Bí Mật Đêm Đen

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
Arsenat Natri

❊ ❊ ❊

Bàn tay bí ẩn cầm một chiếc lọ nhỏ và đổ toàn bộ dung dịch vào ly thuốc. Rồi bàn tay ấy rụt lại như lúc đến, chậm rãi, thận trọng, lén lút, và ổ khóa xoay một tiếng, then cửa trượt trở lại vị trí cũ.

Như một con sói, Rouletabille cảnh cáo Matrena lần cuối không được nhúc nhích, liền lao lên chiếu nghỉ, phóng vọt về phía cầu thang, trượt theo tay vịn thẳng xuống hiên nhà, băng qua phòng khách nhanh như chớp, và tiến vào phòng khách nhỏ mà không làm va chạm dù chỉ một món đồ. Cậu không chú ý điều gì, chẳng nhìn thấy gì. Mọi thứ xung quanh vẫn yên tĩnh và bất động.

Ánh sáng đầu tiên của buổi bình minh lọt qua các khe chớp. Cậu nhận ra cánh cửa duy nhất đang đóng là phòng của Natacha. Cậu dừng lại trước cửa, tim đập thình thịch, và lắng nghe. Nhưng chẳng có âm thanh nào lọt vào tai. Cậu lướt đi nhẹ nhàng trên thảm đến mức chắc chắn không ai nghe thấy mình. Có lẽ cánh cửa ấy sẽ mở. Cậu chờ đợi. Vô ích. Cậu cảm thấy trong ngôi nhà chẳng có gì có sự sống ngoài trái tim mình. Cậu nghẹt thở vì nỗi kinh hoàng mà cậu thoáng thấy, suýt chạm vào, dù cánh cửa ấy vẫn khép kín. Cậu dò dẫm dọc theo bức tường để đến cửa sổ và kéo rèm sang một bên. Cửa sổ và các tấm chớp của căn phòng nhỏ nhìn ra sông Neva đều đóng kín. Thanh sắt chắn ngang bên trong vẫn nằm đúng vị trí của nó. Rồi cậu đi ra hành lang, lên xuống cầu thang hẹp dành cho người hầu, quan sát khắp nơi, trong tất cả các căn phòng, dò dẫm mọi ngóc ngách bằng những bước chân im lặng, tự trấn an rằng không có ổ khóa nào bị phá hoại. Khi quay lại hiên nhà, vừa ngẩng đầu lên, cậu nhìn thấy trên đỉnh cầu thang chính một bóng người nhợt nhạt như chết tróc, một ảo ảnh ma quái giữa bóng tối của màn đêm đang lùi dần, đang nghiêng người nhìn cậu. Đó là Matrena Petrovna. Bà bước xuống, im lặng như một bóng ma và cậu suýt không nhận ra giọng bà khi bà gặng hỏi: “Ở đâu? Tao bắt mày phải nói cho tao biết. Ở đâu?”

“Tôi đã tìm khắp nơi,” cậu nói, giọng khẽ đến mức Matrena phải bước lại gần mới nghe được tiếng thì thầm. “Mọi thứ đều đóng chặt. Và chẳng có ai quanh đây cả.”

Matrena nhìn Rouletabille bằng tất cả sức mạnh từ đôi mắt, như thể muốn thấu tận tâm can cậu, nhưng ánh nhìn trong trẻo của cậu không hề dao động, và bà thấy cậu chẳng hề muốn giấu giếm điều gì. Đoạn Matrena chỉ ngón tay về phía phòng của Natacha.

“Mày chưa vào trong đó sao?” bà gặng hỏi.

Cậu đáp: “Không cần thiết phải vào đó.”

“Dù vậy, tao vẫn sẽ tự mình bước vào,” bà nói, nghiến chặt răng.

Cậu dang hai tay chặn đường bà.

“Nếu bà coi trọng sinh mạng của ai đó,” cậu nói, “thì đừng bước thêm một bước nào nữa.”

“Nhưng người đó ở trong căn phòng ấy. Người ta ở đó! Chính ở đó mày mới tìm ra sự thật!” Và bà gạt cậu ra bằng một cử động như thể đang mộng du.

Để kéo bà trở về thực tại của những gì cậu vừa nói và giúp bà hiểu rõ ý định của mình, cậu buộc phải siết lấy cổ tay bà bằng bàn tay rắn rỏi và đầy gân guốc.

“Có lẽ người đó không ở trong ấy đâu,” cậu nói, lắc đầu. “Hiểu cho tôi đi.”

Nhưng bà không hiểu ý cậu. Bà nói:

“Vì người đó không ở nơi nào khác, nhất định phải ở trong ấy.”

Nhưng Rouletabille vẫn kiên quyết:

“Không, không. Có lẽ người ấy đã đi rồi.”

“Đã đi! Trong khi mọi thứ đều khóa trái từ bên trong!”

“Đó không phải là lý do,” cậu đáp.

Nhưng bà không tài nào theo kịp suy nghĩ của cậu nữa. Bà nhất quyết muốn xông vào phòng Natacha. Nỗi ám ảnh ấy đang ngự trị trong tâm trí bà.

“Nếu bà bước vào đó,” cậu nói, “và nếu (như khả năng cao là) bà không tìm thấy thứ mình muốn ở đó, thì mọi chuyện tiêu đời! Còn về phần tôi, tôi xin rút lui.”

Bà khuỵu xuống, ngã gục lên một chiếc ghế.

“Đừng tuyệt vọng,” cậu thì thầm. “Chúng ta chưa biết chắc chắn điều gì mà.”

Bà buồn bã lắc cái đầu già nua đáng thương của mình.

“Chúng ta biết chắc chắn chỉ có con bé ở trong ấy, vì chẳng ai có thể vào và cũng chẳng ai có thể ra.”

Ý nghĩ đó chiếm ngự toàn bộ tâm trí bà, khiến bà không thể nhận ra dù chỉ một góc nhỏ trong suy nghĩ của Rouletabille. Rồi cuộc đối thoại vô vọng lại tiếp diễn.

“Tôi nhắc lại rằng chúng ta không thể biết chắc là người ấy đã rời đi hay chưa,” người phóng viên lặp lại, đồng thời đòi lấy chùm chìa khóa từ tay bà.

“Đồ ngốc,” bà nói. “Mày cần chúng để làm gì?”

“Để tìm kiếm ở bên ngoài giống như chúng ta đã tìm bên trong.”

“Nhưng kìa, mọi thứ đều khóa kín từ bên trong cơ mà!”

“Thưa bà, một lần nữa, đó không phải là lý do để khẳng định người ấy không ở bên ngoài.”

Cậu mất tới năm phút chỉ để mở cánh cửa ra hiên nhà, bởi cậu phải cẩn trọng xiết bao. Bà nôn nóng dõi theo từng cử động của cậu.

Cậu thì thầm với bà:

“Tôi sắp ra ngoài, nhưng bà đừng rời mắt khỏi phòng khách nhỏ nhé. Chỉ cần có động tĩnh nhỏ nhất, hãy gọi tôi; cứ nổ súng lục nếu thấy cần thiết.”

Cậu trốn ra vườn với sự cẩn trọng tuyệt đối để không gây ra tiếng động. Từ góc khuất mà bà canh chừng, qua những cánh cửa mở toang, Matrena có thể theo dõi mọi chuyển động của người phóng viên đồng thời canh chừng phòng của Natacha. Thái độ của Rouletabille tiếp tục khiến bà hoang mang khôn tả. Bà nhìn những việc cậu làm cứ như thể cho rằng cậu đã điên rồ. Người gác cổng người Nga đứng ngoài đường lớn cũng nhìn chàng trai trẻ qua những thanh sắt của cổng với vẻ kinh ngạc tột độ, hệt như đang nhìn một kẻ ngốc. Dọc theo những lối đi rải đất nện hoặc xi măng không để lại dấu chân nào, Rouletabille vội vã bước đi trong im lặng. Cậu quan sát thấy cỏ trên bãi lawn xung quanh không hề bị giẫm nát. Và rồi cậu chẳng thèm bận tâm đến bước chân của mình nữa. Cậu có vẻ đăm chiêu quan sát sắc hồng ở phương đông, hít thở hương vị trong lành của buổi sáng sớm ở quần đảo, giữa không gian tĩnh mịch của đất trời hãy còn ngơ ngác ngủ say.

Đầu trần, mặt ngửa ra sau, hai tay quặt sau lưng, mắt hướng lên trân trối, cậu đi vài bước rồi đột ngột dừng lại như thể vừa phải nhận một cú sốc điện. Ngay khi có vẻ đã hoàn hồn sau cú sốc đó, cậu quay người đi ngược lại vài bước sang lối đi khác, tiến thẳng về phía trước, ngẩng cao đầu với ánh mắt đờ đẫn y hệt lúc trước khi khựng lại đột ngột, hệt như có ai đó hay điều gì đó đang khuyên can hoặc cảnh báo cậu không được tiến bước nữa. Cậu liên tục vòng trở lại hướng ngôi nhà, và cứ thế cậu rảo qua tất cả các lối đi dẫn từ biệt thự, nhưng trong mọi chuyến đi bộ ấy, cậu luôn cẩn thận không để mình rơi vào tầm nhìn từ cửa sổ phòng Natacha — một tầm nhìn hạn hẹp do vị trí cửa sổ nằm ngay góc khuất của tòa nhà. Để kiểm tra kỹ hơn về cửa sổ này, cậu bò bằng cả hai tay hai chân đến tận mép vườn chạy dọc theo chân tường và thu được bằng chứng xác thực rằng không có ai nhảy ra từ hướng đó cả.

Rồi cậu quay lại tìm Matrena ở hiên nhà.

“Sáng nay không có ai vào vườn cả,” cậu nói, “và cũng chẳng có ai từ biệt thự đi ra vườn. Giờ tôi sẽ đi kiểm sát bên ngoài khuôn viên. Bà cứ đợi ở đây; năm phút nữa tôi quay lại.”

Cậu bỏ đi, gõ nhẹ lên cửa sổ phòng gác và đợi vài giây. Ermolai bước ra mở cổng cho cậu. Matrena tiến ra bậc cửa phòng khách nhỏ và kinh hãi nhìn chằm chằm vào cửa phòng Natacha. Bà cảm thấy đôi chân mình rệu rã, không thể đứng vững nổi trước ý nghĩ ma quái về một tội ác tày trời như thế. À, cánh tay đó, cánh tay ấy! Vươn ra, luồn lách, cầm chiếc lọ nhỏ lấp lánh trên tay. Chúa ơi! Trong những cuốn sách chết tiệt mà Natacha cùng đám bạn tụ tập ngấu nghiến đọc kia có chứa cái gì mà lại có thể khiến những tội ác gớm ghiếc ấy trở thành hiện thực cơ chứ? À, Natacha, Natacha! Giá mà bà có thể ép con bé trả lời, siết chặt nó đến ngạt thở vào lồng ngực cằn cỗi của mình và bóp cổ nó bằng chính đôi bàn tay khỏe mạnh của bà để tai không phải nghe câu trả lời. Ái chà, Natacha, Natacha, người mà bà từng yêu thương biết bao! Bà ngã sụp xuống sàn, trườn trên thảm đến trước cửa, nằm dài ở đó như một con thú hoang và vùi đầu vào tay khóc thương đứa con gái. Natacha, Natacha, người mà bà quý trọng như con ruột, vậy mà chẳng thèm nghe tiếng gọi của bà. Ôi, cậu thanh niên kia đi tìm kiếm bên ngoài để làm gì khi toàn bộ sự thật lại nằm ngay sau cánh cửa này chứ? Nghĩ đến cậu, bà đâm ra xấu hổ nếu bị bắt gặp ở tư thế kỳ quặc như loài vật ấy, bèn quỳ gối nhổm dậy và lết đến bên cửa sổ nhìn ra sông Neva. Những khe chớp xiên xẹo đủ cho bà nhìn khá rõ những gì diễn ra bên ngoài, và cảnh tượng đập vào mắt khiến bà vùng đứng phắt dậy.

Bên dưới, người phóng viên đang thực hiện những động tác khó hiểu y hệt như những gì bà từng thấy cậu làm trong vườn. Có ba lối đi dẫn ra con đường nhỏ chạy dọc theo bức tường biệt thự ven bờ sông Neva. Chàng trai trẻ, vẫn giữ nguyên tư thế hai tay quặt sau lưng và ngẩng mặt lên trời, lần lượt đi qua từng lối đi ấy. Ở lối đi đầu tiên, cậu dừng lại ngay bước chân đầu tiên. Sang lối thứ hai, cậu bước chưa đầy hai bước. Đến lối thứ ba, rẽ chéo về bên phía tay phải và có vẻ chạy ngoằn ngoèo đến khúc sông gần Krestowsky Ostrow nhất, bà thấy cậu tiến bước, thoạt đầu chậm rãi, rồi nhanh dần giữa những lùm cây thấp và hàng rào. Chỉ có đúng một lần cậu dừng lại, chăm chú quan sát thân cây như thể đang nhận ra một vật gì đó vô hình trên đó, rồi tiếp tục đi ra bờ sông. Tại đó, cậu ngồi xuống một hòn đá và có vẻ trầm ngâm suy nghĩ, rồi bất chợt cởi phăng áo khoác cùng quần dài, chọn một điểm cụ thể trên bờ sông đối diện, cởi nốt số quần áo còn lại và lao mình xuống dòng nước. Bà lập tức nhận ra cậu bơi giỏi như một con cá heo, lặn ngụp bên dưới và thỉnh thoảng ngóc đầu lên thở, rồi lại ngụp xuống dòng sâu. Cậu bơi sang tới Krestowsky Ostrow ở một lùm sậy. Rồi cậu biến mất. Phía dưới chỗ cậu bơi, lấp ló sau những tán cây là mái ngói đỏ của căn biệt thự đang che chở cho Boris và Michael. Từ biệt thự đó, người ta có thể nhìn thấy cửa sổ phòng khách trong dinh thự của Tướng Trebassof, nhưng lại không thể thấy những gì diễn ra dọc theo bờ sông ngay sát chân tường nhà. Một chiếc xe trượt tuyết *isvotchick* lướt qua trên con đường xa xôi thuộc Krestowsky, chở trên xe một nhóm sĩ quan trẻ tuổi và những cô gái trẻ vừa tham gia tiệc tùng đang cất tiếng hát vang suốt dọc đường; rồi một sự im lặng chết chóc bao trùm trở lại. Đôi mắt Matrena rảo tìm tung tích Rouletabille, nhưng chẳng thấy đâu. Cậu định trốn biệt tích như thế cho đến bao giờ? Bà áp chặt khuôn mặt vào tấm kính cửa sổ lạnh ngắt. Bà đang chờ đợi điều gì nhỉ? Có lẽ bà đang chờ ai đó có động tĩnh ở phía này, chờ cánh cửa gần đó mở ra và bóng dáng phản bội của Gã Kì Kia xuất hiện.

Một bàn tay khẽ chạm vào người bà. Bà quay đầu lại.

Rouletabille đã đứng đó, khuôn mặt chi chít những vết cào đỏ lựng, không cổ áo hay cà vạt, vừa vội vàng mặc lại quần áo xong. Trông cậu có vẻ vô cùng cáu kỉnh khi bắt gặp bà trong bộ dạng lộn xộn này. Bà để mặc cậu dẫn đi như một đứa trẻ. Cậu kéo bà về phòng mình và khép cửa lại.

“Thưa bà,” cậu mở lời, “thật không thể làm việc nổi với bà. Tại sao đời nào bà lại đứng khóc lóc cách cửa phòng con gái riêng của chồng có chưa đầy hai bước chân thế hả? Cả bà và tay Koupriane nhà bà nữa, các người đang khiến tôi bắt đầu thấy tiếc cái khu Faubourg Poissoniere rồi đấy, biết không. Con bé chắc chắn đã nghe thấy tiếng bà rồi đấy. Thật may là nó chẳng thèm để tâm chút nào đến những trò ảo ảnh lúc nửa đêm của bà, và nó cũng đã quen với những chuyện ấy từ lâu lắm rồi. Cô Natacha có óc phán đoán hơn bà nhiều đấy, thưa bà. Nó đang ngủ, hoặc ít ra là làm bộ như đang ngủ, nhờ thế mà mọi người mới được yên thân. Bà sẽ trả lời thế nào nếu lỡ ngày hôm nay nó hỏi lý do tại sao bà cứ đi đi lại lại diễu hành trong phòng khách và phàn nàn rằng bà đã làm nó mất ngủ?”

Matrena chỉ biết lắc cái đầu già nua cằn cỗi của mình.

“Không, không, nó không nghe thấy tao đâu. Tao đứng đó tựa như một chiếc bóng, như chiếc bóng của chính mình vậy. Nó sẽ chẳng bao giờ nghe thấy tao đâu. Chẳng ai nghe thấy tiếng bước chân của một cái bóng cả.”

Rouletabille lại thấy dấy lên niềm thương cảm dành cho bà nên dịu giọng hơn.

“Dù sao đi nữa, bà phải hiểu rằng con bé không được phép để tâm đến những gì bà đã làm đêm nay nhiều hơn những việc nó biết bà từng làm vào các đêm khác. Đây đâu phải lần đầu tiên bà lang thang trong phòng khách phải không nào? Bà hiểu ý tôi chứ? Và ngày mai, thưa bà, hãy ôm ấp con bé như bà vẫn thường làm.”

“Không, không thể thế được,” bà rên rỉ. “Không bao giờ có chuyện đó. Tao không làm nổi.”

“Tại sao lại không?”

Matrena không đáp. Bà bật khóc. Cậu ôm trọn bà vào lòng hệt như một đứa trẻ đang dỗ dành mẹ mình.

“Đừng khóc nữa. Đừng khóc nữa. Mọi chuyện chưa đến nỗi mất sạch đâu. Đã có kẻ rời khỏi biệt thự vào sáng nay.”

“Ôi, tiểu quỷ thần domovoi của tôi ơi! Sao lại thế? Sao lại thế được? Mày tìm ra cách nào hay vậy?”

“Vì chúng ta không tìm thấy gì ở bên trong, nên chắc chắn phải tìm ra manh mối ở bên ngoài chứ.”

“Và mày đã tìm thấy rồi sao?”

“Đương nhiên.”

“Chúa Phù hộ mày!”

“Ngài ĐỨC MẸ đang ở bên chúng ta. Người sẽ không bỏ rơi chúng ta đâu. Tôi thậm chí còn dám chắc rằng Người đang đặc biệt che chở cho vùng quần đảo này. Người canh chừng chúng từ chập tối cho tới tận ban mai.”

“Mày đang nói cái quái gì thế?”

“Thật mà. Chắc bà không biết ở Pháp chúng tôi gọi thứ gì là ‘những người canh gác của Đức Mẹ’ chứ gì?”

“Ồ, có chứ, đó là những tấm màng nhện mà những con vật nhỏ bé dễ thương của Chúa giăng ra giữa các tán cây và...”

“Chính xác. Bà hiểu ý tôi, và bà sẽ còn hiểu rõ hơn nữa khi biết rằng ngay khi bước vào khu vườn, thứ đầu tiên đập thẳng vào mặt tôi chính là những người canh gác của Đức Mẹ do đám nhện nhỏ nhắn đáng yêu của Chúa giăng ra đó. Ban đầu, khi cảm thấy chúng vương trên mặt, tôi tự nhủ: ‘Khoan đã, chẳng có ai đi qua lối này cả’, thế là tôi đi tìm ở những chỗ khác. Những tấm màng nhện chặn bước chân tôi ở khắp mọi nơi trong vườn. Nhưng, ở bên ngoài khu vườn, chúng tránh ra một bên và để tôi đi qua không chút vướng bận dọc theo một lối đi dẫn thẳng ra sông Neva. Lúc ấy tôi liền tự nhủ: ‘Nào, chẳng lẽ Đức Mẹ lại vô tình bỏ quên công việc của mình ở lối đi này sao? Chắc chắn là không rồi. Đã có ai đó làm rách nó.’ Tôi tìm thấy những mảnh tơ nhện rách vương vãi bám vào các bụi cây, và nhờ thế tôi ra tới bờ sông.”

“Rồi mày nhảy ùm xuống sông luôn sao, thiên thần bé nhỏ của tôi. Mày bơi giỏi hệt như một vị thần nhỏ vậy.”

“Và tôi cập bờ ở đúng nơi kẻ kia đã cập bờ. Vâng, có những khóm sậy ở đó vừa mới bị bẻ gãy. Và tôi luồn lách vào giữa các lùm cây.”

“Đến đâu?”

“Tới tận Biệt thự Krestowsky, thưa bà — nơi cả hai kẻ đó đang sống.”

“À, hóa ra là có kẻ từ đó đến đây sao?”

Giữa hai người chìm trong một khoảng lặng.

Bà gặng hỏi:

“Boris ư?”

“Một kẻ đã từ biệt thự đến đây rồi lại quay về đó. Boris, Michael, hoặc một kẻ nào khác. Chúng đi và về qua đường bãi sậy. Nhưng lúc đến thì chúng đi thuyền; còn lúc về thì bơi.”

Sự bồn chồn quen thuộc lại trỗi dậy trong lòng bà.

Bà nài nỉ tha thiết:

“Và mày chắc chắn là hắn đã đến đây và cũng chính hắn đã rời khỏi đây chứ?”

“Vâng, tôi chắc chắn.”

“Bằng cách nào?”

“Bằng cửa sổ phòng khách nhỏ.”

“Điều đó là không thể, vì chúng ta đã kiểm tra thấy nó khóa chặt cơ mà.”

“Hoàn toàn có thể, nếu có kẻ đã khóa nó lại từ phía sau hắn.”

“À!”

Bà lại bắt đầu run lẩy bẩy, và rơi trở lại cơn ác mộng kinh hoàng của mình, bà không còn cất lời xưng tụng ngọt ngào dành cho vị thần domovoi như một thiên thần nhỏ vừa mang lại cho bà ân huệ quý giá hơn cả sinh mạng nữa. Trong lúc cậu kiên nhẫn lắng nghe, bà buột miệng nói một cách cục cằn:

“Sao lúc nãy mày lại ngăn tao lao vào hắn, lao thẳng vào hắn ngay khi hắn vừa mở cửa cơ chứ? Ước gì tao đã làm thế, ước gì tao đã làm... thì chúng ta đã biết rõ sự thật rồi.”

“Không. Chỉ cần một tiếng động nhỏ là hắn sẽ sập cửa lại ngay. Chỉ một cú xoay chìa khóa là hắn đã trốn thoát vĩnh viễn. Và như thế hắn sẽ bị động phòng bị.”

“Cái đồ bất cẩn này! Thế thì tại sao, nếu biết trước hắn sẽ đến, mày không để tao ở lại trong phòng ngủ còn mày tự mình rình ở dưới này?”

“Bởi vì chừng nào tôi còn ở dưới này thì hắn sẽ không đời nào xuất hiện. Hắn chỉ bén mảng đến khi không có ai ở tầng dưới mà thôi.”

“Ôi, xin hai vị thánh Phêrô và Phao-lô thương xót cho một người phụ nữ tội nghiệp. Mày nghĩ đó là ai cơ chứ? Mày nghĩ kẻ đó là ai? Tao không thể suy nghĩ thêm được nữa. Nói cho tao biết, nói cho tao nghe điều đó đi. Mày phải biết chứ — mày biết tất cả mọi chuyện cơ mà. Nào — là ai? Tao đòi sự thật. Ai chứ? Vẫn là một tên đặc vụ của Ủy ban, của Ủy ban Trung ương á? Vẫn là bọn Nihilist sao?”

“Ước gì chỉ đơn giản thế thôi!” Rouletabille điềm đạm đáp.

“Mày thề muốn làm tao phát điên lên đấy à! Câu ‘ước gì chỉ đơn giản thế thôi’ của mày có ý gì hả?”

Rouletabille vẫn bình thản không đáp.

“Bà đã xử lý ly thuốc độc thế nào rồi?” cậu hỏi.

“Ly thuốc ấy á? Cái ly gây tội ác ấy! Tao đã khóa nó trong phòng tao, cất vào tủ rồi — an toàn, vô cùng an toàn!”

“Ồ, nhưng thưa bà, chúng ta cần phải đặt nó trở lại chỗ mà bà đã lấy nó ra chứ.”

“Cái gì cơ!”

“Vâng, sau khi đã đổ chất độc vào một chiếc lọ nhỏ, hãy rửa sạch cái ly đó rồi pha vào đấy một thứ thuốc khác.”

“Mày nói đúng. Mày nghĩ được chu đáo mọi bề. Nếu ngài tướng quân tỉnh dậy và đòi uống thuốc của ông ấy, ông ấy nhất định không được hoài nghi điều gì, và phải có sẵn thuốc để uống.”

“Ông ấy không cần phải uống đâu.”

“Thế thì bày ly thuốc ở đó làm gì nữa?”

“Để kẻ đó có thể chắc chắn, thưa bà, rằng nếu ông ấy không uống thì đơn giản là vì ông ấy không muốn uống mà thôi. Chỉ là một sự tình cờ thuần túy thôi, thưa bà, rằng ông ấy không bị trúng độc. Lần này bà đã hiểu ý tôi chưa?”

“Rồi, rồi. Ôi Chúa tôi! Nhưng lỡ như bây giờ, ngài tướng quân tỉnh dậy và muốn uống thuốc mê thì sao?”

“Hãy bảo ông ấy là tôi cấm. Và đây là việc nữa bà phải làm. Khi — Kẻ-Đó — bước vào phòng tướng quân vào buổi sáng, bà phải thật đường hoàng và tự nhiên đổ bỏ ly thuốc ấy đi, bảo rằng nó đã nhạt vị và chẳng còn tác dụng gì nữa, hiểu chưa, và nhờ thế Kẻ-Đó sẽ không có lý do gì để ngạc nhiên khi thấy tướng quân vẫn tiếp tục được hưởng một sức khỏe tuyệt vời.”

“Được rồi, được rồi, cậu nhóc ngoan ạ; mày còn khôn ngoan hơn cả Vua Solomon. Thế còn lọ thuốc độc thì tao phải làm gì với nó đây?”

“Mang nó lại đây cho tôi.”

“Được, đi ngay đây.”

Bà đi lấy rồi quay lại sau năm phút.

“Lão vẫn đang ngủ. Tao đã đặt chiếc ly lên bàn, ở ngoài tầm với của lão. Lão sẽ phải gọi tao khi cần.”

“Rất tốt. Giờ thì khép cửa lại, đóng kín vào; chúng ta còn phải bàn bạc nhiều chuyện.”

“Nhưng lỡ có kẻ đi ngược lên cầu thang của người hầu thì sao?”

“Cứ yên tâm đi. Bọn chúng nghĩ ngài tướng quân đã trúng độc toi mạng rồi còn gì. Đây là khoảnh khắc thảnh thơi đầu tiên mà tôi được tận hưởng trong ngôi nhà này đấy.”

“Đến bao giờ mày mới chịu thôi làm tao run lên vì khiếp hãi đây, hỡi tiểu yêu tinh! Phải công nhận mày giữ bí mật kín như bưng. Ngài tướng quân đang ngủ ngon lành hơn cả khi thực sự bị đầu độc nữa kìa. Nhưng chúng ta sẽ tính sao về con bé Natacha đây? Tao dám hỏi mày câu đó đấy — chỉ một mình mày thôi.”

“Không làm gì hết.”

“Ý mày là sao — không làm gì cả?”

“Chúng ta sẽ canh chừng con bé...”

“À, vâng, vâng.”

“Tuy nhiên, Matrena, hãy để tôi tự mình canh chừng nó.”

“Được, được, tao hứa với mày. Tao sẽ không để ý gì đến nó nữa. Tao hứa đấy. Hứa danh dự luôn. Mày muốn làm gì thì làm. Mà này, vừa nãy lúc tao nhắc đến bọn Nihilist trước mặt mày, sao mày lại thốt lên câu: ‘Ước gì chỉ đơn giản thế thôi!’? Mày tin là con bé không phải người của đảng Nihilist chứ? Nó đọc toàn những thứ sách báo kiểu như ngoài chiến lũy ấy...”

“Thưa bà, thưa bà, bà lúc nào cũng chỉ nghĩ đến mỗi Natacha. Bà đã hứa với tôi là không canh chừng nó cơ mà; vậy hãy hứa là đừng nghĩ ngợi gì về nó nữa đi.”

“Nhưng tại sao, tại sao mày lại nói câu ‘Ước gì chỉ đơn giản thế thôi!’ chứ?”

“Bởi vì, nếu trong vụ việc của bà chỉ có mỗi bọn Nihilist thôi, thưa bà kính mến, thì mọi chuyện đã quá đơn giản, hay nói đúng hơn, nó sẽ đơn giản hơn nhiều rồi. Bà có thực sự tin nổi không, thưa bà, rằng chỉ là một tên Nihilist, một kẻ Nihilist rặt cống hiến cho tổ chức, lại phải nhọc công tính toán sao cho quả bom của hắn phát nổ từ một bình cắm hoa cơ chứ? — trong khi đặt ở đâu chẳng được, miễn là tiêu diệt được tướng quân? Bà tưởng quả bom nổ ở phía sau cánh cửa thì uy lực kém hơn ở phía trước chắc? Còn cái hốc nhỏ dưới sàn nhà nữa, bà có tin là một nhà cách mạng chân chính, kiểu như những kẻ bà đang có ở Nga đây, lại đi rỗi hơi đột nhập vào biệt thự chỉ để rút hai chiếc đinh khỏi một tấm ván, trong khi người ta có thừa thời gian giữa hai lần ghé thăm phòng ăn? Bà có cho rằng một nhà cách mạng muốn trả thù cho những người đã khuất ở Moskva và đã xoay sở đột nhập được tới tận cánh cửa phòng Tướng Trebassof đang ngủ lại đi làm cái việc ngớ ngẩn là chọc một lỗ nhỏ bằng cây kim để gạt cái then cài rồi đổ thuốc độc vào ly nước không? Ồ, nếu ở trường hợp đó, hắn đã ném thẳng quả bom của mình đi cho rồi, dù là để tự vẫn cùng tòa biệt thự, hay bị bắt quả sống tại trận, hoặc phải chịu đựng những cực hình trong ngục tối ở Pháo đài Phêrô và Phao-lô, hay bị treo cổ ở Schlusselburg. Chẳng phải đó là những gì vẫn thường xảy ra sao? Đó mới là cách mà một kẻ như thế sẽ làm, chứ đời nào lại hành xử như một tên ăn trộm vặt khách sạn! Giờ thì thế này, có một kẻ nào đó đang sống trong nhà bà (hoặc thường xuyên lui tới nhà bà) lại hành động giống hệt một tên trộm vặt khách sạn chỉ vì hắn không muốn bị trông thấy, không muốn bị phát hiện, không muốn bị tóm gian tại trận. Và một khi hắn sợ nhất là bị tóm quả tang, đến mức phải giở ra đủ mọi ngòe ngoẹt ảo thuậtp này, thì chắc chắn mục đích của hắn phải nằm vượt ra ngoài hành động tự thân của vụ việc, vượt ra ngoài quả bom, vượt ra ngoài ly thuốc độc. Tại sao lại cứ phải lỉnh kỉnh dùng đến bom hẹn giờ nổ chậm, dùng đến đồng hồ cơ khí được ngụy trang lẫn lộn với những đồ vật khác, mà lại không làm trên một chiếc cầu thang trống trải vốn bị cấm tò te với tất cả mọi người, dù ngày nào bà cũng đi qua đó tới tận hai mươi bận?”

“Nhưng gã đàn ông này cứ ra vào tùy thích cả ngày lẫn đêm cơ mà? Mày không trả lời. Hay là mày biết gã đó là ai rồi phải không?”

“Có lẽ tôi biết hắn, nhưng tôi vẫn chưa chắc chắn lắm đó là ai.”

“Mày thật chẳng có chút tò mò nào cả, hỡi vị thần domovoi doukh bé nhỏ! Chắc chắn hắn phải là một người quen của gia đình, và tự do bước vào nhà này bất cứ lúc nào hắn muốn vào ban đêm, bởi vì có kẻ đã mở cửa sổ cho hắn. Và hắn lại đến từ Biệt thự Krestowsky! Boris hoặc Michael! Ái chà, Matrena khốn khổ tội nghiệp! Sao chúng không giết luôn Matrena khốn khổ này đi cho rồi? Tướng quân của chúng đấy! Tướng quân của chúng đấy chứ! Vậy mà bọn chúng lại là những tên lính — những tên lính nửa đêm mò đến để mưu sát vị tướng của mình. Được trợ giúp bởi — bởi kẻ nào chứ? Mày có tin điều đó không? Mày ấy! Ánh sáng trong mắt ta ơi! Mày tin có chuyện đó thật sao! Không, không, điều đó không thể nào xảy ra được! Ta muốn mày phải hiểu cho, monsieur le domovoi ạ, là tao không tài nào tin nổi một chuyện kinh hoàng đến thế đâu. Không, không, thấu qua Chúa Giê-su Christ, Đấng đã chịu nạn trên Thập Giá, và Đấng thấu suốt tâm can chúng ta, tao không thể tin rằng Boris — dù công nhận là cậu ta có những tư tưởng rất cấp tiến; chúng ta không được phép quên điều đó; rất cấp tiến; và cậu ta cũng làm những vần thơ rất cấp tiến nữa, như tao vẫn thường bảo cậu ta — tao không đời nào tin rằng Boris lại có thể nhúng tay vào một tội ác hãi hùng đến thế. Còn về phần Michael, nó là một người trung thực, và con gái tao, con bé Natacha của tao, là một cô gái lương thiện. Mọi chuyện trông có vẻ tồi tệ thật đấy, quả thực là thế, nhưng tao không hề nghi ngờ Michael, hay Boris, hay con bé Natacha thanh bạch đáng yêu của tao (dù cho nó có dịch sang tiếng Pháp mấy vần thơ vô cùng cấp tiến, quả thật là cực kỳ không đúng mực đối với con gái của một vị tướng). Đó là những gì nằm tận đáy lòng tao, tận đáy cõi lòng tao — mày đã hiểu thấu tao chưa, thiên thần nhỏ bé từ thiên đàng? À, chính nhờ mày mà tướng quân mới giữ được mạng sống, nhờ mày mà Matrena mới còn sống đến giờ. Không có mày thì ngôi nhà này từ lâu đã biến thành một cỗ quan tài rồi. Tao phải lấy gì để đền đáp mày đây? Mày chẳng màng thứ gì cả! Tao làm phiền mày rồi! Mày thậm chí còn chẳng buồn nghe tao nói nữa! Quan tài ư — tất cả chúng ta đã nằm gọn trong những cỗ quan tài rồi còn đâu! Nói cho tao biết mày muốn gì đi. Tất cả những gì tao có đều thuộc về mày!”

“Tôi muốn hút một tẩu thuốc.”

“À, một tẩu thuốc á! Mày có muốn thử chút thuốc lá vàng ướp hương thơm mà tháng nào tao cũng nhận được từ Constantinople, một thứ đặc sản chính cống từ hậu cung không? Tao sẽ kiếm cho mày đủ để hút mười nghìn tẩu đầy, nếu mày thích.”

“Tôi thích thuốc caporal hơn,” Rouletabille đáp. “Nhưng bà nói phải đấy. Nghi ngờ bất cứ ai lúc này là không khôn ngoan. Cứ nhìn, cứ canh chừng, và chờ đợi đi. Sức mấy mà lo, khi con thú đã sa lưới rồi, lúc ấy tha hồ xác định xem đó là con thỏ hay con lợn rừng. Vậy nên hãy nghe tôi, u già thân mến ạ. Trước hết chúng ta phải biết rõ trong lọ có thứ gì. Nó đâu rồi?”

“Đây rồi.”

Bà rút nó ra từ ống tay áo. Cậu tiện tay nhét luôn vào túi quần.

“Bà hãy chúc ngài tướng quân ăn ngon miệng hộ tôi nhé. Tôi đi đây. Chậm nhất hai tiếng nữa tôi sẽ về. Và trên hết, đừng để ngài tướng quân biết chuyện gì hết đấy. Tôi phải đi gặp một người bạn sống ở ngõ Aptiekarski pereolek.” *

* Phố nhỏ của các dược sĩ.

“Cứ tin ở tao, và nhớ về thật nhanh vì ơn nghĩa với tao nhé. Máu trong tim tao như muốn đặc quánh lại mỗi khi không có mày ở đây, hỡi người đầy tớ của Chúa.”

Bà bước lên phòng tướng quân và lật đật chạy xuống không dưới mười bận để ngóng xem Rouletabille đã về chưa. Hai tiếng sau, cậu đã có mặt quanh khu biệt thự đúng như đã hứa. Bà không thể kìm được lòng mình, cứ thế chạy bổ ra đón cậu và lập tức bị mắng yêu.

“Bình tĩnh nào. Bình tĩnh đi chứ. Bà có biết trong lọ có thứ gì không?”

“Không.”

“Arsenat natri, đủ liều lượng để tiễn mười mạng người về chầu diêm vương đấy.”

“Lạy Đức Mẹ thánh thiện!”

“Im lặng nào. Lên lầu gặp tướng quân đi.”

Feodor Feodorovitch đang có tâm trạng vô cùng phấn chấn. Đó là đêm ngon giấc đầu tiên của ông kể từ sau cái chết của người thanh niên trẻ ở Moskva. Ông quy công ấy cho việc mình đã không đụng đến thuốc mê và lại một lần nữa hạ quyết tâm từ bỏ hẳn loại thuốc này — một quyết định được cả Rouletabille lẫn Matrena nhiệt liệt khuyến khích. Trong lúc hai người đang trò chuyện thì có tiếng gõ cửa phòng Matrena. Bà chạy ra xem ai đến, và quay lại cùng Natacha, người muốn đến ôm hôn cha mình. Gương mặt cô in hằn những vết mệt mỏi. Rõ ràng cô đã có một đêm không yên giấc bằng cha mình, và vị tướng quân liền càu nhàu trách con gái trông phờ phạc quá.

“Đúng là thế ạ. Con đã có những giấc mơ kinh khủng. Còn bố, bố ngủ có ngon không? Bố có uống thuốc mê không đấy?”

“Không, không, bố chẳng chạm một giọt thuốc nào cả.”

“Vâng, con thấy rồi. Ồ, chà, thế thì tốt quá; tuyệt vời quá đi chứ. Giấc ngủ tự nhiên chắc đang quay trở lại với bố rồi...”

Matrena, trông như thể đang bị Rouletabille thôi miên, đã cầm lấy chiếc ly trên bàn và cố tình mang ra phòng thay đồ để đổ đi, và bà nán lại ở đó một lúc để lấy lại bình tĩnh.

Natacha nói tiếp:

“Bố sẽ thấy đấy, rồi cuối cùng bố cũng sẽ sống được bình thường như bao người khác thôi. Quan trọng nhất là đã tống cổ được bọn cảnh sát, cái lũ cảnh sát tàn ác ấy đi; phải không thưa Monsieur Rouletabille?”

“Bản thân tôi vẫn luôn nói rằng tôi hoàn toàn đồng quan điểm với tiểu thư Natacha. Bà có thể hoàn toàn yên tâm được rồi, và tôi cũng sẽ rời đi trong sự yên tâm ấy. Vâng, tôi phải tính chuyện hoàn thành nhanh các cuộc phỏng vấn của mình để còn lên đường. À mà, tôi chỉ có thể nói những gì mình suy nghĩ thôi. Hãy tự quản lý lấy công việc nhà các vị và các vị sẽ chẳng gặp nguy hiểm nào nữa đâu. Hơn nữa, sức khỏe của tướng quân đang khá lên rất nhiều, và tôi hy vọng chẳng mấy chốc sẽ được gặp lại tất cả quý vị ở Pháp. Bây giờ tôi phải cảm ơn sự hiếu khách nồng hậu của mọi người thôi.”

“Ôi, nhưng cậu không định đi đấy chứ? Cậu không được phép đi!” Matrena đã chực cất lời phản đối bằng tất cả dòng thác từ ngữ sục sôi trong cõi lòng tiêu điều tội nghiệp của mình, nhưng một ánh liếc sắc lạnh từ người phóng viên đã chặn đứng ngay những lời giãi bày tuyệt vọng ấy.

“Tôi buộc phải ở lại thành phố thêm một tuần nữa. Tôi đã thuê một phòng ở Khách sạn de France rồi. Bắt buộc phải thế. Tôi còn bao nhiêu người phải gặp và phải tiếp đón cơ mà. Thỉnh thoảng tôi sẽ ghé qua đây thăm mọi người một chút.”

“Thế ra cậu hoàn toàn yên tâm,” vị tướng nghiêm nghị hỏi, “khi để mặc tôi ở lại một mình ư?”

“Hoàn toàn yên tâm chứ. Hơn nữa, tôi có để mặc ngài ở lại một mình đâu. Tôi để ngài lại cùng phu nhân Trebassof và tiểu thư đây mà. Tôi xin nhắc lại: Cả ba người cứ duy trì tình trạng như tôi đang thấy hiện giờ nhé. Không cần cảnh sát nữa, hoặc chí ít thì càng ít bóng dáng bọn chúng càng tốt.”

“Cậu ấy nói đúng, đúng lắm,” Natacha lại phụ họa.

Đúng lúc đó lại vang lên những tiếng gõ cửa dồn dập vào phòng Matrena. Đó là Ermolai, đến bẩm báo rằng Ngài Đại Thần Triều Đình, Bá tước Keltzof, muốn diện kiến tướng quân theo ủy quyền của Hoàng Thượng.

“Con xuống tiếp ngài Bá tước đi, Natacha, và bảo ngài ấy là bố sẽ xuống ngay đây thôi.”

Natacha và Rouletabille cùng đi xuống và bắt gặp vị Bá tước đang đứng ở phòng khách. Ông là một người đàn ông lực lưỡng, khôi ngô và to lớn hệt như một chiến binh cận vệ giáo hoàng Thụy Sĩ. Trông ông có vẻ dò xét khắp mọi hướng và soi mói từng món đồ đạc, rõ ràng là đang vô cùng thấp thỏm lo âu. Ông lập tức tiến về phía tiểu thư để thăm hỏi tình hình.

“Toàn là tin vui thôi ạ,” Natacha đáp. “Mọi người ở đây ai nấy đều tuyệt vời cả. Tướng quân đang rất phấn chấn. Thế còn ngài đại thần có tin tức gì mới không ạ? Trông ngài có vẻ bận tâm quá.”

Vị đại thần đã bắt tay Rouletabille.

“Thế còn nho của ta đâu?” ông hỏi Natacha.

“Sao cơ, nho của ngài á? Nho gì cơ ạ?”

“Nếu các cháu chưa động đến chúng thì tốt quá. Ta đến đây với một bụng đầy lo lắng. Hôm qua ta có mang cho các cháu, tiện đường từ Krasnoie-Coelo về, mấy chùm nho của Hoàng đế mà Feodor Feodorovitch vẫn rất thích. Thế mà sáng nay ta hay tin con trai cả của lão Doucet, người làm vườn trưởng người Pháp tại các nhà kính hoàng gia ở Krasnoie, đã chết vì ăn phải mấy chùm nho đó — những chùm mà lão đã tiện tay nhặt ra từ số nho dành cho ta mang đến đây. Các cháu tưởng tượng xem ta hoảng hốt cỡ nào. Tuy nhiên, ta vẫn đinh ninh rằng ở bàn ăn của tướng quân, nho không bao giờ được đem ra ăn nếu chưa được rửa sạch, chỉ là ta tự trách mình đã không cẩn thận dặn dò lão Doucet phải khuyến cáo họ rửa thật kỹ. Dù sao thì ta đoán chắc cũng chẳng sao đâu. Ta không thể hình dung nổi món quà của mình lại có thể nguy hiểm thế nào, nhưng khi hay tin cậu con trai nhà Doucet bỏ mạng vào sáng nay, ta liền nhảy ngay lên chuyến tàu đầu tiên để chạy thẳng tới đây.”

“Nhưng thưa ngài đại thần,” Natacha ngắt lời, “chúng cháu có thấy chùm nho nào của ngài đâu ạ.”

“À, hóa ra chúng vẫn chưa được dọn ra à? Quá tốt rồi. Ơn Chúa!”

“Vậy là những chùm nho của Hoàng đế bị nhiễm bệnh sao?” Rouletabille gặng hỏi. “Dịch sâu rphylloxera đã xâm nhập được vào các nhà kính rồi à?”

“Chẳng thứ gì ngăn được nó cả, lão Doucet đã bảo ta thế. Thế nên chiều hôm qua lão không muốn để ta đi cho đến khi nào lão đã rửa sạch đỗ nho đó rồi. Khổ nỗi ta lại đang vội tàu nên cứ thế vác đi luôn, hoàn toàn không mảy may ngờ rằng thứ dung dịch họ dùng để phun xịt bảo vệ nho lại có độc tính chết người đến thế. Nghe nói ở các vùng trồng nho người ta vẫn gặp những tai nạn kiểu này mỗi năm. Hhình như người ta gọi nó là... dung dịch gì ấy nhỉ...”

“Dung dịch Bordeaux phải không ạ,” giọng Rouletabille vang lên run rẩy. “Và ngài có biết dung dịch Bordeaux đó là gì không, thưa ngài đại thần?”

“Chịu, ta nào biết.”

Đúng lúc đó vị tướng quân bước xuống cầu thang, tay bấu lấy lan tràn và được Matrena Petrovna dìu đỡ.

“Nào,” Rouletabille tiếp lời, hướng đôi mắt dõi theo Natacha, “dung dịch Bordeaux bám trên những chùm nho mà ngài mang đến biếu tướng quân ngày hôm qua thực chất chẳng phải thứ gì khác ngoài arsenat natri.”

“Chúa tôi!” Natacha thét lên.

Còn về phần Matrena Petrovna, bà thốt lên một tiếng kêu nghẹn ngào rồi buông thõng tay khỏi người tướng quân, khiến ông suýt ngã nhào xuống cầu thang. Mọi người nháo nhào lao tới. Vị tướng cười lớn. Matrena, dưới ánh nhìn nghiêm khắc của Rouletabille, ấp úng ngụy biện rằng bà bỗng dưng thấy hơi xây xẩm mặt mày. Cuối cùng tất cả cũng tập trung lại ở hiên nhà. Vị tướng ngả người ra sofa và cất giọng hỏi:

“Thế nào, vừa nãy ngài đại thần thân mến của tôi có nhắc đến chuyện gì về mấy chùm nho ngài mang tới cho tôi phải không nhỉ?”

“Đúng thế,” Natacha hoảng hốt tiếp lời, “và những điều cậu ấy vừa nói hoàn toàn chẳng hay ho chút nào đâu bố ạ. Con trai của lão Doucet, tay làm vườn của triều đình, vừa mới bị đầu độc chết cũng chính vì mấy chùm nho mà ngài đại thần, ngài ấy mang tới cho bố đấy ạ.”

“Nó ở đâu cơ chứ? Nho nào cơ? Tao có thấy chùm nho nào đâu cơ chứ!” Matrena la oai oái. “Hôm qua tao có thấy ngài đại thần loanh quanh ngoài vườn, nhưng ngài ấy đi ngay sau đó hầu như chẳng chần chừ, và quả thực tao rất ngạc nhiên vì ngài ấy không thèm bước vào nhà. Câu chuyện quái quỷ gì thế này?”

“Nào, chúng ta phải làm rõ chuyện này ra ngô ra khoai mới được. Bắt buộc phải tìm cho ra chuyện gì đã xảy ra với những chùm nho đó.”

“Chắc chắn rồi,” Rouletabille đồng tình, “chúng có thể gây ra một thảm họa lớn đấy.”

“Nếu như thảm họa đó chưa xảy ra,” vị đại thần thấp thỏm lo âu.

“Nhưng sao lại thế được? Chúng đâu rồi? Ngài đã đưa chúng cho ai?”

“Ta đựng chúng trong một chiếc hộp các-tông trắng, chiếc hộp đầu tiên vớ được ở nhà Doucet. Ta đến đây lần đầu nhưng không gặp mọi người. Ta quay lại lần nữa mang theo chiếc hộp, và lúc đó tướng quân vừa mới chuẩn bị nằm nghỉ. Ta lại đang vỡ kế hoạch vì chuyến tàu nên khi thấy Michael Nikolaievitch và Boris Alexandrovitch ở trong vườn, ta liền nhờ hai cậu ấy chuyển giúp lời nhắn, rồi đặt chiếc hộp lên chiếc bàn nhỏ ngoài vườn, dặn dò họ đừng quên nhắc các gia chủ phải rửa sạch nho như lời lão Doucet đã căn dặn kỹ lưỡng.”

“Nhưng thật là vô lý! Thật kinh khủng!” Matrena run rẩy thốt lên. “Mấy chùm nho đó có thể đang ở đâu chứ? Chúng ta phải tìm cho ra.”

“Dứt khoát phải thế,” Rouletabille quả quyết.

“Chúng ta phải hỏi Boris và Michael thôi,” Natacha đề nghị. “Lạy Chúa! Chắc chắn là bọn họ chưa ăn chúng chứ! Lỡ bọn họ đổ bệnh thì sao.”

“Họ đây rồi,” vị tướng hô lên. Tất cả cùng quay đầu nhìn ra. Michael và Boris đang bước lên bậc thềm. Rouletabille, nãy giờ đứng ẩn khuất trong góc tối dưới chân cầu thang chính, không bỏ sót bất kỳ một cử động cơ mặt nào trên nét mặt của hai gã trai mà với cậu lúc này đang là hai ẩn số cần phải giải mã. Cả hai gương mặt đều đang mỉm cười; có lẽ là cười hơi quá đà.

“Michael! Boris! Lại đây mau,” Feodor Feodorovitch gọi lớn. “Các cậu đã xử lý thế nào với mấy chùm nho của ngài đại thần rồi?”

Cả hai cùng ngước nhìn ông sau câu chất vấn đột ngột đó, có vẻ ngẩn người không hiểu gì, rồi chợt bừng tỉnh, họ hồn nhiên tuyên bố rằng mình đã bỏ quên chúng ở cái bàn ngoài vườn và hoàn toàn không mảy may nghĩ ngợi gì đến chúng nữa.

“Thế ra các cậu đã quên bẵng lời dặn dò của ta rồi sao?” Bá tước Keltzof nghiêm giọng quở trách.

“Lời dặn nào cơ ạ?” Boris ngơ ngác hỏi. “À, vâng, chuyện rửa sạch nho ấy ạ. Lời dặn của lão Doucet.”

“Các cậu có biết chuyện gì vừa xảy ra với lão Doucet vì mấy chùm nho đó không? Đứa con trai cả của lão đã chết ngắc vì trúng độc rồi đấy. Các cậu đã hiểu tại sao chúng ta lại sốt sắng muốn biết tung tích mấy chùm nho của ta chưa hả?”

“Nhưng chắc là chúng vẫn đang ở ngoài chiếc bàn kia chứ ạ,” Michael đáp.

“Chẳng ai tìm thấy tăm tích chúng ở đâu cả,” Matrena lớn tiếng khẳng định, mắt bà cũng chăm chú dò xét từng biến động sắc thái trên nét mặt hai viên sĩ quan chẳng kém gì Rouletabille. “Tại sao chiều hôm qua các cậu lại chuồn thẳng mà không một lời chào tạm biệt, không thèm ghé vào nhìn chúng tôi lấy một cái, cũng chẳng thèm bận tâm xem tướng quân có cần gì đến các cậu hay không cơ chứ?”

“Thưa bà,” Michael lạnh lùng đáp, ra điều quân cách, hệt như đang trả lời chính cấp trên của mình, “chúng cháu có đủ lý do chính đáng để trình bày với bà và tướng quân. Tụi cháu buộc phải thú nhận một chuyện, và cháu tin là tướng quân sẽ rộng lượng tha thứ. Cả Boris và cháu, trong lúc đi dạo, đã vô tình xảy ra cãi vã. Cuộc cãi lộn đó đang hồi gay cấn thì tụi cháu tới đây, và tụi cháu đang bàn cách giải quyết nó nhanh gọn nhất ngay lúc ngài đại thần bước vào vườn. Đó chính là lý do khiến tụi cháu lơ đễnh không tập trung toàn ý vào những gì ngài ấy dặn dò. Ngay khi ngài ấy vừa đi khỏi, trong đầu tụi cháu chỉ duy nhất một ý nghĩ là phải chuồn mau khỏi đây để giải quyết ơn oán sòng phẳng bằng vũ khí trong tay.”

“Lại dám giấu ta tự ý quyết định chuyện đó nữa chứ!” Trebassof xen vào cắt ngang. “Ta sẽ đời nào tha thứ cho chuyện này.”

“Các cậu lại đi đánh nhau vào cái thời điểm dầu sôi lửa bỏng mà tướng quân đang bị đe dọa sát hại thế này ư! Chẳng khác nào các cậu tự chém giết lẫn nhau ngay trước mũi kẻ thù cả. Đó là hành vi phản quốc!” Matrena bồi thêm.

“Thưa bà,” Boris phân trần, “chúng cháu đã không đánh nhau. Đã có người chỉ ra lỗi lầm của tụi cháu, và cháu đã chủ động ngỏ lời xin lỗi Michael Nikolaievitch, và anh ấy đã rộng lượng bỏ qua. Có phải thế không, Michael Nikolaievitch?”

“Và kẻ nào đã chỉ ra lỗi lầm đó cho các cậu thế?” vị đại thần gặng hỏi.

“Là Natacha.”

“Tuyệt lắm, Natacha. Nào, lại đây ôm bố nào con gái.”

Vị tướng ôm xiết con gái vào lồng ngực rộng lớn của ông đầy xúc động.

“Và bố hy vọng từ nay các cậu sẽ không còn sinh sự cãi cọ nào nữa nhé,” ông nói lớn, ánh mắt nhìn qua vai Natacha.

“Chúng cháu xin hứa với ngài điều đó, thưa Tướng quân,” Boris quả quyết. “Sinh mạng của chúng cháu từ nay xin hiến dâng cho ngài.”

“Con đã làm rất tốt, con yêu của bố ạ. Mong rằng tất cả chúng ta ai nấy đều làm tốt như thế. Ta đã có một đêm ngon giấc tuyệt vời, các cậu ạ. Một giấc ngủ thật sự! Ta đã ngủ một mạch sâu đến thế đấy.”

“Quả thực là vậy,” Matrena chậm rãi lên tiếng. “Tướng quân chẳng cần đến chút thuốc mê nào cả. Lão ngủ ngon lành hệt như một đứa trẻ và chẳng hề chạm tay vào ly thuốc.”

“Và chân tôi cũng đã gần như lành hẳn rồi đây.”

“Dù sao đi nữa, thật là kỳ quặc khi những chùm nho đó lại biến mất một cách khó hiểu như thế,” vị đại thần vẫn kiên quyết bám lấy ý nghĩ cố hữu của mình.

“Ermolai,” Matrena cất giọng gọi.

Lão gia nhân già lững thững bước ra.

“Chiều hôm qua, sau khi mấy vị sĩ quan này đã rời khỏi nhà, ông có để ý thấy chiếc hộp các-tông trắng nào nhỏ nhỏ ở trên chiếc bàn ngoài vườn không?”

“Dạ không, thưa Barinia.”

“Thế còn đám người hầu thì sao? Có ai trong số họ đổ bệnh không? Mấy tên gã dvornick ấy? Gã Schwitzar? Hay người trong bếp? Không ai bị ốm đau gì cả chứ? Không thật chứ? Đi kiểm tra ngay đi; rồi quay lại báo cho tao.”

Lão quay lại và bẩm báo: “Không có ai bị ốm cả ạ.”

Hệt như vị đại thần, cả Matrena Petrovna lẫn Feodor Feodorovitch đều ngẩn người nhìn nhau, đồng thanh lặp lại bằng tiếng Pháp: “Không ai bị ốm cả! Thật là kỳ lạ!”

Rouletabille bước lên phía trước và đưa ra lời giải thích duy nhất có vẻ hợp lý — đối với những người còn lại.

“Nhưng thưa Tướng quân, điều đó có gì là kỳ lạ đâu chứ. Số nho ấy đã bị kẻ hầu người hạ nào đó ăn trộm và ăn sạch rồi, và nếu tên đầy tớ đó không đổ bệnh thì đơn giản là vì mấy chùm nho ngài đại thần mang tới đã may mắn không dính phải đợt phun xịt dung dịch Bordeaux mà thôi. Toàn bộ bí ẩn chỉ có thế.”

“Cậu nhóc này nói chuẩn không cần chỉnh,” vị đại thần khấp khởi mừng rỡ thốt lên.

“Cậu ấy lúc nào mà chẳng đúng, cái cậu nhóc này,” Matrena rạng rỡ phụ họa, tự hào hệt như thể chính bà là người đã sinh thành ra cậu vậy.

Nhưng “cậu nhóc”, nhân lúc mọi người đang mải chào đón sự xuất hiện của Athanase Georgevitch và Ivan Petrovitch liền chuồn thẳng ra khỏi biệt thự, tay vẫn kè kè bóp chặt trong túi chiếc lọ nhỏ chứa thứ chất lỏng đủ sức làm cho những giàn nho tươi tốt hoặc tiễn một vị tướng đang khỏe mạnh về cõi vĩnh hằng. Khi cậu vừa đi được vài trăm bước hướng về phía những cây cầu phải băng qua để vào thành phố, thì bị một gã dvornick thở hồng hộc chạy theo đuổi kịp để đưa cho cậu một lá thư vừa được chuyển tới qua đường bưu điện. Nét chữ trên phong bì hoàn toàn xa lạ với cậu. Cậu xé toạc phong bì ra và đọc bằng một thứ tiếng Pháp cực kỳ lưu loát:

“Yêu cầu M. Joseph Rouletabille đừng có xía mũi vào những chuyện không dính dáng gì đến mình. Lần cảnh cáo thứ hai cũng sẽ là lần cuối cùng.” Thư ký tên: “Ủy ban Cách mạng Trung ương.”

“Ồ hố!” Rouletabille thốt lên, nhét vội tờ giấy vào túi, “thì ra chúng giở giọng này ra với mình đây! May quá, mình chẳng còn việc gì phải bận tâm ở đó nữa rồi. Giờ thì đến lượt Koupriane! Lập tức đi tìm Koupriane thôi!”

Vào ngày này, trong sổ tay của Rouletabille ghi chép lại: “Natacha nói với cha: ‘Nhưng bố ơi, bố có ngủ ngon không? Bố có uống thuốc mê không đấy?’”

“Thật đáng sợ, và (để tôi không nhầm lẫn giữa thiên đàng và địa ngục) tôi không còn quyền ghi chép thêm bất cứ điều gì nữa.” *

* Thực tế là, sau ngày hôm nay, người ta không còn tìm thấy bất kỳ ghi chép nào trong sổ tay của Rouletabille nữa. Dòng cuối cùng chính là dòng trên, mang đầy vẻ kỳ quái và lãng mạn, đồng thời là điều kiện bắt buộc, như Sainclair, luật sư ở Paris kiêm người bạn thân thiết của Rouletabille, đã chú thích bên cạnh trong tập tài liệu mà chúng tôi đã trích xuất mọi chi tiết của câu chuyện này.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.