LÚC ĐÓ, có một lão mù đến trọ tại quán trọ. Thấy tôi có vẻ lanh lẹ, đủ sức để dắt đường, lão liền xin mẹ tôi cho tôi đi theo. Lazaro bước vào phục vụ cho một lão mù. Mẹ tôi gật đầu đồng ý, hết lời ca ngợi tôi là con của một người cha chân chính, lại khoe khoang rằng chồng bà đã tử trận ngoài đảo Gelves. Bà bảo lão mù rằng bà phó mặc nơi Chúa để mong tôi không đến nỗi tệ hại hơn cha mình, đồng thời khẩn khoản xin lão đối xử tử tế và cưu mang tôi, bởi tôi giờ đã là một đứa trẻ mồ côi. Lão đáp rằng lão sẽ làm đúng như vậy, và lão nhận tôi không phải với tư cách kẻ ăn người ở, mà như con ruột của mình. Thế là tôi bắt đầu bước vào nghiệp dắt díu và phục vụ người chủ mới. Chúng tôi ở lại Salamanca một vài ngày, nhưng vì tiền kiếm được không làm lão chủ vừa lòng, lão quyết định đi đến một nơi khác. Lazaro từ biệt mẹ. Khi chúng tôi sắp sửa lên đường, tôi đến từ biệt mẹ. Cả hai mẹ con cùng khóc, mẹ ban phước cho tôi rồi bảo: “Ta sẽ chẳng còn gặp lại con nữa. Hãy răn mình sống cho phải đạo, và nguyện xin Chúa phù trợ bước đường con đi. Con đã khôn lớn, và giờ đã có một người chủ tốt để nương thân. Vĩnh biệt con!” Cứ thế, tôi quay về với người chủ đang đứng đợi mình.
Một trò ác độc của lão mù tàn nhẫn. Chúng tôi rời Salamanca và đi đến một cây cầu. Ngay lối lên cầu có một khối đá tạc hình thù gần giống một con bò. Lão mù bảo tôi tiến lại gần con vật ấy, và khi tôi đã đứng sát bên, lão liền nói: “Lazaro, hãy áp tai vào con bò này, con sẽ nghe thấy những tiếng động lớn vọng ra từ bên trong.” Tôi ngây thơ làm theo, đinh ninh mọi chuyện đúng như lời lão nói. Khi thấy đầu tôi đã áp chặt vào khối đá, lão vung tay giáng cho tôi một cú trời giáng vào cái đầu tội nghiệp, khiến tôi đau nhức suốt hơn ba ngày trời. Lazaro và lão mù. Rồi lão bảo tôi: “Bài học này sẽ dạy cho con biết rằng kẻ đi theo hầu một lão mù phải ranh mãnh hơn cả quỷ dữ”; đoạn lão cười ha hả trước trò đùa ác ý của mình. Chỉ trong khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác như mình vừa bừng tỉnh sau quãng đời thơ dại khờ khạo. Tôi tự nhủ lòng: “Lão nói đúng đấy, ta buộc phải mở to đôi mắt ra thôi, bởi ta chỉ có một mình và phải tự lo lấy thân.”
“Lão đáp rằng lão nhận tôi không phải với tư cách kẻ ăn người ở, mà như con ruột của mình.”
Chúng tôi tiếp tục lên đường, và chỉ sau vài ngày, tôi đã tỏ ra là một đứa trẻ nhanh nhẹn. Lão mù tỏ ra rất hài lòng và bảo: “Ta chẳng có vàng hay bạc để cho con, nhưng ta có thể dạy cho con khối điều về cách kiếm sống.” Sự khôn ngoan và tinh ranh tuyệt vời của lão mù. Quả thực, chỉ ít ngày sau, lão đã chỉ dạy cho tôi vô số điều; dẫu bản thân mù lòa, lão lại chính là người soi đường chỉ lối cho tôi bước đi trong cuộc đời. Tôi kể lại những chuyện vụn vặt này cho ngài nghe để thấy rằng con người ta khi rơi vào cảnh ngộ khốn cùng phải khôn ngoan nhường nào, và phải thận trọng ra sao để không vấp ngã ngay cả khi đang ở chốn vinh quang.


Nói về những mặt tốt ở người chủ mù của tôi, ngài cần phải biết rằng từ khi Chúa tạo dựng nên thế gian, chưa từng có ai xảo quyệt và tinh ranh hơn lão. Trong lĩnh vực của mình, lão là kẻ vô địch thiên hạ. Lão thuộc lòng hàng trăm bài thánh ca trong nhà thờ, cất giọng ngâm nga trầm bổng, nhỏ nhẹ; khi xướng lên, nét mặt lão tỏ vẻ thành kính và vô cùng khiêm nhường, tuyệt ko nhăn nhó hay ra bộ điệu như những kẻ khác. Bên cạnh đó, lão còn trăm mưu nghìn kế để moi tiền thiên hạ. Lão biết cách cầu nguyện trong những hoàn cảnh khác nhau: cho những người phụ nữ hiếm muộn, cho những ai sắp sinh con, hay cho những người có cuộc hôn nhân bất hạnh để chồng họ quay về thương yêu họ. Lão đoán trước được phụ nữ sẽ sinh con trai hay con gái. Về mặt y học, lão khoe rằng danh y Galen cũng không có nổi một nửa sự hiểu biết của lão trong việc chữa trị nhức răng, chứng ngất xỉu hay các bệnh phụ nữ. Cuối cùng, bất kể ai kể lể về nỗi đau hay cơn bệnh họ đang gánh chịu, lão đều phán ngay lập tức — hãy làm thế này, phải làm thế kia, hái loại thảo mộc nọ, uống thứ rễ cây kia. Cứ thế, cả thiên hạ đổ xô đi theo lão, nhất là phụ nữ. Họ tin sái cổ mọi điều lão nói, và từ họ, lão thu về những khoản lợi nhuận kếch xù bằng những chiêu trò mà tôi vừa kể, bởi chỉ trong một tháng lão kiếm được nhiều hơn cả trăm lão mù khác làm trong một năm. Tôi cũng muốn ngài biết rằng, dẫu vơ vét được bao nhiêu đi chăng nữa, chưa từng có kẻ nào keo kiệt và hà tiện như lão; lão bủn xỉn đến mức suýt bỏ đói tôi chết tươi, tước đoạt cả những nhu yếu phẩm cơ bản nhất để sống.
Cách kiếm tiền và sự hà tiện của lão mù. Tôi xin nói thật rằng, nếu tôi không dùng đủ mọi mưu mẹo và sự khôn khéo để tự cứu mình, thì chắc chắn tôi đã chết đói từ lâu. Dù lão có thừa mưu mô kinh nghiệm, tôi vẫn xoay sở khéo léo để phần lớn thời gian tôi mới là kẻ chiếm thế thượng phong. Cũng vì những chuyện này mà giữa chúng tôi thường xuyên xảy ra những trận cãi vã long trời lở đất, tôi chỉ xin kể ra đây một vài lần chứ không thể kể hết.
Lão đựng bánh mì và tất cả đồ đạc trong một chiếc bị bằng vải lanh, miệng bị được khóa kín bằng một sợi xích sắt gắn ổ khóa và chìa. Lão tự tay cất và lấy đồ ra với sự cảnh giác cao độ, tính toán rạch ròi đến mức trên đời này không một ai có thể lấy nổi dù chỉ một vụn bánh mà không bị lão phát hiện. Lazaro tìm cách khoét bị của lão mù. Chà, tôi chỉ đành nhận phần khẩu phần ít ỏi mà lão ban ơn cho mình. Nó biến mất sạch sành sanh chưa đầy hai miếng nhai. Đợi khi lão đã khóa bị lại, không để ý tới tôi và đinh ninh rằng tôi đang bận việc khác, tôi liền cẩn thận tháo vài mũi chỉ ở một bên bị rồi khâu lại như cũ; cứ thế "rút máu" chiếc bị hà tiện không chỉ bằng bánh mì mà còn cả những miếng xông khói và dồi heo béo ngậy. Tôi luôn chớp lấy những thời điểm thích hợp để bù đắp cho sự bất công cay đắng mà lão mù độc ác đã trút lên đầu tôi.
Mưu mẹo khôn khéo của Lazaro với những đồng nửa “blanca”. Tất cả những gì chôm chỉa và ăn cắp được, tôi đều gom lại bằng những đồng nửa “blanca”. Khi người ta trả công cho lão bằng một đồng “blanca” trọn vẹn vì đọc kinh giúp họ, thì ngài thấy đấy, vì lão mù tóa chẳng thấy gì, nên nhanh như cắt, trước khi tay lão chạm tới, tôi đã ngậm sẵn một đồng nửa “blanca” trong miệng và thả nó vào thay thế, khiến lão chỉ nhận được một nửa số tiền. Lão mù độc địa liền cằn nhằn khi phát hiện ra đó không phải là một đồng “blanca” trọn vẹn. Lão trách tôi: “Quỷ tha ma bắt mày thế nào mà từ ngày mày về ở với ta, người ta toàn đưa nửa đồng ‘blanca’, trong khi trước kia họ toàn trả một đồng trọn vẹn, thậm chí cả đồng ‘maravedi’ cơ mà? Xui xẻo đeo bám theo mày rồi đây.” Thế là lão bèn rút ngắn các bài kinh lại, chỉ đọc có một nửa và ra lệnh cho tôi phải nhắc lão dừng lại bằng cách giật tay áo. Sau đó, lão bắt đầu lớn tiếng ra oang oang rằng người ta đã thuê đọc bài kinh này bài kinh nọ như lão từng đọc, và rằng lão đã hoàn thành trọn vẹn rồi.
Lão mù thường để một vò rượu nhỏ bên cạnh mỗi khi dùng bữa; và nhanh như chớp, tôi thường lén hôn trộm nó mỗi khi đặt xuống cho lão. Nhưng chẳng mấy chốc lão đã nhận ra lượng rượu vơi đi sau mỗi lần uống, thế là lão quyết định không rời chiếc vò ra khỏi tay nữa mà lúc nào cũng kè kè bên mình. Đủ mọi cách để chôm rượu. Thế nhưng, dẫu chẳng có nam châm nào để hút lấy những gì đang xảy ra, tôi lại chuẩn bị sẵn một ống sậy dài cho nhu cầu bức thiết của mình. Luồn ống sậy vào miệng vò, tôi tha hồ hút rượu cho đến khi thỏa thuê. Lão già ranh mãnh bắt đầu thấy nghi ngờ. Thế là lão kẹp chặt chiếc vò giữa hai đầu gối, lấy tay bịt kín miệng vò và cứ thế thản nhiên thưởng thức mà không sợ bị ai sờ gáy. Nhìn dòng rượu vơi đi trước mắt, thèm thuồng trào dâng trong tôi. Khi ống sậy không còn tác dụng, tôi lại nảy ra một kế hoạch khác. Tôi xoay sở đục một lỗ thật nhỏ ở đáy vò rồi bịt lại bằng một mẩu sáp nhỏ. Đến giờ ăn, tôi giả vờ kêu lạnh, bèn luồn người vào giữa đôi chân lão già để sưởi ấm bên ánh lửa leo lắt nghèo nàn. Dùng chính ngọn lửa ấy, tôi hơ chảy lớp sáp, và chẳng mấy chốc một dòng suối nhỏ bắt đầu rỉ ra chảy thẳng vào miệng tôi—thứ tôi đã khéo léo kê sẵn để không rơi rớt một giọt nào. Đến khi lão già tội nghiệp muốn uống thì chẳng còn chút gì trong vò. Sự kinh ngạc của lão vỡ òa thành những lời nguyền rủa, trút hết hận thù lên đầu chai rượu lẫn chiếc vò. “Cháu có uống miếng nào đâu, thưa bác! Bác có rời tay khỏi chiếc vò đâu cơ chứ,” tôi khôn khéo chốim. Thế nhưng lão cứ xoay đi lật lại chiếc vò mãi cho đến khi tìm ra cái lỗ thủng. Lão chẳng nói năng gì.
Sự trả thù tàn nhẫn của lão mù độc ác. Ngày hôm sau, tôi vẫn vô tư cắm cúi hút cái lỗ quen thuộc, chẳng mảy may nghi ngờ hay đoán biết được tai họa lão đang giáng xuống đầu mình. Tôi đang ngồi bệt dưới đất, tận hưởng từng ngụm rượu ngọt ngào, ngẩng mặt lên trời, đôi mắt lim dim nửa nhắm nửa mở để cảm nhận trọn vẹn hương vị tuyệt vời ấy thì lão mù độc ác bắt đầu ra tay trả thù. Lão dùng cả hai tay nâng bổng chiếc vò lên, và với toàn bộ sức lực, lão đập thẳng nó xuống khuôn mặt tôi. Lazaro tội nghiệp hoàn toàn mất cảnh giác, đang lúc vô tư và sung sướng như mọi khi. Thật lòng tôi tưởng tượng như bầu trời cùng vạn vật trên ấy vừa sụp đổ đè bẹp lên người mình. Cú đánh mạnh đến nỗi những mảnh vò cứa rách mặt tôi ở nhiều chỗ và làm gãy cả răng tôi, khiến tôi mãi tận ngày nay vẫn phải chịu cảnh mẻ mẻ sún sún.
Sự rạn nứt giữa Lazaro và lão mù. Kể từ lúc đó, trong lòng tôi bắt đầu căm hận lão mù tàn nhẫn; và dẫu sau đó lão có tử tế chăm sóc, băng bó cho tôi đi chăng nữa, tôi vẫn thừa hiểu rằng lão vô cùng đắc ý trước màn trừng phạt tàn độc của mình. Lão rửa sạch những vết thâm tím và những chỗ da thịt bị mảnh vò cày nát, miệng vẫn mỉm cười nói rằng: “Con muốn gì nữa nào, Lazaro? Ta có muốn điều dữ cho con đâu, chính ta là kẻ đang chữa lành và ban lại sức khỏe cho con đấy chứ,” kèm theo những lời trêu chọc chẳng chút buồn cười chút nào trong lúc tôi vẫn chưa hoàn toàn bình phục sau thương tích. Giờ đây tôi chỉ khao khát thoát khỏi lão, thầm nghĩ rằng nếu dính thêm vài cú giáng như thế này nữa thì có lẽ tôi sẽ được giải thoát vĩnh viễn khỏi cuộc đời. Lão chẳng mặn mà gì với việc chăm lo sức khỏe hay hạnh phúc cho tôi, và giả sử tôi có muốn tha thứ cho cú đánh bằng chiếc vò ấy đi nữa, thì thái độ đối xử tệ bạc của lão từ đó về sau cũng dư sức dập tắt ý định đó.
Chẳng vì nguyên do hay lý do gì, lão mù ác độc cứ hở ra là đánh đập, hành hạ tôi đủ điều. Nếu có ai hỏi tại sao lại đối xử với tôi tàn nhẫn thế, lão liền lôi câu chuyện chiếc vò ra kể lể, thêm thắt rằng: “Mọi người tưởng thằng bé nhà tôi là cục đất hiền lành ngây thơ chắc? Nghe đây và tự phán xét xem liệu có con quỷ nào nghĩ ra nổi những trò ranh mãnh nhường ấy không. Ai mà tin được một đứa trẻ con bé xíu thế này lại có thể đồi bại đến mức đó cơ chứ.” Nghe vậy, họ liền bảo: “Cứ trừng trị nó danh nghĩa Chúa đi,” và lão chẳng bao giờ làm gì khác ngoài việc tuân theo lời khuyên ấy.
Thế là tôi đành dắt lão đi qua những con đường tồi tệ nhất, tâm niệm tìm cách chơi khăm lão, lôi lão đi qua những bãi đá lởm chởm và những vũng bùn lầy. Lazaro bị đánh đập, thế là lão mù bị dắt vào vũng bùn. Lão lúc nào cũng giáng đòn vào sau gáy tôi, khiến đầu tôi hằn đầy những vết bầm tím; và mặc cho tôi có gào khóc thảm thiết rằng mình không hề cố ý mà chẳng qua vì đường sá hiểm trở, lão nhất quyết không tin, đúng là cái sự ranh mãnh và cáo già của một lão lưu manh lâu năm.
Để ngài có thể tự mình phán đoán sự khôn khéo của lão già tinh ranh này, tôi xin kể lại một câu chuyện trong số vô vàn chuyện đã xảy ra khi tôi còn ở cùng lão. Khi chúng tôi rời khỏi Salamanca, dự tính của lão là tiến về Toledo, vì lão bảo dân tình ở đó giàu có hơn, dẫu chẳng rộng lượng cho lắm. Lão hay lẩm bẩm câu này: “Kẻ hà tiện còn bố thí nhiều hơn kẻ trắng tay.” Chúng tôi chọn đi theo con đường qua những xóm làng trù phú, nơi chúng tôi được đón tiếp tử tế. Chuyện xảy ra là chúng tôi đến một vùng có tên là Almorox đúng vào mùa thu hoạch nho. Một người hái nho đã rủ lòng thương bố thí cho chúng tôi cả một chùm nho. Vì những giỏ nho thường bị xóc nảy và những quả nho vào thời điểm đó còn rất cứng, lão mù cầm nguyên chùm trên tay và, cốt để làm tôi vui lòng, lão quyết định mở tiệc ăn ngay thay vì nhét nó vào bị. Bởi lẽ vào ngày hôm đó, lão đã nện và đá tôi không biết bao nhiêu trận.
Chúng tôi ngồi xuống một khoảng sân kín đáo và lão tuyên bố: “Giờ thì ta sẽ đối xử thật phóng khoáng với con đây. Cách Lazaro và lão mù chia nhau chùm nho. Cả hai chúng ta sẽ ăn chung chùm nho này theo tỷ lệ công bằng, và luật chơi sẽ thế này. Con lấy một quả, ta lấy một quả. Mỗi lần con chỉ được hái một quả, và ta cũng thế, cứ thế cho đến khi hết sạch. Làm như vậy thì sẽ chẳng có chuyện gian lận nào xảy ra được.” Thế là chúng tôi bắt đầu. Đến lượt thứ hai, lão già phản bội bắt đầu hớt tay trên lấy liền hai quả. Thấy lão phá vỡ giao kèo, tôi liền tự nhủ mình cũng phải học đòi theo. Chẳng thèm chịu thiệt thòi làm theo kiểu của lão, tôi bắt đầu bốc liền ba quả một lúc. Khi chùm nho đã sạch bách, lão ngồi thừ người ra một lúc lâu với củ cuống trên tay. Một minh chứng cho sự ranh mãnh của lão mù. Rồi lão cất giọng: “Lazaro, con đã lừa ta. Ta dám thề với Chúa là con đã ăn ba quả một lúc.” “Con có ăn thế đâu,” tôi một mực chối đây đẩy. “Sao bác lại nghi oan cho con?” “Con có biết làm sao mà ta chắc mẩm là con đã hớp ba quả liền một lúc không?” lão đáp. “Đó là vì khi ta bắt đầu bốc hai quả mà con vẫn trơ trơ không nói một lời nào.”
Dẫu chỉ là một thằng bé, tôi vẫn phải thầm thán phục sự khôn lỏi của lão già ấy. Nhưng để không làm ngài phải chán ngản, tôi xin phép bỏ qua vô số giai thoại kỳ thú và đáng nhớ khác đã xảy ra trong khoảng thời gian tôi sống cùng người chủ đầu tiên của mình, bởi tôi rất muốn đi thẳng đến ngày từ biệt, và thế là chấm dứt chuỗi ngày bên lão.
Lúc bấy giờ chúng tôi đang ở Escalona, một thị trấn thuộc quyền cai quản của vị Công tước mang tước hiệu tương tự, và trọ lại tại một quán ăn nhỏ.
Lazaro sa vào cám dỗ và ăn mất chiếc dồi heo. Lão mù đưa cho tôi một khúc dồi heo để nướng. Khi dồi đã được quết mỡ và mẩu bánh mì nướng hứng mỡ chảy ra đã được ăn sạch sẽ, lão bèn móc một đồng maravedi từ trong bị ra và sai tôi chạy ra quán rượu mua một ít rượu về. Con quỷ dữ liền bày ra trước mắt tôi thứ cám dỗ ngọt ngào, như người ta vẫn thường nói, chính là cách sinh ra một tên trộm. Ngay trên bếp lửa lúc ấy còn có một khúc lá cải dài, vì đã héo úa không dùng được cho nồi canh nên lẽ ra phải vứt đi. Chẳng có ai ở đó ngoài lão mù và tôi, và mùi thơm phức của khúc dồi heo đã đánh thức sự tham ăn sâu kín trong tôi. Lúc bấy giờ tôi chỉ nghĩ đến cái sự sướng trước mắt mà chẳng mảy quan tâm xem hậu quả mai sau sẽ ra sao. Khi lão mù vừa cúi xuống móc tiền trong bị, tôi nhanh như chớp chộp lấy khúc dồi heo và nhét vội khúc lá cải lên vị trí cũ. Khi chủ đưa tiền, tôi cầm lấy rồi chạy đi mua rượu, và đương nhiên không quên tống thẳng khúc dồi vào bụng.
Khi lão mù tội lỗi phát hiện ra khúc lá cải nằm trong chảo — thứ mà lão chẳng mảy may hay biết —, lão đinh ninh đó chính là khúc dồi và cắn ngập răng vào. Lão liền la lên: “Cái quái gì thế này, Lazaro?” Tôi tỉnh bơ đáp: “Cháu vừa đi mua rượu về mà! Chắc có ai đó vừa tạt qua đây nghịch trò quái ác gì rồi.” “Không! Không thể nào!” lão hét lên, “ta có bao giờ rời cái chảo ra khỏi tay đâu chứ.” Tôi liền quay sang thề thốt, hết thề cái nọ đến thề cái kia rằng không phải do mình làm. Nhưng mọi lời thề non hẹn biển đều vô ích. Chẳng có gì qua mắt được sự ranh ma của lão mù bị nguyền rủa ấy.
Rắc rối khủng khiếp xoay quanh khúc dồi heo. Ông chủ chồm dậy tóm ngay lấy đầu tôi. Lập tức lão bắt đầu hít hà đánh hơi khắp người tôi, rồi banh miệng tôi ra và thọc thẳng chiếc mũi dài của lão vào trong. Phải công nhận đó là một chiếc mũi vừa dài vừa nhọn. Giữa lúc hoảng loạn tột độ, nghẹn ứ ở cổ họng và nỗi sợ hãi đang dâng trào, khúc dồi heo trong dạ dày không sao chịu nằm yên nữa và đành phải quay trở về với chủ nhân đích thực của nó. Lão mù độc ác bóp nặn ruột gan tôi dữ dội đến mức khúc dồi hãy còn nhai dở cùng chiếc mũi dài suýt chút nữa thì cùng nhau chui tuột ra khỏi miệng tôi. Ơ Chúa tôi! Có ai thà chịu chôn sống còn hơn là phải trải qua nỗi khổ ải nhục nhã ấy cơ chứ? Cơn thịnh nộ của lão già quái đản dâng cao đến mức nếu không có đám đông bị thu hút bởi tiếng ồn ào chạy ùa vào can thiệp, thì chắc lão đã chẳng để cho tôi sống sót. Họ giật tôi khỏi tay lão, để lại nhúm tóc ít ỏi của lão dính chặt trong tay tôi, còn mặt mũi và cổ họng lão thì chi chít vết cào xước—đó hoàn toàn là cái kết xứng đáng cho thói đối xử tàn ác của lão với tôi.
Lão mù liền ba hoa kể lể lại toàn bộ chuỗi tai ương của tôi hết lần này đến lần khác, không sót một chi tiết nào từ chuyện chiếc vò cho đến chùm nho. Tiếng cười vang lên rôm rả đến nỗi mọi kẻ qua đường đều tò mò tạt vào xem náo nhiệt; bởi lão già khốn nạn ấy có tài kể lể những tai họa của tôi sống động đến mức ngay cả một kẻ nạn nhân bị bạo hành như tôi cũng không kìm được mà phải cười hùa theo một nửa. Lazaro hồi phục sau sự cố khúc dồi heo. Nhớ lại những giông bão vừa qua, một cơn choáng váng ập đến khiến tôi mềm nhũn cả người. Nhưng rồi dạ dày tôi cũng dần hồi phục, bà chủ quán trọ cùng những người có mặt ở đó đã dùng chính số rượu vừa mua về để rửa sạch mặt mũi và cổ họng cho tôi. Điều này khiến lão mù nổi giận lôi đình, lão lớn tiếng chì chiết rằng chỉ trong vòng một năm, tôi tiêu tốn số tiền mua rượu rửa mặt của lão còn nhiều hơn cả lượng rượu lão uống trong hai năm.
“Lazaro,” lão ta làu bàu, “con phải mang ơn chai rượu này nhiều hơn cả người cha sinh ra con đấy. Lão ta chỉ sinh ra con có một lần, nhưng chính chai rượu này đã cứu sống con không biết bao nhiêu lần rồi đấy thôi.” Đoạn lão bắt đầu đếm nhẩm lại số lần lão đã cào rách, đánh bầm dập mặt mũi tôi rồi sau đó lại dùng rượu để chữa lành cho tôi. “Nếu trên cõi đời này có ai sinh ra để gặp may với rượu,” lão nói thêm, “thì đích thị là con rồi còn gì.”
Những người đang phụ giúp rửa ráy cho tôi được trận cười hả hê trước những lời lão già tếu táo thốt ra, dẫu trong lòng tôi chẳng buồn cười chút nào. Thế nhưng, những lời tiên tri của lão lưu manh mù lòa ấy hóa ra lại chẳng phải ngoa dụ, để rồi sau này có lúc tôi lại ngẫm nghĩ về con người ấy—kẻ quả thực dường như sở hữu năng lực tiên tri thực thụ. Những việc ác mà lão giáng xuống đầu tôi luôn khiến lòng tôi trĩu nặng buồn tủi, dẫu rằng tôi cũng từng trả đũa sòng phẳng, như ngài sẽ sớm được nghe kể ngay đây.
Lazaro quyết tâm rời bỏ lão mù. Chứng kiến tất cả những chuyện đó, cùng với việc lão cứ trơ trẽn biến tôi thành trò hề mua vui cho thiên hạ, tôi hạ quyết tâm bằng mọi giá phải rũ áo ra đi. Ý định này luôn nung nấu trong tâm trí tôi, và trò quái ác cuối cùng mà lão vừa giở ra chính là giọt nước tràn ly. Hôm sau, chúng tôi lại rời thị trấn để đi khất thực. Đêm hôm trước trời mưa rất to. Sang đến ban ngày trời vẫn tiếp tục mưa dầm dề, thế là chúng tôi đành tạt vào trú dưới một dãy hiên vòm trong thị trấn để tránh ướt. Trời bắt đầu sập tối mà những hạt mưa vẫn không có dấu hiệu ngớt. Lão mù quay sang bảo tôi: “Lazaro! Cơn mưa này dầm dề thật đấy, và khi màn đêm buông xuống thì trời sẽ còn mưa to hơn nữa, thế nên chúng ta hãy nhanh chân tìm đường về quán trọ cho sớm sủa. Muốn về đó, chúng ta phải băng qua một con suối đang dâng nước cuồn cuộn vì trận mưa tầm tã vừa rồi.” Tôi đáp, “Thưa bác! Con suối bây giờ lòng rộng thênh thang, nhưng nếu bác muốn, con có thể dẫn bác đến một lối tắt sang bờ bên kia mà chẳng hề bị ướt chút nào, vì ở đó lòng suối thu hẹp lại rất nhiều, chúng ta hoàn toàn có thể nhảy qua được.” Nghe có vẻ hợp lý, lão gật đầu: “Con khôn ngoan lắm, hãy dẫn ta đến khúc suối hẹp đó đi, dẫu sao đang độ mùa đông thế này mà để chân ướt sũng thì chẳng hay ho gì.” Lazaro chuẩn bị màn trả thù lão mù. Thấy mọi chuyện đang diễn ra đúng như ý nguyện, tôi dắt lão rời khỏi mái hiên vòm và đưa thẳng đến ngay trước một cột đá sừng sững giữa quảng trường. Rồi tôi ngọt ngào bảo lão: “Bác ơi, đây chính là đoạn hẹp nhất của con suối rồi đấy.”
Màn trả thù tàn nhẫn của Lazaro đối với lão mù. Vì trời vẫn mưa tầm tã và cả hai đều đang bị ướt sũng, chúng tôi ai nấy đều sốT sắng tìm chỗ che chắn thứ nước lạnh lẽo đang trút xuống đầu mình. Điều quan trọng nhất lúc bấy giờ (khi Chúa để tâm trí tôi u tối trong khoảnh khắc ấy) chính là sự trả thù. Lão già đặt trọn niềm tin nơi tôi và giục giã: “Hãy chỉnh tư thế chuẩn bị cho ta trong lúc con nhảy qua suối nhé.” Thế là tôi đặt lão đứng sát ngay phía trước chiếc cột đá, còn bản thân thì lủi ra đứng nép phía sau nó. Tôi hô lớn: “Hãy lấy hết sức nhảy qua cho thật dứt khoát nào!” Lời vừa dứt, lão già khốn khổ nhún người lấy đà y hệt một con dê núi, lùi lại một bước rồi phóng hết cỡ với toàn lực bình sinh. Đầu lão đập một cú trời giáng vào chiếc cột đá tạo nên tiếng kêu chát chúa hệt như một quả bầu khô đại bác. Lão ngã quỵ xuống đất, bất tỉnh nhân sự. “Sao khúc dồi heo thơm phức thế mà bác ngửi ra, còn cái cột to đùng thế này lại chịu chết không ngửi thấy hở bác? Ơ kìa! Ơ kìa!” Tôi lớn tiếng chế giễu. Lazaro bỏ rơi người chủ đầu tiên của mình. Tôi mặc kệ lão nằm đó giữa đám đông đang hốt hoảng chạy túa ra cứu giúp, còn bản thân thì cắm cổ chạy thục mạng về phía cổng thị trấn với những sải chân dài dũng mãnh, để rồi trước khi màn đêm buông xuống, tôi đã đặt chân đến Torrijos, chẳng mảy quan tâm cũng chẳng buồn bận tâm xem chuyện gì sẽ xảy ra với lão mù của mình sau đó nữa.
