Chuyến Hải Trình Ra Khơi

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 23

❊ ❊ ❊

Tuy nhiên, không một nét cọ nào có thể xóa sạch hoàn toàn vẻ hạnh phúc trên khuôn mặt họ, khiến bà Ambrose không thể đón tiếp họ khi bước xuống nhà như thể họ vừa trải qua một buổi sáng có thể bàn luận một cách tự nhiên. Thấy vậy, bà đành hùa theo âm mưu chung của thế giới, coi họ trong lúc này là những kẻ tạm thời mất khả năng tham gia vào công việc thường nhật của cuộc đời, bị cảm xúc mãnh liệt của họ đánh gục thành sự thù địch với cuộc sống, và rồi bà suýt chút nữa đã gạt bỏ được họ khỏi tâm trí mình.

Bà tự nhủ rằng mình đã làm tất cả những gì cần thiết trong các vấn đề thực tế. Bà đã viết rất nhiều thư và nhận được sự đồng thuận của Willoughby. Bà đã nhắc đi nhắc lại quá nhiều lần về tương lai của ông Hewet, về nghề nghiệp, gia thế, diện mạo cùng tính cách của ông, đến mức bà suýt quên mất thực chất ông là người thế nào. Khi tự làm mới mình bằng một cái nhìn vào ông, bà lại tự hỏi không biết thực ra ông trông ra sao, rồi đi đến kết luận rằng dẫu sao thì họ cũng đang hạnh phúc, và chẳng nghĩ ngợi gì thêm nữa.

Có lẽ bà sẽ khôn ngoan hơn nếu cân nhắc điều gì sẽ xảy ra trong ba năm tới, hoặc chuyện gì có thể đã xảy ra nếu Rachel được để cho tự mình khám phá thế giới dưới sự dìu dắt của cha cô. Bà thành thật thừa nhận rằng kết quả có lẽ đã tốt hơn—ai mà biết được? Bà không hề che giấu bản thân việc Terence có những khiếm khuyết. Bà có xu hướng cho rằng anh quá dễ dãi và khoan dung, cũng như anh có lẽ có xu hướng cho rằng bà hơi cứng nhắc một chút—không, đúng hơn là bà vốn không chịu thỏa hiệp. Về một số mặt, bà thấy St. John dễ chịu hơn; nhưng dĩ nhiên, anh ta thì không bao giờ có thể hợp với Rachel. Tình bạn của bà với St. John đã được thiết lập vững chắc, bởi mặc dù bà cứ dao động giữa sự bực bội và niềm hứng thú theo một cách thể hiện sự thẳng thắn đáng khen trong tính cách của mình, nhìn chung bà vẫn thích bầu bạn với anh. Anh đưa bà thoát khỏi thế giới nhỏ bé ngập tràn tình yêu và cảm xúc ấy. Anh là người nắm bắt thực tế. Giả sử, chẳng hạn, nước Anh có động thái bất ngờ hướng tới một cảng biển vô danh nào đó trên bờ biển Maroc, St. John thừa biết ẩn ý đằng sau đó là gì, và việc nghe anh tranh luận cùng chồng bà về tài chính lẫn cán cân quyền lực mang lại cho bà một cảm giác vững chãi kỳ lạ. Bà tôn trọng những lập luận của họ dù không phải lúc nào cũng lắng nghe, giống như cách bà tôn trọng một bức tường gạch vững chắc, hay một trong những tòa nhà đô thị đồ sộ vốn chiếm phần lớn cảnh quan các thành phố của chúng ta, được xây đắp hết ngày này qua tháng khác, năm này qua năm khác bởi những đôi bàn tay vô danh. Bà thích ngồi lắng nghe, thậm chí còn cảm thấy hơi phấn chấn khi cặp đôi sắp cưới, sau khi bày tỏ rõ sự thiếu quan tâm tột độ, bèn lẻn ra khỏi phòng và bị bắt gặp đang ngắt cánh hoa trong vườn. Không phải bà ghen tị với họ, nhưng quả thực bà có ganh tỵ với tương lai lớn lao vô định đang trải dài trước mắt họ. Cứ trôi dạt từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác như thế, bà đã bước đến phòng ăn trên tay cầm đĩa hoa quả. Thỉnh thoảng bà dừng lại để nắn thẳng một ngọn nến đang uốn cong vì sức nóng, hoặc chỉnh sửa lại mấy chiếc ghế đang được xếp quá ngay ngắn. Bà có lý do để nghi ngờ rằng Chailey đã từng chèo lên tận đỉnh thang với một chiếc giẻ lau bụi ẩm trong lúc họ vắng nhà, và căn phòng từ dạo ấy chưa bao giờ lấy lại được vẻ nguyên trạng ban đầu. Trở lại phòng ăn lần thứ ba, bà nhận ra một trong những chiếc ghế bành nay đã có St. John ngồi. Anh ngả người ra sau, đôi mắt nhắm hờ, trông vẫn như mọi khi, một cách kỳ lạ trông như được bọc kín trong bộ com-lê xám lịch sự và được rào chắn cẩn thận trước sự dồi dào của một khí hậu xa lạ mà bất cứ lúc nào cũng có thể giở trò với anh. Ánh mắt bà dừng lại trên người anh thật dịu dàng rồi lướt qua đỉnh đầu anh. Cuối cùng, bà chọn chiếc ghế đối diện.

– Tôi vốn chẳng muốn đến đây chút nào, – cuối cùng anh cất lời, – nhưng tôi thực sự bị dồn ép đến đường cùng... Evelyn M., – anh rên rỉ.

Anh ngồi thẳng dậy, và bắt đầu giải thích với vẻ trang nghiêm giả tạo rằng người đàn bà đáng ghét ấy cứ quyết tâm bắt lấy anh cho bằng được.

– Cô ta cứ bám theo tôi khắp nơi. Sáng nay cô ta lại xuất hiện ở phòng hút thuốc. Tất cả những gì tôi có thể làm là vơ lấy mũ và chuồn thẳng. Tôi không muốn đến đây, nhưng tôi không thể tiếp tục ở lại để đối mặt với một bữa ăn khác cùng cô ta được nữa.

– Chà, chúng ta đành phải cố gắng chịu đựng thôi, – Helen đáp lại bằng giọng triết lý.

Trời rất nóng, và họ chẳng bận tâm đến việc cứ giữ im lặng bao lâu cũng được, thế nên họ lại ngả người ra ghế chờ đợi điều gì đó xảy ra. Chuông điểm giờ ăn trưa đã reo, nhưng trong nhà vẫn chẳng có tiếng động dịch chuyển nào. Có tin tức gì không? Helen hỏi; có gì trên báo không? St. John lắc đầu. Ồ có, anh có nhận được bức thư từ quê nhà, một bức thư từ mẹ anh, kể về vụ tự tử của cô hầu phòng. Cô ấy tên là Susan Jane, và chiều hôm ấy cô bước vào nhà bếp, nói rằng cô muốn nhờ đầu bếp giữ hộ tiền lương; cô có hai mươi bảng vàng. Sau đó cô ra ngoài để tự mua cho mình một cáiếc mũ. Cô trở về lúc năm giờ rưỡi và thông báo rằng mình đã uống thuốc độc. Họ chỉ vừa kịp đưa cô lên giường và gọi bác sĩ trước khi cô qua đời.

– Thế hả? – Helen gặng hỏi.

– Sẽ phải tiến hành một cuộc điều tra tử thi, – St. John nói.

Tại sao cô ấy lại làm vậy? Anh nhún vai. Tại sao người ta lại tự sát? Tại sao những kẻ thuộc tầng lớp hạ lưu lại làm những việc mà họ vẫn làm? Chẳng ai biết được cả. Họ ngồi lặng thinh.

– Chuông đã reo mười lăm phút rồi mà họ vẫn chưa xuống, – cuối cùng Helen lên tiếng.

Khi họ xuất hiện, St. John giải thích lý do tại sao anh buộc phải có mặt trong bữa trưa. Anh nhại lại giọng điệu hào hứng của Evelyn khi cô chặn anh lại ở phòng hút thuốc. “Cô ta nghĩ rằng chẳng có gì ly kỳ bằng toán học cả, thế nên tôi đã cho cô ta mượn một bộ sách dày cộp gồm hai tập. Sẽ rất thú vị để xem cô ta lĩnh hội được gì từ đó.”

Rachel lúc này đã có thể bật cười trước anh. Cô nhắc anh nhớ đến Gibbon; cô vẫn còn cất đâu đó cuốn thứ nhất; nếu anh đang đảm nhận việc giáo dục Evelyn, đó chắc chắn là phép thử; hoặc cô từng nghe nói rằng Burke, nhân vụ bạo loạn ở Mỹ—Evelyn nên đọc cả hai tác phẩm ấy cùng một lúc. Sau khi St. John đã bác bỏ luận điểm của cô và thỏa mãn cơn đói, anh tiếp tục kể cho họ nghe rằng khách sạn đang sôi sục vì những vụ bê bối, một số vụ kinh khủng nhất vừa xảy ra trong thời gian họ vắng mặt; quả thực anh rất hay để tâm nghiên cứu về tính cách con người.

– Chẳng hạn như Evelyn M.—nhưng chuyện đó được kể cho tôi trong vòng bí mật đấy nhé.

– Vớ vẩn! – Terence xem vào.

– Cậu cũng nghe chuyện về tội nghiệp Sinclair rồi chứ?

– Ồ, rồi, tớ nghe về Sinclair rồi. Cậu ta đã lui về mỏ của mình cùng một khẩu súng lục. Ngày nào cậu ta cũng viết thư cho Evelyn bảo rằng cậu ta đang nghĩ đến chuyện tự tử. Tớ đã trấn an cô ta rằng chưa bao giờ trong đời cậu ta lại hạnh phúc đến thế, và nhìn chung, cô ta cũng có vẻ đồng tình với tớ.

– Nhưng rồi cô ta lại vướng vào mối quan hệ rắc rối với Perrott, – St. John nói tiếp; – và từ những gì tôi tình cờ thấy ở hành lang, tôi có lý do để cho rằng mọi chuyện giữa Arthur và Susan không được suôn sẻ cho lắm. Có một ả đàn bà trẻ vừa mới tới từ Manchester. Theo tôi, nếu cắt đứt được thì là điều tốt nhất. Đời sống vợ chồng của họ quả thực quá khủng khiếp không dám nghĩ tới. Ồ, và tôi còn nghe rõ mồn một cụ già nhà Paley chửi thề những câu tệ hại nhất khi đi ngang qua cửa phòng ngủ của cụ. Người ta cho rằng cụ tra tấn cô hầu phòng của mình trong phòng kín—gần như chắc chắn là cụ có làm thế. Nhìn vào ánh mắt cụ là đủ biết.

– Khi bà tám mươi tuổi và bị chứng thống phong hành hạ, bà cũng sẽ chửi thề như một tên lính kỵ binh thôi, – Terence nhận xét. – Cậu sẽ vừa béo ú, vừa cáu kỉnh, vừa khó ưa cho mà xem. Cậu có hình dung ra hắn ta không—trọc lóc như một con chim rẽ, mặc một chiếc quần bằng vải may túi đựng bọt biển, đeo chiếc cà vạt chấm bi nhỏ xíu, và mang một cái bụng phệ?

Sau một khoảng lặng, Hirst nhận xét rằng còn một tội ác tày trời nữa chưa được kể. Anh hướng về phía Helen.

– Bọn họ vừa tống cổ ả lầu xanh đi rồi. Một đêm nọ trong lúc chúng ta đi vắng, lão ngốc Thornbury đó cứ lảng vảng ngoài hành lang đến tận khuya. (Chẳng ai thèm hỏi lão đang giở trò gì cả.) Lão nhìn thấy Signora Lola Mendoza, theo cách ả tự gọi mình, băng qua hành lang chỉ với chiếc áo ngủ trên người. Sáng hôm sau lão liền đem mối nghi ngờ của mình báo cho Elliot, kết quả là Rodriguez đã đến gặp mụ đàn bà đó và cho ả thời hạn hai mươi tư tiếng để cuốn gói khỏi nơi này. Dường như chẳng ai thèm kiểm chứng xem câu chuyện đó có thật hay không, hay hỏi xem Thornbury với Elliot là cái thá gì mà xen vào chuyện người khác; họ cứ thế một mình một chợ làm theo ý mình. Tôi đề nghị tất cả chúng ta cùng ký tên vào một bức Thư Vòng, kéo nhau đến gặp Rodriguez và yêu cầu điều tra rõ ràng sự việc. Phải làm gì đó chứ, anh chị không nghĩ vậy sao?

Hewet nhận xét rằng nghề nghiệp của người phụ nữ ấy là điều không có gì phải bàn cãi.

– Mặc dù vậy, – anh nói thêm, – thật là một điều đáng hổ thẹn cho tội nghiệp người phụ nữ ấy; chỉ là tôi không biết phải giải quyết thế nào...

– Tôi hoàn toàn đồng ý với anh, St. John, – Helen bỗng thốt lên. – Thật là quái đản. Sự ra vẻ đạo đức giả của người Anh khiến máu trong người tôi sôi lên sùng sục. Một kẻ phất lên nhờ buôn bán như ông Thornbury chắc chắn phải tồi tệ gấp đôi bất kỳ cô gái lầu xanh nào.

Bà tôn trọng đạo đức của St. John, điều mà bà đánh giá cao hơn nhiều so với bất kỳ ai khác, và giờ đây bắt đầu thảo luận với anh về những bước cần thực hiện để bảo vệ quan điểm đặc biệt của họ về lẽ phải. Cuộc tranh luận dẫn đến một số tuyên bố mang tính tổng quát vô cùng ảm đạm. Rốt cuộc họ là ai—họ có thẩm quyền gì—có sức mạnh gì chống lại khối lượng mê tín và dốt nát khổng lồ ấy chứ? Đương nhiên là do người Anh rồi; chắc chắn có điều gì đó sai quấy trong dòng máu Anh quốc. Cứ hễ gặp một người Anh thuộc tầng lớp trung lưu, bạn lại có ngay cảm giác ghê tởm không sao tả xiết; hễ nhìn thấy dãy nhà màu nâu nhô lên phía trên Dover là cảm giác ấy lại ùa về. Nhưng ngặt một nỗi, St. John nói thêm, bạn chẳng thể tin tưởng nổi mấy kẻ ngoại quốc này—

Họ bị cắt ngang bởi những âm thanh tranh cãi phát ra từ tận đầu bên kia bàn ăn. Rachel liền cầu cứu người dì.

– Terence bảo chúng ta phải đến uống trà với nhà Thornbury vì họ đã đối xử rất tử tế, nhưng cháu không tài nào hiểu nổi; thực ra, cháu thà để tay phải của mình bị cưa ra từng mảnh còn hơn—chỉ cần tưởng tượng thôi! ánh mắt của tất cả những người phụ nữ ấy nhìn vào mình kìa!

– Vớ vẩn, Rachel, – Terence đáp lại. – Ai thèm nhìn em cơ chứ? Em bị sự tự vanh chi phối mất rồi! Em là một con quái vật ngạo mạn! Chắc chắn là Helen phải dạy cho em biết đến giờ phút này rằng em chẳng phải là nhân vật có tầm quan trọng mảy may nào trên đời này cả—không đẹp, không ăn mặc đẹp, cũng chẳng nổi bật về sự tao nhã, trí tuệ hay tác phong. Một cảnh tượng bình thường hơn em, – anh kết luận, – ngoại trừ vết rách trên váy em, thì chưa từng thấy bao giờ. Dù sao thì, cứ ở nhà nếu em muốn. Anh đi đây.

Cô lại cầu cứu người dì. Không phải là chuyện bị người ta nhìn ngắm, cô giải thích, mà là những điều chắc chắn người ta sẽ bàn tán. Nhất là mấy người phụ nữ ấy. Cô thích phụ nữ, nhưng hễ dính đến chuyện tình cảm thì họ chẳng khác nào những con ruồi bâu trên cục đường. Họ chắc chắn sẽ tra khảo cô. Evelyn M. sẽ nói: “Cậu đang yêu à? Yêu thì có thích không?” Còn bà Thornbury—ánh mắt của bà ấy sẽ cứ liếc lên liếc xuống, liếc lên liếc xuống—cô chỉ nghĩ đến thôi đã thấy rợn cả người. Quả thực, sự rút lui khỏi thế giới bên ngoài kể từ khi đính hôn đã khiến cô trở nên nhạy cảm đến mức cô chẳng hề phóng đại chút nào.

Cô tìm được một đồng minh là Helen, người đang vừa thong thả ngắm nhìn tháp trái cây đủ màu sắc ở giữa bàn vừa bày tỏ quan điểm của mình về nhân loại. Không phải họ độc ác, hay cố ý gây tổn thương, hay thậm chí chính xác là ngu ngốc; nhưng bà luôn nhận thấy rằng một người bình thường có quá ít cảm xúc trong cuộc đời riêng của họ, nên mùi vị của nó trong cuộc đời kẻ khác chẳng khác nào mùi máu đối với mũi của một con chó săn khôn lọi. Càng nói càng hào hứng, bà tiếp tục:

– Hễ có chuyện gì xảy ra—có thể là một đám cưới, một đám sinh nhật, hay một đám tang—nói chung họ thích đám tang hơn—là mọi người đều muốn xúm lại nhìn bạn. Họ khăng khăng phải nhìn cho bằng được. Họ chẳng có gì để nói; họ chẳng thèm mảy may quan tâm đến bạn; nhưng bạn cứ phải đến dự bữa trưa, bữa trà hay bữa tối, và nếu không đi thì xác định là toi đời. Đó chính là mùi của máu, – bà tiếp tục; – tôi không trách họ; chỉ là họ đừng có hòng húp được máu của tôi nếu tôi còn biết điều đó!

Bà đảo mắt nhìn quanh như thể vừa triệu hồi một binh đoàn nhân loại, vừa thù địch vừa khó ưa, đang vây quanh chiếc bàn với những chiếc há hốc chờ thèm khát máu, khiến nơi đây trông giống như một hòn đảo nhỏ bé thuộc vùng đất trung lập nằm giữa lãnh địa của kẻ thù.

Những lời nói của bà đã đánh thức người chồng nãy giờ vẫn đang lẩm bẩm nhịp nhàng một mình, đảo mắt quan sát các vị khách, thức ăn và vợ mình với ánh mắt lúc thì u sầu, lúc lại dữ dội tùy theo vận mệnh của người thiếu nữ trong bài ballad của ông. Ông cắt ngang lời Helen bằng một tiếng phản đối. Ông căm ghét ngay cả vẻ bề ngoài của sự hoài nghi ở phụ nữ. “Vớ vẩn, vớ vẩn,” ông đột ngột nhận xét.

Terence và Rachel liếc nhìn nhau qua chiếc bàn ăn, điều đó có nghĩa là khi kết hôn họ sẽ không cư xử như thế đâu. Sự chen ngang của Ridley vào cuộc trò chuyện tạo ra một hiệu ứng kỳ lạ. Không khí lập tức trở nên trang trọng và lịch sự hơn hẳn. Sẽ là bất khả thi nếu cứ tiếp tục trò chuyện một cách quá thoải mái về bất cứ thứ gì xẹt qua trong đầu, hay thốt ra từ “gái lầu xanh” một cách tự nhiên như bất kỳ từ nào khác. Cuộc trò chuyện giờ đây xoay vòng quanh văn học và chính trị, và Ridley kể lại những câu chuyện về những nhân vật kiệt xuất mà ông từng quen biết thời trẻ. Kiểu trò chuyện ấy mang bản chất của một bộ môn nghệ thuật, và những câu chuyện cá nhân cùng sự suồng sã của đám trẻ tuổi bỗng chốc im bặt. Khi họ đứng dậy định đi, Helen dừng lại một phút, tì khuỷu tay lên bàn.

– Tất cả các cậu đã ngồi ở đây, – bà nói, – suốt gần một tiếng đồng hồ, mà chẳng ai thèm để ý đến những quả vả của tôi, hay những đóa hoa của tôi, hay cách ánh sáng chiếu qua, hay bất cứ thứ gì cả. Tôi không tham gia lắng nghe, bởi vì tôi bận ngắm nhìn các cậu. Các cậu trông thật đẹp đẽ; tôi ước gì các cậu cứ ngồi mãi như thế này suốt đời.

Bà dẫn đầu đi về phía phòng khách, nơi bà cầm lấy chiếc túi thêu và bắt đầu khuyên can Terence đừng đi bộ xuống khách sạn trong cái nắng oi ả này nữa. Nhưng bà càng khuyên, anh lại càng kiên quyết muốn đi. Anh trở nên bực bội và bướng bỉnh. Có những khoảnh khắc họ suýt ghét cả đối phương. Anh muốn gặp những người khác; anh muốn Rachel cùng đi để họ nhìn thấy cô đi cùng anh. Anh nghi ngờ rằng bà Ambrose lúc này sẽ tìm cách ngăn cản cô đi. Anh cảm thấy khó chịu trước không gian rộng rãi, râm mát và xinh đẹp này, cùng với Hirst đang nằm dài, buông thõng một cuốn tạp chí trên cổ tay.

– Tôi đi đây, – anh lặp lại. – Rachel không cần phải đi cùng nếu cô ấy không muốn.

– Nếu cậu đi, Hewet, tôi mong cậu hãy thăm dò về ả gái lầu xanh kia nhé, – Hirst nói. – Nghe này, – anh nói thêm, – tôi sẽ đi bộ cùng cậu nửa đoạn đường.

Trước sự ngạc nhiên lớn của mọi người, anh đứngm dậy, nhìn đồng hồ và nhận xét rằng, vì bây giờ đã qua nửa tiếng kể từ bữa trưa, các dịch vị dạ dày đã có đủ thời gian để tiết ra; anh đang thử nghiệm một chế độ, anh giải thích, bao gồm những khoảng vận động ngắn đan xen với những khoảng thời gian nghỉ ngơi dài hơn.

– Tôi sẽ quay lại lúc bốn giờ, – anh nói với Helen, – khi đó tôi sẽ nằm dài trên ghế sofa và thả lỏng hoàn toàn tất cả các cơ.

– Vậy là em đi đấy à, Rachel? – Helen hỏi. – Em không ở lại với chị sao?

Bà mỉm cười, nhưng trông có vẻ đượm buồn.

Bà đang buồn, hay thực ra bà đang cười? Rachel không tài nào đoán được, và cô thoáng cảm thấy vô cùng áy náy khi đứng giữa Helen và Terence. Sau đó cô quay đi, chỉ nói rằng cô sẽ đi cùng Terence, với điều kiện anh phải là người nói chuyện suốt dọc đường.

Một dải bóng râm hẹp chạy dọc theo con đường vốn đủ rộng cho hai người, nhưng lại không đủ chỗ cho ba người. Vì vậy St. John lùi lại phía sau cặp đôi một chút, và khoảng cách giữa họ cứ thế nới rộng dần theo từng bước chân. Vừa đi vừa cốt để tiêu hóa thức ăn, mắt thỉnh thoảng liếc nhìn chiếc đồng hồ trên tay, anh chốc chốc lại ngước lên nhìn hai con người đi phía trước. Trông họ thật hạnh phúc, thật gắn bó, dẫu rằng họ cũng đang bước đi sóng đôi giống như bao người khác. Thỉnh thoảng họ lại nghiêng nhẹ người về phía nhau và thì thầm điều gì đó mà anh nghĩ chắc hẳn phải rất riêng tư. Thực ra họ đang tranh cãi về tính cách của Helen, và Terence đang cố giải thích lý do tại sao thỉnh thoảng bà lại khiến anh bực mình đến thế. Nhưng St. John lại đinh ninh rằng họ đang nói những điều không muốn cho anh nghe, và điều đó khiến anh suy nghĩ về sự cô lập của chính mình. Những con người này đang hạnh phúc, và xét theo vài khía cạnh, anh khinh thường họ vì đã dễ dàng có được hạnh phúc đơn giản đến thế, nhưng xét theo những khía cạnh khác, anh lại ganh tỵ với họ. Anh nổi bật hơn họ rất nhiều, nhưng anh lại chẳng hề hạnh phúc. Chẳng ai thích anh cả; đôi khi anh còn nghi ngờ liệu ngay cả Helen có thích mình không. Sống đơn giản, có thể nói ra một cách giản dị những gì mình cảm nhận, mà không phải chịu đựng cái sự tự ý thức khủng khiếp luôn bủa vây lấy anh—cái thứ luôn bày biện khuôn mặt và lời nói của chính anh trong một chiếc gương soi suốt ngày đêm—điều đó chắc chắn đáng giá hơn bất kỳ món quà nào khác, bởi nó mang lại hạnh phúc cho con người. Hạnh phúc, hạnh phúc, hạnh phúc rốt cuộc là gì? Anh chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc cả. Anh nhìn thấu quá rõ những thói hư tật xấu, những sự dối trá và những vết rạn nhỏ nhặt trong cuộc đời, và khi đã nhìn thấy chúng, anh cho rằng việc lên tiếng chú ý đến chúng mới là thành thật. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là lý do tại sao mọi người thường không ưa anh, và phàn nàn rằng anh là kẻ vô tình và cay nghiệt. Quả thực họ chẳng bao giờ nói với anh những điều mà anh hằng mong được nghe, rằng anh thật tốt bụng, dễ mến và họ quý mến anh. Nhưng sự thật là một nửa những lời cay nghiệt mà anh thốt ra về họ xuất phát từ việc chính bản thân anh đang bất hạnh hoặc bị tổn thương. Dù vậy, anh thừa nhận rằng rất hiếm khi anh thổ lộ với ai rằng anh quan tâm đến họ, và mỗi khi tỏ ra biểu lộ tình cảm, anh thường cảm thấy hối hận ngay sau đó. Cảm xúc của anh về Terence và Rachel phức tạp đến mức anh chưa bao giờ có thể mở lời nói rằng anh cảm thấy vui mừng vì họ sắp kết hôn. Anh nhìn thấu quá rõ những khiếm khuyết của họ, và bản chất kém cỏi trong phần lớn tình cảm mà họ dành cho nhau, và anh dự đoán rằng tình yêu của họ sẽ chẳng kéo dài được lâu. Anh lại nhìn họ lần nữa, và một cách vô cùng kỳ lạ, bởi anh vốn quen nghĩ rằng mình chẳng bao giờ nhìn nhận rõ điều gì, dáng vẻ của họ bỗng lấp đầy tâm trí anh bằng một cảm xúc trìu mến giản đơn, trong đó phảng phất cả đôi chút xót xa. Rốt cuộc thì, những khía cạnh thiếu sót của con người có xá gì khi so sánh với những điểm tốt đẹp ở họ chứ? Anh tự nhủ giờ đây sẽ nói cho họ biết những gì mình cảm nhận. Anh rảo bước nhanh hơn và bắt kịp họ đúng lúc họ đến khúc cua nơi con ngõ nhỏ nhập vào con đường chính. Họ đứng khựng lại, bắt đầu trêu chọc anh và hỏi xem các dịch vị dạ dày đã—nhưng anh chặn họ lại và bắt đầu cất lời với giọng điệu rất nhanh và cứng nhắc.

– Cậu có nhớ buổi sáng sau buổi khiêu vũ không? – anh chất vấn. – Chính nơi này chúng ta đã ngồi đây, và các cậu nói những chuyện vớ vẩn, còn Rachel thì xếp những hòn đá thành từng đống nhỏ. Ngược lại, tôi đã được khai sáng toàn bộ ý nghĩa của cuộc đời chỉ trong một khoảnh khắc chớp nhoáng. – Anh khựng lại một giây, mím chặt môi thành một đường nhỏ. – Tình yêu, – anh nói. – Nó dường như giải thích cho mọi thứ. Thế nên, nhìn chung, tôi rất vui vì hai cậu sắp kết hôn. – Nói đoạn, anh quay phắt người lại một cách đột ngột, chẳng thèm nhìn họ lấy một cái, và lủi thủi đi bộ trở về biệt thự. Anh vừa cảm thấy phấn chấn lại vừa ngượng ngùng vì đã dám nói ra những điều mình thực sự cảm nhận như thế. Chắc là họ đang cười nhạo anh, chắc là họ nghĩ anh thật ngốc nghếch, và suy cho cùng, liệu anh đã thực sự nói ra đúng điều mình cảm nhận chưa?

Đúng là họ đã phì cười khi anh khuất dạng; nhưng cuộc tranh cãi về Helen vốn đang khá gay gắt bỗng chấm dứt, và họ trở nên bình yên, thân thiện với nhau hơn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.