Chuyến Hải Trình Ra Khơi

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Dù đêm qua có phần khó chịu với những trập trùng chòng chành và mùi mặn mòi của biển — và quả thực đúng là như vậy đối với một người như ông Pepper, kẻ thiếu thốn chăn gối cho chiếc giường của mình — thì bữa sáng sáng hôm sau lại mang một vẻ đẹp dịu dàng lạ lùng. Cuộc hải trình đã thực sự bắt đầu, khởi đầu thật êm đềm dưới vòm trời xanh thẳm và mặt biển phẳng lặng. Cảm giác về những nguồn năng lượng chưa được khai phá, về những lời chưa kịp nói, đã tô điểm cho khoảnh khắc ấy một ý nghĩa sâu sắc; để rồi tận những năm tháng sau này, toàn bộ chuyến đi có lẽ sẽ chỉ được thu gọn lại trong khung cảnh này, quyện lẫn với tiếng còi tàu hú vang trên sông từ đêm hôm trước.

Bàn ăn tràn ngập sắc màu vui tươi của táo, bánh mì và trứng. Helen chuyền lọ bơ cho Willoughby, và nhân cơ hội ấy, bà liếc nhìn ông rồi thầm nghĩ: "Thế mà cô ấy đã lấy anh, và chắc là cô ấy cũng hạnh phúc."

Bà chìm đà suy nghĩ quen thuộc, trôi dạt qua đủ mọi nỗi niềm đã quá đỗi thân thuộc, bắt nguồn từ mối thắc mắc từ xưa muôn thuở: rốt cuộc vì sao Theresa lại lấy Willoughby?

"Tất nhiên, ai cũng thấy rõ điều đó rồi," bà thầm nghĩ, ý chỉ ai cũng nhận ra ông là kẻ to cao, vạm vỡ, với giọng nói vang dội như sấm truyền, cùng một thứ quyền uy và nắm đấm của riêng mình; "nhưng..." — đến đây bà chuyển sang một màn phân tích sắc sảo về con người ông mà từ chính xác nhất để hình dung là "đa sầu đa cảm," ám chỉ rằng ông chẳng bao giờ đơn giản và thành thật với cảm xúc của chính mình. Chẳng hạn, ông rất hiếm khi nhắc đến người quá cố, nhưng lại tổ chức những ngày giỗ chạp với vẻ long trọng kỳ lạ. Bà thầm nghi ngờ ông từng gây ra những tội ác tày trời nào đó đối với con gái mình, cũng giống như bà vẫn luôn nghi ngờ việc ông hay bắt nạt vợ. Dĩ nhiên, Helen không khỏi đem số phận của bản thân ra so sánh với số phận của người bạn, bởi người vợ quá cố của Willoughby có lẽ là người phụ nữ duy nhất mà Helen gọi là bạn thân, và sự so sánh ấy thường trở thành đề tài muôn thuở trong các cuộc trò chuyện của họ. Ridley là một học giả, còn Willoughby là một doanh nhân. Ridley đang cho ra mắt tập sách thứ ba về Pindar đúng lúc Willoughby hạ thủy con tàu đầu tiên của mình. Họ xây một nhà máy mới ngay vào năm cuốn bình luận về Aristotle — phải thế không nhỉ? — xuất hiện tại Nhà xuất bản Đại học.

"Còn Rachel," bà nhìn cô bé, rõ ràng là muốn dứt điểm cuộc tranh luận vốn đang cân bằng đến mức nhàm chán ấy bằng cách khẳng định rằng Rachel chẳng thể nào sánh được với đám con của mình. Dù vậy, tất cả những gì bà thốt lên chỉ là: "Trông con bé thực sự chẳng khác nào đứa trẻ lên sáu," một nhận xét ám chỉ nét mặt mịn màng, không tỳ vết của cô gái chứ không mang ý chê bai gì khác; bởi nếu Rachel biết suy nghĩ, cảm nhận, cười đùa hay biết cách bộc lộ bản thân thay vì cứ nhỏ sữa từ trên cao xuống như để xem những giọt sữa tạo thành hình thù gì, thì có lẽ cô bé đã trở nên thú vị dẫu chẳng bao giờ thực sự xinh đẹp. Cô bé giống hệt mẹ mình, hệt như hình bóng phản chiếu dưới mặt nước hồ trong một buổi trưa hè tĩnh lặng giống đến từng đường nét rạng rỡ, ửng hồng của khuôn mặt đang cúi soi xuống đó.

Trong khi đó, bản thân Helen cũng đang lọt vào tầm ngắm, dẫu không phải từ phía một trong hai nạn nhân của bà. Ông Pepper đang ngắm nhìn bà; và những suy tư của ông, diễn ra trong lúc ông cắt bánh mì nướng thành từng thanh nhỏ rồi phết bơ thật gọn gàng, đã dẫn dắt ông qua một khoảng trời ký ức dài đằng đẵng. Một cái nhìn sắc bén đã xác nhận với ông rằng phán đoán tối qua của mình hoàn toàn chính xác: Helen là một người phụ nữ đẹp. Với vẻ điềm tĩnh, ông chuyền lọ mứt cho bà. Bà đang nói những điều nhảm nhí, nhưng cũng chẳng nhảm nhí hơn những gì người ta vẫn thường nói vào bữa sáng — khoảng thời gian mà sự tuần hoàn máu lên não, như ông đã từng nếm mùi cay đắng, rất dễ gây ra rắc rối. Ông tiếp tục nói "Không" với bà, như một nguyên tắc sống, bởi ông chẳng bao giờ nhượng bộ phụ nữ chỉ vì giới tính của họ. Và rồi, hạ mắt nhìn xuống đĩa ăn, ông chìm đắm vào dòng hồi ức. Ông đã không chịu kết hôn vì một lý do vô cùng chính đáng: ông chưa từng gặp được người phụ nữ nào khiến ông phải nể trọng. Bị buộc phải trải qua những năm tháng tuổi trẻ dễ mồ hôi hột tại một nhà ga xe lửa ở Bombay, ông chỉ toàn thấy phụ nữ da màu, phụ nữ trong quân ngũ, phụ nữ công chức; trong khi hình mẫu lý tưởng của ông phải là một người phụ nữ biết đọc tiếng Hy Lạp, nếu không thì chí ít cũng phải tiếng Ba Tư, sở hữu làn da trắng ngần không một tì vết, và am hiểu những vụn vặt ông lẩm bẩm trong lúc cởi quần áo. Cứ thế, ông đã vướng vào những thói quen mà ông chẳng mảy hổ thẹn chút nào. Mỗi ngày, ông dành vài phút ngẫu nhiên để học thuộc lòng một thứ gì đó; ông không bao giờ mua vé tàu mà quên ghi lại số sê-ri; ông dành tháng Giêng cho Petronius, tháng Hai cho Catullus, tháng Ba có lẽ cho những chiếc bình gốm Etruria; dù sao đi nữa, ông đã gặt hái được những thành tựu tốt đẹp ở Ấn Độ, và chẳng có gì phải hối tiếc trong cuộc đời ngoại trừ những khiếm khuyết căn bản mà không một người khôn ngoan nào lại đi tiếc nuối khi hiện tại vẫn nằm trong tầm tay. Nghĩ đến đó, ông ngẩng phắt lên và mỉm cười. Rachel bắt gặp ánh mắt của ông.

"Và chắc bây giờ ông đã nhai thứ gì đó đúng ba mươi bảy lần rồi phải không?" cô thầm nghĩ, nhưng miệng lại lịch sự cất lời: "Hôm nay đôi chân có đang làm phiền ông không thế, thưa ông Pepper?"

"Cả bả vai của tôi nữa chứ?" ông hỏi, cử động chúng với vẻ đầy đau đớn. "Sự mỹ lệ chẳng có chút tác dụng nào đối với axit uric mà tôi được biết," ông thở dài, đắm chìm nhìn qua ô cửa sổ tròn bên kia, nơi bầu trời và mặt biển hiện lên một màu xanh ngắt. Cùng lúc đó, ông lấy từ trong túi ra một cuốn sách nhỏ bìa da thuộc và đặt lên bàn. Nhận thấy rõ ràng ông đang khơi gợi sự chú ý, Helen liền hỏi tên cuốn sách. Bà nhận được câu trả lời; nhưng đồng thời cũng phải nghe một bài thuyết giáp dài dòng về phương pháp làm đường đúng đắn. Khởi đầu từ người Hy Lạp — những kẻ, theo lời ông, phải đối mặt với vô vàn khó khăn — ông tiếp tục sang người La Mã, rồi chuyển đến nước Anh với phương pháp đúng đắn mà chẳng mấy chốc lại biến thành phương pháp sai lầm, và khép lại bằng một cơn thịnh nộ lôi đình nhắm vào giới làm đường hiện đại nói chung, đặc biệt là những kẻ làm đường tại Công viên Richmond — nơi ông Pepper có thói quen đạp xe mỗi sáng trước bữa sáng — đến mức những chiếc thìa va vào tách cà phê kêu lanh keng, và phần ruột của ít nhất bốn chiếc bánh mì cuộn chất đống ngay cạnh đĩa của ông Pepper.

"Sỏi đá!" ông kết luận, đầy ác ý ném thêm một viên bánh mì vo tròn lên đống đó. "Đường sá ở nước Anh được tu sửa bằng sỏi! 'Chỉ cần một trận mưa lớn đầu tiên,' tôi đã bảo chúng nó rồi, 'là con đường của các người sẽ biến thành vũng lầy.' Hết lần này đến lần khác, lời tôi nói đã được chứng thực. Nhưng các người có nghĩ là chúng thèm lắng nghe khi tôi nói thế, khi tôi chỉ ra những hệ lụy, những hệ lụy đối với công quỹ, khi tôi khuyên chúng đọc Coryphaeus không? Không, thưa bà Ambrose, bà sẽ chẳng thể nào hình dung nổi sự ngu xuẩn của nhân loại cho đến khi bà ngồi vào một Hội đồng Khu phố!" Người đàn ông thấp bé chằm chằm nhìn bà bằng ánh mắt sục sôi năng lượng hung dữ.

"Tôi từng có gia nhân," bà Ambrose nói, thu hẹp ánh nhìn. "Và hiện tại tôi đang có một bảo mẫu. Cô ta cũng được coi là một phụ nữ tốt chán, nhưng lại khăng khăng bắt bọn trẻ nhà tôi phải cầu nguyện. Cho đến lúc này, nhờ sự chăm chút kỹ lưỡng của tôi, chúng vẫn tưởng Chúa là một dạng sinh vật giống hải mã; nhưng giờ mà tôi quay lưng đi một cái — Ridley," bà đột ngột xoay phắt người lại phía chồng, "chúng ta phải làm sao nếu về đến nhà mà bắt gặp chúng đang đọc kinh Lạy Cha?"

Ridley phát ra thứ âm thanh được ký hiệu là "Hừ." Nhưng Willoughby, kẻ mà nỗi khó chịu hiển hiện rõ qua từng cử động chòng chành của cơ thể khi lắng nghe, lúng túng lên tiếng: "Ôi dào, Helen, chút tôn giáo thì có hại gì ai chứ."

"Tôi thà để con cái mình nói dối còn hơn," bà đáp, và trong lúc Willoughby đang thầm nghĩ rằng cô em vợ của mình còn kỳ quặc hơn cả những gì ông từng nhớ, bà đẩy ghế đứng phắt dậy và bước thẳng lên lầu. Chỉ một giây sau, họ nghe tiếng bà gọi với xuống: "Ôi, nhìn kìa! Chúng ta ra tới biển rồi!"

Họ nối gót bà bước ra boong tàu. Toàn bộ khói bụi và những dãy nhà đã biến mất, con tàu giờ đây đang lênh đênh giữa một vùng biển rộng thênh thang, vô cùng trong trẻo và tươi mát dẫu hãy còn mờ nhạt trong ánh bình minh. Họ đã bỏ lại London phía sau với những vũng bùn nhơ nhớp của nó. Một đường viền bóng râm mỏng manh vắt ngang chân trời, mỏng đến mức thoạt nhìn khó lòng gánh nổi sức nặng của Paris, thế mà kinh đô ấy vẫn cứ an nhiên tựa lên đó. Họ đã được tự do khỏi những con đường, tự do khỏi loài người, và niềm hân hoan tột độ trước sự tự do ấy lan tỏa trong huyết quản của tất cả bọn họ. Con tàu đang vững chãi rẽ sóng vượt qua những con sóng nhỏ vỗ oàm oạp vào mạn tàu rồi tan bọt xèo xèo như nước sủi tăm, để lại một dải viền bọt trắng xóa ở cả hai bên mạn. Bầu trời tháng Mười nhạt nhòa phía trên mây mỏng giăng mờ như thể vệt khói bếp củi, và bầu không khí mặn mòi, sảng khoái đến kỳ lạ. Quả thực trời quá lạnh để có thể đứng yên một chỗ. Bà Ambrose luồn tay vào khuỷu tay chồng, và khi họ bước đi, qua cách chiếc má nghiêng ngả của bà ngước lên nhìn ông, người ta có thể thấy bà đang muốn thì thầm chuyện riêng tư. Họ đi thêm dã bước và Rachel trông thấy họ hôn nhau.

Cô cúi nhìn xuống lòng đại dương sâu thẳm. Trong khi mặt nước chỉ hơi xao động bởi sự lướt qua của con tàu Euphrosyne, thì phía dưới lại xanh thẳm và mờ ảo, càng xuống sâu lại càng mờ dần cho đến khi lớp cát ở tận đáy chỉ còn là một vệt nhạt nhòa. Người ta hầu như chẳng thể trông thấy những khung xương sườn đen đúa của những xác tàu đắm, hay những chiếc tháp xoắn ốc được tạo nên bởi tổ hang của loài lươn lớn, hay những con quái vật trơn tuột với đôi mình xanh mướt lướt qua lượn lại chớp nhoáng.

— "Và này Rachel, nếu có ai tìm bố, bố bận đến một giờ đấy nhé," bố cô nói, củng cố lời nói bằng một cú vỗ mạnh vào vai con gái như ông vẫn thường làm mỗi khi trò chuyện với con.

"Đến tận một giờ," ông nhắc lại. "Và con sẽ tự tìm cho mình việc gì đó để làm chứ, hả? Âm giai, tiếng Pháp, chút tiếng Đức nhỉ? Có ông Pepper kìa, kẻ am hiểu về các động từ tách biệt hơn bất cứ ai ở châu Âu đấy, hả?" rồi ông bỏ đi cười vang. Rachel cũng cười theo, quả thực cô vẫn luôn cười như thế từ thấu thuở nào cô có thể nhớ được, chẳng phải vì thấy nó buồn cười, mà vì cô ngưỡng mộ bố mình.

Nhưng đúng lúc cô đang quay người đi, có lẽ nhằm tìm kiếm việc gì đó để làm, cô đã bị chặn lại bởi một người phụ nữ to béo và lực lưỡng đến mức việc chạm trán mụ là điều không thể tránh khỏi. Dáng đi rón rén đầy dò dở của mụ, kết hợp cùng chiếc váy đen giản dị, cho thấy mụ thuộc tầng lớp hạ lưu; thế nhưng mụ vẫn thủ thế vững chãi như một hòn đá, đảo mắt quan sát xung quanh để chắc chắn không có bậc quyền quý nào lảng vảng gần đó trước khi cất lời truyền đạt thông điệp, vốn liên quan đến tình trạng của những chiếc ga giường và mang một vẻ nghiêm trọng tột cùng.

"Làm sao mà chúng ta có thể qua nổi chuyến hải trình này đây, cô Rachel, tôi thực sự không tài nào tưởng nổi," mụ mở lời bằng một cái lắc đầu nguầy nguẩy. "Ga giường chỉ vừa đủ dùng cho trọn bộ, thế mà chiếc của ngài chủ nhân lại bị mục một lỗ to tướng đến mức thọc cả ngón tay qua được. Còn cả những chiếc khăn trải giường nữa chứ. Cô có để ý đến mấy chiếc khăn trải giường không? Tôi tự nghĩ bụng nếu là người nghèo chắc họ cũng phải thấy xấu hổ thay. Chiếc mà tôi đưa cho ông Pepper thì hầu như chẳng đáng mặt để đắp cho chó... Không, thưa cô Rachel, chúng chẳng thể vá víu gì được nữa đâu; chỉ còn nước đem làm giẻ lau bụi thôi. Chà, có khâu rách cả tay đến tận xương đi chăng nữa thì công sức cũng sẽ đổ sông đổ biển ngay vào lần giặc giũ tiếp theo thôi."

Giọng mụ nghẹn ngào vì phẫn nộ như thể chực trào nước mắt.

Chẳng còn cách nào khác, cô đành phải xuống dưới để mục kích đống vải vóc chất cao như núi trên bàn. Bà Chailey săm soi từng chiếc ga giường như thể mụ tường tận tên tuổi, tính cách và "thân phận" của từng chiếc một. Vài chiếc dính vết ố vàng, số khác bị rách toạc thành những đường dài như thang dọc; thế nhưng dưới con mắt bình thường, trông chúng cũng chẳng khác mấy những chiếc ga giường vẫn thấy: rất lạnh lẽo, trắng phau, buốt giá và sạch sẽ không tì vết.

Đột nhiên, bà Chailey rời mắt khỏi chủ đề ga giường, dứt khoát gạt phắt nó sang một bên, nắm chặt hai tay lại đặt lên đống vải và lớn tiếng tuyên bố: "Và cô chẳng thể nào bắt một sinh linh sống trên đời này phải ngồi ở cái xó mà tôi phải ngồi được đâu!"

Bà Chailey được xếp ngồi trong một căn cabin tuy rộng rãi nhưng lại quá gần nồi hơi, khiến chỉ mới năm phút trôi qua là mụ đã nghe thấy trái tim mình "đập thình thịch," mụ phàn nàn, tay đặt lên ngực — một tình cảnh mà bà Vinrace, mẹ của Rachel, có nằm mơ cũng không bao giờ đời nào bắt người ta phải chịu đựng; bà Vinrace, người tường tận từng chiếc ga giường trong nhà và luôn đòi hỏi ở mỗi người khả năng tốt nhất họ có thể làm nhưng tuyệt đối không hơn thế.

Chuyện đổi cho mụ một căn phòng khác dễ như trở bàn tay, và vấn đề ga giường cũng được giải quyết một cách thần kỳ ngay tức khắc, hóa ra những vết ố cùng mấy đường rách toác ấy suy cho cùng vẫn cứu chữa được, thế nhưng —

"Dối trá! Dối trá! Dối trá!" nữ chủ nhân phẫn nộ thốt lên khi chạy vụt lên boong tàu.

Trong cơn thịnh nộ trước việc một người phụ nữ tuổi năm mươi lại cư xử chẳng khác nào trẻ con, chạy đi nịnh nọt một đứa con gái chỉ vì muốn được ngồi ở chỗ mình không được phép ngồi, bà chẳng thèm bận tâm đến trường hợp cụ thể đó nữa, mà lôi đống nhạc phổ ra, chẳng mấy chốc đã quên sạch sành sanh về mụ già cùng đám ga giường.

Bà Chailey gấp lại những chiếc ga giường của mình, nhưng biểu cảm trên mặt lại tố cáo một cõi lòng trống hoác. Thế giới giờ đây chẳng mảy may hoài niệm gì đến mụ, và một con tàu vốn chẳng phải là chốn bình yên để gọi là nhà. Khi những ngọn đèn được thắp lên từ hôm qua, và các thủy thủ nhào lộn lịch kịch trên đầu mụ, mụ đã khóc; chiều nay mụ cũng sẽ khóc; và ngày mai mụ lại khóc. Nơi đây chẳng phải là nhà. Trong lúc ấy, mụ bày biện những món đồ trang trí của mình vào căn phòng mà mụ đã giành được quá ư dễ dàng. Quả là những món đồ trang trí kỳ cục khi mang theo trong một chuyến hải trình — những chú chó sành sứ pug, bộ ấm chén thu nhỏ, những chiếc tách in nổi hoa văn huy hiệu của thành phố Bristol, những chiếc hộp đựng kẹp tóc khảm cỏ ba lá, những cái đầu linh dương bằng thạch cao đủ màu, cùng vô số bức ảnh nhỏ xíu chụp những người thợ thuyền lam lũ trong bộ cánh diện ngày Chủ nhật và những người phụ nữ bồng con thơ trắng phau. Nhưng có một bức chân dung đặt trong khung mạ vàng cần phải đóng một chiếc đinh lên tường, và trước khi tìm búa đinh, bà Chailey đeo kính vào rồi đọc dòng chữ viết tay nguệch ngoạc trên mảnh giấy dán ở mặt sau:

"Bức chân dung của phu nhân xin được gửi tặng Emma Chailey từ Willoughby Vinrace nhằm bày tỏ lòng biết ơn đối với ba mươi năm tận tụy phục vụ."

Những giọt nước mắt nhòe đi dòng chữ lẫn chiếc đầu đinh.

"Chừng nào tôi còn có thể làm điều gì đó cho gia đình ngài..." mụ lẩm bẩm trong lúc nện búam thì bỗng có tiếng gọi lảnh lót vang lên dọc hành lang:

"Bà Chailey! Bà Chailey!"

Chailey liền chỉnh đốn lại y phục, lấy lại nét mặt bình thản rồi mở tung cửa.

"Tôi đang gặp rắc rối lớn đây," bà Ambrose vừa nói, mặt đỏ bừng và thở không ra hơi. "Cô biết đám đàn ông rồi đấy. Ghế thì quá cao — bàn thì quá thấp — khoảng cách giữa sàn nhà và cửa ra vào thì lọtỏnỏn sáu inch. Cái tôi cần lúc này là một cái búa, một chiếc chăn cũ, và cô có sẵn thứ gì như một chiếc bàn bếp không? Dù sao đi nữa, vào đây xem này..." — bà vung tay mở toang cửa phòng khách của chồng mình, để lộ cảnh Ridley đang đi đi lại lại với vầng trán nhăn nhúm và phần cổ áo dựng ngược cả lên.

"Cứ như thể chúng cố tình bày ra để tra tấn tôi vậy!" ông kêu lên, khựng bặt lại. "Tôi lên chuyến hải trình này là để rước thấp khớp và viêm phổi về mình chắc? Thật tình, người ta cứ nghĩ Vinrace phải là kẻ khôn ngoan hơn thế chứ." Em yêu ạ — Helen lúc này đang quỳ sụp dưới gầm bàn — "em chỉ tổ làm mình luộm thuộm thêm thôi, chi bằng chúng ta hãy sớm thừa nhận một sự thật rằng mình bị kết án sáu tháng trời khốn khổ tột cùng. Đâm đầu lên đây ngay từ đầu đã là đỉnh cao của sự dại dột, nhưng giờ đã lỡ lên rồi thì tôi đoán mình cũng phải cắn răng chịu đựng như một đấng nam nhi thôi. Dĩ nhiên bệnh tình của tôi sẽ lại nặng thêm — tôi cảm thấy cơ thể còn tồi tệ hơn cả ngày hôm qua nữa, nhưng chúng ta chỉ có thể tự trách mình thôi, và ơn Chúa là lũ trẻ..."

"Tránh ra! Tránh ra! Tránh ra!" Helen hét lên, đuổi ông từ góc này sang góc kia phòng bằng một chiếc ghế trông chẳng khác nào đang xua một con gà lạc. "Tránh đường ra nào Ridley, chỉ nửa tiếng nữa là anh sẽ thấy nó đâu vào đấy thôi."

Bà tống cổ ông ra ngoài, và họ có thể nghe tiếng ông rên rỉ lẫn chửi rủa dọc theo lối hành lang.

"Tôi dám cá là ngài ấy không được khỏe cho lắm," bà Chailey vừa nói, nhìn bà Ambrose bằng ánh mắt đầy cảm thông trong lúc phụ giúp bê vác.

"Toàn là sách vở cả đấy," Helen thở dài, nhấc một chồng sách nặng trịch từ sàn nhà lên giá. "Tiếng Hy Lạp từ sáng đến tối. Chailey này, nếu mai sau cô Rachel có lấy chồng, hãy cầu trời cho con bé vớ được một kẻ không biết đến cả bảng chữ cái ABC."

Những khó khăn và trắc trở ban đầu — vốn thường khiến những ngày đầu tiên của một chuyến hải trình trở nên ảm đạm và thử thách sức chịu đựng — cuối cùng cũng đã qua đi, và những ngày tiếp theo trôi qua vô cùng êm ả. Tháng Mười đã tiến sâu, nhưng vẫn bừng lên một thứ hơi ấm bền bỉ khiến những tháng đầu hè bỗng trở nên non trẻ và đầyngông cuồng. Những dải đất đai rộng lớn giờ đây chìm dưới ánh nắng thu, và toàn bộ nước Anh, từ những hoang mạc trọc lóc cho đến những vách đá Cornish, đều được thắp sáng rực rỡ từ bình minh cho đến hoàng hôn, trải dài trong những sắc vàng, xanh lục và tím biếc. Dưới thứ ánh sáng huyền ảo ấy, ngay cả những mái nhà của các đô thị lớn cũng lấp lánh ánh kim. Trong hàng vạn mảnh vườn nhỏ xinh, muôn triệu đóa hoa đỏ thẫm đang bung nở rực rỡ, cho đến khi những bà cụ từng tỉ mỉ chăm bón chúng rón rén bước dọc theo lối đi với chiếc kéo trên tay, cắt phăng những thân cây mọng nước và đặt chúng lên những phiến đá lạnh ngắt trong ngôi nhà thờ làng. Vô số nhóm du khách dã ngoại lục đục kéo nhau về khi hoàng hôn buông xuống, trầm trồ: "Đã bao giờ có một ngày nào đẹp thế này chưa?" "Là do anh đấy," mấy chàng trai thì thầm; "Ôi, chính là anh đấy," mấy cô thiếu nữ đáp lời. Hầu như mọi người già và rất nhiều người bệnh đều được dìu ra khoảng không ngoài trời, dù chỉ độ một hai bước chân, để rồi cùng nhau tiên đoán những điều tốt đẹp về vận mệnh thế giới. Còn những lời thủ thỉ yêu đương được cất lên không chỉ giữa các cánh đồng ngô mà còn trong những căn phòng rực ánh đèn vàng, nơi khung cửa sổ mở hướng ra khu vườn, và những người đàn ông ngậm xì gà đặt nụ hôn lên mái tóc điểm bạc của người phụ nữ, thì nhiều không sao kể xiết. Có người bảo bầu trời chính là biểu tượng cho cuộc sống mai sau. Những chú chim đuôi dài kêu réo inh ỏi, tung cánh bay từ khu rừng này sang khu rừng khác với đôi mắt lấp lánh ánh vàng trên bộ lông vũ.

Thế nhưng, trong khi tất cả những điều ấy diễn ra trên đất liền, rất ít ai bận tâm đến biển cả. Họ cứ đinh ninh rằng biển lúc nào cũng phẳng lặng; và chẳng cần thiết phải thốt lên những lời như ở nhiều ngôi nhà khi tiếng dây leo cọ vào cửa sổ phòng ngủ, những cặp đôi trước khi hôn nhau phải thì thầm: "Hãy nghĩ đến những con tàu trong đêm nay," hay "Tạ ơn trời, tôi không phải là kẻ canh gác ngọn hải đăng!" Trong trí tưởng tượng của họ, những con tàu khi khuất dạng phía chân trời cũng tan biến đi như tuyết tan trong nước. Góc nhìn của người lớn thực ra cũng chẳng minh bạch hơn góc nhìn của lũ trẻ mặc quần bơi đang lon ton chạy ra vùng nước súp bọt dọc khắp các bờ biển nước Anh, tay múc từng xô nước đầy ắp. Chúng nhìn thấy những cánh buồm trắng hoặc những chùm khói lướt ngang đường chân trời, và nếu bạn bảo đó là vòi rồng hay những cánh hoa biển trắng phau, chúng cũng sẽ gật đầu đồng ý.

Ngược lại, những con người trên tàu cũng có một góc nhìn kỳ lạ không kém về nước Anh. Không những nó hiện lên trước mắt họ là một hòn đảo, và là một hòn đảo rất nhỏ, mà còn là một hòn đảo đang thu hẹp lại nơi con người bị giam cầm bên trong. Người ta hình dung họ thoạt đầu lúc nhúc như những con kiến vô định, gần như xô đẩy nhau rơi xuống vực thẳm; và rồi, khi con tàu rời xa, người ta lại hình dung ra những tiếng la ó vô ích, vì chẳng ai nghe thấy nên dần lịm tắt, hoặc bùng lên thành một cuộc ẩu đả. Cuối cùng, khi con tàu đã khuất hẳn tầm mắt khỏi đất liền, rõ ràng là người dân nước Anh đã trở hoàn toàn câm lặng. Căn bệnh ấy lan sang cả những vùng đất khác của Trái Đất; Châu Âu thu nhỏ lại, Châu Á thu nhỏ lại, Châu Phi và Châu Mỹ cũng thu nhỏ lại, cho đến khi người ta hoài nghi liệu con tàu có bao giờ còn đâm phải bất kỳ mỏm đá nhăn nheo bé nhỏ nào nữa hay không. Nhưng bù lại, một vẻ uy nghiêm vĩ đại đã phủ xuống con tàu; nó là cư dân của thế giới bao la — nơi có quá ít cư dân — rong ruổi suốt cả ngày trời băng qua một vũ trụ trống trải, với những tấm màn buông rủ trước và sau. Nó cô độc hơn cả đoàn lữ hành băng qua sa mạc; nó vô cùng kỳ bí, tự di chuyển bằng năng lượng của chính mình và được nuôi dưỡng bởi nguồn tài nguyên của chính nó. Biển cả có thể ban cho nó cái chết hoặc một niềm vui chưa từng có, mà chẳng một ai hay biết. Nó giống như một nàng dâu đang tiến về phía chú rể, một trinh nữ chưa từng được người đàn ông nào chạm đến; trong sức sống và sự tinh khôi, nó có thể ví như vạn vật mỹ lệ, bởi tự thân con tàu đã mang một sinh mệnh của riêng mình.

Quả thực, nếu không được ban phước bởi thời tiết thuận hòa, ngày xanh này nối tiếp ngày xanh khác êm ả, tròn trịa và không một tì vết, thì bà Ambrose chắc đã thấy buồn chán lắm rồi. Thế nhưng hiện tại, khung thêu của bà đã được dựng lên trên boong, kèm theo một chiếc bàn nhỏ bên cạnh đặt cuốn sách triết học bìa đen mở sẵn. Bà chọn một sợi chỉ từ cuộn rối đủ màu nằm trong lòng rồi cẩn thận thêu màu đỏ vào phần thân cây, hoặc màu vàng vào dòng thác nước cuồn cuộn. Bà đang thực hiện một bức họa lớn vẽ một con dòng sông nhiệt đới chảy qua khu rừng nhiệt đới, nơi những chú nai đốm sẽ thong thả gặm cỏ giữa vô vàn hoa trái, chuối, cam và những trái lựu khổng lồ, trong khi một bầy thổ dân khỏa thân đang phóng lao vút lên không trung. Giữa những mũi kim, bà ngước mắt sang một bên và đọc một câu văn bàn về Thực tại của Vật chất, hay Bản chất của Thiện. Xung quanh bà, những người đàn ông mặc áo len xanh đang quỳ cọ rửa sàn tàu, hoặc tì người lên lan can huýt sáo, và cách đó không xa ông Pepper đang ngồi cắt rễ cây bằng con dao nhỏ. Những người khác thì bận rộn ở các khu vực khác trên tàu: Ridley cặm cụi với tiếng Hy Lạp — ông chưa từng tìm thấy chốn dung thân nào vừa ý đến thế; Willoughby bận rộn với đống tài liệu, bởi ông tranh thủ chuyến hải trình để giải quyết cho xong số công việc đang ùn ứ; còn Rachel — Helen, giữa những câu văn triết học, thỉnh thoảng lại tự hỏi không biết Rachel đang làm gì với bản thân mình nhỉ? Bà lờ mờ định bụng sẽ sang ngó thử. Họ hầu như chẳng nói với nhau nổi hai câu kể từ tối hôm đó; họ vẫn lịch sự khi chạm mặt, nhưng hoàn toàn không có bất kỳ sự chia sẻ tâm sự nào. Rachel có vẻ hòa hợp với bố mình rất tốt — thậm chí còn tốt hơn mức mà Helen cho là phải phép — và cũng sẵn sàng để mặc Helen yên thân hệt như cách Helen mặc kệ cô.

Vào khoảnh khắc ấy, Rachel đang ngồi trong phòng mình và hoàn toàn chẳng làm gì cả. Khi con tàu đông đúc, căn phòng này mang một cái tên vô cùng kêu và là chốn lui tới của những bà cụ say sóng nặng, những người đành bỏ lại boong tàu cho đám trẻ. Nhờ có cây đàn piano cùng đống sách ngổn ngang dưới sàn, Rachel coi đây là phòng riêng của mình, và cô thường ngồi lỳ ở đó hàng giờ liền để chơi những bản nhạc cực khó, đọc một chút tiếng Đức, hoặc dăm ba chữ tiếng Anh khi hứng lên, và làm — đúng như lúc này — hoàn toàn chẳng làm gì cả.

Nền tảng giáo dục mà cô nhận được, kết hợp cùng bản tính lười biếng vốn có, dĩ nhiên là một phần nguyên nhân dẫn đến điều đó, bởi cô được giáo dục theo cái cách mà phần lớn các tiểu thư con nhà khá giả vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX vẫn được dạy dỗ. Những vị bác sĩ tử tế và các giáo sư già dịu dàng đã dạy cô nhữngh vỡ lòng của khoảng mười lĩnh vực tri thức khác nhau, nhưng họ thà ép cô đi qua một công việc khổ sai nào đó cho đến nơi đến chốn còn hơn là bảo tay cô đang bẩn. Một hay hai tiếng đồng hồ mỗi tuần trôi qua vô cùng êm ả, một phần nhờ vào những bạn học khác, phần vì cửa sổ nhìn ra mặt sau của một cửa hiệu, nơi những bóng người hiện lên phía sau ô cửa kính đỏ vào mùa đông, phần vì những tai nạn bất ngờ luôn chực chờ xảy ra khi có hơn hai người cùng ở trong một căn phòng. Nhưng chẳng có một môn học nào trên đời này mà cô nắm vững một cách chính xác. Tâm trí cô lúc bấy giờ y hệt như bộ óc của một người đàn ông thông thái vào đầu triều đại Nữ hoàng Elizabeth; cô sẵn sàng tin sái cổ bất cứ điều gì mình được bảo, và tự bịa ra lý do cho mọi điều mình nói. Hình thù của Trái Đất, lịch sử nhân loại, cách tàu hỏa vận hành hay tiền bạc được đầu tư ra sao, những bộ luật nào đang có hiệu lực, kẻ nào muốn thứ gì và vì sao chúng lại muốn thế, hay khái niệm sơ khai nhất về một hệ thống trong đời sống hiện đại — tất cả những điều đó chưa từng được bất kỳ vị giáo sư hay cô giáo nào truyền thụ cho cô. Thế nhưng hệ thống giáo dục này lại có một ưu điểm lớn. Nó chẳng dạy đến nơi đến chốn điều gì, nhưng cũng chẳng dựng lên bất kỳ vật cản nào trước bất kỳ tài năng thực thụ nào mà cô học sinh vô tình có được. Vốn có khiếu âm nhạc, Rachel không được phép học bất cứ thứ gì ngoài âm nhạc; và cô đã trở thành một kẻ cuồng tín về âm nhạc. Tất cả những năng lượng lẽ ra có thể dồn vào ngôn ngữ, khoa học hay văn học, những thứ lẽ ra có thể giúp cô kết bạn hay nhìn ngắm thế giới, lại tuôn trào thẳng vào âm nhạc. Nhận thấy các giáo viên của mình không đủ tầm, cô đã tự học lấy mọi thứ. Ở tuổi hai phần tư cuộc đời, cô am hiểu về âm nhạc chẳng kém gì người ta ở tuổi ba mươi; và có thể chơi đàn tốt hết mức mà tạo hóa cho phép — điều mà càng ngày càng rõ ràng rằng, đó là một sự ban phát vô cùng hào phóng. Nếu món quà đơn lẻ rõ rệt này được bao bọc xung quanh bởi những giấc mơ và ý tưởng mang mô típ kỳ quặc và ngớ ngẩn nhất, thì cũng chẳng ai hay biết.

Nền tảng giáo dục thông thường, hoàn cảnh sống của cô cũng chẳng có gì nổi trội. Cô là con một và chưa từng bị trêu chọc hay bắt nạt bởi những người anh chị em. Mẹ mất từ khi cô mới lên mười, hai người dì — các chị em gái của bố — đã nuôi nấng cô, và vì bầu không khí trong lành, họ sống trong một ngôi nhà thoải mái ở Richmond. Dĩ nhiên cô được nuôi dạy với sự chăm sóc quá mức, khi còn nhỏ là vì sức khỏe; còn khi đã là một thiếu nữ và người phụ nữ trẻ, đó là vì thứ mà thoạt nghe có vẻ hơi thô tục khi gọi là đạo đức của cô. Cho đến tận gần đây, cô vẫn hoàn toàn mù tịt về việc đối với phụ nữ, những thứ như thế vẫn tồn tại. Cô mò mẫm tìm kiếm tri thức trong những cuốn sách cũ, và nhặt nhạnh chúng thành từng mảng ghê rợn, nhưng bản chất cô vốn chẳng mải mê sách vở nên chẳng bao giờ bận tâm đến sự kiểm duyệt được thực hiện trước hết bởi các dì, và sau đó là bởi bố cô. Bạn bè lẽ ra đã có thể kể cho cô nghe nhiều điều, nhưng cô lại có rất ít bạn bè bằng tuổi — vì Richmond là một nơi khá bất tiện để ghé thăm — và ngẫu nhiên thay, người con gái duy nhất mà cô thân thiết lại là một kẻ cuồng tín tôn giáo, kẻ trong sự nồng nhiệt của sự thân mật thường chỉ nói về Chúa, và những cách tốt nhất để vác thập tự giá — một đề tài chỉ thỉnh thoảng mới thú vị đối với một người có tâm trí đã vươn đến những tầng cao khác vào những thời điểm khác.

Thế nhưng, khi đang nằm dài trên ghế, một tay gối sau đầu, tay kia nắm chặt lấy núm vịện trên tay vịnh, cô rõ ràng đang chìm đắm sâu sắc vào những suy ngẫm của mình. Nền tảng giáo dục đã để lại cho cô dư dả thời gian để suy tưởng. Đôi mắt cô dán chặt vào một quả bóng nhỏ trên lan can tàu đến mức cô sẽ giật mình và phát bực nếu có bất kỳ thứ gì tình cờ che khuất nó dẫu chỉ trong một giây. Cô bắt đầu những dòng suy tư của mình bằng một tràng cười phá lên, xuất phát từ bản dịch đoạn trích sau trong vở Tristan:

Trong nỗi kinh hoàng co ro

Che giấu nỗi hổ thẹn này

Đem cô dâu như xác khô

Trao tận tay người chú đây.

Thế có ngớ ngẩn không cơ chứ?

Cô thốt lên rằng nó thật ngớ ngẩn, rồi ném phắt cuốn sách đi. Tiếp đó, cô với lấy tập Thư từ của Cowper — cuốn kinh điển do bố cô chỉ định vốn làm cô chán ngấy, để rồi khi một câu văn tình cờ nhắc đến mùi hoa đậu chổi trong khu vườn của ông, cô bỗng liên tưởng ngay đến sảnh nhỏ ở Richmond ngập tràn hoa trong ngày tang lễ của mẹ, thứ hương thơm nồng nặc đến mức giờ đây bất kỳ mùi hương hoa nào cũng khơi lại cái cảm giác buồn nôn ghê rợn ấy; và cứ thế, cô trôi dạt từ cảnh tượng này sang cảnh tượng khác trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Cô thấy Dì Lucy đang cắm hoa trong phòng khách.

"Dì Lucy," cô bất chợt lên tiếng, "con không thích mùi hoa đậu chổi; nó cứ làm con nhớ đến đám tang."

"Nói nhảm gì thế, Rachel," Dì Lucy đáp; "đừng có thốt ra những điều ngớ ngẩn thế chứ con yêu. Dì luôn thấy đó là một loài cây đặc biệt vui tươi cơ mà."

Nằm dưới ánh nắng oi ả, tâm trí cô hoàn toàn hướng về tính cách của các dì, quan điểm sống cũng như cách họ sinh hoạt. Quả thực đây là một đề tài đủ sức ngốn hàng trăm buổi đi bộ buổi sáng quanh Công viên Richmond, lu mờ cả cây cối, con người và những chú nai. Tại sao họ lại làm những việc họ làm, họ cảm nhận ra sao, và tất cả những điều ấy rốt cuộc để làm gì? Một lần nữa, cô lại nghe thấy Dì Lucy trò chuyện với Dì Eleanor. Buổi sáng hôm đó, bà vừa đi tiếp chuyện để nhận xét về lý lịch của một người hầu: "Và dĩ nhiên, vào lúc mười rưỡi sáng, người ta phải mong đợi nhìn thấy cô hầu phòng đang quét dọn cầu thang chứ." Thật kỳ quặc! Kỳ quặc đến mức không thể diễn tả bằng lời! Nhưng cô chẳng thể tự lý giải nổi vì sao bỗng nhiên khi người dì cất lời, toàn bộ hệ thống mà họ đang sống lại hiện lên trước mắt cô như một thứ gì đó hoàn toàn xa lạ và khó hiểu, còn bản thân họ thì chẳng khác gì những chiếc ghế hay cái ô vứt lăn lóc đây đó chẳng vì lý do gì. Cô chỉ có thể thốt lên với tật ngập ngừng nho nhỏ của mình: "Dì có y-y-êu mến Dì Eleanor không hở Dì Lucy?" để rồi nhận lại từ người dì tiếng cười khúc khích lo lắng như tiếng gà kêu: "Con bé này, sao con lại hỏi những câu lạ lùng thế!"

"Yêu đến mức nào ạ? Yêu lắm không ạ?" Rachel gặng hỏi.

"Dì chưa bao giờ nghĩ đến chữ 'lắm' hay không cả," cô Vinrace đáp. "Nếu người ta đã quan tâm thì chẳng ai lại đi ngồi nghĩ xem 'lắm' hay thế nào đâu, Rachel ạ," câu nói nhắm thẳng vào cô cháu gái chưa từng mở lòng với các dì nồng nhiệt như họ hằng mong đợi.

"Nhưng con biết là dì quý con mà, phải không con yêu, vì con là con gái của mẹ con, nếu không vì lý do nào khác đi nữa, thì vẫn còn vô vàn lý do khác..." — và bà cúi người ôm hôn cô với chút xúc động, để rồi cuộc tranh luận lại bị đổ văng vãi khắp nơi chẳng khác nào một gáo sữa bị hất đổ.

Bằng những cách thức đó, Rachel đã chạm đến cái ranh giới của tư duy — nếu có thể gọi đó là tư duy — khi đôi mắt đăm đăm nhìn vào một quả bóng hay núm vịn và đôi môi ngừng hẳn việc mấp máy. Những nỗ lực của cô nhằm thấu hiểu chỉ mang lại tổn thương cho cảm xúc của người dì, và kết luận rút ra là tốt nhất đừng nên cố gắng làm gì. Cảm nhận điều gì đó quá sâu sắc chính là tạo ra một vực thẳm giữa bản thân với những người khác — những kẻ dẫu cũng cảm nhận sâu sắc nhưng lại theo một cách hoàn toàn khác. Tốt hơn hết là cứ chơi piano và quên đi tất cả những thứ còn lại. Một kết luận vô cùng dễ chịu. Hãy để những con người kỳ quặc ấy — các dì, nhà Hunt, Ridley, Helen, ông Pepper và hết thảy mọi người — trở thành những biểu tượng — mờ nhạt nhưng đầy phẩm giá, biểu tượng của tuổi già, tuổi trẻ, của tình mẫu tử, của uyên bác, và thường đẹp đẽ hệt như những người nghệ sĩ trên sân khấu. Hóa ra chẳng có ai thèm nói ra điều họ thực sự nghĩ, hay bàn về cảm xúc họ thực sự mang, nhưng đó chính là sứ mệnh của âm nhạc. Khi thực tại trú ngụ trong những gì người ta nhìn thấy và cảm nhận, chứ không phải nói ra, người ta hoàn toàn có thể chấp nhận một hệ thống nơi mọi thứ cứ xoay vòng tròn một cách vô cùng thỏa đáng đối với người khác, mà chẳng cần bận tâm suy nghĩ về nó quá nhiều, ngoại trừ việc coi nó như một điều gì đó kỳ lạ về mặt bề nổi. Chìm đắm trong âm nhạc, cô thản nhiên đón nhận số phận của mình, bùng lên trong cơn thịnh nộ có lẽ chừng nửa tháng một lần, rồi lại dịu xuống hệt như lúc này. Đan xen chặt chẽ trong sự hỗn độn đầy mơ mộng, tâm trí cô dường như hòa quyện, được mở rộng và dung hợp một cách tuyệt diệu với linh hồn của những thớ ván trắng ngà trên boong tàu, với linh hồn của đại dương, với linh hồn trong bản Op. 112 của Beethoven, thậm chí với cả linh hồn của tội nghiệp William Cowper đang ở Olney kia. Tựa như một chùm bông cỏ dại, nó hôn lên mặt biển, vút lên, rồi lại hôn lên lần nữa, cứ thế dập dờn vút lên và hôn để rồi cuối cùng khuất hẳn tầm mắt. Hành động vút lên và hạ xuống của chùm bông cỏ dại ấy được khắc họa qua cái gục đầu đột ngột về phía trước của chính cô, và khi nó khuất hẳn, cô đã chìm vào giấc ngủ.

Mười phút sau, bà Ambrose đẩy cửa bước vào và nhìn ngắm cô. Bà chẳng mấy ngạc nhiên khi thấy đây chính là cách mà Rachel trải qua những buổi sáng của mình. Bà đảo mắt nhìn quanh căn phòng, ngắm cây đàn piano, đống sách vở và sự bừa bộn tổng thể. Trước hết, bà đánh giá Rachel dưới lăng kính thẩm mỹ; nằm đó không tì vết phòng thủ, trông cô phảng phất giống như một nạn nhân rơi ra từ móng vuốt của loài chim săn mồi, nhưng xét dưới tư cách một người phụ nữ, một thiếu nữ tuổi hai mươi tư, cảnh tượng ấy lại gợi lên nhiều điều suy ngẫm. Bà Ambrose đứng trầm ngâm suy nghĩ ít nhất trong hai phút. Sau đó, bà mỉm cười, lặng lẽ quay người bước đi để tránh làm người đang ngủ thức giấc, và tránh đi sự ngượng ngùng khi phải cất lời giữa hai người.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.