Maxen Wledig là hoàng đế của thành Rome; ngài khôi ngô, tài giỏi và khôn ngoan hơn bất kỳ vị hoàng đế nào từng trị vì trước đó. Một ngày nọ, ngài triệu tập một hội đồng gồm các vị vua chư hầu, rồi bảo với các bề tôi rằng: “Trẫm muốn ngày mai đi săn.” Sáng hôm sau, ngài cùng đoàn tùy tùng khởi hành, tiến đến thung lũng của con sông xuôi dòng hướng về Rome. Ngài săn bắn dọc theo thung lũng cho đến tận trưa. Sát cánh bên ngài còn có ba mươi hai vị vua đội vương miện vốn là chư hầu của ngài; hoàng đế không đi cùng họ vì niềm vui săn bắn, mà là để đặt mình ngang hàng với những vị vua ấy.
Mặt trời đã lên cao đỉnh đầu và cái nóng oi bức bao trùm. Giấc ngủ chợt ập đến với Maxen Wledig. Các thị vệ liền đứng xung quanh, dùng cán giáo dựng khiên lên để che nắng cho ngài, và họ đặt một chiếc khiên dát vàng khảm men bên dưới đầu ng thế là Maxen chìm vào giấc ngủ.
Và ngài chìm vào một giấc mơ. Đây là giấc mơ mà ngài đã thấy. Ngài đang lữ hành dọc theo thung lũng con sông ngược về thượng nguồn, rồi ngài đến ngọn núi cao nhất thế giới. Ngọn núi ấy cao vút tận mây xanh trong tâm tưởng ngài; và khi vượt qua đỉnh núi, ngài ngỡ như mình đang bước qua những vùng đất bằng phẳng và đẹp đẽ nhất mà con người từng thấy ở phía bên kia sườn núi. Ngài trông thấy những dòng sông lớn và hùng vĩ đổ từ núi ra biển, rồi ngài tiến về phía cửa sông. Trên hành trình đó, ngài đến cửa của con sông lớn nhất từng được biết đến. Ngài chiêm ngưỡng một thành phố tráng lệ ở cửa sông, một lâu đài nguy nga bên trong thành phố, cùng nhiều ngọn tháp cao với đủ màu sắc sặc sỡ bên trong lâu đài. Ngài thấy một hạm đội tàu tại cửa sông, lớn nhất từ trước tới nay. Giữa đoàn thuyền ấy, ngài chú ý đến một con thuyền nổi bật hơn hẳn; nó lớn hơn nhiều và đẹp hơn tất cả những chiếc còn lại. Phần thân tàu nhô lên khỏi mặt nước được dát một bên bằng vàng và một bên bằng bạc. Ngài nhìn thấy một chiếc cầu làm bằng xương cá voi bắc từ thuyền lên bờ, và ngài tự sự rằng mình đã bước qua chiếc cầu ấy để lên tàu. Một cánh buồm được giương lên, chở con thuyền lướt đi trên biển cả và đại dương. Kế đó, ngài dường như đã đặt chân lên hòn đảo tuyệt mỹ nhất trên thế giới, rồi ngài băng qua hòn đảo từ bờ biển này sang bờ biển khác, cho đến tận chóp cùng của đảo. Ngài ngắm nhìn những thung lũng, những sườn dốc, những mỏm đá cao kỳ vĩ và các vách đá hiểm trở. Chưa bao giờ ngài được thấy cảnh sắc nào nhường ấy. Từ đó, ngài trông thấy một hòn đảo giữa biển khơi, nằm đối diện với vùng đất hiểm trở này. Ngăn giữa ngài và hòn đảo ấy là một vùng quê có đồng bằng rộng lớn như biển, có ngọn núi hùng vĩ như rừng sâu. Từ trên núi, ngài thấy một con sông chảy uốn lượn qua miền đất rồi đổ ra biển. Tại cửa sông, ngài nhìn thấy một lâu đài đẹp nhất trần gian, với cánh cổng đang rộng mở, và ngài bước thẳng vào trong. Bên trong lâu đài là một đại sảnh lộng lẫy có mái nhà tựa như bằng vàng ròng, tường nhà hoàn toàn bằng những viên ngọc quý lấp lánh, và các cánh cửa đều bằng vàng. Ngài thấy những chiếc ghế ngồi bằng vàng cùng những chiếc bàn bằng bạc trong đại sảnh. Và trên chiếc ghế đối diện, ngài nhìn thấy hai thiếu niên tóc màu hạt dẻ đang chơi cờ. Bàn cờ làm bằng bạc với những quân cờ bằng vàng. Y phục của hai thiếu niên ấy bằng sa tanh đen tuyền, tóc họ búi gọn bằng những vòng hoa vàng rực rỡ đính những viên ngọc quý giá ngất trời, gồm hồng ngọc và các loại đá quý xen lẫn với những viên ngọc hoàng gia. Chân họ đi đôi bốt da Cordovan mới tinh, được thắt bằng những chiếc khuy vàng đỏ.
Bên cạnh một cột trụ trong đại sảnh, ngài thấy một cụ già râu tóc bạc phơ đang ngồi trên chiếc ghế ngà voi chạm trổ hình hai con đại bàng bằng vàng rực. Cổ tay cụ đeo vòng vàng, tay nhẫn đeo đầy, cổ quấn chiếc kiềng vàng, và tóc thắt vương miện bằng vàng. Cụ mang phong thái uy nghiêm. Trước mặt cụ là một bàn cờ bằng vàng, một chiếc gậy vàng và một chiếc giũa thép trên tay. Cụ đang cặm cụi đẽo gọt các quân cờ.
Và ngài thấy một thiếu nữ đang ngồi trước mặt cụ trên chiếc ghế vàng rực. Nhìn ngắm nàng khó khăn chẳng khác nào nhìn thẳng vào vầng thái dương lúc chói chang nhất, bởi vẻ đẹp kiều diễm của nàng. Thiếu nữ khoác chiếc áo lụa trắng, ngực cài khuy vàng đỏ; bên ngoài mặc chiếc áo choàng bằng gấm vàng, đầu đội vòng nguyệt quế bằng vàng đỏ đính hồng ngọc và đá quý xen kẽ với ngọc trai cùng đá hoàng gia. Ngang lưng nàng thắt chiếc đai vàng rực rỡ. Nàng là hiện thân rực rỡ nhất mà loài người từng chiêm ngưỡng.
Thiếu nữ đứng dậy khỏi chiếc ghế trước mặt ngài, và ngài liền choàng tay ôm lấy cổ nàng, rồi cả hai cùng ngồi xuống chiếc ghế vàng ấy: chiếc ghế rộng rãi chẳng kém khi nàng ngồi một mình. Khi ngài đang ôm cổ thiếu nữ, áp má sát bên má nàng, thì bỗng nhiên, tiếng chó săn vùng vẫy vì bị xiềng xích, tiếng khiên va đập vào nhau choang choảng, tiếng cán giáo đập vào nhau dồn dập, cùng tiếng ngựa hí vang và chồm lên đã đánh thức vị hoàng đế.
Khi tỉnh giấc, ngài ngỡ ngàng hồn phách tiêu điều, sinh lực rã rời vì hình bóng người thiếu nữ vừa xuất hiện trong giấc mơ, bởi tình yêu dành cho nàng đã ngấm sâu vào từng thớ thịt. Lúc ấy, đám tùy tùng mới lên tiếng thưa với ngài: “Tâu bệ hạ,” họ nói, “đã quá giờ ngài dùng bữa rồi phải không ạ?” Ngay lập tức, vị hoàng đế trèo lên lưng ngựa, mang tâm trạng buồn bã nhất mà phàm trần từng thấy, rồi khởi hành trở về Rome.
Tâm trạng ấy cứ đeo bám ngài suốt cả tuần lễ. Khi các bề tùng tụ tập uống rượu vang và rượu mật từ những chiếc chén vàng, ngài chẳng buồn tham gia cùng ai. Khi họ nghe hát ca và kể chuyện, ngài cũng lánh mặt; ngài chẳng màng làm bất cứ việc gì ngoài việc ngủ. Và cứ mỗi lần chìm vào giấc ngủ, ngài lại thấy trong mơ người thiếu nữ mà ngài hết mực ái mộ; nhưng ngoài những lúc ngủ ấy ra, ngài chẳng thể gặp lại nàng dẫu chỉ một chút, bởi ngài hoàn toàn mù tịt không biết nàng đang ở xó xỉnh nào trên thế giới này.
Một hôm, thị vệ hầu phòng đến thưa chuyện với ngài; dẫu chỉ mang chức thị vệ hầu phòng, nhưng thực chất ông ta lại là vua xứ Rome. “Tâu bệ hạ,” ông ta nói, “toàn dân đang oán trách ngài.” “Vì cớ gì mà họ oán trách ta?” vị hoàng đế hỏi. “Bởi vì họ chẳng thể nhận được bất kỳ lời nhắn hay câu trả lời nào từ ngài, điều mà lẽ ra bề tôi phải nhận được từ bậc quân vương. Đó là lý do ngài đang bị miệng thế chê bai.” “Hỡi khanh,” hoàng đế đáp, “hãy triệu tập các bậc hiền triết của Rome đến đây cho ta, và ta sẽ giãi bày cho họ vì sao ta sầu muộn.”
Thế là các hiền triết của Rome được dẫn diện kiến hoàng đế, và ngài ngỏ lời cùng họ. “Hỡi các bậc hiền giả của Rome,” ngài nói, “ta đã thấy một giấc mơ. Trong giấc mơ ấy, ta đã gặp một thiếu nữ, và vì nàng mà thân xác ta giờ đây không còn chút sức sống, linh hồn hay sinh khí nào nữa.” “Tâu bệ hạ,” họ đáp lời, “vì ngài đã xét thấy chúng thần xứng đáng để ban ơn phò tá, chúng thần xin hiến kế. Và đây là kế sách của chúng tôi: ngài hãy cử sứ thần đi khắp ba ngả thế gian trong suốt ba năm để tìm kiếm giấc mơ của ngài. Và dẫu ngài không biết ngày nào hay đêm nào tin vui sẽ tới, thì niềm hy vọng ấy sẽ là điểm tựa cho ngài.”
Thế là các sứ thần lên đường suốt ròng rã một năm trời, bôn ba khắp thế gian để dò la tin tức về giấc mơ của hoàng đế. Nhưng khi họ quay về vào cuối năm đó, họ chẳng biết thêm được một chữ bẻ đôi nào so với ngày xuất phát. Khi ấy, hoàng đế vô cùng đau khổ, bởi ngài nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ có được tin tức gì về người mà ngài yêu thương nhất.
Bấy giờ, vị vua xứ Rome mới cất lời tâu với hoàng đế: “Tâu bệ hạ, xin hãy lên đường đi săn theo hướng mà ngài đã đi trong mộng, dẫu là hướng đông hay hướng tây.” Thế là hoàng đế lên đường đi săn, và ngài đã đến bờ sông nọ. “Kìa,” ngài nói, “đây chính là nơi ta đứng khi chiêm bao thấy giấc mơ ấy, và ta đã đi ngược dòng sông về hướng tây.”
Ngay lập tức, mười ba sứ thần của hoàng đế lên đường, và trước mắt họ xuất hiện một ngọn núi cao vời vợi dường như chạm đến tận mây xanh. Trang phục của các sứ thần khi lên đường mang đặc điểm sau: mỗi người đều đính một bên tay áo lên chiếc mũ ở phía trước, như một dấu hiệu nhận biết họ là sứ thần, nhờ đó dù có đi ngang qua bất kỳ vùng đất thù địch nào đi nữa thì họ cũng không bị tổn hại gì. Và khi vượt qua ngọn núi ấy, họ chiêm ngưỡng những đồng bằng bao la cùng những dòng sông lớn đang uốn lượn chảy qua.
“Kìa,” họ nói, “chính là vùng đất mà chủ nhân chúng ta đã thấy.”
Và họ tiếp tục hành trình dọc theo các cửa sông, cho đến khi đến được con sông hùng vĩ đổ ra biển mà họ từng thấy trong mộng, cùng thành phố tráng lệ và những ngọn tháp cao muôn màu trong lâu đài. Họ nhìn thấy hạm đội lớn nhất thế giới đậu tại hải cảng của con sông ấy, và có một con thuyền lớn hơn tất cả những chiếc khác. “Kìa một lần nữa,” họ nói, “giấc mơ mà chủ nhân chúng ta đã thấy.” Và trên con thuyền lớn ấy, họ vượt biển để đến Đảo Britain. Họ băng qua hòn đảo cho đến khi đặt chân tới Snowdon. “Kìa,” họ nói, “vùng đất hiểm trở mà chủ nhân chúng ta đã thấy.” Họ tiếp tục tiến bước cho đến khi trông thấy Anglesey trước mặt, rồi cả vùng Arvon nữa. “Kìa,” họ nói, “vùng đất mà chủ nhân chúng ta đã thấy trong giấc ngủ.” Và họ thấy Aber Sain, cùng một lâu đài tọa lạc ở cửa sông. Cổng lâu đài đang rộng mở, họ bước vào trong và trông thấy một đại sảnh. Bấy giờ họ thốt lên: “Kìa đại sảnh mà ngài đã thấy trong mơ.” Họ bước vào đại sảnh và chứng kiến hai thiếu niên đang chơi cờ trên chiếc ghế dài bằng vàng. Họ thấy cụ già râu tóc bạc phơ ngồi bên cột trụ trên chiếc ghế ngà voi, đang cặm cụi đẽo gọt quân cờ. Và họ thấy thiếu nữ đang ngồi trên chiếc ghế bằng vàng rực.
Các sứ thần liền quỳ rạp xuống đất. “Kính lạy Hoàng hậu thành Rome!” “Này các quý ông,” thiếu nữ cất tiếng, “các vị mang dáng dấp của những bậc đường đường chính chính và đeo phù hiệu sứ thần, cớ sao lại đem trò hề này ra trêu chọc ta?” “Chúng tôi không hề trêu chọc người, thưa phu nhân; nhưng Hoàng đế thành Rome đã nhìn thấy người trong giấc ngủ, và ngài chẳng còn lại chút sức sống hay linh hồn nào vì người. Do đó, xin phu nhân hãy cho chúng tôi biết quyết định của người: hoặc là người sẽ cùng chúng tôi ra đi để trở thành hoàng hậu xứ Rome, hoặc hoàng đế sẽ ngự giá đến đây để rước người về làm hiền thê?” “Này các lãnh chúa,” thiếu nữ đáp, “ta không phủ nhận những điều các vị nói, nhưng ta cũng chẳng dễ gì tin sái cổ. Nếu hoàng đế yêu mến ta, hãy để ngài thân chinh đến đây tìm ta.”
Ngày đêm gấp rút, các sứ thần vội vã quay về. Khi ngựa kiệt sức, họ mua những con ngựa mới khỏe mạnh hơn. Lúc về đến Rome, họ đến yết kiến hoàng đế và xin hưởng phần thưởng đã hứa, và điều đó được ban cho đúng như họ từng cầu xin. “Chúng tôi sẽ làm dẫn đường cho ngài, thưa bệ hạ,” họ tâu, “vượt biển qua non, đến tận nơi người phụ nữ mà ngài hết lòng ái mộ đang sinh sống, bởi chúng tôi đã rõ danh tính, họ hàng và dòng dõi của nàng.”
Ngay lập tức, hoàng đế thống lĩnh đại quân khởi hành. Những con người ấy đóng vai trò là hoa tiêu dẫn đường. Họ vượt biển sâu để tiến về phía Đảo Britain. Ngài chinh phục hòn đảo từ tay Beli con trai của Manogan cùng các con hắn, đẩy lùi chúng ra biển, rồi tiến thẳng đến Arvon. Vị hoàng đế nhận ra ngay vùng đất quen thuộc khi vừa đặt chân tới. Và khi trông thấy lâu đài Aber Sain, ngài thốt lên: “Kìa trông kìa, đó chính là lâu đài nơi ta từng thấy người thiếu nữ mà ta hết mực yêu thương.” Ngài tiến thẳng vào lâu đài và bước vào đại sảnh, để rồi tận mắt nhìn thấy Kynan con trai của Eudav, cùng Adeon con trai của Eudav đang ngồi đánh cờ. Ngài thấy Eudav con trai của Caradawc đang ngồi trên chiếc ghế ngà voi cặm cụi đẽo gọt quân cờ. Và thiếu nữ mà ngài từng thấy trong giấc mộng đang ngồi điềm nhiên trên chiếc ghế vàng. “Kính lạy Hoàng hậu thành Rome!” ngài cất tiếng chào. Đoạn vị hoàng đế choàng tay ôm lấy cổ nàng; và ngay đêm ấy, nàng chính thức trở thành hiền thê của ngài.
Sáng hôm sau, nàng thiếu nữ xin hưởng phần sính lễ của mình. Ngài bảo nàng cứ việc nêu điều ước. Và nàng xin được sở hữu Đảo Britain cho phụ vương của mình, trải dài từ Kênh đào cho đến Biển Ireland, cùng ba hòn đảo lân cận, đặt dưới quyền cai quản của hoàng hậu Rome; đồng thời xin xây dựng ba tòa lâu đài trọng yếu tại bất cứ chốn nào nàng chọn trên Đảo Britain. Và nàng chọn xây tòa lâu đài cao nhất tại Arvon. Người ta liền chở đất từ Rome đến đó để hoàng đế có thể nằm, ngồi và đi lại trên một thổ nhưỡng lành lợn hơn. Sau đó, hai tòa lâu đài còn lại được xây dựng cho nàng, đó là Caerlleon và Caermarthen.
Một ngày nọ, hoàng đế đi săn ở Caermarthen và tiến đến tận đỉnh Brevi Vawr, rồi ngài dựng trại tại đó. Trại binh ấy ngày nay vẫn được gọi là Cadeir Maxen. Và bởi vì ngài đã dùng hàng vạn tráng đinh để xây dựng lâu đài, ngài đặt tên cho nó là Caervyrddin. Khi ấy, Helen nảy sinh ý định cho xây dựng những con đường lớn nối liền lâu đài này với lâu đài khác xuyên suốt Đảo Britain. Và những con đường ấy đã được hình thành. Cũng chính vì lẽ đó mà chúng được mang tên là những con đường của Helen Luyddawc, bởi nàng vốn là người gốc bản địa của hòn đảo này, và thần dân trên Đảo Britain sẽ chẳng bao giờ chịu nhọc công xây dựng những con đường vĩ đại nhường ấy cho bất kỳ ai ngoại trừ nàng.
Bảy năm trời vị hoàng đế lưu lại hòn đảo này. Thuở ấy, người Rome có một tục lệ rằng bất kỳ vị hoàng đế nào lưu trú ở xứ khác quá bảy năm sẽ tự chuốc lấy diệt vong và không bao giờ có thể quay về Rome được nữa.
Thế là họ suy tôn một vị hoàng đế mới. Nhân vật này liền gửi một bức thư đe dọa đến Maxen. Nội dung trong thư chẳng có gì ngoài câu này: “Nếu ngươi dám đến, và nếu ngươi có ngày đặt chân đến Rome.” Bức thư cùng tin tức ấy đã vượt dặm đường đến tận Caerlleon để tay Maxen. Ngay lập tức, ngài đáp thư gửi cho kẻ tự xưng là hoàng đế ở Rome. Trong bức thư đó cũng chỉ vọn vẹn một câu: “Nếu trẫm đặt chân đến Rome, và nếu trẫm tới.”
Ngay sau đó, Maxen thống lĩnh đại quân tiến về Rome, lần lượt đánh bại nước Pháp, Burgundy cùng mọi vùng đất trên đường đi, rồi hạ trại bao vây thành phố Rome.
Ròng rã một năm trời vị hoàng đế đóng quân trước cửa thành mà tiến độ công phá chẳng khá hơn ngày đầu là bao. Bấy giờ, các anh em của Helen Luyddawc từ Đảo Britain dẫn theo một đạo quân nhỏ kéo đến hội quân cùng ngài. Đạo quân nhỏ bé ấy quy tụ những chiến binh dũng mãnh gấp đôi, gấp ba binh lính Rome. Hoàng đế được báo tin rằng có một đạo quân đang tiến đến hạ trại sát bên quân đội của ngài, và chưa ai từng thấy một đoàn quân nào vừa vặn mà lại có bề ngoài uy nghi, trang bị hoàn hảo cùng cờ xí lộng lẫy đến thế.
Helen liền đi ra để quan sát các đạo quân, và nàng nhận ra cờ xí của các anh mình. Kế đó, Kynan con trai của Eudav cùng Adeon con trai của Eudav đến yết kiến hoàng đế. Vị hoàng đế vô cùng hoan hỉ khi gặp lại họ và ôm chầm lấy họ.
Họ bắt đầu quan sát cách người Rome tấn công thành phố. Kynan bảo với anh mình rằng: “Chúng ta hãy thử tìm cách tấn công thành phố này một cách khôn ngoan hơn xem sao.” Thế là ban đêm họ tiến hành đo đạc chiều cao của bức tường thành, cử thợ mộc vào rừng đốn gỗ để làm thang, tính cứ bốn người thì có một chiếc thang. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, cứ đến ngọ hằng ngày là các vị hoàng đế lại ngưng chiến để dùng bữa, và hai bên đều đình chiến cho đến khi tất cả ăn xong. Vào buổi sáng, các tráng sĩ Britain dùng bữa và uống rượu cho đến khi tinh thần sảng khoái, sức vóc dồi dào. Và khi hai vị hoàng đế đang bận dùng bữa, người Britain liền mang thang tiến đến áp sát thành phố, nhanh như cắt leo qua tường thành để lọt vào bên trong.
Vị hoàng đế mới thậm chí còn chưa kịp giáp phục thì họ đã ập tới chém giết, hạ sát ông ta cùng vô số kẻ khác. Ba ngày ba đêm họ mới dẹp yên được đám tàn binh trong thành và chiếm trọn lâu đài. Một cánh quân khác túc trực canh giữ thành phố để ngăn không cho bất kỳ binh lính nào thuộc phe Maxen lọt vào, cho đến khi họ đã khuất phục toàn bộ theo ý nguyện.
Lúc bấy giờ, Maxen mới cất lời với Helen Luyddawc: “Trẫm lấy làm lạ, thưa phu nhân, vì cớ gì các anh của nàng lại không chiếm lấy thành phố này cho trẫm từ sớm?” “Tâu bệ hạ,” nàng đáp, “những thiếu niên khôn ngoan nhất thế gian chính là các huynh trưởng của thần thiếp. Ngài hãy cứ ngự giá đến đó và đòi lại thành phố từ tay họ, nếu nó đang nằm trong quyền sở hữu của họ thì ngài sẽ được toại nguyện ngay thôi.” Thế là hoàng đế cùng Helen đến đòi lại thành phố. Và họ được thông báo rằng chẳng có ai chiếm được thành phố này ngoài họ, và cũng chẳng ai có thể trao nó cho hoàng đế ngoại trừ các tráng sĩ của Đảo Britain. Thế là các cổng thành Rome được rộng mở, hoàng đế đường hoàng ngự trên ngai vàng, và toàn thể thần dân Rome đều cúi đầu quy phục ngài.
Vị hoàng đế bấy giờ mới bảo với Kynan và Adeon rằng: “Hỡi các khanh, giờ đây trẫm đã nắm trong tay toàn bộ giang sơn đế quốc của mình. Trẫm xin ban cho các khanh đạo quân này để đi chinh phục bất kỳ vùng đất nào các khanh ao ước trên thế gian.”
Thế là họ lên đường chinh phạt các vùng đất, lâu đài và thành thị. Họ tàn sát toàn bộ đàn ông nhưng giữ lại đàn bà con gái. Cứ thế họ tiếp tục cuộc viễn chinh cho đến khi những chàng trai trẻ theo họ ngày nào nay đã điểm bạc đầu phơ, bởi khoảng thời gian họ đằng đẵng trên con đường chinh chiến quá đỗi dài lâu.
Bấy giờ Kynan mới ngỏ lời với người anh em Adeon: “Huynh muốn ở lại xứ này, hay muốn quay về quê cha đất tổ nơi chúng ta đã ra đi?” Adeon chọn quay về quê hương, và đi cùng anh có rất nhiều người. Riêng Kynan thì ở lại cùng số quân còn lại và định cư tại đó.
Họ bàn bạc với nhau rồi quyết định cắt lưỡi những người phụ nữ, để họ không làm vấy bẩn ngôn ngữ của mình. Chính vì sự im lặng của những người phụ nữ đối với tiếng mẹ đẻ của họ, mà đàn ông xứ Armorica ngày nay mới được gọi là người Britain. Kể từ thời đó cho đến tận bây giờ, ngôn ngữ từ Đảo Britain vẫn luôn được lưu truyền và hiện diện ở chốn ấy.
Giấc mơ này được người ta gọi là Giấc mơ của Maxen Wledig, hoàng đế Rome. Câu chuyện đến đây là kết thúc.