Mưa tên như châu chấu ào ạt rơi xuống thủy tạ, nhất thời tiếng mũi tên xé gió rít lên bên tai không dứt. Lực đạo của mũi tên kia vô cùng kinh người, cắm phập vào da thịt, nghe rõ cả tiếng xương cốt rạn nứt.
"Lùi ra sau bình phong!" Thang Càn Tự lớn tiếng quát lệnh. Có tầm năm sáu người đã trúng tên, các thiếu niên kéo lê lẫn nhau, nép ra phía sau bình phong, cắn răng tự bẻ gãy phần thân tên cắm trên người mình. Lưu ti đuổi theo họ cắm chi chít lên bức bình phong, chỉ thấy tiếng lốp bốp phá nát vân mẫu, bảo quang bắn tung tóe, bốc lên từng làn khói sương nhỏ như tinh thể băng, đầu mũi tên bằng tinh thiết đen sì đâm xuyên qua lỗ thủng dài gần một tấc. Giữa tấm lưới tên bay tứ tung, trơ trọi lại mỗi cô bé mù ở phía ngoài bình phong, tiếng thét gào xé lòng vang lên từng hồi không dứt, tiếng trẻ sơ khóc ngất đi đã khàn đặc, nhưng vẫn như một con tiểu thú sắp chết, thều thào hơi thở cuối cùng, không ngừng không nghỉ. Thang Càn Tự nhắm mắt dốc sức lắng nghe, muốn ước lượng số lượng kẻ địch. Thế nhưng bên tai toàn là tiếng khóc của cô bé và đứa trẻ, tựa như hai con dao, một con sắc bén nhanh chóng, một con cùn mòn mẻ lưỡi, thay phiên nhau cứa vào lòng hắn. Hắn chỉ đếm đến mười bảy, cuối cùng không kiềm chế nổi, đột ngột đứng phắt dậy, khom người vọt nhanh vòng ra trước bình phong.
Ai nấy đều kinh ngạc nhìn hắn, nhưng rồi lại đồng loạt cúi gằm mặt, không nói được câu nào. Bọn họ vẫn chỉ là những thiếu niên chưa từng trải trận mạc, vì giữ mạng cho mình mà giết người là một chuyện, trơ mắt nhìn người khác chết trước mặt mà không cứu lại là chuyện khác. Nghe tiếng cô bé hét lên thảm thiết ở bên ngoài, trong lòng ai lại không nỡ? Cô bé vẫn ngã tại chỗ mà lúc nãy hắn ném ra, chân và vai đều như bị tên sượt qua, rỉ máu đen đỏ đầm đìa, người co ro lại thành một cục, ôm trùm lấy đứa bé vào trong cơ thể mình, có lẽ không phải vì bảo vệ nó, mà là trong nỗi sợ hãi buộc phải ôm lấy thứ gì đó cho yên tâm. Thang Càn Tự dốc sức vung vỏ dao đánh rạt hai ba mũi tên, một tay xách cô bé lên, mạo hiểm lách người nhảy về phía đường cũ, lăn vài vòng, mặc kệ trên người con bé đầy vết trầy xước, tiện đà dùng sức đẩy mạnh nó vào phía sau bình phong, bản thân hắn cũng theo đó lách vào trong.
Còn chưa kịp thở dốc, trong lòng Thang Càn Tự lập tức dâng lên sự hối hận. Phỏng chừng mặc kệ con bé đó, qua chốc lát nữa, chắc chắn nó phải chết; cho dù cứu nó vào, đến cuối cùng vẫn phải tự tay hắn kết liễu nó, há chẳng phải là giả tạo sao? "Chấn Sơ, ngươi nhìn rõ tình hình bên ngoài chưa?" Quý Sưởng thấp giọng hỏi.
"Bên ngoài hiện giờ có tầm hai mươi người, đại khái không dám mạo muội công vào, chỉ ở bên ngoài dùng nỏ bắn tên, nếu lát nữa viện binh đến, sợ là..." Quý Sưởng bỗng nhiên xua tay với hắn, thần sắc kinh hãi bất định. Tiếng tên như mưa rào ngoài kia thưa dần rồi dứt hẳn, lúc này mới nghe thấy âm thanh thô ráp ngắt quãng từ đằng xa vọng lại, tựa như đang mài dao. Thang Càn Tự nhíu mày, lại lách người ra ngoài liếc nhìn một cái. Bên ngoài không thấy viện binh đâu, ngược lại vứt đầy đuốc khắp đất, chính là đám binh lính vệ binh vương thành thấy dùng cung nỏ tấn công ít thu hiệu quả, dứt khoát chuẩn bị xông thẳng vào.
Mấy tên... sao không đợi viện binh chứ?" Một thiếu niên ôm vết thương bên sườn, giọng nói vì đau đớn mà run lên.
Thang Càn Tự lạnh lùng cười. Phụ thân hắn vốn là một trong các tham tướng Hoàng Tuyền Quan, hắn sinh ra ở Hoàng Tuyền Quan, lớn lên trong đao kiếm, mãi cho đến năm ngoái phụ thân tử trận, mới trở về quê cũ Lãnh Châu Thu Hợp, những chiêu trò của đám lính giáp này, hắn thấy nhiều rồi.
"Bọn chúng đang tranh công đấy. Ban nãy bắn tên là vì tham tiền thưởng nên không muốn cầu viện binh, lực lượng lại mỏng manh, không dám dễ dàng áp sát, bây giờ mạo hiểm xông vào là sợ kéo dài quá để chúng ta trốn thoát, ngược lại lại thành con mồi của kẻ khác." Hắn khựng lại, ánh mắt quét qua khuôn mặt hai mươi người trước mắt, các thiếu niên đều bất giác nghiêm túc ngẩng thẳng lưng lên.
Thang Càn Tự rút dao ra keng một tiếng, mũi dao vạch một đường thẳng tắp trên khoảng không cách mặt sau bình phong ba thước, nói: "Các ngươi đều đứng cả ra đây." Thế là hai mươi binh sĩ ít ỏi của hắn đều chống dao im lặng, xiêu vẹo đứng dậy, lùi về vạch không trung kia. Cách mặt nước phía sau lưng, bóng dáng vàng rực của tế tháp gợn sóng dưới sự khuấy động của ngọn lửa lớn, mơ hồ như hình bóng phản chiếu trên mặt nước, lại giống như rất nhiều ngọn nến vàng cao lớn đang tan chảy trong lửa cháy, hơi nóng khét lẹt vượt mặt nước phả thẳng vào lưng mỗi người.
Như tiếng sấm từ xa xôi truyền tới, hai mươi mấy tiếng kim loại va chạm leng keng vang lên từ đằng xa, nhanh như chớp áp sát mặt đất, lần lượt lướt về phía trước bình phong. Đó là đại đao ô thiết cán dài mà bộ binh Chú Liễn thường dùng, khi xông pha hành động gấp rút để không cản trở hành động, đều kéo lê sang một bên trên mặt đất, nhìn từ xa vào ban đêm thường không thấy thân dao, chỉ có một tia đốm lửa nhảy nhót trên mặt đất, gọi là "quỷ lôi". Thế đao quỷ lôi vô cùng nặng nề, nếu không có sức mạnh kinh người thì không thể nhấc nổi qua đầu, thế nhưng nếu dựa vào đà chạy, đột ngột vung lưỡi dao lê đất chém chéo hất ngược sang bên cạnh, vừa nhanh vừa nặng, quét ngã kẻ địch trước mặt như lúa đổ, cho dù là tuấn mã Bắc Lục, cũng có thể chém ngã một con. Đao mang theo của binh sĩ Đông Lục tuy dài bằng một cánh tay người trưởng thành, cầm lên cũng khá nặng, nhưng so với quỷ lôi thì chẳng qua chỉ là đao sắt cho trẻ con chơi đùa mà thôi.
Tiếng đại đao mài mặt đất ngày càng rõ ràng, là một đường thẳng không hề uốn khúc, hung mãnh như điện, chớp mắt đã đến gần. Hóa ra đám binh sĩ Chú Liễn đó sợ gặp mai phục, dứt khoát định dựa vào sức mạnh hung hãn của quỷ lôi để bổ nhào ba mươi hai tấm bình phong dày nặng này, giao chiến trực diện với bọn chúng.
Thiếu niên ngày thường vốn ôn uyên tuấn tú, chân tóc và khóe mắt đọng lại vết máu nhơ nhớp, kiên quyết chống dao đứng dậy.
Dưới phông nền là ánh lửa ngập trời phía sau, hắn là một bóng đen gầy guộc, duy chỉ có thanh quân đao cũ kỹ do phụ thân truyền lại trong tay phản chiếu ngọn lửa, giống như một đoạn thiết thủy vừa chảy ra từ lò rèn của Hà Lạc, tỏa ra sức nóng và ánh sáng bức người.
"Kẻ tham công tranh lớn, không muốn cùng tiến cùng lùi với đồng liêu, lên chiến trường sẽ có kết cục thế nào," hắn khựng lại, giọng nói bỗng chốc vang vung cao như lá cờ trong gió lớn, "hãy dùng đao trong tay các ngươi mà nói cho bọn chúng biết!" Các thiếu niên bị dồn vào đường cùng, ngược lại không kìm nén được huyết khí sát tâm đang cuồn cuộn trong ngực, gào thét như dã thú, lao người tông mạnh vào bức bình phong, hàng ba mươi hai tấm bình phong khảm ngọc vân mẫu nạm vàng thạch lựu kia sớm đã hư hỏng chẳng ra hình thù gì, chịu cú đâm liều mạng này của bọn chúng, ầm ầm đổ sập về phía trước.
Dùng đại đao quỷ lôi, thứ chú trọng duy nhất chỉ có nặng và nhanh, hoàn toàn không có sự linh động hay uyển chuyển, đơn thuần dựa vào khí phách dũng mãnh đó. Một khi đao thủ đã chạy nước rút, thì sẽ như mũi tên rời cung bay thẳng về phía mục tiêu, tiến thẳng không lùi, cho đến khi bọn họ phát hiện thế cục không ổn, thì đã không kịp tránh né.
Bức bình phong rộng lớn nặng nề tựa như một bức tường, úp mặt ập xuống người bọn chúng, một hơi lật nhào bảy tám tên vệ binh Chú Liễn, có kẻ lập tức bị đại đao của chính mình đập gãy xương sườn.
Các thiếu niên Đông Lục hô hán xông ra ngoài.
Quỷ lôi tuy thế như chẻ tre, nhưng bố cục trong thủy tạ lại có hạn, khó mà thi triển, nhát chém đầu tiên không thương được người, muốn phát động lại thì trở nên cồng kềnh hơn nhiều. Hai mươi thiếu niên này mình mẩy vẫn chưa phát triển hoàn toàn, vẫn còn sự dẻo dai như trẻ con, luồn lách nhảy nhót giữa những kẽ hở tấn công ào ạt như hổ vồ của đại đao quỷ lôi, chớp thời cơ là chém lén một nhát, vậy mà ứng phó vô cùng nhàn nhã.
Quý Sưởng sợ hãi tột cùng, bò lê bò càng sang một bên, ôm lấy cô bé kia, cô bé cũng ôm chặt lấy đứa trẻ trong ngực, không hề khóc lóc, vừa cắn tay áo Quý Sưởng, vừa cắn răng nhịn không để bản thân kêu lên tiếng nào, chiếc chuông nhỏ trên hai tay rung lên đinh đinh đang đang.
Bầu trời đêm đỏ rực vẫn đang lấm tấm mưa, dưới ánh hào quang của biển lửa ngút trời, những hạt mưa lướt qua rồi biến mất cũng đỏ rực. Giống như trên trời cũng có một vương thành đang cháy, trong vương thành máu cũng chảy khắp nơi, con sông trên trời không gánh nổi nữa, liền tí tách rưới xuống trần gian. Khắp nơi trong vương thành là tiếng hò hét và kêu thảm thiết của cuộc chém giết, trống chiến làm rung chuyển cả nhà cửa, khắp các xà nhà cột kèo đều phát ra tiếng kêu kèn kẹt liên hồi. Không có ai khác chú ý tới trong thủy tạ tối tăm này, có hai đội ngũ nhỏ, đang tử chiến quấn lấy nhau bằng mạng sống.
Người Chú Liễn thương vong đã hơn một nửa, hộ vệ của Quý Sưởng cũng tổn thất năm sáu người. Mùi máu tanh lạnh ngắt như rỉ sắt vô thanh vô tức lan tỏa trong thủy tạ, những thây ma ngã gục xuống, phơi bày những vết thương lật da rách thịt. Các thiếu niên xếp thành hình vòng cung, chống lại đại đao nặng nề của người Chú Liễn, bảo vệ hai đứa trẻ trong góc. Áo đao cuồn cuộn, giống như muôn vàn bọt sóng vỡ vụn vỗ vào rạn đá.
Lúc này, ở một bên tàn tích bình phong, lại có một tên vệ binh Chú Liễn giãy giụa đứng lên từ đống thây ma, mắt trái đẫm máu, con ngươi đảo điên hung ác trên tròng trắng nhuộm đỏ rực, cuối cùng cũng tìm được mục tiêu trong đám đông. Tên vệ binh gầm lên một tiếng, đại đao cào trên mặt nền gạch vuông thạch lụa tạo ra một chuỗi hoa lửa bắn tung tóe, đâm thẳng vào trận địa của hai bên giao chiến. Vũ Lâm Quân không phân thân ra cản được, vậy mà để hắn ta xông đến trước mặt Quý Sưởng, một tiếng keng vang lên, lưỡi đao đã nhấc lên từ mặt đất, một đường sát cơ trong bóng tối bỗng chói lòa, quét ngang về phía đám trẻ đang túm tụm vào nhau. Sức mạnh khủng khiếp như thế, nếu trẻ con mà dính phải một đòn, sợ là ngũ tạng lục phủ đều sẽ nát vụn.
Quý Sưởng biết không né kịp, đành nhắm nghi mắt lại, vùi mặt vào mái tóc dài của cô bé.
Vào ngàn cân treo sợi tóc, từ hướng chéo bỗng có một bóng người lao vụt ra, chắn trước mặt bọn chúng, đối đầu với thế tới hung hùng của đại đao quỷ lôi, hai tay chống chặt thanh bội đao mỏng manh của mình — chỉ đứng sững như châu chấu đá xe ấy, rồi không di chuyển nữa.
Trong đôi mắt đỏ ngầu của đao thủ Chú Liễn lộ ra nụ cười chế giễu thuộc về kẻ chiến thắng. Hắn ta dường như đã có thể nhìn thấy khi hai con dao giao nhau, thanh quân đao của Trịnh triều sẽ xoay tròn văng ra thế nào, người cầm dao sẽ chảy máu rơi xuống bụi trần ra sao. Dựa vào bước chân mệt mỏi phù phiếm cùng đao pháp trung bình của kẻ đến, muốn chặn một thanh quỷ lôi bá đạo như thế, là chuyện không thể nào làm được.
Thế nhưng, tiếng thép va chạm rạn nứt trong tưởng tượng, rốt cuộc vẫn không hề vang lên. Ánh chớp đá lửa, khoảnh khắc cuối cùng trước khi va chạm, chủ nhân của thanh thép đao Đông Lục nhẹ nhàng tăng lực, hai cổ tay xoắn vào nhau, mũi dao không một tiếng động chuyển hướng, không còn chém vào thân đại đao quỷ lôi nữa, mà nghênh đón cổ tay của đao thủ Chú Liễn.
Lưỡi đao mỏng tựa sợi chỉ.
Da thịt mang theo sức mạnh hoành tráng, va vào lưỡi đao mỏng dính. Trong chớp mắt, vải vóc, da thịt và xương cốt lần lượt bị cắt đứt, thế như chẻ tre, chỉ một tiếng "soạt" dứt khoát gọn gàng, đại đao quỷ lôi vậy mà chuyển hướng văng lệch sang một bên, một cánh tay đứt lìa kéo theo vết máu vẫn ngoan cố bám víu lấy chuỗi cán đao bay ra ngoài cùng.
Đao thủ Chú Liễn ôm lấy vết thương cụt tay, thét lớn kinh hoàng. Cán đao quỷ lôi dài bằng cả người mất đi sự khống chế, lật nhộn giữa không trung, giáng mạnh lên vai trái của bóng người nọ, thân hình kẻ đó nghiêng đi, suýt ngã xuống đất, nhưng lại cắn răng chịu đau xoay chuyển đao, từ dưới hất chéo lên nhằm vào chỗ mềm mại dưới cằm đao thủ chém mạnh một nhát, đao thủ liền ngã gục xuống.
Đại đao quỷ lôi nặng nề rơi bịp xuống trước mặt Quý Sưởng và cô bé, lăn thêm hai vòng trên mặt đất, rồi lăn vào vũng máu của chủ nhân nó.
"Điện hạ, ngài không sao chứ." Kẻ đó thở dốc đứt quãng nói.
Quý Sưởng toàn thân run rẩy, mở mắt ra, khắp mặt toàn là nước mắt từ lúc nào không hay. Thang Càn Tự quác vai trái vô lực, xách dao đứng trước mặt, gương mặt vốn dĩ tú nhã nay đan xen ngang dọc vết máu.
Dù đã run rẩy đến mức không nói nên lời, Quý Sưởng vẫn gắng gượng gật đầu với Thang Càn Tự.
Thiếu niên dùng mu bàn tay quệt bừa nước mắt trên mặt Quý Sưởng, không ngờ lại quẹt trúng đầy vết máu nhơ nhớp trên mặt Quý Sưởng, ngẩn ra một thoáng, dừng tay rồi không rảnh để ý nữa, bỗng chốc nhíu mày đứng phắt dậy, lại lần nữa chém vào chiến đoàn.
Trong đám người Chú Liễn kẻ còn có thể chém giết chỉ còn sót lại năm sáu người, Vũ Lâm Quân tùy tùng của Quý Sưởng lại gấp đôi số đó. Thấy thế cục đảo ngược, người Chú Liễn đều mất đi đấu chí, vừa đánh vừa lùi. Thang Càn Tự quát lệnh bộ hạ không cần truy kích, chính mình bước đến trước mặt Quý Sưởng, vươn tay về phía cậu, nói: "Điện hạ, đi thôi." Quý Sưởng như bị dọa mất hồn, vẫn ngồi bệt dưới đất, hoảng hốt ngẩng đầu nói: "...Đi đâu?" "Chúng ta phải tìm cách rời khỏi vương thành trước, đến cảng, là có thể đi thuyền buôn quen thuộc ra biển. Đợi cục tính ổn định lại, rồi tính tiếp." Bàn tay thiếu niên vì chiến đấu khổ cực mà cạn kiệt sức lực nên run lẩy bẩy, nhưng vẫn kiên định vươn về phía đứa trẻ.
Quý Sưởng chậm rãi buông cô bé trong ngực ra, nắm lấy bàn tay Thang Càn Tự đang vươn tới, đứng dậy, đôi đầu gối vẫn đang run lẩy bẩy. "Còn con bé thì sao?" Cậu hỏi.
Cô bé ngồi thui thủi một mình ôm đứa trẻ dưới đất, chiếc áo thụng hoa sen rủ tết sợi vàng đỏ sậm đã ngập một phần nhỏ trong vũng máu trên đất, đôi mắt mù lớn đến tội nghiệp, ngơ ngác trừng trừng vào khoảng không.
Thang Càn Tự hít sâu một hơi, chậm chạp và nặng nề lắc đầu, "Điện hạ, không thể giữ tính mạng nó." Sắc mặt Quý Sưởng tái mét, phần lớn là vì sợ hãi. Cậu mím môi, vết máu trên má bị dòng nước mắt mới rửa sạch, nhưng chỉ im lặng gật đầu, vùi đầu vào bên sườn Thang Càn Tự, không nỡ nhìn thêm nữa.
Trên mũi dao đọng một giọt máu, chực chờ rơi xuống, khoảnh khắc bội đao giơ lên, giọt máu văng lên mặt cô bé, con bé giật nảy mình.
Thiếu niên giơ đao, thế nhưng không thể lập tức chém xuống. Tiếng trống chiến từ xa vang vọng, hòa cùng tiếng trống, trên mặt nước gợn lên những lớp sóng tăm tia. Xuyên qua ngọn lửa và làn mưa bay lả tả khắp trời, giữa các lầu đài đình viện, mơ hồ có thể thấy hàng trăm ngọn lửa phản chiếu trên mặt nước, uốn lượn ngoằn ngoèo tiến về phía này. Rất nhanh thôi, bọn chúng sẽ bị phát hiện.
Mẹ... ca ca..." Cô bé không hiểu vì sao người bên cạnh đều rời bỏ mình, lầm bầm gọi, vươn một tay khua khoắng tìm kiếm khắp nơi, có lẽ muốn tìm Quý Sưởng. Tìm khắp không thấy, lại mò mẫm trên mặt đất, nhưng lại chạm phải đầy tay máu lạnh lẽo. Nó khựng lại, hồi lâu sau mới như bừng tỉnh, từ trong cơ thể nhỏ bé bùng phát ra tiếng thét chói tai đến khó tin.
Tiếng hét xé rách màn mưa đỏ rực, tựa như tuyên bố sự khởi đầu thực sự của đêm hỗn loạn này.
Ánh lửa bỗng chốc hỗn loạn. Khắp bốn phương tám hướng trong vương thành, đều là tiếng người gào thét ồn ào. Tiếng trống rền vang bỗng chốc dồn dập lên, với tốc độ kinh người áp sát bọn chúng. Dưới dòng sông nhỏ ở thủy tạ dâng lên từng lớp sóng nhỏ, vỗ vào đá bờ, như thể mặt đất cũng vì thế mà rung chuyển.
Thang Càn Tự kinh ngạc nhìn về nơi phát ra ánh lửa. Cảm giác này giống như quen thuộc, ở những con đường gần cảng thường hay bắt gặp, thế nhưng lần này, lại mãnh liệt đến mức khiến người ta không dám tin. Cậu bất giác lùi lại một bước. Quý Sưởng kinh ngạc mở trừng hai mắt.
Tiếng trống đã đến gần, lẫn lộn với tiếng kim loại vỗ vào nhau, hình như có rất nhiều chũm chọe theo sau đó. Bụi bặm và mạt gỗ rơi lả tả giữa các xà nhà cột kèo, giống như toàn bộ thủy tạ đều bị chấn động đến mức nhảy dựng lên, sau đó xà ngang, mộng gỗ, đầu hiên và ngói lợp lại từng cái từng cái rơi xuống, chồng chất lại thành hình dạng ban đầu lúc nãy. Chấn động dưới chân theo tủy sống tê rần chui thẳng lên trên, sóng gợn dưới thủy tạ càng thêm dày đặc, ai nấy đều không kìm được mà nắm chặt đao trong tay.
Những cây cầu dẫn đến thủy tạ phần lớn đã đổ sập hoặc bị thiêu rụi, binh sĩ Chú Liễn dứt khoát giơ cao đuốc lên đầu, lần lượt nhảy xuống lòng sông, lội nước ùa về phía bọn chúng, tiếng hò hét vang trời nối thành một mảnh. Một dòng sông chảy rực ánh lửa cam, chiếu sáng bóng đen khổng lồ đang dẫn đầu ở phía trước đám đông.
Hình thù đó cứ như vừa được rèn đúc từ búa đe của thần linh Hà Lạc, da thịt lộ ra giữa áo giáp phảng phất sắc đồng, mưa đêm vỗ vào người hắn, bốc lên hơi nước vàng đỏ. Mồ hôi tuôn chảy qua từng lọn tóc trán đen nhánh dày đặc, nóng bỏng và sáng rực như nham thạch đang sôi sục. Hắn đang chạy, đối với con người mà nói là dòng nước ngang ngực, vừa ngập đến đầu gối hắn. Mỗi lần hắn nhấc chân lên, mặt nước lại chao đảo sụt xuống mấy tấc. Cây cầu được chạm trổ hoa lệ đâm nát thành những mảnh vụn bên sườn hắn. Hoàn toàn không có tiếng trống chiến nào cả, chính là bước chân của hắn làm rung chuyển mặt đất, kiếm lớn và áo giáp của hắn vang lên leng keng theo nhịp bước chân, tựa như hàng trăm chiến sĩ cùng lúc dùng giáo gõ vào khiên giáp. Tất cả những người cùng tộc của hắn tản mát trên đại địa Lôi Châu, không một ai cao quá nách hắn.
Ngoài vùng đất nội địa Hãn Châu, chưa từng có ai chứng kiến một vị võ sĩ Khủa Phụ khôi ngô đến thế. Hắn đang chạy, tất cả những thứ cản trở trước mặt đều run rẩy sụp đổ.
Không một ai nghĩ đến việc trốn chạy, giống như không ai có thể trốn chạy trước dãy núi, đại dương hay bầu trời. Từng thanh thép đao rơi xuống đất, trên lưỡi đao vẫn còn vướng lại vết máu ngưng đọng. Trước mặt người khổng lồ cao mười tám thước này, vũ khí của con người trở nên yếu ớt nực cười đến thế.
Theo bước chân của Khủa Phụ, thủy triều dâng lên ngày càng cao, ngày càng gấp gáp, cuối cùng ào ạt tràn vào thủy tạ, mặt đất rung chuyển khiến người ta đứng không vững, như thể có một đại quân bách chiến bách thắng đang ào ạt xông vào đâm sầm vào bọn chúng. Quý Sưởng lại không hề nhắm hai mắt lại, cũng không khóc nữa. Cậu ngẩn ngơ nhìn cái bóng khổng lồ kia nhanh chóng che khuất tầm nhìn, giống như vầng trăng đen nuốt chửng vầng trăng sáng, ánh lửa ngập thành trong chớp mắt hoàn toàn bị ngăn cách bên ngoài, trong thủy tạ chìm vào bóng tối.
Đột ngột, tất cả đều tĩnh lặng. Tiếng bước chân ầm ầm của hàng vạn quân mã, tiếng hò hét vang dội như sóng biển, trong chớp mắt đều biến mất sạch sành sanh, nếu không phải ngọn lửa xung quanh vẫn đang lách tách cháy, suýt chút nữa khiến người ta hoài nghi bản thân mình đã điếc rồi. Thủy triều dần bình lắng, nhưng lại không rút đi, gợn sóng dư ba vỗ vào đôi giày quân sự của bọn chúng.
Khủa Phụ thu lại bước chân với tốc độ đáng kinh ngạc, đứng vững trong lòng sông ngoài thủy tạ. Đội quân hàng trăm người phía sau hắn cung kính dừng bước ngay ngắn ở khoảng cách mười mấy thước, ánh lửa đuốc đều bị cơ thể người khổng lồ che khuất, một tia cũng không lọt vào nổi. Các thiếu niên đứng trong bóng tối, chỉ có thể nhìn thấy đôi chân to như cột nhà của hắn, chiếc quần được may vá chắp vá bằng cả tấm da tê giác, thanh cự kiếm tinh giang treo bên hông dài hơn cả người. Tấm bảo vệ đầu gối to như khiên nặng được buộc chặt bằng dây da Bị Liêu rộng hai tấc ở đầu gối, mờ ảo méo mó phản chiếu khuôn mặt của các thiếu niên. Trong sự tĩnh lặng như chết, mặt nước dưới chân bọn chúng lại bắt đầu dâng lên chậm rãi và rõ rệt một lần nữa, trong nước bắt đầu có dòng nước nhỏ màu son nhàn nhạt lan rộng, rất nhanh đã dâng đến bắp chân. Quý Sưởng lao vọt ra, kéo cô bé đang ngơ ngác ngồi bệt dưới đất dậy, lùi về đám đông. Thang Càn Tự đột ngột ngẩng cao đầu, lông mày hơi nhíu lại, nhưng kiên quyết không lùi lại nửa bước. Quý Sưởng và cô bé ở ngay sau lưng hắn, trong mười mấy người còn sống, cũng chỉ có trong tay hắn là còn cầm bội đao.
Khủa Phụ cúi người, quỳ một chân xuống dòng nước trước thủy tạ, toàn thân vẫn cao bằng một tầng lầu. Thủy tạ khẽ chao đảo, trong dòng nước bên cạnh người khổng lồ, dòng nước nhỏ màu son nhanh chóng lan rộng thành một mảng đỏ rực rỡ, lật tung lên từ đáy nước. Ống chân vốn dĩ có vẻ xám đỏ lại dần dần gột rửa ra ánh sáng xanh thẳm, những màu sắc loang lổ đỏ đen đó, hóa ra đều là máu khô. Rốt cuộc phải vắt kiệt máu tươi của bao nhiêu người, mới đủ để nhuộm ra sắc đỏ khắp người vị người khổng lồ này? Khủa Phụ cúi đầu nhìn chằm chằm bọn chúng. Gương mặt hắn so với vóc dáng thì có vẻ hẹp và nghiêm nghị, con ngươi đen tuyền to bằng chén trà, như được rót đầy mực đặc, chứa đầy thần sắc minh bạch, sắc bén và bạo liệt như dã thú. Ngoại trừ người cùng tộc của bọn chúng ra, không ai dám trực diện nhìn thẳng ánh mắt đó. Đó là huyết mạch và tinh hồn được thừa kế từ tổ tiên viễn cổ, giống như tiếng trống cát ở sâu trong hoang nguyên.
"Đề Lan..." Trong bóng tối, có một giọng nói khàn khàn đang thấp giọng gọi, "Đề Lan à." Tiếng chuông bạc trên cổ tay leng keng vang lên. Con bé được Quý Sưởng ôm trong ngực ngẩng đầu lên đầy cảnh giác như một con tiểu thú, đoán già đoán non nguồn gốc của giọng nói.
Các thiếu niên theo tiếng nhìn lại, lúc này mới phát hiện trên vai trái của Khủa Phụ hóa ra còn ngồi một người. Ngược chiều ánh sáng nhìn qua, cơ thể gầy gò héo mòn đó ngồi trên cỗ giáp lớn chéo vóc như góc nhà, yên tĩnh, không nổi bật, chỉ giống như một vòng nuốt thú lồi lên.
Sẽ là Hà Lạc ư? Trong lòng mỗi thiếu niên, đều đang thầm phỏng đoán như thế.
Cô bé chồm dậy, hất tay Quý Sưởng ra, lao khỏi đám đông chạy về phía trước, vừa thét khóc vừa gọi: "Cậu ơi! Mẹ sắp chết rồi, cứu mẹ với, cứu mẹ với!" "Điện hạ, điện hạ!" Bên cạnh sớm có binh sĩ Chú Liễn lội nước xông lên, ôm ngang eo cô bé lại. Tay chân nhỏ bé của cô bé cố sức giãy đạp, bọc gấm trong ngực suýt chút nữa thì bay ra ngoài.
"Đề Lan! Không được hỗn đáo!" Giọng nói đó nghiêm khắc quở trách, "Thứ con đang ôm trong ngực hiện giờ, đã là vương thái tử của Chú Liễn chúng ta rồi." Cô bé tên Đề Lan bỗng nhiên ôm chặt đứa trẻ đang khóc thét, không giãy giụa nữa.
"Ca ca Kiết Lan... chết rồi sao?" Đề Lan ngẩng đầu hướng về khoảng không, thế nhưng không nhận được câu trả lời.
Qua một thoáng, cái bóng đen trên vai Khủa Phụ dường như thở dài một tiếng, giọng nói vốn đã khàn khàn lúc này lại càng mệt mỏi nặng nề hơn, "Cậu không thể cứu được mẹ con... Linh Già nàng ấy, cũng không còn nữa." Toàn thân Đề Lan bỗng nhiên mềm oặt ra không một chút sức sống, mái tóc dài nặng trĩu rủ rũ rượi xuống mặt nước như sóng gợn, nếu không phải vẫn còn hơi thở, Thang Càn Tự suýt chút nữa sẽ cho rằng thứ đang treo trên cánh tay binh sĩ chỉ là một chiếc áo nhỏ hoa lệ trống rỗng, đính chuông bạc, phát ra hai tiếng lanh lảnh vỡ vụn trong chạng vạng tối.
"Qua Ô Tự." Bóng đen nói, làm một động tác.
Võ sĩ Khủa Phụ theo tiếng đưa tay vào trong thủy tạ, dùng ngón tay thô hơn cả cán giáo chọc chọc tên binh sĩ đang ôm Đề Lan, binh sĩ đó liền cung kính giao Đề Lan cùng đứa trẻ ra ngoài. Bàn tay to lớn dài hơn hai tấc của Khủa Phụ nhẹ nhàng thu lại, như sợ bóp nát Đề Lan, một tay ôm eo con bé, nhấc nó lên, đưa thẳng đến vai trái của mình, ở cạnh bóng đen.
Bóng đen ôm Đề Lan vào cạnh sườn, hướng xuống dưới nói vọng lên: "Vị này chính là Xướng vương điện hạ của Đại Trưng phải không." Quý Sưởng ngẩn ngơ ngẩng đầu nhìn vị võ sĩ Khủa Phụ trước mặt, vẫn nhất thời không thốt nên lời, cũng không biết hành lễ.
Bóng đen cười khan khàn, nói: "Bổn quốc chăm sóc không chu đáo, đêm nay để ngài chịu hoảng sợ rồi, thật sự hổ thẹn. Những thứ bẩn thỉu trong vương thành, sợ là hai ba ngày chưa thể dọn dẹp sạch sẽ, không tránh khỏi xúc phạm điện hạ, chi bằng đổi một phủ đệ khác, mời ngài dời bước sang ở tạm?" Quý Sưởng chớp chớp mắt, không biết ứng phó thế nào, trên mặt bỗng chốc đỏ bừng lên. Ngay cả trên đôi môi cứng đờ như được tạc bằng đá của Khủa Phụ đó, cũng phảng phất nụ cười.
Thang Càn Tự bước lên một bước, quỳ một chân xuống dòng nước nông, lớn tiếng đáp bằng tiếng Chú Liễn: "Đa tạ đại ân đại đức của Anh Già đại quân, không dám nhận. Vũ Lâm Quân tùy tùng của Xướng vương điện hạ đã đóng quân ở gần cảng, mạt tướng đang chuẩn bị hộ tống điện hạ về đại doanh." Bóng đen trên vai Khủa Phụ hơi khựng lại, dường như không ngờ lại bị một thiếu niên chưa từng quen biết nhận ra thân phận, trong giọng điệu lộ ra chút ý cười, "Vậy thì, cứ để lại mấy người hộ tống điện hạ đến cảng đi. Các ngươi đến Chú Liễn chuyến này, quả thật mang theo một vị lương tướng." Hắn gật đầu với cậu bé mười một tuổi đang đứng ngẩn ngơ tại chỗ, lại gọi tên vị võ sĩ Khủa Phụ: "Qua Ô Tự, đi thôi." Người khổng lồ đứng dậy, mang theo dòng nước bắn tung tóe như mưa rào, quay người cất bước sải chân đi thẳng, bước chân làm rung chuyển mặt đất. Ánh lửa đỏ rực mất đi lớp chắn, đột ngột đổ ập vào, các thiếu niên bị chói đến mức suýt không mở nổi mắt. Hàng trăm binh sĩ Chú Liễn nối đuôi theo sau Khủa Phụ, chỉ để lại khoảng ba mươi người tại chỗ, chuẩn bị hộ tống bọn họ đến cảng. Đuôi thắt lưng của những tên binh sĩ đó đều thêu huy hiệu răng chó màu chàm của Phùng Nam ngũ quận, chuỗi chuôi dao ngắn cũng quấn lụa thô màu chàm, thêu chỉ vàng, quả thật là tâm phúc bên người Anh Già đại quân.
Khoảnh khắc Khủa Phụ quay người, dưới sự bao bọc của ánh lửa liên miên, Thang Càn Tự nhìn rõ diện mạo của bóng đen kia. Hắn chắc hẳn từng là một thanh niên khá tuấn tú, thế nhưng giờ đây lại gầy gò vì bệnh tật, dung mạo tổn hại, trơ trọi lại cặp đôi mắt sâu thẳm nồng đượm độc nhất vô nhị của người Chú Liễn, giữa khói lửa loạn quân vẫn mang theo thần quang minh bạch. Dưới lớp áo choàng tùng lục khảm vàng, một đôi chân rũ rượi mềm nhũn, đế giày trắng toát, trông giống như chưa từng đặt chân xuống đất bao giờ. Nghe nói Anh Già đại quân năm mươi bảy tuổi đi săn ở Phùng Nam, thú cưỡi dẫm phải rắn độc, hoảng sợ dựng đứng người lên, hất đại quân ngã ngựa, từ đó về sau không thể đi lại được nữa, hóa ra là thật.
Bầu trời đỏ rực rỡ, bao trùm xuống thành Tất Bát Lô, gió đêm mang theo khí huyết nồng đậm lững thững trôi. Nước mưa vỗ vào tàn tro tường hoành vương thành, kích thích ra làn khói khét lẹt âm ấm, nhìn bốn phía cảnh tượng tiêu điều. Thi thể trôi nổi xoay vòng trên mặt nước, bàn tay trắng bệch cứng đờ khẽ va vào tảng đá nền cung điện.
Đại đội của người Chú Liễn đã đi xa, Quý Sưởng vẫn đứng sững tại chỗ, trầm mặc hồi lâu, trên mặt phảng phất sắc hồng triều.
"Điện hạ?" Thang Càn Tự cúi người xuống, bế xốc cậu lên, "Ngài làm sao vậy?" Quý Sưởng quay đầu nhìn hắn, Thang Càn Tự nhất thời bị thần sắc trong đôi mắt phượng tú lệ ấy làm cho hoảng sợ. Đồng tử màu trà nhạt của cậu bé mười một tuổi đã hóa thành màu đen thẳm đượm buồn, tựa như xoáy mây ẩn mình trước cơn giông bão, ánh chớp xé gió lạnh lẽo lướt qua ẩn hiện bên trong. "Chấn Sơ, ta không học võ nữa." Quý Sưởng ôm lấy cổ hắn thấp giọng nói, "Trước đây ta luôn nghĩ muốn làm anh hùng thì phải có lòng dạ dũng mãnh, chiến công xuất chúng, giống như Vũ Liệt Vương được nói trong thoại bản vậy. Thế nhưng Chấn Sơ, ngươi nhìn người đó xem, hắn không có võ nghệ, không có chiến công, thậm chí không thể đi lại, chỉ cần mở miệng nói một câu, là có thể khiến Khủa Phụ hùng hãn đó phải cúi đầu nghe lệnh. Trên người hắn có một thứ... ta chính là muốn thứ có được đó! Có được nó, sinh sát trong tay, lệnh ra là làm, không ai dám bắt nạt ta nữa, vạn sự trong thiên hạ đều theo ý ta." Giọng nói non nớt ban nấy căng cứng, vùi vào bối vai hắn thấp giọng trầm đục, từng chữ từng chữ nói rằng: "Sẽ có một ngày, người trong Cửu Châu thập quốc này đều sẽ biết đến ta Trữ Quý Sưởng." Binh sĩ hai nước đi đều đặn chung quanh bọn chúng, không ai nghe thấy lời của đứa trẻ đó.
Theo ghi chép của sử sách đời sau, đêm đó, một tên tùy thần của Chú Liễn Vương Quân Lương nổi tâm phản loạn, nhân cơ hội Quân Lương Vương yến tiệc Anh Già đại quân, muốn hành thích nghịch tặc trong tiệc, Linh Già vương phi và vương thái tử Kiết Lan lần lượt lấy thân mình ngăn cản, mẹ con ôm nhau mà chết. Vệ binh tâm phúc của Anh Già đại quân đứng lên tiêu diệt phản tặc, thế nhưng Quân Lương Vương bị thương nặng, không thể thị sự, thái tử cũng đã bạo bệnh qua đời, đành tạm thời để Anh Già đại quân nhiếp chính. Công chúa Đề Lan do Linh Già vương phi để lại lúc đó chưa tròn sáu tuổi, tiểu tử Tố Lan vừa sinh ra tròn ba tháng, đều do Anh Già đại quân nuôi dưỡng, Tố Lan được lập làm vương thái tử mới. Cung nhân nội thần và vệ binh vương thành, kẻ liên can chịu tội không dưới ba trăm người. Đã là nghịch thần làm loạn, vì sao vệ sĩ vương thành và tâm phúc vệ binh của Anh Già đại quân lại kịch chiến thâu đêm dưới phong đài yến điện, vì sao thân cận Khủa Phụ của đại quân lại nổi dậy xông vào nội thành vương thành, những mấu chốt chi tiết này, từ sau đó đều không thể truy cứu nữa. Vừa vặn cuối hạ, vẫn còn cái nóng oi bức, thanh linh liêm miểu ăn thây bay lượn ngày đêm trên vương thành, nửa tháng không tan, vì thế mới có tên gọi là "Biên Dạ Kiêu chi biến". Vết thương của Quân Lương Vương lần này kéo dài hơn ba mươi năm, cho đến tận ngày ông ta băng hà, vẫn chưa từng lành hẳn. Việc nhiếp chính của Anh Già đại quân, cũng từ đó kéo dài hơn ba mươi năm.
Cách làn khói mưa mờ mịt mông lung, Thang Càn Tự thấp thoáng nhìn thấy vị tiểu công chúa trên vai Khủa Phụ đang quay đầu lại nhìn về phía bọn chúng, đôi mắt mù không ánh sáng trống rỗng đảo điên, trong đêm tối hỗn loạn này, tựa như đang tìm kiếm ai. Trên má đọng lại một điểm đỏ rực kiều diễm, chính là giọt máu do mũi dao của hắn văng ra lúc nãy.
Lại nhìn thấy cô bé đó, đã là chuyện của hai ba năm sau.
Bàn gỗ sơn đỏ đã có tuổi, bị đĩa thức ăn nóng hổi làm bỏng không biết bao nhiêu vòng tròn trắng chồng chất lên nhau, mãi mãi bám một lớp dầu mỏng, ấn một cái là để lại một dấu vân tay. Đồng vàng xoay tít trên mặt bàn dơ dáy rồi đứng thẳng dậy, hóa ra một cái bóng vàng nhỏ kêu vo vo.
Những tên thủy thủ tóc vàng và tóc đen lớn tiếng bàn luận, hình như là chuyện xấu bẽ mặt của một người đồng hành nào đó bị tú bà lầu xanh cảng Kỳ Thành ném ra từ cửa sổ lầu hai, nói đến chỗ vui vẻ thì cười rộ lên ha hả, chén đĩa gốm thô đổ lăn lóc khắp bàn.
Thiếu niên ngồi một mình trong góc tối có vẻ hứng thú hờ hững nhìn đồng vàng xoay tròn trước mắt, ly rượu bên tay đã lạnh từ lâu. Một tấm lụa mộc màu xám tro rộng lớn mềm mại trùm trọn đầu cổ hắn xuống tận thắt lưng, người ngoài chỉ có thể nhìn thấy một nửa chiếc cằm tuấn tú, cùng một nửa bờ môi lạnh lùng mỏng manh. Bộ trang phục này vốn dĩ bình thường, phong sa trên đường Hãn Châu bão táp dữ dội, lữ khách buôn bán phần lớn đều ăn mặc như vậy, thế nhưng trong thành phố bốn mùa ấm áp ẩm ướt này, lại vô cùng bắt mắt.
Đây là một quán rượu nhỏ không thể bình thường hơn bên cạnh cảng Tất Bát Lô, tràn ngập những lời thô tục, tiếng nôn mửa, hương thơm hăng hắc của rượu dỏm và mùi dầu mặn của đồ nhắm. Thủy thủ xuống thuyền liền tới những nơi như thế này uống vài chén, đợi đến khi mặt đỏ bừng, cơ thể cũng hoạt bát lên rồi, lại khoác vai nhau đi tìm niềm vui khác, đương nhiên cũng không thiếu kẻ uống say túy lúy, ngủ gục dưới gầm bàn quán rượu. Thương nhân cũng thích gặp gỡ ở chốn này, nơi tối tăm ồn ào, thích hợp để che giấu mọi cuộc thảo luận làm ăn nhỏ phi pháp.
Thiếu niên bỗng ngẩng đầu lên. Có một thân hình lùn tịt nhảy lên chiếc ghế đối diện thiếu niên, không nói hai lời trải một tấm vải dầu rách lên trước mặt hắn, lộ ra thứ bên trong, là ba năm bông hoa khô bán trong suốt màu xanh nhạt, giống hệt như được cắt bằng lụa mỏng.
Thiếu niên à, có muốn hoa Vãn Mộng không?" Người phụ nữ Hà Lạc khàn giọng hỏi một tiếng, thấy hắn không đáp, liền hăng hái nói tiếp, "Đồ tốt đấy! Kiếm được từ trên núi Mân Chung, ngâm một bông uống vào, có thể mơ một giấc mơ đẹp suốt một ngày một đêm, làm hoàng đế, cưới mỹ nhân, núi vàng núi bạc, sống sờ sờ, đều tùy ý các ngươi! Bình thường đều là một đồng rưỡi vàng một bông, đưa ngươi một đồng vàng cầm đi, coi như là rẻ cho ngươi rồi..." Nói xong, liền lanh lẹ chọn một bông hoa khô từ tấm vải dầu ra, định ném vào ly rượu của thiếu niên, tay kia thì đi lấy đồng đồng vàng đang xoay trên bàn.
Tay thiếu niên lại nhanh hơn mụ ta, tay phải che ly rượu lại, ngón trỏ thon dài của tay trái ấn xuống một cái, đồng vàng liền bị ấn dính trên mặt bàn dơ dáy. "A tỷ, đừng lừa người ta nữa." Trong giọng thiếu niên có vẻ như chứa đựng ý cười, "Đây chẳng phải là hoa Hiết La sao? Phơi khô uống với rượu, quả thật có thể mơ một giấc mơ một ngày, nhưng chỉ có thể mơ thấy cảnh tượng ngày trước của mình, mang đi bán cho những thủy thủ nhớ nhà thì quả là không tệ. Đồng vàng này của ta giữ lại còn có dụng cụ, ngươi đừng tơ tưởng đến nó." Người phụ nữ Hà Lạc cũng không dây dưa, trên mặt hoàn toàn không có vẻ hổ thẹn, vẫn lanh lẹ thu dọn đồ đạc, bọc lại bằng vải dầu, tót nhảy khỏi ghế rồi bỏ đi.
Thiếu niên vừa mới thu tay che ly rượu lại, liền cảm thấy nhà cửa dần rung chuyển, đất đỏ từ mái nhà rơi lả tả, rào rạt rắc lên mặt rượu trong vắt, nghĩ là có Khủa Phụ đang đi trên phố. Thiếu niên nhíu mày trong bóng râm, tay phải trông có vẻ hờ hững rũ vào nếp nhăn của tấm lụa trùm đầu.
Bước chân của Khủa Phụ dừng lại bên ngoài, qua chốc lát, chỉ thấy một ngón tay to bằng ống tre vạch vào, giúp khách hàng vén tấm rèm cửa đen nhánh sang một bên. Khách hàng của hắn là một người đàn ông Chú Liễn trung niên ăn mặc như thương nhân, chặn ở cửa, nhìn một vòng vào trong, đi thẳng tới bàn của thiếu niên.
Thiếu niên lại ngẩng cao đầu lên một chút, không nói gì, ánh mắt đạm mạc giấu dưới tấm vải lụa sớm đã đánh giá hắn ta từ trên xuống dưới một lượt. Bản thân thương nhân cũng cảm thấy, như thể bị mạo phạm tột cùng, thân hình gầy dài ưỡn càng lúc càng thẳng, giọng nói cũng trở nên cứng nhắc.
"Công tử, chuyến này ngài làm việc không ra gì cả." Thiếu niên khẽ cười nhạo một tiếng, nói: "Ngài khéo léo vòng vo phái người truyền lời, hẹn gặp ta ở nơi thế này, chẳng lẽ lại vì chuyện ra gì chắc." Sắc mặt thương nhân Chú Liễn tái đi một tầng, định phát tác, lại miễn cưỡng nhịn xuống, kéo ghế ngồi xuống, áp sát mặt vào thiếu niên, hạ thấp giọng nói: "Đêm hôm trước, kho hàng trong thương hội của chúng ta bốc cháy, bị người ta cướp đi một loạt gấm vóc thượng hạng của Hoàn Sương Thành. Hơn hai mươi tên đạo tặc ban đêm đó đều dùng dao, tiến lùi nhịp nhàng, chúng ta đuổi đến gần đại doanh thì mất tung tích. Chuyện này, e rằng không thoát khỏi can hệ với công tử ngài đâu nhỉ." "Vậy ngài đã kiểm kê tổn thất chưa?" Thiếu niên lặp đi lặp lại đồng vàng trong tay trái, giọng điệu trầm tĩnh.
"Gấm Hoàn Sương dạo này có giá mà không có chợ, công tử ngài cũng biết đấy. Lô hàng này xuất thân từ thợ giỏi, chất liệu thượng thừa, trị giá tận tám nghìn đồng vàng đấy!" Thương nhân Chú Liễn cố nén giọng, hơi thở phì phò phả thẳng vào mặt thiếu niên.
Thiếu niên tựa người ra lưng ghế, chậm rãi nói: "Vậy cũng đáng giá năm trăm thanh đao cong Hà Lạc, và một nửa tàu long cốt rồi." Sắc mặt người Chú Liễn lúc này mới xanh mét hoàn toàn.
Tháng trước, thuyền buôn của Phong Viễn Hào gặp hải tặc trên eo biển Oanh Ca, năm trăm thanh đao cong Hà Lạc bị cướp mất với giá cao khẩn cấp, thuyền cũng bị đục lỗ, suýt chút nữa không về được. Vừa khéo trong quầy hàng của ngài lại có đủ năm trăm thanh đao cong giống hệt nhau, bù đắp chỗ trống này, thu vào trong sổ không ít." Dưới tấm lụa xám tro, phát ra tiếng cười thanh thoát của thiếu niên, "Kể từ sau biến cố Biên Dạ Kiêu, các thương đoàn Trưng triều Đông Lục ở cảng Tất Bát Lô, kho hàng thuyền bè đều do chúng ta chiếu cố, tuy nói không lên mặt bàn, nhưng hơn hai năm nay đồng nghiệp cũng nể mặt. Chuyện trên biển, tụi ta quả thực không bảo đảm được, nhưng đòi lại thì vẫn có thể chứ." Bàn bàn rung lên kèn kẹt. Thương nhân Chú Liễn trợn trừng nhìn thiếu niên, mồ hôi đầm đìa trán đầy hạt đậu lấp lánh, gân xanh nổi cộm, như thể đang dùng sức rất lớn, lại không thốt nên lời.
Thiếu niên giơ tay gọi tiểu nhị. Tiểu nhị quán rượu tinh ranh nhường nào, thấy hai người nói chuyện có dấu hiệu xích mích, sớm đã treo một trái tim chờ ở gần đó, thấy thiếu niên giơ tay, vội vàng cười làm lành tiến lên chào đón. Thiếu niên cũng không nói nhiều, đưa đồng vàng trong tay ra, nói: "Tính tiền đi." Tiểu nhị ngẩn ra, cười hì hì đẩy trả lại, miệng nói: "Khách quan, chỗ này đủ mua mười bảy mười tám hũ rượu rồi. Ngài mới uống có hai chén, không cần nhiều thế này đâu." Thiếu niên lại nắm lấy tay tiểu nhị, nhét đồng vàng vào, gập các ngón tay cậu ta lại, vỗ vỗ nói: "Không nhiều, không nhiều đâu." Tiểu nhị hiểu rõ trong lòng, số đến mức chỉ muốn khóc, thiếu niên lại tiêu sái đứng dậy, che kín tấm lụa trùm đầu, tự mình bước ra ngoài.
Người Chú Liễn đối diện bàn lúc này ngược lại như hoàn hồn, cũng nhảy phắt lên, gào to vào không trung: "A Bồn! Ngươi tới đây!" Cả phòng đều bị dọa sợ, nhìn quanh bốn phía, cũng chẳng thấy ai đáp lại. Quán rượu tĩnh lặng một lát, rồi lại náo nhiệt trở lại, kẻ thì ép quyền, kẻ thì nói cười. Thế nhưng một ngụm rượu còn chưa kịp rót vào cổ họng, bọn họ liền đều hiểu ra — hóa ra kẻ gọi là A Bồn đó đang chờ ở ngoài cửa.
Ở tất cả các thành phố cảng Chú Liễn bên bờ biển Trừ Liệu, luôn có một chỗ sáng sủa dựng những chiếc lều da bò mười hai góc cao lớn, trong đó một mặt không dựng trướng màn, có thể cho ngựa xe song song chạy vào, ngày lễ hội là nơi kể thoại, hát tuồng, ngày thường chính là nơi tụ tập uống rượu của Khủa Phụ. Còn như quán rượu bình thường trong thành, vốn không chuẩn bị bàn ghế dài, lại không có ly kiểu thùng, đĩa giống khiên lớn, nhà cửa cũng chật hẹp, xưa nay không làm ăn với Khủa Phụ, tự nhiên cửa mở cũng thấp lẹt đẹt, quán này cũng không ngoại lệ.
Thế nhưng, lúc này gạch đá cạnh cửa quán này lại bắt đầu lúc nhúc động đậy, bụi tro xám xịt tuôn vào từng cụm như nước chảy.
Thiếu niên khựng bước chân lại. Thương nhân Chú Liễn cười lạnh ở sau lưng hắn.
Đôi môi mỏng che dưới bóng râm tức thì mím thành một đường thẳng lạnh lùng hơn, lười đôi co lắc đầu như không muốn nói nhiều.
Ngôi nhà rung chuyển càng thêm mãnh liệt, ly chén dịch chuyển trên bàn, gạch đá khắp tường như muốn tranh nhau tung tóe ra ngoài, thấy rõ từng viên từng viên lỏng lẻo chèn ép, từ khe hở chói lọi lọt ra ánh trời ngoài phố.
Thiếu niên lại không lùi bước, chỉ lặng lẽ đứng yên tại chỗ.
Cuối cùng, phần lớn bức tường giáp phố của quán rượu ầm ầm đổ sập vào trong, vị trí vốn là cửa, trơ trọi sót lại một cái khe hở lởm chởm, gạch vụn mạt gỗ vẫn đang lả tả rơi xuống. Ánh nắng hắt phắt vào bụi mù, phân tách thành từng sợi từng sợi, như vô số kiếm khí sắc bén lạnh lẽo. Thiếu niên đứng giữa bụi mù bốc lên và ánh nắng, toàn bộ tấm vải lụa xám cũ kỹ mềm mại bị luồng khí thổi lật lên, lộ ra khuôn mặt ôn uyên.
Thiếu niên ngẩng đầu lên, liền đối mặt trực diện với vị Khủa Phụ cao lớn đang đứng chỏng chơ ngoài khe hở. Hắn đã mười bảy tuổi, trong số những đứa trẻ cùng trang lứa cũng coi là cao ráo, thế nhưng so sánh với cơ thể như bàn thạch của người khổng lồ, vẫn gầy gò như một cọng sậy.
"A Bồn, ngươi còn ngây ra làm gì, bóp chết hắn đi!" Thương nhân Chú Liễn giậm chân hét lên, "Ngươi còn muốn tiền công nữa không?" Khủa Phụ gãi gãi sau gáy, thô lỗ đáp: "Ồ." Liền thật sự vươn bàn tay to bằng mảng đồng, nắm lấy đầu cổ của thiếu niên.
Thiếu niên lại không hề né tránh, tấm vải lụa rủ xuống thắt lưng vẫn đang đung đưa.
Nụ cười lạnh trên mặt thương nhân Chú Liễn còn chưa kịp nhếch lên, đã cứng đờ giữa đường. Có người từ sau lưng tóm lấy cằm hắn ta nhấc bổng lên, tiếp theo liền có một thanh đoản loan đao lạnh ngắt kề sát vào làn da đang căng cứng dưới cổ họng hắn ta. Hắn ta liều mạng liếc mắt xéo nhìn về phía sau, khóe mắt quét thấy kẻ cầm dao là một đại hán tóc vàng rực rỡ, những tên thủy thủ vừa rồi còn uống rượu nói cười bên cạnh cũng lần lượt rút dao bước lên trước, tức thì hối hận vô cùng.
Hai năm trước, một nhóm đạo tặc áo xanh bắt đầu xuất hiện ở cảng Tất Bát Lô. Bọn chúng rõ ràng được thuê bởi thương đoàn Trưng triều Đông Lục, ngày thường không hề canh gác gần kho hàng của thương hội, số lượng hình như cũng không nhiều, tổng cộng chưa tới ba mươi người, nhưng hành động lại vô cùng chớp nhoáng. Hễ có kẻ nào mưu đồ trộm cắp tài sản lớn hoặc cướp giết thương nhân, nhóm đạo tặc che mặt này sẽ lập tức lao đến, bảo vệ kín kẽ không hở giọt nước, kẻ nhòm ngó thương đoàn Trưng triều dần dần cũng thưa thớt hẳn.
Cảng Tất Bát Lô vốn dĩ là một cảng biển phức tạp cá rồng lẫn lộn, vô số tin tức tài vật, vũ khí nhân khẩu đi thuyền biển tới, lặng lẽ chảy vào nội địa khúc khuỷu sâu thẳm của thành Tất Bát Lô, rồi lại hội tụ chảy ra từ khắp nơi, ngày đêm không dứt. Thành phố lười biếng và rực rỡ này, dung nạp quá nhiều tiền tài, dục vọng và lòng tham, giống như khối rễ phì nhiêu ngày càng phồng to, nuôi dưỡng ra sự phồn hoa rực rỡ tội ác. Tiểu nhị tiệm cầm đồ ban ngày ngủ gà ngủ gật, có lẽ là một kẻ đầu lĩnh hải tặc mưu mô lạnh lùng; kẻ trộm vặt đi trên mái nhà nhẹ nhàng như đi trên đất bằng, thay bộ quần áo búi tóc cắm trâm hoa, lại biến thành người phụ nữ trẻ tuổi nhà bên cạnh. Trong thành phố này, trộm cắp và lừa gạt không đáng hổ thẹn, đáng hổ thẹn là sự thất bại.
Vì cuộc gặp gỡ hôm nay, thương nhân Chú Liễn này đã đích thân đến quán rượu Khủa Phụ chọn ra tên A Bồn có vẻ to lớn hung hãn nhất, bỏ số tiền lớn thuê mướn, còn phái người đến thám thính trong quán rượu từ trước, cứ tưởng là đã bố trí sự chuẩn bị vạn phần chu đáo. Thủ lĩnh đạo tặc trẻ tuổi kia kiêu ngạo tự phụ, quả nhiên một mình phó ước, vậy thì, dù không đòi được hàng hóa, dựa vào sức lực của A Bồn cũng đủ để trừ khử tên đầu lĩnh đạo tặc này, dư đảng lưa thưa hai ba chục người không đủ gây lo ngại, nào ngờ lại thành ra cơ sự này.
Nếu thủy thủ trong quán đều là người Đông Lục tóc đen, đương nhiên phải đề phòng có mai phục hay không, thế nhưng lại xen lẫn mấy tên Vũ nhân, tiểu nhị phái tới thám thính liền lơ là bất cẩn. Thật ra những Tuế Vũ và Vô Căn Dân có thân phận thấp kém hơn một chút, ngày thường hòa lẫn với nhân tộc vốn không ít, tạm thời gọi vài người tới quả thực là chuyện dễ như trở bàn tay.
"A Bồn, mau cứu ta!" Thương nhân Chú Liễn cất cao giọng gào thét tức tối, thế nhưng Khủa Phụ của hắn ta cũng đã lọt vào vòng vây của rừng dao rồi. "Nói kỹ là không mang theo người khác cơ mà, sao ngươi lại nuốt lời!" Thiếu niên cười nói: "Chẳng lẽ ngài đến một mình chắc." Nói xong lại kéo tấm vải lụa che mặt, từ khe hở trên tường tự mình bước ra ngoài, hơi nóng bức người miền Nam kẹp theo tiếng ồn ào buôn bán vo ve như muỗi, ập thẳng vào mặt.
Trong mùa mưa, thành Tất Bát Lô trông ra dáng một thành phố nhất, cũng chỉ có khu vực cảng này mà thôi. Đường phố ở đây rất ít khi bị nước mưa ngập lụt, địa thế cũng coi như ngay ngắn, không có nhiều dòng sông đan xen phức tạp, con đường đất đỏ bị khách hàng qua lại nhiều năm và các bảo tiêu Khủa Phụ dẫm đạp cứng như sắt, một muỗng dầu hắt xuống, nửa ngày cũng không ngấm nổi.
Đi chưa bao lâu, chỉ nghe phía sau vang lên một tiếng động trầm đục. Quay đầu nhìn lại, cách hai con phố, nơi quán rượu ban nãy tọa lạc bốc lên một trận khói bụi đất đỏ cuồn cuộn. Trên môi mỏng của thiếu niên lộ ra một nụ cười thản nhiên.
Bầu trời khoáng đạt xa xăm, ánh nắng cuối hạ gột rửa sắc màu của phố xá ồn ào. Phía bắc chính là một trong các bến tàu của cảng Tất Bát Lô, trên mái nhà lộ ra vô số cột buồm thuyền buôn đằng xa, hải âu lượn lờ là mấy chục chấm xám xanh thẳm. Thiếu niên huýt một tiếng còi sắc nhọn, trong đàn hải âu bỗng có một con tách bầy, lao vút về phía này.
Thiếu niên giơ tay phải lên hướng về bầu trời, bước chân không dừng lại, con chim đó thu cánh lại, lao thẳng xuống hắn, rơi xuống cách mặt đất chưa đầy mười thước, mới giương cánh lượn một vòng, đậu xuống cánh tay phải của hắn, hóa ra là một con Tam Đố Chuông lông xanh mỏ quặp. Thiếu niên vuốt ve bộ lông đuôi kiên nhẫn sáng bóng của nó, xoay người thò tay xuống dưới gốc cánh, tháo ra một cái túi da nhỏ. Vừa đi vừa hơi lắc cổ tay, Tam Đố Chuông liền vỗ cánh nhảy lên, đậu xuống vai phải của hắn, nhường tay cho hắn tháo túi da, lấy cuộn giấy rộng hai ngón tay bên trong ra.
Bước chân lanh lẹ bỗng chốc dừng lại.
Tam Đố Chuông kêu khàn khàn, mổ mổ chủ nhân.
Gió biển gào thét xuyên qua đường phố, cuộn giấy bông mảnh mai run rẩy lật sật trong gió, tấm vải che mặt cũng bay phấp phới. Dòng người ồn ào, gió lốc qua tai, duy chỉ có thiếu niên là ngưng đọng như đá.
Chậm rãi, cuộn giấy bị vo thành một nắm nhỏ cứng ngắc.
Mãnh cầm thét dài một tiếng, vỗ cánh tung mình bay lên từ vai chủ nhân, bởi vì chủ nhân của nó đã bắt đầu chạy như điên, trầm mặc, liều mạng, giống như muốn vứt bỏ cả thể xác mà chạy vậy. Hắn rời khỏi đại đạo, nhảy qua rãnh nước đục ngầu, xuyên qua các con hẻm chật hẹp, một tay vẫn luôn ôm chặt trùm đầu. Trong những ngõ hẻm uốn lượn như mê cung khắp nơi chất đống rác rưởi và vật ô uế, ba bước một ngã rẽ, năm bước một khúc cua, vĩnh viễn không nhìn thấy phía trước đang chờ đợi thứ gì, vĩnh viễn có những ngã ba và đường cụt không ngờ tới, thế nhưng thiếu niên dường như quen thuộc với chúng đến tận chân tơ kẽ tóc. Rẽ qua hàng trăm khúc cua nhỏ, hắn đến tận cùng một con hẻm chật hẹp nào đó, lách người biến mất sau cánh cửa một ngôi nhà dân.
Bên ngoài vẫn là ban ngày, trong nhà lại tối tăm hỗn tạp, một góc bàn thấp đốt ngọn đèn nhỏ, thờ tượng Long Vĩ Thần mà người Chú Liễn tôn sùng, là ánh sáng mập mờ duy nhất. Trong rương chất đống tùy tiện hương liệu, hương thơm mục nát hòa quyện cùng mùi tơ tằm của lụa là tỏa ra xung quanh. Thiếu niên không dừng lại, tiếp tục cắm cổ chạy bứt tốc lên lầu. Hắn nhảy qua những bó đồ vật lớn bọc da sống đặt trên ván lầu, bất cẩn đá lật một cuộn đã tháo phong kín, liền có mười mấy con đao lá hẹ bằng kim cương lách tách văng tung tóe, chiếu sáng một căn phòng mập mờ. Không rảnh nhặt nhạnh, thiếu niên vội vàng lên lầu ba, đẩy cửa sổ hẹp, tung người nhảy vào cửa sổ nhà bên cạnh cách chưa đầy ba thước. Đó là một tòa lầu nhỏ cũ kỹ hơn, thoạt nhìn không có người ở, thế nhưng bên trong cũng chứa đầy dao giáp cung nỏ, trân bảo rượu ngon. Hắn đi xuống hầm rượu, đẩy hai chiếc thùng rỗng lớn bên vách tường, rút bội đao cạy một miếng trên mặt đá sàn nhà, lật một tấm phiến đá rộng và mỏng lên, lộ ra bậc thang ở dưới đáy, tận cùng có ánh lửa lờ mờ.
Thiếu niên xuống hầm ngầm tiếp tục chạy cắm cổ về phía trước, một bên giật phăng tấm lụa trên vai xuống. Chưa bao giờ hắn chạy nhanh như thế, lâu như thế trong một hơi, mồ hôi túa vào mắt, những ngọn đèn gió nhỏ mờ ảo treo trên vách đá hai bên hầm ngầm hóa thành chiếc cầu vồng bảy sắc, khiến tầm nhìn người ta trở nên mơ hồ. Chạy thẳng chừng nửa khắc công phu, bậc thang chuyển hướng hướng lên trên, hầm ngầm đã đến tận cùng, thiếu niên dùng cán đao gõ nhẹ tấm cửa gỗ trên đỉnh đầu, rất nhanh đã có người mở khóa từ bên ngoài, vén cửa cho hắn đi lên.
"Đem y phục tới, mau." Hắn dốc sức áp chế tiếng thở dốc, nói với người thanh niên Đông Lục có bộ dạng tiểu đồ đệ kia. Người nọ hành lễ, tự mình đi ngay.
Đây là một gian phòng mát mẻ, một mặt tường treo đầy những mẫu vải vóc kim bích phi thanh, ở giữa có bày trà điểm trên chiếc bàn nhỏ, bên bức tường đối diện dựng một tấm đại thủy ngân kính đắt tiền, chính là tĩnh thất cho quý khách thử y phục trong tiệm thêu. Thiếu niên đã cởi sạch chiếc áo trên thấm đẫm mồ hôi, qua loa lau mồ hôi rồi vứt xuống đất, đi đi lại lại trong phòng vài bước với vẻ nôn nóng như một con mãnh thú bị nhốt, tiểu đồ đệ lúc trước bèn bước vào, bưng theo mão quan cùng quân bào quân ủng của hắn. Hắn dứt khoát thay vào, vừa cài cúc vừa bước ra ngoài, trầm giọng dặn tiểu đồ đệ: "Dặn dò trong doanh, ta vào cung một chuyến." Tiểu đồ đệ sải bước đuổi theo sau hắn, nghe vậy lại vô ngôn chắp tay hành lễ, tiễn thẳng hắn ra đến tận cửa hiệu, vén rèm giúp hắn, cao giọng hô lớn: "Thang tướng quân, ngài đi thong thả, y phục chúng ta sửa xong sẽ lập tức sai người đưa đến cho ngài." Vừa rồi đoạn đường thẳng tắp dài hơn hai dặm dưới đất, đã xuyên ngang lưng nửa khu cảng hẹp dài, đến vùng lận cận doanh địa đóng quân của năm ngàn Vũ Lâm quân triều Trinh ở phía tây bắc cảng Tất Bát La.
Thang Càn Tự đưa tay gạt đi giọt mồ hôi trên trán. Trải qua một trận chạy gấp, nhịp tim đập mãnh liệt vào màng nhĩ, trước mắt tối sầm lại.
Hắn thọc tay vào ngực áo, lấy cuộn giấy miến đó ra. Mồ hôi thấm ướt, một hàng mực đã nhòe đi, nhưng vẫn chói mắt vô cùng.
"Ngày ba mươi tháng bảy, Đế tu băng hà. Mùng ba tháng tám, Nghi vương vây hãm Thiên Khải. Nửa đêm mùng năm, Xướng vương phá vây thoát thân, thành phá, tông thất tận diệt." Đó là cuối mùa hè năm Lân Thái thứ hai mươi bảy triều Trinh, trên đại lục phương Đông cách trở bởi biển cát, loạn Nghi vương kéo dài tám năm kỳ thực mới chỉ vén lên một góc mở màn. Trong tám năm này, hàng trăm vạn dân đen và quân sĩ số mệnh đã sớm bị định đoạt vào sổ tử ấy, lúc này vẫn đang bận rộn với sinh kế ca khóc qua ngày tháng, hoàn toàn không hay biết gì về con đường mờ mịt phía trước.