Chuyến Hải Trình Ra Khơi

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chapter Xxvi

❊ ❊ ❊

Thêm hai hoặc ba tiếng đồng hồ nữa, ánh trăng vẫn xối xả tuôn rơi qua bầu không khí trống trải. Không bị mây che khuất, ánh trăng rọi thẳng xuống, phủ một lớp sương trắng giá lạnh trùm lên cả biển khơi lẫn mặt đất. Suốt những giờ ấy, sự tĩnh lặng chẳng hề bị phá vỡ, và chuyển động duy nhất xuất phát từ cành lá hơi lay động, để rồi những vệt bóng in trên khoảng đất trắng cũng khẽ dịch chuyển theo. Giữa chốn thâm nghiêm tịch mịch ấy, chỉ có duy nhất một âm thanh lọt vào tai: tiếng thở nhè nhẹ nhưng liên hồi, chẳng bao giờ dứt, dù cũng chưa từng cao lên hay hạ xuống. Nó vẫn tiếp diễn ngay cả khi lũ chim bắt đầu chuyền cành phấp phới, vang vọng bên dưới những tiếng hót mỏng manh đầu tiên của chúng. Nó kéo dài suốt những giờ phút phương đông ngả màu trắng xóa rồi hóa ửng hồng, khi một sắc xanh nhạt nhuốm lên bầu không khí, nhưng đến khi mặt trời mọc thì bặt hẳn, nhường chỗ cho những âm thanh khác.

Những thanh âm đầu tiên vang lên là tiếng khóc ngắc ngứ, có vẻ như tiếng của trẻ thơ hoặc của những kẻ cùng đinh nghèo khó, những con người kiệt quệ hay đang oằn mình trong đớn đau. Thế nhưng, khi vầng thái dương đã nhô lên khỏi đường chân trời, bầu không khí vốn mỏng manh và nhợt nhạt bỗng trở nên đậm đà, ấm áp hơn từng khoảnh khắc, và những thanh âm của sự sống cất lên bạo dạn hơn, ngập tràn lòng can đảm cùng uy lực. Dần dà, những làn khói bắt đầu quẩn quanh bay lên uốn lượn phía trên các mái nhà, rồi dày đặc dần cho đến khi tròn trịa và thẳng thớm như những cột trụ. Thay vì rọi vào những tấm rèm cửa sổ trắng ngà nhợt nhạt, ánh nắng nay chiếu thẳng lên những ô kính tối màu, ẩn chứa bên sau là cả một khoảng không sâu thẳm và rộng mở.

Mặt trời đã lên cao tự mấy tiếng đồng hồ, và chiếc vòm trời bao la đã được sưởi ấm trọn vẹn, lấp lánh những sợi nắng vàng mảnh mai, trước khi có bất kỳ ai ở khách sạn bước chân ra ngoài. Tòa nhà sừng sững sắc trắng hiện lên trong ánh sáng ban mai, nửa ngái ngủ với những tấm rèm đang buông xuống.

Khoảng chín giờ rưỡi, cô Allan chậm rãi bước vào sảnh, thong thả tiến đến chiếc bàn đặt những tờ báo buổi sáng, nhưng cô chẳng giơ tay lấy lấy một tờ; cô đứng lặng ngẩn ngơ, đầu hơi cúi gục xuống đôi vai. Trông cô già đi một cách lạ lùng, và từ dáng đứng có phần còng xuống cùng thân hình vạm vỡ ấy, người ta có thể mường tượng ra hình ảnh của cô khi tuổi già thực sự ghé đến: cô sẽ ngồi lì hết ngày này qua ngày khác trên chiếc ghế của mình, đôi mắt đờ đẫn nhìn thẳng vào khoảng không phía trước. Những vị khách khác bắt đầu bước vào phòng, lướt qua người cô, thế mà cô chẳng thèm cất lời hay ngước nhìn họ lấy một bận. Cuối cùng, như thể buộc phải làm một điều gì đó, cô ngồi phịch xuống ghế, lặng lẽ trân trân nhìn thẳng về phía trước. Sáng nay cô thấy mình già nua quá đỗi, lại vô tích sự đến cùng cực, cứ như thể cuộc đời cô là một chuỗi thất bại thảm hại, một hành trình nhọc nhằn lao tâm khổ tứ chẳng để làm gì. Cô chẳng màng thiết sống nữa, vậy mà lòng vẫn thừa nhận mình sẽ tiếp tục tồn tại. Cô vốn có sức vóc kiên cường nên chắc chắn sẽ sống đến tận tuổi cổ lai hy. Rất có thể cô sẽ thọ tới tám mươi, và giờ đây khi đã bước sang tuổi năm mươi, cô còn đúng ba mươi năm nữa để mà sống. Cô cứ lật đi lật lại đôi bàn tay trên đùi rồi đăm đăm ngắm nghía chúng: đôi bàn tay già nua đã nhọc nhằn bao năm vì cô. Mọi thứ dường như chẳng còn chút ý nghĩa nào; người ta vẫn cứ phải sống tiếp, dĩ nhiên là thế rồi... Cô ngẩng đầu lên và bắt gặp Mrs. Thornbury đang đứng cạnh mình, vầng trán hằn lên những nếp nhăn, đôi môi hé mở như chực chờ cất lời hỏi.

Cô Allan liền đáp lời trước.

“Vâng,” cô nói. “Cô ấy mất sáng nay rồi, từ hồi sáng sớm, tầm ba giờ.”

Mrs. Thornbury thốt lên một tiếng ngỡ ngàng, mím chặt môi, ngấn lệ dâng trào trong khóe mắt. Qua làn nước mắt, cô nhìn bao quát căn sảnh nay đang được dải nắng vàng trải rộng ôm trọn, ngắm nhìn những nhóm người đứng dửng dưng, phóng khoáng bên cạnh những chiếc ghế bành và bàn trà vững chãi. Trong mắt cô, họ trông thật hão huyền, giống như những kẻ vẫn phớt lờ trước hiểm họa về một vụ nổ kinh hoàng chực chờ châm ngòi ngay bên cạnh. Thế nhưng chẳng có vụ nổ nào cả, và họ vẫn cứ đứng đó bên những chiếc ghế, chiếc bàn. Mrs. Thornbury chẳng thèm nhìn họ nữa, mà xuyên thấu qua họ như thể họ chỉ là những bóng ma vô hình, cô nhìn thấy ngôi nhà, những con người trong đó, căn phòng, chiếc giường và hình hài người đã khuất đang nằm bất động trong bóng tối dưới lớp vải liệm. Cô tưởng chừng như mình có thể nhìn thấy người chết. Cô tưởng chừng như nghe được tiếng khóc than của những người ở lại.

“Họ đã lường trước điều này chứ?” cuối cùng cô cất lời hỏi.

Cô Allan chỉ biết lắc đầu.

“Tôi chẳng biết gì cả,” cô đáp, “ngoại trừ những gì người hầu của Mrs. Flushing kể lại. Cô ấy đã qua đời từ sáng sớm nay.”

Hai người phụ nữ trao nhau cái nhìn trầm ngâm đầy hàm ý. Rồi cảm thấy choáng váng đến kỳ lạ, lòng hoang mang chẳng biết bản thân đang tìm kiếm điều gì, Mrs. Thornbury chậm rãi bước lên lầu, lặng lẽ đi dọc theo những hành lang, ngón tay khẽ chạm vào bức tường như để dò dường lối đi. Mấy cô hầu phòng tất bật qua lại giữa các căn phòng, nhưng Mrs. Thornbury né tránh họ; cô hầu như chẳng nhìn thấy họ nữa; đối với cô, họ như đang thuộc về một thế giới khác. Cô thậm chí chẳng thèm ngẩng lên nhìn thẳng khi Evelyn chặn cô lại. Rõ ràng là Evelyn vừa mới khóc xong, và khi nhìn thấy Mrs. Thornbury, cô bé lại oà khóc nức nở. Cả hai dắt tay nhau nép vào hốc cửa sổ, lặng lặng đứng đó. Giữa những tiếng nấc nghẹn ngào của Evelyn, những từ ngữ rời rạc cuối cùng cũng cất lên thành lời. “Thật là tàn nhẫn,” cô bé nức nở, “thật quá ư nhẫn tâm—họ đã từng hạnh phúc biết bao.”

Mrs. Thornbury vỗ về bờ vai cô bé.

“Mọi chuyện thật cay đắng—quá đỗi cay đắng,” cô nói. Cô chững lại giây lát, phóng tầm mắt nhìn qua sườn đồi hướng về phía biệt thự nhà Ambroses; những ô cửa sổ đang bừng sáng rực rỡ dưới ánh mặt trời, và cô thầm nghĩ linh hồn người đã khuất đã rời khỏi những ô cửa sổ ấy ra sao. Một thứ gì đó vừa vĩnh viễn rời khỏi cõi đời này. Thế gian bỗng trở nên trống trải lạ lùng trong tâm trí cô.

“Thế mà càng có tuổi,” cô tiếp lời, ánh mắt ánh lên một vẻ rạng rỡ vượt qua cả thường ngày, “người ta lại càng thêm chắc chắn rằng mọi sự tồn tại đều có lý do của nó. Làm sao ta có thể sống tiếp nếu chẳng có nổi một lý do chứ?” cô hỏi.

Cô cất câu hỏi bâng quơ vào hư không, chứ không nhắm vào Evelyn. Những tiếng nấc của Evelyn dần dịu lại. “Chắc chắn phải có một lý do nào đó chứ,” cô bé nói. “Không thể chỉ là một tai nạn đơn thuần được. Dù đúng là một tai nạn—nhưng giá như nó đã không bao giờ xảy ra.”

Mrs. Thornbury thở dài não nuột.

“Nhưng chúng ta không được phép để tâm trí quẩn quanh những suy nghĩ ấy,” cô nói thêm, “và hãy cầu mong họ cũng đừng nghĩ ngợi nữa. Dù họ có làm gì đi chăng nữa thì kết cục vẫn thế mà thôi. Những căn bệnh quái ác ấy...”

“Chẳng có lý do gì sất—tôi không đời nào tin là có lý do nào hết!” Evelyn bỗng bùng nổ, cô bé giật mạnh tấm rèm cửa rồi buông tay để nó cuộn ngược lại với một tiếng lách cách nho nhỏ.

“Sao những chuyện thế này lại cứ xảy ra cơ chứ? Sao con người ta phải chịu đựng cơ cực? Thật lòng mà nói,” cô tiếp tục, hạ thấp giọng xuống một chút, “tôi tin chắc Rachel đang ở trên Thiên đàng, nhưng còn Terence thì...”

“Tất cả những điều này để làm gì cơ chứ?” cô gặng hỏi.

Mrs. Thornbury khẽ lắc đầu nhưng không đáp lời, cô siết nhẹ bàn tay Evelyn rồi tiếp tục bước đi dọc theo hành lang. Thôi thúc bởi một nỗi khát khao mãnh liệt muốn được nghe ngóng điều gì đó, dẫu chẳng biết rõ bản thân mong đợi điều gì, cô hướng thẳng về phía phòng của nhà Flushings. Khi vừa đẩy cửa bước vào, cô có cảm giác mình vừa cắt ngang một cuộc tranh cãi giữa hai vợ chồng. Mrs. Flushing đang ngồi quay lưng về phía ánh sáng, còn Mr. Flushing đứng gần đó, đang lớn tiếng biện bạch và cố thuyết phục vợ điều gì đó.

“À, Mrs. Thornbury đây rồi,” anh cất lời, giọng mang theo vẻ nhẹ nhõm phần nào. “Hẳn là cô đã nghe tin. Vợ tôi cứ dằn vặt rằng bản thân có phần chịu trách nhiệm trong chuyện này. Chính cô ấy đã giục giã tội nghiệp cô Vinrace tham gia chuyến thám hiểm. Tôi chắc chắn cô sẽ đồng ý với tôi rằng thật quá ư vô lý khi phải nghĩ quẩn như vậy. Chúng ta thậm chí còn chẳng biết—thực ra tôi thấy việc cô ấy nhiễm bệnh ở đó là điều khó có thể xảy ra. Những thứ bệnh tật ấy... Hơn nữa, cô ấy đã quyết tâm đi bằng được. Cô ấy sẽ đi bất chấp việc cô có rủ rê hay không, Alice ạ.”

“Đừng nói nữa, Wilfrid,” Mrs. Flushing nói, cô chẳng nhúc nhích cũng chẳng dời ánh mắt khỏi một điểm dưới sàn nhà. “Nói nhảm nữa để làm gì? Còn ích gì nữa...?” Cô lặng thinh.

“Tôi đến để hỏi xem,” Mrs. Thornbury vừa nói vừa hướng về phía Wilfrid, bởi nói chuyện với vợ anh ta lúc này chẳng khác nào nước đổ lá môn. “Anh có nghĩ chúng tôi có thể giúp được việc gì không? Cha của cô ấy đã đến chưa? Chúng tôi có thể đến thăm được không?”

Nguyện vọng lớn nhất trong tâm can cô lúc này là có thể làm một điều gì đó cho những con người bất hạnh ấy—được gặp họ—trấn an họ—giúp đỡ họ. Thật khủng khiếp khi phải đứng ngoài lề cách xa họ đến vậy. Nhưng Mr. Flushing lắc đầu; anh nghĩ rằng bây giờ thì chưa—có lẽ để đến lát sau hoặc hôm sau thì mới có thể giúp ích được gì. Ngay lúc ấy, Mrs. Flushing cứng đờ người đứng dậy, quay lưng về phía họ và bước sang căn phòng thay đồ đối diện. Trong từng bước đi của cô, người ta có thể thấy lồng ngực cô phồng lên rồi xẹp xuống chậm rãi. Nhưng nỗi đau đớn của cô lại diễn ra trong sự lặng câm. Cô khép sầm cánh cửa phía sau lại.

Khi chỉ còn lại một mình trong không gian riêng, cô siết chặt hai tay thành nắm đấm, rồi đấm thình thịch vào phần tựa lưng của một chiếc ghế. Trông cô chẳng khác nào một con dã thú đang bị thương. Cô căm ghét cái chết; cô nổi giận lôi đình, phẫn uất và căm phẫn tột độ trước cái chết, cứ như thể nó là một sinh linh bằng xương bằng thịt vậy. Cô cự tuyệt việc phải giao nộp những người bạn của mình cho tử thần. Cô nhất quyết không khuất phục trước cõi u minh và hư vô trống rỗng. Cô bắt đầu bước qua bước lại, hai tay siết chặt, chẳng màng lau đi những giọt nước mắt lăn dài như suối trên má. Cuối cùng cô ngồi phịch xuống, nhưng ý chí vẫn chưa hề đầu hàng. Trông cô thật bướng bỉnh và kiên cường khi đã ngừng khóc.

Trong căn phòng kế bên, trong lúc ấy, Wilfrid đang trò chuyện cởi mở hơn với Mrs. Thornbury khi bóng dáng vợ anh không còn ngồi đó nữa.

“Đó chính là cái tệ hại nhất ở những chốn thế này,” anh nói. “Người ta cứ cư xử cứ như thể mình đang ở nước Anh vậy, trong khi thực tế thì không phải. Bản thân tôi không mảy may nghi ngờ việc cô Vinrace đã nhiễm mầm bệnh ngay tại khu biệt thự. Chắc chắn cô ấy đã liều lĩnh dấn thân vào hiểm nguy hàng chục bận mỗi ngày, những thứ thừa sức mang lại cho cô ấy căn bệnh quái ác ấy. Thật nực cười khi cứ khăng khăng rằng cô ấy đã lây bệnh khi đi cùng chúng tôi.”

Nếu không vì lòng thương xót thành thực dành cho họ, chắc chắn anh đã cảm thấy bực dọc lắm rồi.

“Pepper bảo với tôi rằng,” anh tiếp lời, “cậu ta đã rời khỏi ngôi nhà vì thấy họ quá mức lơ đễnh, bất cẩn. Cậu ta bảo họ chẳng bao giờ rửa sạch rau củ đúng cách. Tội nghiệp họ thật! Đó là một cái giá quá đắt phải trả. Nhưng ngẫm lại thì tôi đã chứng kiến cảnh này hết lần này đến lần khác—người ta cứ hay quên bẵng đi rằng những chuyện thế này hoàn toàn có thể xảy ra, để rồi khi chúng giáng xuống đầu thì lại tỏ ra ngạc nhiên tột độ.”

Mrs. Thornbury đồng tình với anh rằng họ đã quá ư lơ đễnh, và chẳng có lấy một lý do nào để cho rằng cô bé đã nhiễm cơn sốt trong chuyến thám hiểm cả; và sau khi trò chuyện dăm ba câu chuyện khác thêm một lát, cô từ biệt anh rồi buồn bã bước dọc hành lang về phòng mình. Phải có một lý do nào đó giải thích cho việc những tai ương như thế này xảy ra chứ, cô tự nhủ thầm khi khép cửa lại. Chỉ có điều thoạt đầu chẳng dễ gì thấu hiểu được lý do ấy. Mọi thứ cứ sao mà kỳ lạ—sao mà khó tin đến thế. Sao cơ chứ, mới chỉ ba tuần trước thôi—mới hai tuần trước thôi, cô còn tận mắt nhìn thấy Rachel; thế mà lúc nhắm mắt lại, cô tưởng chừng như vẫn thấy hình bóng cô bé ở đó, một thiếu nữ trầm tính, e thẹn sắp sửa bước vào lễ đường thành hôn. Cô nghĩ về tất cả những điều tuyệt diệu mà mình sẽ phải luyến tiếc khôn nguôi nếu chẳng may qua đời ở độ tuổi của Rachel: những đứa con, đời sống hôn nhân, cùng những tầng sâu thăm thẳm và những phép màu không thể tưởng tượng nổi mà ngẫm lại, cô thấy chúng cứ hiện diện quanh mình qua từng ngày, qua từng năm tháng. Cảm giác chết trân từng khiến cô khó lòng suy nghĩ, nay dần nhường chỗ cho trạng thái hoàn toàn trái ngược; cô tư duy rất nhanh nhạy và rành mạch, rồi lật lại toàn bộ những trải nghiệm trong đời, cố gắng sắp xếp chúng vào một trật tự nhất định. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, cuộc đời dẫu lắm nỗi đau thương, nhiều phen vật lộn, nhưng nhìn chung, chắc chắn cán cân hạnh phúc vẫn chiếm phần hơn—rằng trật tự cuối cùng vẫn ngự trị. Thậm chí sự ra đi của những người trẻ tuổi chưa hẳn là điều bi thảm nhất trên đời—họ được tha thứ biết bao nỗi đoạn trường; họ giữ lại được biết bao điều nguyên vẹn. Những người đã khuất—cô thầm gọi tên những ai đoản mệnh qua đời vì tai nạn—đều thật đẹp đẽ; cô vẫn thường mơ về những người đã khuất. Rồi theo thời gian, chính Terence cũng sẽ nguôi ngoai và cảm nhận được điều đó... Cô đứng dậy và bắt đầu bồn chồn đi lại quanh phòng.

Đối với một phụ nữ ở tuổi cô, sự bồn chồn ấy quả là hiếm thấy, và đối với một người có tư duy nhạy bén, rành mạch như cô, nỗi hoang mang này lại càng lạ lùng hơn cả. Cô chẳng thể tập trung làm nổi việc gì, thế nên cô thấy vô cùng nhẹ nhõm khi cánh cửa bật mở. Cô bước đến bên chồng, ôm chầm lấy ông và hôn ông với một sự nồng nhiệt bất thường, rồi khi cả hai ngồi xuống cạnh nhau, cô bắt đầu vỗ về và dò hỏi ông cứ như thể ông là một đứa trẻ, một đứa trẻ già nua, mệt mỏi và hay càu nhàu. Cô chẳng hé răng nửa lời về cái chết của cô Vinrace, bởi điều đó chỉ khiến ông thêm bận lòng, trong khi tâm trạng ông vốn đã chẳng mấy vui vẻ. Cô tìm cách dò dẫm xem điều gì khiến ông thấp thỏm không yên. Lại chuyện chính trị đấy phỏng? Mấy kẻ gớm ghiếc ấy lại đang giở trò gì thế? Cô dành trọn cả buổi sáng để bàn chuyện chính trị với chồng, và rồi dần dà cô cũng thực sự bị cuốn vào những gì họ đang thảo luận. Thế nhưng chốc chốc, những lời cô thốt ra lại mang đến cho cô một cảm giác trống rỗng đến kỳ quặc chẳng rõ nghĩa gì.

Vào bữa trưa, nhiều người thì thầm bàn tán rằng những vị khách khứa ở khách sạn bắt đầu lục đục dọn đi; số lượng thưa thớt dần qua mỗi ngày. Phòng ăn chỉ còn vỏn vẹn bốn mươi người thay vì sáu mươi người như trước. Cụ bà Paley già nua đã đếm nhẩm như thế, đôi mắt nhạt nhòa đảo quanh khi cụ an vị tại chiếc bàn quen thuộc bên khung cửa sổ. Bàn của cụ thường có sự góp mặt của Mr. Perrott bên cạnh Arthur và Susan, và hôm nay có cả Evelyn dùng bữa cùng họ.

Cô bé hôm nay trầm tính một cách khác thường. Nhận thấy đôi mắt Evelyn đỏ hoe và đoán được nguyên nhân, những người còn lại liền cố gắng duy trì một cuộc trò chuyện màu mè, khách sáo giữa họ với nhau. Cô bé ráng chịu đựng cảnh đó trong dăm phút, hai khuỷu tay chống cọc lên mặt bàn và đĩa súp vẫn nguyên vẹn chưa hề đụng tới, rồi đột nhiên cô thốt lên:

“Em chẳng biết mọi người cảm thấy thế nào, chứ em thì chẳng thể tài nào nghĩ được đến chuyện khác nữa!”

Mấy vị nam nhân khẽ rên rỉ đầy thông cảm và bày tỏ vẻ mặt nghiêm nghị.

Susan đáp lời: “Vâng—chẳng phải là quá khủng khiếp hay sao? Khi nghĩ đến việc một cô gái đáng yêu nhường ấy—vừa mới đính hôn, thế mà lẽ ra chuyện này đã không bao giờ phải xảy ra—mọi thứ cứ như một tấn bi kịch.” Cô đưa mắt nhìn Arthur như thể mong anh cứu nguy bằng một lời bình luận nào đó hợp tình hợp lý hơn.

“Thật xui xẻo,” Arthur lỏn vỏn đáp gọn lỏn. “Nhưng đó là một việc làm quá ư dại dột—khi cứ đâm đầu ngược dòng con sông ấy.” Anh lắc đầu. “Lẽ ra họ phải thừa biết điều đó chứ. Em đâu thể kỳ vọng phụ nữ Anh quốc chịu đựng nổi sự gian khổ kham khổ như dân bản địa đã quen hơi thuộc địa hình được. Hôm đó khi mọi người đang bàn tán, anh suýt nữa thì lên tiếng cảnh báo họ rồi. Nhưng nói những chuyện thế này chẳng ích gì đâu—chỉ tổ làm người ta nổi khùng lên thôi—chẳng bao giờ thay đổi được kết cục nào cả.”

Cụ bà Paley từ nãy đến giờ vẫn đang mải mê với bát súp của mình, bèn ra hiệu bằng cách giơ một tay lên tai để tỏ ý muốn biết mọi người đang bàn tán gì.

“Thưa dì Emma, dì có hay tin cô Vinrace tội nghiệp đã qua đời vì căn bệnh sốt rồi không,” Susan dịu dàng thông báo. Cô không thể thốt lên hai từ ‘cái chết’ với âm lượng lớn hay thậm chí bằng giọng nói thường ngày của mình, thành thử cụ Paley chẳng nghe lọt một chữ nào. Arthur đành phải ra tay cứu giá.

“Cô Vinrace chết rồi ạ,” anh cất giọng vô cùng rành mạch.

Cụ Paley chỉ hơi rướn người về phía anh và hỏi, “Hả?”

“Cô Vinrace chết rồi,” anh lặp lại. Phải gồng cứng tất cả các cơ quanh miệng, anh mới ngăn nổi bản thân không phì cười, và đành ép mình lặp lại lần thứ ba, “Cô Vinrace... Cô ấy chết rồi.”

Chưa kể đến khó khăn trong việc nghe rõ từng từ, những sự việc nằm ngoài trải nghiệm thường ngày của cụ Paley phải mất một lúc mới ngấm được vào ý thức của cụ. Một khối nặng trĩu tựa như đang đè nặng lên đại não cụ, cản trở nhưng chưa đến mức làm tê liệt hoạt động của nó. Cụ ngẩn ngơ với đôi mắt vô hồn suốt ít nhất một phút đồng hồ trước khi thực sự ngộ ra ý của Arthur.

“Chết ư?” cụ ngơ ngác hỏi. “Cô Vinrace chết rồi ư? Ồ lạ chửa... thật là đáng tiếc. Nhưng hiện tại ta chẳng tài nào nhớ nổi cô ấy là ai nữa. Dường như chúng ta đã làm quen với quá nhiều gương mặt mới ở chốn này.” Cụ nhìn sang Susan tìm kiếm sự trợ giúp. “Một cô nàng cao gót, da ngăm đen, suýt chút nữa thì được coi là đẹp, với đôi má ửng hồng phải không?”

“Không ạ,” Susan chen vào. “Cô ấy là...” rồi cô đành tuyệt vọng bỏ dở câu nói. Chẳng ích gì khi cố giải thích rằng cụ Paley đang nhớ nhầm người.

“Lẽ ra nó không được phép chết mới phải,” cụ Paley tiếp tục lẩm bẩm. “Trông con bé khỏe mạnh thế cơ mà. Vậy mà người ta cứ thích uống thứ nước ở đó. Ta chẳng tài nào hiểu nổi tại sao nữa. Việc tự nhủ bản thân bỏ một chai nước Seltzer vào phòng ngủ hóa ra lại đơn giản thế cơ mà. Đó là tất cả những biện pháp phòng ngừa duy nhất mà ta từng áp dụng, dù ta đã đặt chân đến mọi ngóc ngách trên thế giới này, dám nói vậy lắm chứ—riêng nước Ý thì đến cả tá lần... Thế nhưng lũ trẻ tuổi lúc nào cũng tưởng mình cái gì cũng biết hay ho hơn, để rồi cuối cùng phải trả giá đắt. Tội nghiệp con bé—ta thấy tiếc cho nó lắm chứ.” Nhưng sự vất vả trong việc dòm ngó vào đĩa khoai tây và tự múc lấy phần ăn đã thu hút toàn bộ sự chú ý của cụ.

Cả Arthur và Susan đều thầm hy vọng chủ đề này cuối cùng cũng đã được khép lại, bởi đối với họ, việc cứ bàn tán mãi chuyện này mang đến một cảm giác chẳng mấy dễ chịu. Thế nhưng Evelyn không đời nào chịu bỏ qua dễ dàng thế. Tại sao người ta cứ mãi trốn tránh không chịu nói về những điều cốt lõi cơ chứ?

“Em không tin là anh mảy may quan tâm đâu!” cô nói, đột ngột quay sang trút giận lên Mr. Perrott, người từ nãy đến giờ vẫn lặng thinh ngồi đó.

“Tôi ư? Ồ, có chứ, tôi có quan tâm chứ,” anh luống cuống đáp lời, nhưng với một sự chân thành mười mươi không lẫn đi đâu được. Những câu hỏi của Evelyn cũng khiến anh cảm thấy bứt rứt không yên.

“Mọi thứ cứ khó hiểu làm sao,” Evelyn tiếp lời. “Cái chết ấy ý em là vậy. Tại sao người phải chết lại là cô ấy chứ không phải anh hay em? Mới chỉ hai tuần trước thôi, cô ấy vẫn còn ở đây cùng tất cả chúng ta cơ mà. Anh tin vào điều gì?” cô gặng hỏi Mr. Perrott. “Anh có tin rằng vạn vật vẫn tiếp diễn, rằng cô ấy vẫn đang tồn tại ở một nơi nào đó—hay anh nghĩ tất cả chỉ là một trò đùa rỗng tuếch—rằng chúng ta sẽ hóa thành cát bụi chẳng còn gì khi chết đi? Em dám chắc Rachel chưa hề chết.”

Mr. Perrott sẵn sàng thưa theo bất cứ điều gì mà Evelyn muốn nghe, nhưng việc khẳng định mình tin vào sự bất tử của linh hồn lại vượt quá khả năng của anh. Anh cứ thế ngồi lặng thinh, những nếp nhăn trên mặt hằn sâu hơn ngày thường, tay mải miết bóp vụn mẩu bánh mì.

Sợ rằng Evelyn tiếp tục truy vấn xem anh ta tin vào điều gì, Arthur bèn dừng lại đúng bằng nhịp của một dấu chấm hết, rồi khơi mào một chủ đề hoàn toàn khác hẳn.

“Giả sử nhé,” anh lên tiếng, “có một gã viết thư cho cậu bảo rằng hắn ta muốn xin năm bảng vì hắn từng quen ông nội cậu, thì cậu sẽ xử lý ra sao? Chuyện là thế này. Ông nội tớ vốn...”

“Từng phát minh ra một cái lò sưởi,” Evelyn cướp lời. “Em rành chuyện đó lắm. Nhà mình từng có một cái đặt trong phòng kính để giữ ấm cho lũ thực vật mà.”

“Không ngờ tiếng tăm của mình lại vang xa đến thế,” Arthur cười hề hề. “Thế này nhé,” anh tiếp tục, quyết tâm bằng mọi giá phải kéo dài câu chuyện của mình cho thật số lượng, “ông cụ nhà tớ, dẫu là một trong những nhà phát minh cự phách thứ nhì thời bấy giờ, đồng thời cũng là một luật sư tài năng, nhưng ngặt nỗi lại qua đời mà chẳng thề thốt hay để lại di chúc gì sủng ái ai, hệt như đa phần những bậc vĩ nhân khác. Hồi đó Fielding, tay thư ký của ông, chẳng hiểu vì lý do chính đáng nào mà cứ đinh ninh rằng ông cụ định dành cho hắn một chút quyền lợi. Giờ đây lão già tội nghiệp ấy vì mải mê tự mày mò nghiên cứu phát minh mà gia cảnh sạt nghiệp, phải trọ trỏ ở Penge ngay phía trên một tiệm bán thuốc lá. Tớ đã đích thân đến đó thăm lão rồi. Vấn đề đặt ra là—tớ có nên móc hầu bao chi tiền hay không hở Perrott? Cần nhớ rằng, tớ chẳng hề được hưởng tí di sản nào từ di chúc của ông nội, và tớ cũng chẳng có cách nào để kiểm chứng tính xác thực của câu chuyện đó cả.”

“Tôi chẳng rành mấy về cái tinh thần công lý trừu tượng gì sảng ấy đâu,” Susan mỉm cười đầy tự đắc với mọi người xung quanh, “nhưng tôi dám chắc một điều—hắn ta thể nào cũng moi được năm bảng ấy từ anh cho mà xem!”

Khi Mr. Perrott bắt đầu cất lời đưa ra quan điểm, còn Evelyn thì khăng khăng chê bai anh ta quá ư keo kiệt, hệt như mọi gã luật sư khác, chỉ biết chăm chăm vào câu chữ thay vì cái hồn của sự việc; trong khi cụ bà Paley cứ réo gọi bắt phải cập nhật liên tục tiến trình giữa các món ăn xem tụi nhỏ đang bàn tán những gì; cứ thế bữa trưa trôi qua chẳng có lấy một khoảng lặng tĩnh mịch nào, và Arthur tự vỗ ngực đắc ý vì sự khéo léo của mình đã xoa dịu ổn thỏa cuộc tranh luận vừa rồi.

Khi họ lục tục đứng lên rời khỏi phòng, tình cờ chiếc xe lăn của cụ Paley va phải vợ chồng Elliots vừa lúc đang đi ngược chiều bước vào. Bị chặn đứng lại giữa chừng trong giây lát, Arthur và Susan liền lên tiếng chúc mừng Hughling Elliot đã bình phục—đây là lần đầu tiên anh ta chịu bước chân xuống lầu, trông gầy đét xanh xao như một thây ma—và Mr. Perrott nhân cơ hội này tranh thủ thì thầm vài điều riêng tư với Evelyn.

“Liệu chiều nay em có chút thời gian nào trống để anh gặp được không nhỉ, tầm ba giờ rưỡi chẳng hạn? Anh sẽ ra khu vườn, ở chỗ đài phun nước nhé.”

Đám đông giãn ra trước khi Evelyn kịp lên tiếng. Nhưng lúc quay lưng bước đi ở sảnh, cô liếc nhìn anh rạng rỡ rồi đáp: “Ba giờ rưỡi hả anh vừa nói gì ấy nhỉ? Được thôi, em thấy ổn đấy.”

Cô lướt chân chạy lên lầu với thứ cảm giác phấn chấn tâm linh cùng nhịp sống bừng tỉnh mà hễ cứ đứng trước viễn cảnh của một màn cao trào cảm xúc nào đó là cô lại sục sôi dâng trào. Cô chẳng mảy nghi ngờ việc Mr. Perrott sắp sửa ngỏ lời cầu hôn mình một lần nữa, và cô thừa biết rằng lần này bản thân phải chuẩn bị sẵn một câu trả lời dứt khoát, bởi chỉ ba ngày nữa là cô lên đường rời khỏi nơi này. Nhưng cô chẳng tài nào tập trung nổi tư duy để đối diện với vấn đề đó. Việc phải đi đến một quyết định quả là thử thách khó nhằn đối với cô, bởi bản tính cô vốn dĩ chẳng thích bất cứ điều gì mang tính kết thúc và vĩnh viễn khép lại; cô ưa chuộng cảm giác được tiến bước hoài, tiến bước mãi—luôn luôn tiến về phía trước. Cô sắp sửa rời đi, thế nên cô tự khuây khỏa bằng cách lôi đống xiêm y ra trải phẳng phiu từng chiếc cạnh nhau trên giường. Cô nhận ra có vài bộ trông đã khá cũ kỹnờm. Cô cầm bức ảnh chụp song thân phụ mẫu lên, và trước khi cất nó vào đáy rương, cô ân hận giữ nó trong lòng bàn tay suốt một lát. Rachel từng ngắm nghía bức ảnh này. Bỗng nhiên, cái cảm giác nhạy bén về cá tính của một con người nào đó—thứ mà những đồ vật từng qua tay họ sở hữu đôi khi vẫn lưu giữ lại—ùa về áp đảo tâm trí cô; cô cảm thấy phảng phất hình bóng Rachel đang hiện diện ngay trong căn phòng này với cô; cô cứ ngỡ mình đang lênh đênh trên một con tàu giữa đại dương bao la, và nhịp sống đời thường lúc này bỗng trở nên hão huyền hệt như dải đất liền tít tắp ngoài xa kia. Thế nhưng dần dà, sự hiện diện ấy của Rachel cũng nhạt nhòa bay biến, và cô chẳng thể nào mường tượng nổi về người bạn nữa, bởi suy cho cùng cô vốn có quen biết gì sâu đậm với đối phương đâu. Thế nhưng dư âm thoáng qua ấy lại để lại trong cô một nỗi buồn thiu rã rời và kiệt quệ. Cô đã làm gì với cuộc đời mình thế này? Tương lai nào đang chờ đón cô phía trước? Đâu là màn kịch giả tạo, đâu mới là thực tại? Phải chăng những lời tỏ tình, những mối thâm giao hay cuộc phiêu lưu này mới là thật, hay sự bình yên mãn nguyện mà cô từng thoáng thấy trên gương mặt của Susan và Rachel mới là thứ chân thực hơn bất cứ điều gì cô từng trải nghiệm qua trong đời?

Cô lững thững chuẩn bị để bước xuống lầu với tâm trí lơ đễnh thẫn thờ, thế nhưng những ngón tay cô vốn được huấn luyện thuần thục đến mức chúng tự động thao tác chuẩn bị đâu vào đấy gần như chẳng cần đến sự điều khiển của ý thức. Khi cô thực sự đặt chân lên bậc thềm đi xuống, dòng máu trong cơ thể cũng tự động rạo rực luân chuyển trở lại, bởi tâm trí cô lúc này cảm thấy tối tăm mù mịt quá đỗi.

Mr. Perrott đang đứng đợi cô. Quả thực, anh đã sải bước thẳng ra khu vườn ngay sau bữa trưa, và cứ ngậm ngùi tha thẩn đi lên đi xuống dọc lối mòn suốt hơn nửa tiếng đồng hồ trong một trạng thái nơm nớp hồi hộp đến cực điểm.

“Em lại đến muộn như thói quen rồi!” cô thốt lên khi vừa lướt trông thấy anh. “Thôi nào, anh phải rộng lượng tha thứ cho em nhé; em còn bận gói ghém hành lý... Chà chà! Trông trời có vẻ sắp đổ mưa giông đấy nhỉ! Và chiếc tàu thủy ngoài vịnh kia là tàu mới phải không anh?”

Cô đăm đăm nhìn ra vung vịnh, nơi một con tàu thủy vừa quăng neo hạ phím, làn khói sà sà quẩn quanh thân tàu, trong khi một đợt rung chấn đen kịt lướt qua những con sóng lớn. “Người ta suýt quên béng mất nước mưa trông mặt mũi ra sao rồi đấy,” cô nói thêm.

Thế nhưng Mr. Perrott chẳng thèm đếm xỉa gì đến con tàu hay thời tiết ngoài kia.

“Miss Murgatroyd,” anh cất giọng bắt đầu với vẻ nghiêm cẩn quen thuộc, “tôi e rằng mình đã ích kỷ khi mời cô ra đây. Tôi nghĩ cô chẳng cần phải được minh chứng thêm một lần nữa về tình cảm của tôi; thế nhưng, vì cô sắp sửa rời đi đến nơi, tôi cảm thấy mình không thể để cô đi mà không ngỏ lời mong cô thổ lộ—rằng liệu tôi có chút hy vọng nào được chăng, rằng một ngày nào đó cô sẽ động lòng trắc ẩn và lưu tâm đến tôi?”

Trông anh tái mét đi, và dường như chẳng thể thốt thêm nổi nửa lời.

Luồng sinh khí vừa mới trỗi dậy trong người Evelyn khi cô chạy ào xuống lầu bỗng bốc hơi sạch sành sanh, để lại trong cô một cảm giác bất lực đến não nề. Cô chẳng biết phải thốt lên điều gì; cô hoàn toàn trống rỗng chẳng cảm thấy chi. Giờ đây, khi anh thực sự ngỏ lời cầu hôn cô bằng những lời lẽ dịu dàng đậm chất tuổi xế chiều ấy, cô lại thấy lòng mình lạnh ngắt, chẳng mảy may dợn sóng cảm xúc với anh hơn bất cứ khoảnh khắc nào trước đây.

“Chúng ta hãy ngồi xuống đây rồi thong thả trò chuyện nhé,” cô nói, giọng ngập ngừng chẳng vững.

Mr. Perrott ngoan ngoãn bước theo cô đến chiếc ghế băng dài uốn cong màu xanh lục nằm ẩn mình dưới tán cây. Cả hai đăm đăm nhìn đài phun nước bỏ hoang trước mặt, nơi đã ngừng phun nước từ lâu lắc. Evelyn cứ dán mắt vào đài phun nước khô khốc thay vì bận tâm đến những gì mình chuẩn bị thốt ra; chiếc đài phun nước cạn kiệt nguồn nước ấy ngẫm ra lại giống hệt hình ảnh tâm hồn cô lúc này.

“Dĩ nhiên là em quý mến anh rồi,” cô mở lời, tuôn ào ạt những từ ngữ như thể đang chạy đua với thời gian; “nếu không thì em hóa ra kẻ vô ơn máu lạnh mất. Em nghĩ anh là một trong những người tuyệt vời nhất mà em từng có diễm phúc quen biết, lại vô cùng cao thượng nữa chứ. Nhưng em chỉ ước chi... em ước chi anh đừng dành tình cảm ấy cho em theo cách đó. Anh có chắc chắn về lòng mình không đấy?” Khoảnh khắc ấy, cô thực lòng chỉ mong anh thốt lên câu từ chối.

“Anh hoàn toàn chắc chắn,” Mr. Perrott đáp.

“Anh thấy đấy, em không phải kiểu phụ nữ đơn giản như đa số người khác,” Evelyn tiếp tục giãi bày. “Em nghĩ mình đòi hỏi nhiều hơn thế. Bản thân em đôi khi cũng chẳng rõ mình đang cảm thấy gì nữa.”

Anh lặng lẽ ngồi bên cạnh, đăm đăm ngắm nhìn cô và nén lại không thốt thêm lời nào.

“Đôi khi em thầm nghĩ hình như trong thâm tâm em chẳng đủ khả năng để mà thiết tha sâu đậm với riêng một ai cả. Một người phụ nữ khác sẽ là người vợ hiền thảo lý tưởng hơn cho anh. Em hoàn toàn có thể mường tượng ra viễn cảnh anh vô cùng hạnh phúc khi ở bên một người khác.”

“Nếu em nghĩ rằng vẫn còn chút hy vọng nào để rồi mai đây em sẽ hướng về anh, thì anh hoàn toàn mãn nguyện chờ đợi,” Mr. Perrott điềm tĩnh đáp.

“Thôi được rồi—đâu có gì phải vội vàng vắt chân lên cổ thế phải không anh?” Evelyn lảng tránh. “Giả sử em suy nghĩ thấu đáo rồi viết thư thông báo cho anh khi đã về đến nơi thì sao nhỉ? Em sắp sửa đi Moscow; em sẽ viết thư gửi từ Moscow cho anh nhé.”

Nhưng Mr. Perrott vẫn kiên quyết bám trụ đến cùng.

“Em không cần phải vẽ ra cho anh một hình dung nào cụ thể đâu. Anh đâu có đòi hỏi một mốc thời gian cụ thể nào... điều đó thì quá ư vô lý.” Anh chững lại, ánh mắt đăm đăm nhìn xuống lối đi rải sỏi.

Thấy cô chẳng đáp lời ngay, anh tiếp tục giãi bày.

“Anh thừa hiểu rõ bản thân mình không phải là—rằng anh chẳng có mấy thứ để dâng hiến cho em, dẫu xét về phương diện cá nhân hay gia cảnh. Và anh quên mất rằng; với em, điều này chắc chắn chẳng thể kỳ diệu như cách anh cảm nhận. Trước khi gặp em, anh vẫn cứ lủi thủi bước đi trên con đường bình yên của riêng mình—anh và em gái đều là những tuýp người vô cùng tĩnh lặng—và hoàn toàn thỏa nguyện với số phận. Tình bạn với Arthur từng là điều quan trọng bậc nhất trong cuộc đời anh. Giờ đây, khi đã quen biết em, mọi thứ đã xoay vần đổi thay hoàn toàn. Em như thổi một luồng sinh khí tràn trề vào vạn vật. Cuộc đời bỗng mở ra trước mắt anh biết bao khả năng kỳ diệu mà anh chưa từng dám mơ tới.”

“Tuyệt vời quá chừng!” Evelyn thốt lên, siết chặt bàn tay anh. “Giờ thì anh sẽ quay về và bắt tay vào đủ mọi dự án để làm rạng danh tên tuổi của mình trên thế gian này; và chúng ta sẽ mãi là bạn bè của nhau, bất chấp chuyện gì xảy ra đi nữa... chúng ta sẽ là những người bạn thân thiết tuyệt vời, phải vậy không nào?”

“Evelyn!” anh rên rỉ thảng thốt, rồi ôm chầm lấy cô vào lòng và trao nụ hôn. Cô chẳng mảy may phản kháng, dẫu hành động đó cũng chẳng để lại mấy ấn tượng sâu đậm trong lòng cô.

Khi ngồi thẳng người dậy, cô cất lời: “Em chẳng tài nào hiểu nổi tại sao người ta lại không thể tiếp tục làm bạn của nhau—mặc dù dẫu sao vẫn có vài kẻ nghĩ khác. Mà tình bạn vốn dĩ mang lại sự khác biệt to lớn phải không anh? Chúng mới là thứ thực sự quan trọng trong cuộc đời một con người chứ nhỉ?”

Anh ngước nhìn cô với ánh mắt bàng hoàng ngơ ngác hệt như thể chẳng tài nào lĩnh hội nổi những lời cô vừa thốt ra. Phải mất một nỗ lực cực kỳ lớn, anh mới thu gom lại được sự điềm tĩnh, đứng phắt dậy và cất lời: “Giờ thì anh nghĩ mình đã bày tỏ hết nỗi lòng với em rồi, và anh chỉ xin nói thêm rằng anh có thể kiên nhẫn đợi chờ bao lâu tùy ý em muốn.”

Bị bỏ lại trơ trọi một mình, Evelyn thong thả bước qua bước lại dọc lối mòn. Thế rốt cuộc điều gì mới thực sự quan trọng? Ý nghĩa của tất cả những chuyện này là gì cơ chứ?

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.