Chuyến Hải Trình Ra Khơi

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8

❊ ❊ ❊

Mấy tháng tiếp theo trôi qua, cũng như bao năm tháng khác có thể trôi qua, không có sự kiện gì đặc biệt, thế nhưng, nếu đột nhiên bị xáo trộn, ta sẽ thấy rằng những tháng năm ấy mang một nét tính cách chẳng giống ai. Ba tháng vừa qua đã đưa họ bước vào đầu tháng Ba. Khí hậu vẫn giữ đúng lời hứa, và sự chuyển mùa từ đông sang xuân chẳng tạo ra mấy đổi thay, khiến Helen, người đang ngồi trong phòng khách với cây bút trên tay, vẫn có thể để ngỏ các cửa sổ mặc dù một đống củi lớn đang cháy rực ở một bên.

Phía dưới, biển vẫn một màu xanh thẳm còn những mái nhà vẫn nâu và trắng, dẫu ngày đang tàn nhanh chóng. Căn phòng chìm trong chạng vạng, vốn rộng rãi và trống trải quanh năm, nay càng có vẻ rộng và trống hơn thường lệ. Chính bóng dáng cô, khi cô ngồi viết với chiếc bảng kê trên đùi, cũng mang cái vẻ bề thế và thiếu chi tiết chung ấy, bởi những ngọn lửa chạy dọc theo các nhánh cây, bất chợt nuốt chửng những chùm lá xanh nho nhỏ, cháy bập bùng và hắt những tia sáng không đều lên khuôn mặt cô cùng những bức tường trát vữa. Không có bức tranh nào trên tường, thay vào đó là rải rác những cành cây trĩu nặng hoa với cánh dày xòe rộng áp vào đó. Đám sách vở rơi vãi trên sàn nhà trống trải và chất đống trên chiếc bàn lớn, lúc này chỉ có thể nhận ra hình dáng mờ ảo trong ánh sáng ấy.

Bà Ambrose đang viết một bức thư rất dài. Mở đầu bằng câu “Kính gửi Bernard,” nó tiếp tục mô tả những gì đã diễn ra tại Villa San Gervasio trong ba tháng qua, chẳng hạn như việc họ đã mời Lãnh sự Anh đến ăn tối, đã được đi tham quan một chiến hạm Tây Ban Nha, và đã chứng kiến rất nhiều đám rước cùng các lễ hội tôn giáo, đẹp đến mức bà Ambrose không thể hiểu nổi tại sao, nếu con người ta buộc phải có một tôn giáo, sao họ không đồng loạt trở thành tín đồ Công giáo La Mã. Họ đã thực hiện vài chuyến thám hiểm dẫu chẳng chuyến nào dài ngày. Thật đáng công đến đây chỉ vì những hàng cây ra hoa mọc hoang ngay gần nhà, và sắc màu kỳ diệu của biển cả cùng đất đai. Đất ở đây, thay vì màu nâu, lại mang sắc đỏ, tím, xanh.

“Anh sẽ không tin tôi đâu,” bà viết thêm, “ở nước Anh chẳng có màu nào giống thế cả.” Thật vậy, bà tỏ ra bề trên đối với hòn đảo tội nghiệp kia, nơi hiện đang chìa ra những đóa nghệ tây lạnh lẽo và mấy đóa hoa violet bị sương muối làm teo lại trong những hốc cây, bụi rậm, góc khuất, được chăm sóc bởi những ông làm vườn già má đỏ hây hây quàng khăn len, lúc nào cũng chực cúi đầu chào và vâng dạ khép nép. Bà tiếp tục chế nhạo chính những người dân trên đảo. Tin đồn về việc Luân Đôn đang sục sôi vì một cuộc Tổng tuyển cử đã bay đến tận chốn này.

“Thật khó mà tin được,” bà viết tiếp, “rằng người ta lại có thể quan tâm xem Asquith hay Austen Chamberlain lên nắm quyền, và trong lúc các anh gân cổ thét gào vì chính trị, các anh lại để cho những kẻ duy nhất đang mưu cầu điều tốt đẹp phải chịu đói hoặc chỉ biết chế nhạo họ. Các anh từng nâng đỡ nghệ sĩ sống bao giờ chưa? Hay từng mua tác phẩm đẹp nhất của họ chưa? Sao tất cả các anh lại thô kệch và tôi đòi đến thế? Ở đây, những người hầu là con người thực thụ. Họ trò chuyện với người ta như những kẻ bình đẳng. Theo tôi thấy thì chẳng có quý tộc nào ở đây cả.”

Có lẽ chính việc nhắc đến giới quý tộc đã gợi cho bà nhớ về Richard Dalloway và Rachel, nên bà cứ thế tuôn bút miêu tả cô cháu gái.

“Thật là một định mệnh kỳ quặc khi bắt tôi phải trông nom một cô gái,” bà viết, “xét cho cùng tôi vốn chưa bao giờ hòa hợp với phụ nữ, hay có nhiều dính dáng đến họ. Tuy nhiên, tôi phải rút lại một số điều từng nói chống lại họ. Nếu được giáo dục đàng hoàng, tôi không hiểu sao họ lại không thể giống như đàn ông—ý tôi là cũng thỏa đáng như vậy; dẫu tất nhiên là rất khác biệt. Vấn đề là nên giáo dục họ thế nào. Phương pháp hiện nay thật sự đáng kinh tởm đối với tôi. Cô bé này, dẫu đã hai tuổi rưỡi—à không, hai mươi tư tuổi, chưa từng nghe nói rằng đàn ông khao khát phụ nữ, và cho đến khi tôi giải thích, còn chẳng biết trẻ con được sinh ra thế nào. Sự dốt nát của con bé về những vấn đề quan trọng khác” (đoạn này trong thư bà Ambrose xin phép được giấu kín) . . . “thật là toàn diện. Đối với tôi, việc nuôi dạy con người ta như thế không chỉ ngốc nghếch mà còn là tội ác. Chưa kể đến sự đau khổ mà họ phải chịu đựng, điều đó giải thích tại sao phụ nữ lại thành ra như vậy—điều kỳ lạ là họ chưa tệ hơn thế. Tôi đã tự mình đứng ra khai sáng cho con bé, và giờ đây, tuy vẫn còn mang nhiều thành kiến và dễ phóng đại, nó ít nhiều đã trở thành một con người có lý trí. Tất nhiên, việc bắt họ phải dốt nát chỉ phản tác dụng, và khi họ bắt đầu hiểu chuyện, họ lại quá ư coi trọng mọi thứ. Ông anh rể của tôi thực sự đáng phải nhận một thảm kịch—thứ mà ông ta sẽ chẳng đời nào vớ được. Giờ đây tôi chỉ cầu mong có một chàng trai nào đó đến giúp tôi; ý tôi là một người nào đó dám cởi mở trò chuyện với con bé, và chứng minh cho nó thấy những ý tưởng của nó về cuộc đời ngớ ngẩn đến nhường nào. Đáng tiếc là những người đàn ông như thế dường như hiếm hoi chẳng kém gì phụ nữ. Cộng đồng người Anh ở đây tuyệt nhiên chẳng có lấy một người; nghệ sĩ, thương gia, những kẻ có học thức—họ thật ngớ ngẩn, sáo rỗng và hay tán tỉnh. . . .”

Bà dừng bút, tay cầm bút ngồi đẫn đờ nhìn vào đống lửa, nhào nặn những khúc củi thành hang động và núi non, bởi trời đã quá tối để viết tiếp. Hơn nữa, ngôi nhà bắt đầu rộn lên khi giờ ăn tối đến gần; bà có thể nghe thấy tiếng đĩa xủng xoảng ở phòng ăn bên cạnh, và tiếng Chailey dùng thứ tiếng Anh dõng dạc hướng dẫn cô gái người Tây Ban Nha đặt đồ đạc vào đâu. Tiếng chuông reo; bà đứng dậy, gặp Ridley và Rachel ở bên ngoài, và tất cả cùng tiến vào phòng ăn.

Ba tháng trôi qua hầu như không làm thay đổi ngoại hình của Ridley hay Rachel là mấy; thế nhưng một nhà quan sát tinh tế có lẽ sẽ nhận thấy cô gái trông có vẻ quả quyết và tự tin hơn trước. Làn da của cô ngăm đen, đôi mắt chắc chắn rực rỡ hơn, và cô chú ý lắng nghe những gì được nói như thể cô sẵn sàng phản bác lại vậy. Bữa ăn bắt đầu với sự im lặng thoải mái của những con người hoàn toàn tự nhiên khi ở bên nhau. Rồi Ridley, tì khuỷu tay lên bàn và nhìn ra cửa sổ, nhận xét rằng đêm nay thật đáng yêu.

“Đúng vậy,” Helen nói. Cô nói thêm, “Mùa du lịch bắt đầu rồi đấy,” khi nhìn xuống những ánh đèn phía dưới. Cô hỏi Maria bằng tiếng Tây Ban Nha rằng có phải khách sạn đang dần đông khách du lịch đến trọ không. Maria tự hào thông báo với cô rằng sẽ có lúc việc mua trứng trở nên cực kỳ khó khăn—các chủ cửa hàng sẽ chẳng màng đến chuyện họ ra giá cao thế nào; đằng nào thì họ cũng mua được thôi, chí ít là từ những vị khách người Anh.

“Có một chiếc tàu hơi nước của Anh đang đậu ở vịnh kìa,” Rachel nói, nhìn vào một tam giác ánh sáng phía dưới. “Tàu vào cảng từ sáng sớm nay cơ.”

“Thế thì chúng ta có thể hy vọng nhận được vài bức thư và gửi thư của mình đi,” Helen nói.

Vì lý do nào đó, việc nhắc đến thư từ luôn khiến Ridley rên rỉ, và phần còn lại của bữa ăn trôi qua trong một cuộc tranh luận sôi nổi giữa hai vợ chồng về việc liệu ông có hoàn toàn bị thế giới văn minh phớt lờ hay không.

“Xét theo đợt thư trước,” Helen nói, “anh đáng bị đòn lắm. Người ta mời anh diễn thuyết, người ta đề nghị trao học vị cho anh, và một mụ ngốc nào đó không chỉ ca ngợi sách mà còn ca ngợi cả vẻ đẹp của anh—mụ ta bảo anh trông giống hệt như Shelley nếu Shelley sống đến năm mươi lăm tuổi và để râu ấy. Thật đấy, Ridley, em nghĩ anh là kẻ hoang tưởng nhất mà em từng biết,” cô kết luận, đứng dậy khỏi bàn ăn, “mà em phải nói thêm rằng điều này là quá đủ để đánh giá rồi đấy.”

Nhìn thấy bức thư của mình nằm trước lò sưởi, cô viết thêm vài dòng, rồi thông báo rằng cô sẽ đi gửi thư ngay bây giờ—Ridley phải mang thư của anh đi theo—còn Rachel thì sao?

“Cô hy vọng là cháu đã viết thư cho các dì rồi chứ? Muộn lắm rồi đấy.”

Hai người phụ nữ khoác áo choàng và đội mũ lên, và sau khi mời Ridley đi cùng, người mà đã từ chối một cách dứt khoát, kêu lên rằng con bé Rachel ngốc nghếch thì ông còn trông đợi được, chứ Helen thì chắc chắn thừa khôn ngoan để biết đường từ chối, họ quay người bước đi. Ông đứng trước lò sưởi, đăm đăm nhìn vào sâu thẳm chiếc gương soi, co rút cơ mặt ra vẻ một vị chỉ huy đang khảo sát chiến trường, hay một kẻ tử đạo đang nhìn ngắm ngọn lửa liếm láp đầu ngón chân mình, hơn là dáng vẻ của một vị Giáo sư ẩn dật.

Helen liền túm lấy bộ râu của ông.

“Em là kẻ ngốc chắc?” cô nói.

“Thả anh ra, Helen.”

“Em là kẻ ngốc chắc?” cô lặp lại.

“Đồ đàn bà hiểm độc!” ông kêu lên và hôn cô.

“Bọn em mặc kệ anh tự luyến đấy nhé,” cô với với lại khi họ bước ra khỏi cửa.

Đó là một buổi tối tuyệt đẹp, trời vẫn đủ sáng để nhìn rõ một đoạn dài dọc con đường, dẫu các vì sao đang dần lộ diện. Hòm thư được gắn vào một bức tường vàng cao ở chỗ ngõ giao với đường cái, và sau khi thả những bức thư vào đó, Helen định quay gót.

“Không, không,” Rachel nói, nắm lấy cổ tay cô. “Chúng ta đi khám phá cuộc đời đây. Cô hứa rồi đấy nhé.”

“Khám phá cuộc đời” là cụm từ họ dùng để chỉ thói quen đi dạo qua thị trấn sau khi trời tối. Đời sống xã hội của Santa Marina diễn ra hầu như hoàn toàn dưới ánh đèn dầu, thứ ánh sáng được làm cho dễ chịu hơn bởi sự ấm áp của những đêm hè và hương thơm tỏa ra từ các loài hoa. Những thiếu nữ với mái tóc được búi lên thật lộng lẫy, giắt một bông hoa đỏ sau vành tai, ngồi trên bậc thềm cửa, hoặc bước ra ban công, trong khi các chàng trai đi lại dập dìu phía dưới, thỉnh thoảng lại hò reo chào hỏi và dừng chân ở đâu đó để tán tỉnh dạo ngâm. Tại những khung cửa sổ mở toang, người ta có thể thấy các thương gia đang tổng kết sổ sách trong ngày, và những phụ nữ lớn tuổi đang chuyển các vò nước từ kệ này sang kệ khác. Đường phố đông nghịt người, phần lớn là nam giới, vừa đi vừa trao đổi quan điểm về thế giới, hoặc tụ tập quanh những bàn rượu ở góc phố, nơi một lão thợ càn què đang gảy những tiếng đàn ghi-ta, trong khi một cô gái nghèo cất lên khúc ca đầy thiết tha dưới rãnh đường. Hai người phụ nữ Anh thu hút sự tò mò thiện cảm, nhưng chẳng ai quấy rầy họ cả.

Helen thong thả bước đi, thỏa mãn quan sát những con người khác nhau trong bộ trang phục lôi thôi, trông thật vô tư và tự nhiên.

“Thử nghĩ đến khu Mall tối nay xem!” cuối cùng cô thốt lên. “Hôm nay là mười lăm tháng Ba. Có lẽ đang có buổi hầu triều.” Cô nghĩ đến đám đông đang chờ đợi trong bầu không khí mùa xuân lạnh giá để ngắm những cỗ xe lộng lẫy lướt qua. “Trời rất lạnh, nếu không muốn nói là trời đang mưa,” cô nói. “Đầu tiên là những người bán bưu ảnh; tiếp theo là mấy cô bán hàng tội nghiệp với những chiếc hộp đựng mũ tròn vo; rồi đến mấy tay nhân viên ngân hàng mặc áo đuôi tôm; và sau đó là—vô số thợ may nữ. Những người từ Nam Kensington lái xe đến bằng một chiếc xe thuê; quan chức thì có một đôi ngựa tía; trái lại, các bá tước được phép có một người hầu đứng bám đằng sau; các công tước có hai người, còn các vương tôn công tước—tôi nghe người ta bảo thế—có ba người; tao đoán là nhà vua muốn bao nhiêu người tùy thích. Thế mà người ta lại tin sái cổ vào những thứ đó!”

Ở chốn này, dường như người dân nước Anh hẳn phải được nặn hình hài giống như vua chúa, hoàng hậu, quân mã và quân tốt trên bàn cờ vậy, bởi sự khác biệt giữa họ thật kỳ lạ, thật rõ nét và được tin tưởng một cách mù quáng đến thế.

Họ phải tách nhau ra để lách qua một đám đông.

“Họ tin vào Thượng Đế,” Rachel nói khi họ nhập lại cùng nhau. Ý cô là những người trong đám đông đó tin vào Ngài; bởi cô nhớ đến những cây thánh giá với các pho tượng thạch cao đẫm máu dựng ở những ngã rẽ đường mòn, cùng mầu nhiệm khôn thấu của một buổi lễ trong nhà thờ Công giáo La Mã.

“Chúng ta sẽ chẳng bao giờ hiểu nổi đâu!” cô thở dài.

Họ đã đi được một quãng và giờ trời đã tối hẳn, nhưng họ có thể nhìn thấy một cánh cổng sắt lớn cách đó không xa bên phía tay trái.

“Ý cháu là đi thẳng vào khách sạn luôn à?” Helen hỏi.

Rachel đẩy cánh cổng; nó bật mở, và thấy chẳng có ai xung quanh cùng với phỏng đoán rằng ở xứ sở này chẳng có thứ gì là tư gia cả, họ cứ thế đi thẳng vào. Một hàng cây chạy dọc con đường thẳng tắp. Hàng cây đột ngột kết thúc; con đường cua ngoặt một góc, và họ thấy trước mặt mình là một tòa nhà vuông vức lớn. Họ đã bước ra khoảng sân rộng chạy quanh khách sạn và chỉ cách những khung cửa sổ có vài bước chân. Một dãy cửa sổ dài mở gần sát mặt đất. Tất cả đều không có rèm che, và đều được thắp sáng rực rỡ, nhờ vậy họ có thể nhìn thấu mọi thứ bên trong. Mỗi ô cửa sổ hé lộ một góc đời sống khác nhau của khách sạn. Họ lùi vào một trong những khoảng bóng râm rộng ngăn cách các ô cửa sổ và dán mắt nhìn vào.

Họ nhận ra mình đang đứng ngay bên ngoài phòng ăn. Căn phòng đang được quét dọn; một người hầu bàn đang ăn một chùm nho với một chân vắt lên góc bàn. Ngay bên cạnh là nhà bếp, nơi người ta đang rửa bát đĩa; những đầu bếp da trắng đang nhúng tay vào các thùng nước lớn, trong khi đám hầu bàn ngấu nghiến bữa ăn bằng nhữngScraps thức ăn thừa, dùng vụn bánh mì để vét sạch nước sốt. Đi tiếp thêm một đoạn, họ bị lạc vào một khu lùm cây, rồi bất chợt nhận ra mình đang đứng bên ngoài phòng khách, nơi các quý ông quý bà, sau khi đã thưởng thức bữa tối ngon lành, ngả người trên những chiếc ghế bành sâu thẳm, thỉnh thoảng trò chuyện hoặc lật giở các trang tạp chí. Một người phụ nữ gầy gò đang lướt ngón tay lên xuống phím đàn piano.

“Thuyền dahabeeyah là gì vậy con, Charles?” giọng nói rõ mồn một của một góa phụ ngồi trên chiếc ghế bành cạnh cửa sổ cất lên hỏi con trai mình.

Đó là đoạn kết của bản nhạc, và câu trả lời của anh ta đã chìm đi trong tiếng khằng hắng chung và tiếng vỗ đầu gối của mọi người.

“Toàn người già trong căn phòng này,” Rachel thì thầm.

Lẻn đi tiếp, họ thấy ô cửa sổ tiếp theo hé lộ hai người đàn ông tay áo sơ-mi xắn cao đang chơi bida với hai thiếu nữ.

“Anh ấy cấu tay em!” cô thiếu nữ mũm mĩm kêu lên khi đánh hụt bóng.

“Này hai người—đừng có đùa giỡn nữa,” chàng thanh niên mặt đỏ bừng, người đang làm nhiệm vụ ghi điểm, quở trách họ.

“Cẩn thận kẻo bị phát hiện đấy,” Helen thì thầm, kéo tay áo Rachel. Do sơ ý, đầu Rachel đã nhô lên ngang tầm khung cửa.

Vòng qua góc tòa nhà, họ đến căn phòng lớn nhất trong khách sạn, có tới bốn ô cửa sổ và được gọi là Phòng Giải Lao, dẫu thực chất nó là một đại sảnh. Được trang hoàng bằng áo giáp và đồ thêu thổ phán, bày biện bằng những chiếc ghế bành dài và bình phong che khuất những góc khuất tiện lợi, căn phòng này bớt câu nệ hơn những phòng khác và rõ ràng là tụ điểm của giới trẻ. Signor Rodriguez, người mà họ biết là quản lý khách sạn, đang đứng ngay gần họ ở cửa ra vào để quan sát khung cảnh—các quý ông đang ngả ngốn trên ghế, những cặp đôi đang cúi sát bên tách cà phê, ván bài ở chính giữa dưới những chùm đèn điện san sát. Ông ta đang tự mãn về sáng kiến đã biến phòng ăn đạm bạc, một căn phòng đá lạnh lẽo với những chiếc vạc đặt trên giá đỡ, thành căn phòng thoải mái nhất trong nhà. Khách sạn rất đông khách, và điều đó chứng minh sự khôn ngoan của ông trong việc ban hành sắc lệnh rằng không một khách sạn nào có thể thịnh vượng nếu thiếu đi phòng giải lao.

Mọi người tản mác thành từng cặp hoặc từng nhóm bốn người, và hoặc là họ thực sự quen thân hơn, hoặc không gian thoải mái của căn phòng khiến cung cách của họ trở nên dễ dãi hơn. Xuyên qua ô cửa sổ mở vang lên một thứ âm thanh rì rầm ngắt quãng giống như tiếng vọng từ một bầy cừu bị nhốt trong rào vào lúc chạng vạng. Nhóm chơi bài chiếm vị trí trung tâm ngay trước mắt họ.

Helen và Rachel đứng ngắm họ chơi bài suốt mấy phút liền mà không thể phân biệt nổi một từ nào. Helen đang chăm chú quan sát một trong những người đàn ông. Anh ta là một người đàn ông gầy gò, có vẻ hốc hác trạc tuổi cô, có góc nghiêng khuôn mặt quay về phía họ, và anh ta là bạn cặp của một cô gái má hồng phúng phính, rõ ràng là người Anh chính gốc.

Bất chợt, theo cái cách kỳ lạ mà một số từ ngữ tự tách mình ra khỏi phần còn lại, họ nghe thấy anh ta nói rành mạch rằng:

“Tất cả những gì cô cần là luyện tập, cô Warrington ạ; lòng dũng cảm và sự luyện tập—thiếu một trong hai thì chẳng làm được trò chiến gì.”

“Hughling Elliot! Chắc chắn là anh ta rồi!” Helen thốt lên. Cô lập tức rụt đầu lại, bởi nghe thấy tên mình, anh ta ngẩng đầu lên. Trò chơi tiếp tục diễn ra trong vài phút, rồi bị gián đoạn bởi sự xuất hiện của một chiếc xe lăn chở một bà lão to lớn đang dừng lại bên bàn và cất giọng:

“Tối nay vận may khá hơn chứ, Susan?”

“Mọi sự may mắn đều về phía chúng cháu cả,” một thanh niên nãy giờ vẫn quay lưng về phía cửa sổ lên tiếng. Anh ta trông có vẻ hơi mập mạp và có mái tóc dày.

“May mắn á, anh Hewet?” bạn cặp của anh ta, một phụ nữ trung niên đeo kính, lên tiếng. “Tôi đảm bảo với bà Paley rằng, thành công của chúng tôi hoàn toàn là nhờ lối chơi xuất sắc đấy.”

“Trừ khi đi ngủ sớm, bằng không tôi chẳng tài nào chợp mắt nổi,” người ta nghe thấy bà Paley giải thích, như thể để biện minh cho việc bà túm lấy Susan, người đang đứng dậy và tiến đến đẩy chiếc xe lăn về phía cửa.

“Họ sẽ tìm người khác thay thế cháu thôi,” cô nói một cách vui vẻ. Nhưng cô đã đoán sai. Chẳng có nỗ lực nào được thực hiện để tìm kiếm một người chơi khác, và sau khi chàng thanh niên kịp dựng lên ba tầng của một ngôi nhà bằng bài thì nó đổ sụp xuống, những người chơi tản đi theo các hướng khác nhau.

Ông Hewet quay hẳn mặt về phía cửa sổ. Họ có thể thấy anh ta có đôi mắt to bị che khuất bởi cặp kính; làn da hồng hào, môi không để râu; và giữa những người bình thường, trông anh ta có một khuôn mặt đầy thú vị. Anh ta đi thẳng về phía họ, nhưng đôi mắt không hề dán vào những kẻ nghe lén mà lại hướng về một góc nơi tấm rèm cửa đang rủ xuống những nếp gấp.

“Ngủ gục rồi à?” anh ta nói.

Helen và Rachel giật mình khi nghĩ rằng có ai đó đã ngồi gần họ mà nãy giờ không hề bị phát hiện. Có những đôi chân đang ẩn khuất trong bóng râm. Một giọng nói sầu muộn cất lên từ phía trên họ.

“Hai người đàn bà,” giọng nói đó vang lên.

Tiếng giày dép xạo xạc vang lên trên nền sỏi. Hai người phụ nữ đã chuồn thẳng. Họ cắm cổ chạy cho đến khi chắc chắn rằng chẳng có ánh mắt nào có thể xuyên thủng bóng đêm và khách sạn lúc này chỉ còn là một cái bóng vuông vức đằng xa, với những ô cửa đỏ rực được cắt gọt đều đặn trên đó.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.