm truyền đã ứng nghiệm khi ngài đến đây khuất phục tôi. Trước đây tôi là kẻ cướp chuyên biến nơi này thành hang ổ cướp bóc; xin hãy mở lượng khoan hồng cho tôi được sống, tôi nguyện từ bỏ ác nghiệp để cải tạo nơi đây thành một trạm xá cứu nhân độ thế cho kẻ yếu lẫn người mạnh suốt quãng đời còn lại để chuộc tội.” Owain đồng ý với thỉnh cầu đó và nghỉ qua đêm tại đây.

Sáng hôm sau, chàng dẫn theo hai mươi tư vị phu nhân, cùng toàn bộ ngựa chiến, y phục, của cải châu báu của họ trở về triều đình Vua Arthur. Sự vui mừng của Arthur khi gặp lại Owain lần này còn lớn gấp bội lần thuở ban đầu. Những vị phu nhân nào muốn ở lại triều đình đều được chu toàn, còn ai muốn hồi hương đều được tiễn đưa chu đáo.

Kể từ đó, Owain gắn bó với triều đình Vua Arthur trong sự kính trọng và yêu mến hết mực, đảm nhận vai trò thủ lĩnh hoàng gia cho đến ngày cùng đoàn tùy tùng khởi hành; đó chính là đạo quân gồm ba trăm chiến binh quạ đen mà Kenverchyn từng giao phó cho chàng. Và bất cứ nơi nào Owain đặt chân đến cùng binh đoàn ấy, chiến thắng luôn gọi tên chàng.

Đó chính là câu chuyện về BÀ CHỦ SUỐI NGUỒN.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.