Bí Mật Đêm Đen

Lượt đọc: 26 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Quả Bom Sống

❊ ❊ ❊

Theo bản năng — vì lúc này anh chỉ có thể hành động theo bản năng — chàng thanh niên quay lại căn dã-sát. Nơi đó đang chìm trong cảnh hỗn loạn khôn cùng. Lực lượng canh gác đã được tăng cường gấp đôi. Bạn bè của viên tướng, được Trebassof triệu tập, đang vây quanh hai nạn nhân bị đầu độc và lấp đầy ngôi nhà bằng sự quan tâm cuồng nhiệt cùng những lời bày tỏ lòng ân cần. Tuy nhiên, một vị bác sĩ nhỏ nhoi đến từ khu phố bình dân Vasili-Ostrow, do cảnh sát đưa tới, đã trấn an tất cả mọi người. Cảnh sát không tìm thấy gia y của viên tướng ở nhà, nhưng hứa hẹn hai chuyên gia mà họ tìm thấy thay thế sẽ đến ngay lập tức. Trong lúc chờ đợi, họ đã vớt vóc vị bác sĩ nhỏ bé này dọc đường; ông ta vui tính và nói năng tếu táo như một con chim ác là. Ông có đủ việc phải bận tâm khi chăm sóc Matrena Petrovna, người đã kiệt quệ đến mức người chồng Feodor Feodorovitch của bà vẫn còn run rẩy, “lần đầu tiên trong đời,” như lời vị Ivan Petrovitch khả kính đã thốt lên.

Phóng viên vô cùng kinh ngạc khi không tìm thấy Natacha ở cả phòng của Matrena lẫn phòng của Feodor. Anh liền hỏi Matrena xem con gái nuôi của bà đang ở đâu. Matrena quay sang anh với gương mặt đầy vẻ hoảng sợ. Khi chỉ còn hai người, bà cất lời:

“Chúng tôi không biết con bé đang ở đâu. Gần như ngay lúc cậu vừa rời đi, nó đã biến mất và không ai còn nhìn thấy nó kể từ đó. Viên tướng đã hỏi về nó mấy lần rồi. Tôi buộc phải nói dối rằng Koupriane đã đưa con bé đi cùng để tìm hiểu chi tiết từ nó về những gì đã xảy ra.”

“Con bé không ở cùng Koupriane,” Rouletabille đáp.

“Thế nó ở đâu? Sự biến mất này thật quá kỳ lạ vào đúng lúc chúng tôi đang cận kề cái chết, khi mà cha nó — Ôi Chúa ơi! Xin hãy để tôi yên, con tôi ơi; tôi đang nghẹt thở; tôi đang nghẹt thở mất thôi.”

Rouletabille gọi vị bác sĩ tạm thời đến rồi bước ra khỏi phòng. Anh đến đây với ý định kiểm tra ngôi nhà từng phòng một, từng góc nhỏ một, để xác định xem có bất kỳ lối vào nào mà trước đó anh chưa chú ý tới hay không — một lối vào mà những kẻ mưu sát bằng chất độc vẫn đang tiếp tục sử dụng. Nhưng giờ đây, một sự thật mới đã xuất hiện và lu mờ tất cả: sự biến mất của Natacha. Anh thầm tiếc nuối biết bao vì sự dốt nát tiếng Nga của mình — mà trong số thuộc hạ của Koupriane lại chẳng có lấy một người biết tiếng Pháp. Có lẽ anh phải cố gạn hỏi Ermolai xem sao.

Ermolai cho biết hắn chỉ nhìn thấy Natacha đứng ngay ngoài cổng trong giây lát, đang ngước nhìn lên xuống con đường. Sau đó, hắn bị viên tướng gọi vào nhà nên không còn biết gì thêm nữa.

Đó là tất cả những gì phóng viên có thể thu thập được từ những cử chỉ hơn là lời nói của người đầy tớ già.

Một khó khăn chồng chất nữa là bóng chiều đang buông xuống, khiến phóng viên hoàn toàn không thể nhận ra những dấu chân của Natacha. Có thật là cô thiếu nữ đã trốn chạy vào một thời điểm như thế, ngay sau vụ đầu độc, trước khi cô kịp biết cha mẹ mình đã hoàn toàn qua cơn nguy kịch hay chưa? Nếu Natacha vô tội, như Rouletabille vẫn hằng mong muốn tin là thế, thì thái độ đó quả thực không tài nào hiểu nổi. Và chắc chắn cô thừa biết hành động ấy sẽ chỉ càng làm gia tăng sự nghi ngờ của Koupriane. Phóng viên có một lý do sống còn để gặp cô ngay lập tức, một lý do sống còn cho tất cả những ai liên quan, hơn bao giờ hết vào thời điểm những kẻ theo chủ nghĩa Hư đang đi đến hồi kết cho các âm mưu của chúng; một lý do sống còn cho cả cô và anh — những kẻ đều đang đối mặt với cái chết — để trò chuyện với cô và nhắc lại những đề xuất mà anh đã đưa ra chỉ vài phút trước vụ đầu độc, điều mà cô đã không muốn nghe vì lòng trắc ẩn đầy sợ hãi dành cho anh hoặc vì muốn thách thức anh. Natacha đang ở đâu cơ chứ? Anh thầm nghĩ có lẽ cô đang tìm cách hội ngộ với Annouchka, và có những lý do cho việc đó, dù cô vô tội hay có tội đi chăng nữa. Nhưng Annouchka đang ở đâu? Ai mà trả lời được cơ chứ! Có lẽ là Gounsovski chăng. Rouletabille nhảy lên một chiếc xe trượt tuyết đang trống khách quay về từ Mũi Đất, và đọc địa chỉ của Gounsovski. Lúc ấy anh mới sực nhớ ra rằng mình đã được mời đến ăn tối với gia đình Gounsovski vào chính ngày hôm đó. Chắc họ không còn mong đợi anh nữa rồi. Anh thầm trách bản thân.

Họ tiếp đón anh, nhưng bữa tối đã kết thúc từ lâu.

Vợ chồng ông Gounsovski đang chơi một ván cờ đam dưới ngọn đèn. Vừa bước vào phòng khách, Rouletabille đã nhận ra cái đầu hói sáng bóng, hơi mập mạp của gã đàn ông đáng sợ ấy. Gounsovski tiến lại gần anh, cúi đầu khép nép, đôi bàn tay mập mạp chìa ra. Anh được giới thiệu với phu nhân Gounsovski, người mặc chiếc áo lụa đen lấp lánh đầy đồ trang sức. Bà có làn da ngăm đục và đôi mắt tuyệt đẹp. Bà cũng nở nụ cười niềm nở thăm dò. “Chúng tôi đã đợi cậu đấy, thưa ngài,” bà cất lời, cười khúc khích rụt rè với vẻ duyên dáng cố tình của một phụ nữ đã luống tuổi nhưng vẫn muốn dựa dẫm vào những nét ngây thơ của trẻ nhỏ. Khi chàng thanh niên bội ước cất lời xin lỗi, bà liền nói: “Ôi, chúng tôi biết cậu rất bận rộn mà, ngài Rouletabille ạ. Chồng tôi vừa mới nói điều đó với tôi cách đây một lát thôi. Nhưng ông ấy biết trước sau gì cậu cũng sẽ đến. Cuối cùng thì ai cũng phải nhận lời mời của chồng tôi thôi.” Bà nói điều này với một nụ cười mãn nguyện đầy kiêu hãnh.

Rouletabille lạnh sống lưng trước câu nói cuối cùng ấy. Anh thực sự cảm thấy sợ hãi khi đối diện với hai con người tầm thường đến mức ghê tởm này, trong căn phòng khách nhỏ bé, tươm tất một cách đáng sợ.

Bà phu nhân tiếp lời:

“Nhưng chắc cậu đã có một bữa tối khá tồi tệ rồi, do vụ việc khủng khủng khiếp tại dinh thự của tướng Trebassof chứ gì. Xin mời vào phòng ăn.” “Ả thế, có người đã kể cho bà nghe rồi à?” Rouletabille nói. “Không, không, cảm ơn; tôi không cần gì thêm nữa đâu. Bà có biết chuyện gì đã xảy ra không?”

“Nếu cậu đến ăn tối, có lẽ đã chẳng có chuyện gì xảy ra cả, cậu biết đấy,” Gounsovski điềm tĩnh nói, ngả người ngồi lại xuống đệm và nhìn chằm chằm vào ván cờ đam qua cặp kính cận. “Dù sao thì cũng xin chúc mừng Koupriane vì đã trốn tránh khỏi nơi đó do sợ hãi.”

Đối với Gounsovski, trong đầu hắn chỉ có mỗi mình Koupriane! Sống hay chết của Trebassof chẳng chiếm chút tâm trí nào của hắn. Chỉ có những hành động và di chuyển của viên cảnh sát trưởng mới có đủ sức lay chuyển hắn. Hắn ra lệnh cho một cô hầu gái — kẻ lướt vào phòng mà không gây ra tiếng động nào hơn một chiếc bóng — mang lại một chiếc bàn nhỏ chất đầy món khai vị zakouski và những chai sâm-panh đặt sát bên bàn cờ, rồi hắn di chuyển một con tốt và nói: “Cậu cho phép chứ? Nước đi này là của tôi. Tôi không muốn mất lượt đâu.”

Rouletabille cả gan đặt tay lên cái nắm đấm tay nhờ nhờ, rậm lông nhô ra từ một chiếc cổ áo khả nghi.

“Anh đang nói cái gì thế hả? Sao anh lại có thể lường trước được điều đó?”

“Việc lường trước mọi thứ là điều quá dễ dàng,” Gounsovski đáp, vừa chìa hộp xì-gà ra, “lường trước mọi thứ kể từ thời điểm vị trí của Matiew bị thay thế bởi Priemkof.”

“Thế sao?” Rouletabille gặng hỏi, lòng đầy bất an khi nhớ lại cảnh trừng phạt bằng roi trong nhà nguyện của đội cận vệ.

“À, thì cái tay Priemkof này, nói thật với cậu nhé,” (ráp lại gần sát tai phóng viên) “cũng chẳng khá khẩm hơn gì trong vai trò cảnh vệ cho Koupriane so với chính Matiew đâu. Rất nguy hiểm. Thế nên khi hay tin hắn thay thế vị trí của Matiew tại datcha des Iles, tôi đã đoán chắc sẽ xảy ra chuyện chẳng lành. Nhưng đó đâu phải chuyện của tôi, phải không nào? Koupriane thừa sức bảo tôi rằng: ‘Hãy lo việc của anh đi.’ Tôi đã đi đủ xa khi cảnh báo hắn về ‘những quả bom sống’ rồi. Chúng đã bị tố giác bởi chính tổ chức đã giúp chúng ta tóm gọn hai quả bom sống (xin lỗi vì phải gọi họ là phụ nữ nhé!) đang trên đường đến tòa án quân sự ở Cronstadt sau cuộc nổi dậy trong hạm đội. Hãy để hắn nhớ lại điều đó đi. Chuyện đó phải làm cho hắn phải suy ngẫm chứ. Tôi là một người dũng cảm. Tôi biết hắn nói xấu tôi; nhưng tôi chẳng hề muốn hại hắn đâu. Lợi ích của Đế quốc là trên hết trong mối quan hệ giữa chúng ta! Tôi sẽ chẳng đời nào nói chuyện với cậu thế này nếu tôi không biết Sa hoàng dành cho cậu sự sủng ái đặc biệt. Thế nên tôi mới mời cậu đến ăn tối. Vừa ăn tối vừa trò chuyện. Nhưng cậu đã không đến. Và, trong lúc cậu đang ăn tối dưới đó và trong lúc Priemkof đang canh gác tại datcha, thì cái vụ việc phiền toái mà phu nhân Gounsovski vừa nhắc tới đã xảy ra.”

Rouletabille vẫn đứng bất động, dẫu phu nhân Gounsovski có nài nỉ thế nào đi nữa. Anh giật phăng hộp xì-gà khỏi tay tên trùm mật vụ — kẻ vẫn đang chìa ra mời mọc — bởi chi tiết hiếu khách này chỉ càng làm gia tăng tâm trạng bực bội vốn đã âm u suốt mấy giờ qua của anh, nay lại càng nặng nề thêm bởi những gì đối phương vừa buông ra. Anh chỉ hiểu được một điều duy nhất: rằng một kẻ tên là Priemkof — người mà anh chưa từng nghe ai nhắc đến bao giờ, một kẻ quyết tâm tiêu diệt viên tướng không kém gì Matiew — đã được Koupriane giao phó trọng trách canh giữ datcha des Iles. Anh cần phải lập tức cảnh báo cho Koupriane.

“Sao chính ông lại không làm việc đó ngay từ đầu, thưa ngài Gounsovski? Tại sao lại phải chờ đến lúc nói lại với tôi? Thật là không thể tưởng tượng nổi.”

“Xin lỗi, xin lỗi nhé,” Gounsovski dịu dàng mỉm cười sau cặp kính bảo hộ; “đâu phải là một chuyện giống nhau.”

“Không, không, đâu phải cùng một chuyện,” mụ đàn bà mặc áo lụa đen với những món trang sức lấp lánh và chiếc cằm nhão nhoét phụ họa thêm. “Chúng ta đang nói chuyện ở đây với một người bạn trong bữa tối, với một người bạn không thuộc lực lượng cảnh sát. Chúng tôi chẳng bao giờ tố cáo ai cả.”

“Chúng tôi phải nói cho cậu biết chứ. Nhưng giờ thì hãy ngồi xuống đi,” Gounsovski vẫn nài nỉ, vừa châm lửa hút xì-gà. “Hãy biết điều đi chứ. Bọn chúng vừa mới đầu độc ông ấy xong, thế nên chúng sẽ phải dành thời gian thở dốc trước khi mưu tính chuyện khác. Hơn nữa, chất độc này làm tôi nghĩ rằng có lẽ chúng đã từ bỏ ý định dùng bom sống rồi. Dù sao đi nữa, chuyện gì đến rồi cũng phải đến.”

“Đúng thế, đúng thế,” mụ phu nhân đẫy đà tán đồng. “Cảnh sát chưa bao giờ có thể ngăn chặn được những gì đã được định sẵn xảy ra cả. Nhưng mà, nhân nhắc đến cái tay Priemkof này, mọi chuyện chỉ dừng lại giữa chúng ta thôi nhé? Chỉ giữa chúng ta với nhau thôi đấy?”

“Đúng vậy, giờ thì chúng tôi phải nói cho cậu hay,” Gounsovski nhỏ giọng chen vào, “rằng sẽ tốt hơn rất nhiều nếu không để cho Koupriane biết rằng thông tin đó cậu có được từ tôi. Bởi vì khi ấy, cậu hiểu đấy, hắn sẽ không đời nào tin cậu; hay đúng hơn là, hắn sẽ không tin tôi. Đó là lý do vì sao chúng ta phải dùng đến những biện pháp cẩn trọng là ăn tối và hút xì-gà thế này. Chúng ta trò chuyện chuyện nọ chuyện kia và cậu muốn làm gì với những gì chúng tôi nói thì tùy. Nhưng để chúng có tác dụng, tôi nhắc lại lần nữa, tuyệt đối phải giữ kín nguồn tin.” (Vừa nói, Gounsovski vừa liếc Rouletabille một cái sắc lẹm qua cặp kính bảo hộ — lần đầu tiên Rouletabille nhìn thấy một ánh nhìn như thế trong mắt hắn. Anh chưa từng ngờ rằng con người này lại có thể mang thứ ánh lửa ấy.) “Priemkof,” Gounsovski tiếp tục bằng giọng trầm trầm, vừa dùng khăn tay lau mồ hôi túi bụi, “từng được thuê làm việc ở nhà tôi và chúng tôi chia tay trong không khí không mấy tốt đẹp, phải nói là do lỗi của hắn. Sau đó hắn luồn lách để lấy lòng tin của Koupriane bằng cách nói những điều tồi tệ nhất về chúng tôi, thưa vị tiểu quý tộc thân mến của tôi ơi.”

“Nhưng hắn có thể nói gì chứ? Toàn chuyện tầm phào của bọn đầy tớ thôi! Thưa vị tiểu quý tộc thân mến,” mụ đàn bà béo ú lặp lại, đồng thời trợn trừng đôi mắt đen to lớn đầy vẻ giận dữ. “Những chuyện tào lao đã bị triều đình xử lý đúng mức của chúng, chắc chắn là thế rồi. Bà Daquin, vợ của bếp trưởng Hoàng thượng — kẻ mà chắc chắn cậu biết rõ — và cháu trai của nữ quan hầu cận thứ hai của Hoàng hậu, người rất có thế lực với dì mình, đã kể cho chúng tôi nghe như thế; những câu chuyện của lũ đầy tớ tuy có thể đã hủy hoại chúng tôi nhưng chẳng hề tạo ra chút ảnh hưởng nào đối với Hoàng thượng — Đấng mà chúng tôi sẵn sàng hiến dâng cả mạng sống, Chúa mới thấu hiểu cho lòng dạ chúng tôi. Chà, giờ thì cậu hiểu rồi đấy, nếu cậu mà nói với Koupriane rằng: ‘Gaspadine Gounsovski đã nói những điều tồi tệ về Priemkof với tôi,’ thì hắn sẽ chẳng buồn nghe thêm nửa lời đâu. Mặc dù vậy, Priemkof dính líu đến âm mưu đánh bom sống, đó là tất cả những gì tôi có thể nói với cậu; ít nhất là hắn đã dính líu trước vụ đầu độc. Vụ đầu độc đó quả thực rất đáng kinh ngạc, nói thật với nhau thế. Nó có vẻ không xuất phát từ bên ngoài, trong khi những quả bom sống thì sẽ phải đến từ bên ngoài. Và Priemkof thì nhúng tay vào đó.”

“Đúng thế, đúng thế,” phu nhân Gounsovski lại phụ họa, “hắn đã cam tâm tình nguyện dấn thân vào đó. Đã có những câu chuyện bàn tán về hắn nữa cơ. Người khác cũng biết thêu dệt chuyện giống như hắn vậy thôi; có khó khăn gì đâu. Giờ đây hắn buộc phải thể hiện chút bản lĩnh nếu muốn tiếp tục bám trụ lấy phe nhóm của Annouchka.”

“Koupriane, Koupriane thân mến của chúng ta,” Gounsovski cắt lời, có chút bối rối khi nghe vợ mình thốt lên cái tên Annouchka, “Koupriane lẽ ra phải hiểu được rằng lần này Priemkof bắt buộc phải làm nên chuyện, nếu không hắn sẽ chính thức tiêu đời.”

“Priemkof thừa hiểu điều đó chứ,” mụ vợ vừa đáp vừa châm đầy lại các ly rượu, “nhưng Koupriane thì lại chẳng biết gì sất; đó là tất cả những gì chúng tôi có thể nói với cậu. Thế đã đủ chưa? Toàn bộ phần còn lại chỉ là lời đồn nhảm nhí mà thôi.”

Chừng đó quả thực đã quá đủ đối với Rouletabille; anh đã ngấy đến tận cổ rồi! Những lời đồn đại vô bổ và những quả bom sống này! Những món đồ giả mỉa mai, những kẻ thì thầm mách lẻo trong không gian tư sản, điền viên ấy; những mối liên kết chính trị-cảnh sát mà mặt nực cười luôn phơi bày rõ nhất, trong khi mặt tối tăm khủng khiếp — khía cạnh Siberia, những nhà tù, những xà lim đen tối, những giá treo cổ, những cuộc biến mất, những chốn lưu đày, cái chết và sự tử đạo — lại được giấu kín đến mức chẳng ai thèm nhắc tới! Toàn bộ cái sức nặng của sự kinh hoàng ấy, nằm giữa một điếu xì-gà ngon và “một ly rượu hồi nhỏ nhé, thưa ngài, nếu ngài không dùng sâm-panh.” Dẫu vậy, anh vẫn phải uống trước khi rời đi, chạm ly chúc mừng, hứa hẹn sẽ quay lại bất cứ khi nào muốn — cánh cửa ngôi nhà luôn rộng mở đón chào anh. Rouletabille thừa biết nó rộng mở cho bất cứ ai — bất cứ kẻ nào có một câu chuyện để kể, một điều gì đó có thể đẩy người khác vào ngục tối hoặc đến với cái chết và sự lãng quên. Chẳng có lính canh nào ở cổng để kiểm tra khách ra vào — người ta bước vào nhà Gounsovski tựa như nhà của một người bạn, và hắn thì lúc nào cũng sẵn lòng làm ơn cho bạn, chắc chắn là thế rồi!

Hắn tiễn phóng viên ra tới tận cầu thang. Rouletabille đang toan đánh liều nhắc đến Annouchka để dò la về Natacha, thì Gounsovski chợt cất lời với một nụ cười kỳ lạ:

“Nhân tiện đây, cậu còn tin tưởng ở Natacha Trebassof nữa không đấy?”

“Tôi sẽ tin tưởng cô ấy cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay,” Rouletabille đáp trả đanh thép; “nhưng tôi thừa nhận với ông rằng vào lúc này tôi không biết cô ấy đã đi đâu rồi.”

“Hãy canh chừng Vịnh Lachtka, rồi ngày mai hãy quay lại nói cho tôi biết xem cậu có còn tin tưởng cô ta nữa không nhé,” Gounsovski đáp lại bằng giọng điệu đầy vẻ tâm sự, kèm theo một tiếng cười nhạt rợn ngợp khiến phóng viên phải rảo bước thật nhanh xuống cầu thang.

Và giờ đây lại còn cái tên Priemkof cần phải săn lùng nữa! Lại thêm Priemkof sau Matiew! Chàng thanh niên cảm giác như mình đang phải đơn độc chiến đấu chống lại tất cả bọn cách mạng, đồng thời chống lại cả lực lượng cảnh sát Nga — cùng với chính Gounsovski, và cả Koupriane nữa! Tất cả mọi người, tất cả mọi người! Nhưng khẩn cấp nhất lúc này chính là Priemkof và những quả bom sống của hắn. Thật là một cuộc phiêu lưu kỳ lạ, suýt chút nữa thì không thể hiểu nổi và vô cùng mệt mỏi giữa phong trào Hư và cảnh sát Nga. Cả Koupriane lẫn Gounsovski đều trọng dụng một kẻ mà họ thừa biết là phần tử cách mạng và là chiến của phe cách mạng. Về phần mình, phong trào Hư lại coi gã cảnh sát này như một trong số các điệp viên của chúng. Đổi lại, để duy trì sự cân bằng đầy hiểm nghèo ấy, gã đàn ông này buộc phải làm việc cho cả hai phía cảnh sát lẫn cách mạng, đồng thời chấp nhận bất cứ nhiệm vụ nào mà bên nào giao phó khi nó đến, bởi hắn buộc phải đưa ra những bảo đảm về lòng trung thành của mình cho cả hai bên. Chỉ có những kẻ ngốc nghếch như Gapon mới để cho mình bị treo cổ, hoặc kết thúc đời mình bằng cái chết dưới tay đồng bọn như Azef, do những sơ suất ngớ ngẩn của chúng. Thế nhưng một kẻ như Priemkof, khi chơi ván bài bắc cầu giữa cả hai nhánh cảnh sát, lại có cơ hội sống thọ, và một gã như Gounsovski sẽ chết một cách yên bình trên giường bệnh với đầy đủ các nghi thức an ủi của tôn giáo.

Tuy nhiên, những trái tim trẻ tuổi đầy nhiệt huyết chân thành, được bọc trong lớp thuốc nổ, lại bị lay động một cách đầy bí ẩn giữa chốn bóng tối khủng khiếp của xứ sở Nga Hoàng uy nghiêm, và họ chẳng hề hay biết mình sẽ bị sai phái đi đâu, và điều đó đối với họ cũng chẳng có gì khác biệt, bởi tất cả những gì họ thỉnh cầu chỉ là được chết trong một cơn cuồng phong tinh thần đầy hận thù và ái tình — những quả bom sống!*

* Trong phiên tòa sau cuộc nổi dậy ở Cronstadt, hai thiếu nữ đã bị buộc tội mặc bom giả trước ngực thay cho áo lót.

Tại góc phố Aptiekarski-Pereoulok, Rouletabille tình cờ chạm mặt Koupriane — người đang trên đường đến chỗ cha xứ Alexis và vừa nhìn thấy phóng viên liền cho dừng xe lại, gọi với sang rằng ông ta đang lập tức quay về datcha.

“Anh đã gặp cha xứ Alexis rồi chứ?”

“Rồi,” Koupriane đáp. “Và lần này thì tôi đã tóm được anh rồi đấy. Những gì tôi nói với anh, những gì tôi lường trước, đã thực sự xảy ra rồi. Nhưng anh có tin tức gì về các nạn nhân chưa? Nhân tiện, có một chuyện khá kỳ lạ vừa xảy ra. Tôi vừa gặp Kister trên đại lộ Nevsky lúc nãy.”

“Vị bác sĩ ấy hả?”

“Đúng vậy, một trong những bác sĩ của Trebassof mà tôi đã cử một thanh tra đến nhà đón về datcha, cùng với cộng sự thường xuyên của ông ta là bác sĩ Litchkof. Chà, chẳng có ai triệu tập Litchkof hay ông ta cả. Họ hoàn toàn chẳng hay biết gì về chuyện đã xảy ra ở datcha. Họ thậm chí còn chẳng gặp viên thanh tra của tôi. Tôi chỉ hy vọng là hắn đã gặp một vị bác sĩ nào khác trên đường đi và, vì tình thế cấp bách, đã đưa vị ấy đến datcha rồi.”

“Đúng là chuyện đó đã xảy ra rồi đấy,” Rouletabille đáp, sắc mặt tái nhợt đi. “Tuy nhiên, thật kỳ lạ là các vị ấy lại không được thông báo trước, bởi vì ở datcha, người ta đã bảo với gia đình Trebassof rằng các bác sĩ quen thuộc của viên tướng không có nhà nên cảnh sát đã triệu tập hai người khác và họ sẽ đến ngay lập tức.”

Koupriane chồm bật dậy trên xe ngựa.

“Nhưng Kister và Litchkof đâu có rời khỏi nhà. Chính Kister — người vừa gặp Litchkof — đã khẳng định như thế. Thế này là thế nào chứ?”

“Anh có thể cho tôi biết,” Rouletabille hỏi, sẵn sàng đón nhận cú sét đánh mà câu hỏi của chính anh sắp khơi mào, “tên của viên thanh tra mà anh đã ra lệnh đi đón họ là gì không?”

“Priemkof, một kẻ mà tôi hoàn toàn tin tưởng tuyệt đối.”

Xe ngựa của Koupriane phóng như bay về phía các hòn đảo. Trời đã tối muộn. Trên con đường vắng vẻ, những con ngựa lao đi như thể muốn bay thẳng lên các vì sao; chiếc xe phía sau dường như chẳng hề tạo ra chút sức nặng níu kéo nào đối với chúng. Người đánh xe rạp người về phía trước, hai tay dang rộng, tựa như ông ta muốn tung mình vào cõi hư vô. Ồ, đêm đẹp làm sao, đêm mới bình yên làm sao bên bờ sông Neva, lại bị phá hỏng bởi tiếng vó ngựa điên cuồng phi nước đại!

“Priemkof! Priemkof! Một trong những kẻ của Gounsovski! Lẽ ra ta phải nghi ngờ hắn chứ,” Koupriane gầm lên sau khi nghe Rouletabille giải thích. “Nhưng liệu giờ đây chúng ta có đến kịp lúc không?”

Họ đứng hẳn dậy trên xe, giục giã người đánh xe, khích lệ những con ngựa: “Skan! Skan! Nhanh lên, đồ ngốc douriak!” Liệu họ có thể đến trước khi những “quả bom sống” ra tay không? Liệu họ có kịp ngăn chặn chúng trước khi quá muộn không? Ồ, kìa là Eliaguine rồi!

Họ lao vút từ bờ bên này sang bờ bên kia như thể trên đường đi chẳng hề có cây cầu nào trong cơn cuồng nộ mất trí của mình. Và tai họ căng ra để lắng nghe tiếng nổ, tiếng gầm thét ghê tởm sắp sửa giáng xuống, đang được chuẩn bị một cách xảo quyệt trong màn đêm giả dối đến gai người dưới ánh nhìn lạnh lẽo của các vì sao. Bỗng nhiên, “Dừng lại, dừng lại ngay!” Rouletabille hét lên với người đánh xe.

“Cậu điên à!” Koupriane quát.

“Chúng ta mới là kẻ điên nếu cứ lao đến như những kẻ mất trí. Làm thế chỉ cầm chắc thảm họa xảy ra thôi. Vẫn còn một cơ hội. Nếu chúng ta không muốn đánh mất nó, thì phải bước tới một cách thong thả và bình tĩnh, tựa như những người bạn biết chắc rằng viên tướng đã hoàn toàn qua cơn nguy kịch.”

“Cơ hội duy nhất của chúng ta là phải đến trước những tên bác sĩ giả mạo đó. Hoặc là chúng chưa có mặt ở đó, hoặc là mọi chuyện đã rồi. Priemkof chắc hẳn đã vô cùng bất ngờ trước vụ đầu độc, nhưng hắn đã chớp lấy cơ hội này; may mắn thay là hắn không thể tìm thấy đồng bọn ngay lập tức được.”

“Dù sao thì đây cũng là datcha rồi. Vì Chúa, hãy bảo người đánh xe dừng ngựa lại ở đây đi. Nếu mấy tên ‘bác sĩ’ đã có mặt ở trong đó rồi thì chính chúng ta mới là kẻ hại chết viên tướng đấy.”

“Cậu nói đúng.”

Koupriane nén lại sự kích động của bản thân cũng như của người đánh xe và bầy ngựa, chiếc xe dừng lại không một tiếng động cách datcha không xa. Ermolai tiến về phía họ.

“Priemkof đâu?” Koupriane lắp bắp hỏi.

“Hắn đi rồi, thưa ngài.”

“Sao cơ — lại đi rồi là thế nào?”

“Vâng, nhưng hắn đã đưa các bác sĩ đến đây rồi ạ.”

Koupriane bóp chặt cổ tay Rouletabille. Bác sĩ đã ở đó rồi!

“Phu nhân Trebassof đã khá hơn rồi,” Ermolai tiếp tục, hoàn toàn chẳng hiểu gì về sự xúc động của họ. “Viên tướng đang ra đón họ và sẽ tự mình đưa họ vào gặp vợ mình.”

“Họ đang ở đâu?”

“Họ đang đợi trong phòng khách ạ.”

“Ồ, thưa ngài, hãy giữ bình tĩnh, giữ cho vững vàng vào, mọi chuyện vẫn chưa phải là đã mất hết đâu,” phóng viên khẩn khoản.

Rouletabille và Koupriane rón rén bước vào khu vườn. Ermolai lẽo đẽo theo sau họ.

“Ở đó chứ?” Koupriane gặng hỏi.

“Ở đó ạ,” Ermolai đáp.

Từ góc khuất nơi họ đang đứng, nhìn qua khung cửa hiên nhà, họ có thể nhìn thấy những tên “bác sĩ” đang chờ đợi.

Chúng đang ngồi trên những chiếc ghế bành đặt cạnh nhau, ở một góc phòng khách — nơi từ đó chúng có thể bao quát mọi thứ trong phòng lẫn một phần khu vườn hướng thẳng ra mặt tiền, và có thể nghe được mọi âm thanh. Một ô cửa sổ ở tầng trên đang mở tung ngay trên đầu chúng, thế nên bất kỳ tiếng động nào từ lầu trên vọng xuống chúng đều có thể nghe thấy rõ mồn một. Chúng không thể bị đánh úp từ bất kỳ phía nào, và có thể dễ dàng kiểm soát mọi cánh cửa trong tầm mắt. Chúng đang nói chuyện với nhau một cách khẽ khàng và điềm tĩnh, ánh mắt nhìn thẳng về phía trước. Trông chúng còn rất trẻ. Một kẻ sở hữu khuôn mặt dễ mến, tái nhợt nhưng đang mỉm cười, với mái tóc xoăn hơi dài; kẻ còn lại trông góc cạnh hơn, với dáng điệu kiêu kỳ và gương mặt nghiêm nghị, chiếc mũi diều hâu và đôi mắt đeo kính. Cả hai đều mặc những chiếc áo khoác dài màu đen được cài kín mít trước ngực — nơi đang phập phồng một sự bình thản giả tạo.

Koupriane và phóng viên, theo sau là Ermolai, bước đi với sự cẩn trọng tột độ trên bãi cỏ. Được che khuất bởi những bậc thang bằng gỗ dẫn lên hiên nhà và bởi lan can giàn nho, họ đã tiến đến đủ gần để có thể nghe rõ tiếng chúng. Koupriane lắng tai nghe từng lời của hai thanh niên trẻ tuổi ấy — những kẻ lẽ ra đã có thể tận hưởng quãng đời dài rộng vốn thuộc về họ, nhưng nay lại sắp sửa đón nhận một cái chết kinh hoàng để rồi kéo theo tất cả những gì xung quanh tan thành mây khói. Chúng đang bàn về thời gian, về sự êm dịu của màn đêm và vẻ đẹp của bầu trời; chúng nói về những chiếc bóng dưới tán cây bạch dương, về vịnh biển đang lấp lánh dưới ánh chiều vàng nhạt đang phai dần, về sự tươi mát của dòng sông và hương vị ngọt ngào của mùa xuân ở phương Bắc. Đó là những gì chúng trò chuyện với nhau. Koupriane lẩm bẩm: “Lũ sát nhân!”

Giờ đây họ buộc phải quyết định hành động, và sự bức thiết ấy thật kinh hoàng. Chỉ một cử chỉ sai lầm, một chút vụng về thôi, là những tên “bác sĩ” sẽ bị đánh động, và mọi thứ coi như tiêu tùng. Chắc chắn chúng đang giấu bom dưới lớp áo khoác; thế nào cũng có ít nhất hai “quả bom sống.” Lồng ngực chúng, theo nhịp thở, chắc hẳn đang phập phồng lên xuống và những trái tim đang đập loạn nhịp để chờ đợi thời khắc phát nổ cận kề.

Ở tầng trên, người ta có thể nghe thấy tiếng dọn dẹp phòng ốc tất bật, tiếng bước chân đi lại rộn ràng và những giọng nói hỗn độn; những cái bóng lướt qua khung cửa sổ. Koupriane nhanh chóng gặng hỏi Ermolai và được biết tất cả bạn bè của viên tướng đều đang ở trên đó. Hai gã bác sĩ chỉ mới đến cách thời điểm Viên Cảnh sát trưởng và phóng viên đặt chân tới chừng vài phút. Vị bác sĩ nhỏ bé ở Vassili-Ostrow đã cáo từ ra về từ trước, nói rằng ông ta chẳng còn việc gì phải làm khi hai vị chuyên gia lừng lẫy như vậy đã xuất hiện. Tuy nhiên, bất chấp danh tiếng của họ, chẳng có ai từng nghe qua cái tên mà họ vừa khai báo cả. Koupriane tin rằng vị bác sĩ nhỏ bé kia chính là đồng bọn của chúng. Điều tối quan trọng lúc này là phải cảnh báo những người ở trên lầu. Nguy cơ trước mắt là có ai đó sẽ đi xuống tầng dưới để tìm bác sĩ và đưa họ lên gặp viên tướng, hoặc chính viên tướng sẽ tự mình đi xuống để đón họ. Rõ ràng đó chính là điều chúng đang chờ đợi. Chúng muốn chết trong vòng tay của ông, để chắc chắn rằng lần này ông không thể thoát khỏi tay chúng! Koupriane ra lệnh cho Ermolai bước lên hiên nhà, dùng giọng điệu bình thường nhất để nói chuyện với chúng ngay ngưỡng cửa phòng khách, rằng hắn sẽ lên lầu xem thử liệu bây giờ đã có thể dẫn họ vào phòng phu nhân Trebassof được chưa. Một khi đã lên đến lầu trên, hắn có thể cảnh báo những người khác tuyệt đối không làm gì ngoài việc chờ đợi lệnh từ Koupriane; sau đó Ermolai sẽ quay xuống và nói với hai tên kia rằng: “Xin vui lòng đợi trong giây lát.”

Ermolai lùi lại khuất phía nhà canh cổng, rồi bước lên con đường mòn với dáng vẻ hoàn toàn tự nhiên, để cho những viên sỏi kêu lạo xạo dưới những bước chân nhà quê của mình. Hắn là một kẻ thông minh, và đã nắm bắt với sự điềm tĩnh phi thường tầm quan trọng của kế hoạch tác chiến này. Một cách dễ dàng và tự nhiên, hắn bước lên các bậc thang hiên nhà, dừng lại ngay ngưỡng cửa phòng khách, thốt lên câu nói đã được dặn dò rồi đi thẳng lên lầu. Koupriane và Rouletabille lúc này đang dán mắt vào những khung cửa sổ phòng ngủ. Những chiếc bóng đang thoắt ẩn thoắt hiện ở đó bỗng chốc đứng khựng lại bất động. Mọi sự di chuyển đều chấm dứt; không còn tiếng bước chân nào nữa, tĩnh lặng tuyệt đối. Và sự im ắng đột ngột ấy khiến hai tên “bác sĩ” ngẩng phắt khuôn mặt hướng lên trần nhà. Rồi chúng trao nhau một ánh nhìn đầy cảnh giác. Sự thay đổi bất thường trong nhịp sinh hoạt ở tầng trên ấy quá ư nguy hiểm. Koupriane lẩm bẩm: “Lũ ngốc!” Cú sốc khi hay tin những kẻ ở trên lầu đang bước đi trên một bãi mìn chực chờ phát nổ rõ ràng đã khiến chân tay chúng tê liệt hoàn toàn. May thay, Ermolai đã đi xuống gần như ngay lập tức và cất giọng đúng chuẩn phong cách của một gia nhân tận tụy:

“Xin các ngài vui lòng đợi cho một giây.”

Hắn thực hiện điều đó vẫn với sự tự nhiên tuyệt đối. Rồi hắn quay về phía thềm nhà trước khi nhập bọn trở lại với Koupriane và Rouletabille qua ngả lối đi trên bãi cỏ. Rouletabille, với một cái đầu hoàn toàn lạnh lùng và làm chủ bản thân, giờ đây điềm tĩnh chẳng kém gì sự căng thẳng của Koupriane, cất lời với Viên Cảnh sát trưởng:

“Chúng ta phải hành động ngay, và thật nhanh chóng. Bọn chúng bắt đầu hoài nghi rồi đấy. Anh có kế hoạch nào chưa?”

“Đây là tất cả những gì tôi nghĩ ra,” Koupriane nói. “Hãy bảo viên tướng đi xuống bằng chiếc cầu thang hẹp dành cho gia giúp việc, rồi trượt ra khỏi nhà từ cửa sổ phòng khách của Natacha, với sự trợ giúp của một tấm ga giường bện lại. Matrena Petrovna sẽ ra mặt nói chuyện với bọn chúng trong khoảng thời gian đó; điều đó sẽ giữ chân chúng kiên nhẫn cho đến khi viên tướng đến nơi an toàn. Ngay khi Matrena rút lui vào khu vườn, tôi sẽ gọi thuộc hạ của mình nã súng tiêu diệt chúng từ xa.”

“Còn ngôi nhà thì sao? Còn bạn bè của viên tướng thì sao?”

“Cứ để họ tìm cách tẩu thoát bằng cầu thang gia nhân và nhảy khỏi cửa sổ sau viên tướng xem sao. Chúng ta phải liều một phen thôi. Cứ cho là tôi đang chĩa súng thẳng vào đầu chúng đi.”

“Kế hoạch của anh sẽ chẳng thành công đâu,” Rouletabille phản bác, “trừ khi cánh cửa phòng khách của Natacha mở thông sang phòng khách lớn được khóa lại.”

“Nó đã khóa rồi. Tôi có thể nhìn thấy từ đây.”

“Và trừ khi cánh cửa dẫn vào hành lang nhỏ trước chiếc cầu thang mở thông ra phòng khách cũng phải được khóa lại, mà anh thì không thể nhìn thấy nó từ vị trí này.”

“Cánh cửa đó đang mở,” Ermolai tiếng vào.

Koupriane văng tục một tiếng. Nhưng hắn lập tức lấy lại bình tĩnh.

“Phu nhân Trebassof sẽ khawms cửa khi bà ấy nói chuyện với bọn chúng.”

“Không tài nào thực hiện được,” phóng viên quả quyết. “Làm thế chỉ tổ kích động sự nghi ngờ của chúng hơn bao giờ hết. Cứ để tôi lo; tôi đã có sẵn một kế hoạch.”

“Là gì?”

“Tôi có đủ thời gian để thực hiện nó, nhưng không đủ thời gian để giải thích cho anh đâu. Bọn chúng đã đợi quá lâu rồi đấy. Dù sao thì tôi cũng phải lên lầu thôi. Ermolai sẽ cần đi cùng tôi, đóng vai như một người quen của gia đình.”

“Tôi cũng sẽ đi cùng.”

“Làm thế sẽ hỏng bét toàn bộ vở kịch nếu chúng nhìn thấy anh, một Viên Cảnh sát trưởng đấy.”

“Sao lại thế chứ. Nếu chúng nhìn thấy tôi — và chúng thừa biết tôi có mặt ở đây — ngay khi tôi xuất hiện trước mặt chúng, chúng sẽ kết luận rằng tôi chẳng hay biết gì sất.”

“Anh đã lầm to rồi.”

“Đó là bổn phận của tôi. Tôi phải ở cạnh viên tướng để bảo vệ ông ấy cho đến giây phút cuối cùng.”

Rouletabille nhún vai trước lòng dũng cảm đầy nguy hiểm ấy, nhưng anh không chần chừ tranh cãi thêm nữa. Anh thừa biết kế hoạch của mình phải thành công ngay lập tức, hoặc chậm nhất là trong vòng năm phút nữa, dinh thự datcha des Iles sẽ chỉ còn lại những đống đổ nát, những thây ma và người hấp hối.

Mặc dù vậy, anh vẫn giữ được sự bình tĩnh đến ngạc nhiên. Về mặt nguyên tắc, anh đã tự nhủ là mình sắp chết. Niềm hy vọng duy nhất để được cứu rỗi còn lại lúc này phụ thuộc hoàn toàn vào việc họ giữ được sự bình tĩnh tuyệt đối và vào sự kiên nhẫn của những quả bom sống. Liệu chúng còn đủ ba phút kiên nhẫn nữa hay không?

Ermolai đi trước Koupriane và Rouletabille. Ngay thời điểm họ đặt chân đến bậc thềm hiên nhà, người đầy tớ liền cất giọng sang sảng, lặp lại bài học thuộc lòng của mình:

“Ồ, viên tướng đang đợi ngài đấy, thưa ngài. Ông ấy bảo tôi phải mời ngài đến gặp ngay lập tức. Ngài ấy đã hoàn toàn khỏe mạnh và phu nhân Trebassof cũng vậy.”

Khi họ đã bước lên hiên nhà, hắn nói thêm:

“Bà ấy cũng muốn gặp ngay những vị khách này, những người sẽ có thể thông báo với bà ấy rằng chẳng còn nguy hiểm nào nữa.”

Và cả ba người bước qua trong lúc Koupriane và Rouletabille lướt qua một cách lờ mờ để chào hai kẻ chủ mưu đang ngồi trong phòng khách. Đó là khoảnh khắc mang tính quyết định. Nhận ra Koupriane, hai tên khủng bố hoàn toàn có thể tin rằng chúng đã bị bại lộ, như phóng viên đã dự đoán, và sẽ châm ngòi cho thảm họa. Mặc dù vậy, Ermolai, Koupriane và Rouletabille vẫn bước lên cầu thang dẫn đến phòng ngủ như những cỗ máy tự động, không dám quay đầu nhìn lại sau lưng, và phập phồng chờ đợi cái kết ập đến bất cứ giây nào. Thế nhưng không một ai nhúc nhích. Ermolai lại đi xuống, theo lệnh của Rouletabille, một cách bình thường, tự nhiên và thong thả. Họ bước vào phòng của Matrena Petrovna. Tất cả mọi người đều có mặt ở đó. Nơi này trông chẳng khác nào một hội tụ của những bóng ma.

Đây là những gì đã diễn ra ở tầng trên. Việc những tên “bác sĩ” vẫn tiếp tục ở lại tầng dưới, việc chúng không được tiếp đón ngay lập tức, tóm lại là việc thảm họa bị trì hoãn cho đến tận bây giờ là nhờ công của Matrena Petrovna — người với thứ tình yêu cảnh giác như một chú chó canh cửa, luôn sẵn sàng đánh hơi thấy nguy hiểm. Hai gã “bác sĩ” mà bà chẳng biết tên, đến muộn màng, cùng với sự biến mất vội vã của vị bác sĩ nhỏ bé ở Vassili-Ostrow đã làm dấy lên sự hoài nghi trong bà. Trước khi cho phép chúng lên lầu gặp viên tướng, bà quyết định tự mình xuống đó tạt qua một cái cho ra nhẽ. Vì thế mà bà đã vùng dậy khỏi giường bệnh; và giờ đây linh cảm của bà đã được chứng minh là hoàn toàn chính xác. Khi nhìn thấy Ermolai bước vào với vẻ mặt nghiêm cẩn và đầy vẻ bí ẩn mang theo thông điệp của Koupriane, bà đã linh cảm được ngay trước khi hắn kịp cất lời rằng trong ngôi nhà này đang có bom. Lúc Ermolai thực sự mở lời, đó quả là một cú giáng trời giáng đối với tất cả mọi người. Ban đầu, chính Matrena Petrovna cũng chỉ là một hình bóng hoảng loạn, ngớ ngẩn trong chiếc áo choàng tắm bằng vải hoa rộng thùng thình của Feodor mà bà đã vội vã quấn lấy người. Khi Ermolai vừa bước ra, viên tướng — kẻ thừa biết rằng bà chỉ run rẩy vì lo lắng cho ông — liền tìm cách trấn an vợ, và giữa bầu không khí im lặng đầy sợ hãi của tất cả những kẻ có mặt, ông thốt lên vài lời nhắc lại sự thất bại của tất cả những âm mưu trước đó. Nhưng bà lắc đầu run rẩy, run lên vì sợ hãi cho sự an nguy của ông, trong nỗi thống khổ khi nghĩ rằng mình chẳng thể làm gì ở cái nơi ngay trên đầu những quả bom sống ấy ngoài việc chờ đợi chúng phát nổ. Còn về phần đám bạn bè của ông, đôi chân của họ lúc này đã thực sự nhũn ra, rã rời hoàn toàn, đúng nghĩa đen là như thế. Trong một khoảnh khắc, họ hoàn toàn bất động không thể nhấc nổi chân. Vị Hội viên Hội đồng Đế quốc vui tính Ivan Petrovitch không còn nổi một câu chuyện hài hước nào để kể nữa, và viễn cảnh kinh hoàng về “cái mớ hỗn độn khủng khiếp này” đang sờ sờ trước mắt khiến ông ta chẳng còn chút vui vẻ nào như những giờ phút hào sảng nhất tại quán Cubat. Và tội nghiệp thay, Thaddeus Tchitchnikoff thậm chí còn trắng bệch hơn cả tuyết phủ trên những cánh đồng ở vùng Lithuania xưa cũ mỗi mùa săn bắn rộ về. Ngay cả Athanase Georgevitch cũng chẳng còn vẻ phong độ rực rỡ nào, gương mặt hồng hào của ông ta biến sắc hoàn toàn, trông như thể ông đang gặp khó khăn trong việc tiêu hóa bữa ăn cuối cùng với dao và nĩa vậy. Nhưng, phải công bằng mà thừa nhận rằng, đó chỉ là hiệu ứng tức thời ban đầu. Chẳng ai có thể thản nhiên đón nhận tin sét đánh ngang tai rằng mình sắp sửa chết trong một vụ thảm sát bừa bãi mà trái tim lại không khựng lại dù chỉ trong giây lát. Những lời của Ermolai đã biến đám người ăn chơi nhàn rỗi đáng mến này thành những bức tượng sáp, nhưng hết lớp này đến lớp khác, trái tim họ bắt đầu đập trở lại và ai nấy đều hiến kế cách ngăn chặn thảm họa — dẫu toàn là những ý kiến hỗn độn nhảm nhí — trong lúc Matrena Petrovna thì cầu nguyện Đức Mẹ, đồng thời giúp Feodor Feodorovitch chỉnh lại thanh gươm và thắt lưng; bởi viên tướng muốn được chết trong quân phục.

Athanase Georgevitch, với đôi mắt lồi cả lên khỏi hốc và thân hình khom rạp xuống như thể sợ rằng lũ người theo chủ nghĩa Hư ở ngay bên dưới có thể nhận ra vóc dáng cao kều của ông ta — chắc là xuyên qua cả sàn nhà ấy chứ — đề nghị họ hãy cùng nhau lao qua cửa sổ, dù có phải gãy chân gãy cẳng đi chăng nữa. Vị Hội viên Hội đồng Đế quốc rầu rĩ tuyên bố cái ý tưởng đó ngớ ngẩn hết chỗ nói, bởi vì khi rơi xuống họ sẽ hoàn toàn nằm gọn trong tầm tay của bọn khủng bố — những kẻ sẽ bị thu hút bởi tiếng động và chỉ cần một cử chỉ duy nhất qua cửa sổ là đủ biến họ thành tro bụi. Thaddeus Tchitchnikoff, kẻ chẳng thể nghĩ ra nổi bất cứ diệu kế gì, đâm ra oán trách Koupriane và lực lượng cảnh sát vì đã không chịu nghĩ ra biện pháp nào từ trước. Tại sao họ không tống khứ những kẻ theo chủ nghĩa Hư này đi từ đời thuở nào rồi chứ? Sau khoảng lặng đầy sợ hãi ban đầu, giờ đây tất cả bọn họ nhao nhao lên cùng một lúc, bằng những giọng nói khàn khàn, dồn dập, đứt quãng vì thở hổn hển, vung vẩy tay chân tứ tung và đi lại vòng quanh căn phòng một cách vô định nhưng vô cùng rón rén trên những đầu ngón nhón, chạy ra cửa sổ rồi lại quay về, áp tai nghe ngóng ở các cánh cửa, dòm ngó qua các ổ khóa, trao đổi cho nhau những gợi ý vô lý ngập tràn trí tưởng tượng điên rồ nhất. “Nếu chúng ta... nếu mà... nếu,” — tất cả đều tranh nhau nói và ra hiệu cho những kẻ khác phải im lặng. “Nhỏ tiếng thôi! Bọn chúng mà nghe thấy thì chúng ta tiêu đời.” Thế mà Koupriane thì mãi chẳng thấy bóng dáng đâu, còn đám cảnh sát của hắn — những kẻ đã tự tay rước hai tên sát nhân vào nhà — giờ đây lại chẳng có cách nào tống cổ chúng đi mà không bắt mọi người phải nhảy lầu tháo thân! Chắc chắn là họ tiêu đời rồi. Chẳng còn cách nào khác ngoài việc đọc kinh cầu nguyện. Họ quay sang nhìn viên tướng và Matrena Petrovna đang ôm chặt lấy nhau. Feodor đã nâng lấy khuôn mặt đầu bù tóc rối đáng thương của người vợ hiền giữa hai bàn tay và áp nó vào ngực mình trong cái ôm siết chặt. Ông cất lời: “Hãy yên lòng tựa vào ngực anh nhé, Matrena Petrovna. Sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra với chúng ta ngoài những gì Chúa định đoạt.”

Trước cảnh tượng và câu nói ấy, những kẻ khác chợt cảm thấy hổ thẹn vì sự hoảng loạn của mình. Sự hòa hợp của cặp vợ chồng đang ôm nhau trước mặt thần chết ấy đã kéo họ trở lại với chính mình, với lòng dũng cảm và tinh thần “Nitchevo” quen thuộc. Athanase Georgevitch, Ivan Petrovitch và Thaddeus Tchitchnikoff cùng hùa theo Matrena Petrovna lặp lại: “Theo ý Chúa muốn.” Và rồi họ ôm chầm lấy nhau, trao nhau những cái ôm siết chặt, đôi mắt ngấn lệ đong đầy tình cảm yêu thương dành cho nhau, hệt như khung cảnh vào hồi kết của một buổi yến tiệc linh đình nơi họ đã ăn uống say sưa để tôn vinh lẫn nhau vậy.

* “Xá gì đâu!”

“Nghe kìa. Có ai đó đang đi lên cầu thang,” Matrena thì thầm với đôi thính tai nhạy bén của mình, rồi bà trượt khỏi cái ôm của chồng.

Trong tiếng thở dốc, tất cả bọn họ vội vã lao về phía cánh cửa mở ra chiếu nghỉ, nhưng với những bước chân nhẹ tựa như “đang bước trên những quả trứng.” Cả bốn người bọn họ đều rướn người áp sát vào cánh cửa, hầu như chẳng dám thở mạnh. Họ nghe thấy tiếng hai người đang bước lên cầu thang. Liệu đó là Koupriane và Rouletabille, hay là lũ người kia? Trong tay họ lăm lăm những khẩu súng lục và lùi lại một chút mỗi khi tiếng bước chân vang lên gần sát cánh cửa. Phía sau họ, Trebassof vẫn đang điềm tĩnh ngồi trên ghế bành. Cánh cửa được mở tung và Koupriane cùng Rouletabille nhận ra những hình nhân chết trân, bất động và câm lặng ấy. Không ai dám cất lời hay cử động cho đến khi cánh cửa được khép lại. Nhưng rồi:

“Sao rồi? Thế nào rồi? Hãy cứu chúng tôi với! Bọn chúng đâu rồi? Ồ, domovoi-doukh bé bỏng của tôi ơi, xin hãy cứu lấy viên tướng, vì tình yêu dành cho Đức Mẹ!”

“Suỵt! Suỵt! Giữ im lặng.”

Rouletabille, với gương mặt tái nhợt nhưng điềm tĩnh, cất lời:

“Kế hoạch rất đơn giản. Bọn chúng đang ở giữa hai nhịp cầu thang, canh chừng cả hai phía. Tôi sẽ đi tìm chúng và dụ chúng đi lên lối cầu thang này trong lúc anh chị trút xuống bằng lối cầu thang kia.”

“Caracho! Quá đơn giản. Sao chúng ta lại không nghĩ ra điều đó sớm hơn chứ? Bởi vì ai nấy đều mất hồn mất vía hết cả, ngoại trừ domovoi-doukh bé bỏng đáng yêu của chúng ta!”

Nhưng lúc này một chuyện bất ngờ xảy ra mà Rouletabille hoàn toàn không tính trước. Viên tướng đứng phắt dậy và tuyên bố: “Các cậu quên mất một điều rồi, người bạn trẻ của tôi ạ; đó là tướng Trebassof sẽ không đời nào thèm chuồn xuống bằng cái cầu thang gia nhân ấy đâu.”

Bạn bè của ông nhìn ông với vẻ mặt ngẩn ngơ chết trân, tự hỏi không biết ông đã phát điên hay chưa.

“Anh đang nói cái quái gì thế hả Feodor?” Matrena van nài.

“Tôi nói rằng,” viên tướng khẳng định với giọng quả quyết, “tôi đã quá ngán ngẫm cái trò hề này lắm rồi, và vì ngài Koupriane không tài nào tóm nổi mấy tên này, vả lại bản thân chúng hình như cũng chẳng thèm quyết định làm tròn bổn phận của chúng, nên tôi sẽ tự mình ra tay tống cổ lũ chúng nó ra khỏi nhà tôi.”

Ông bước đi được vài bước, nhưng vì không có gậy nên bỗng loạng choạng khụy xuống. Matrena Petrovna chồm ngay tới đỡ lấy ông vào lòng nhẹ tựa lông hồng.

“Không đi lối cầu thang gia nhân, nhất định không đi lối cầu thang gia nhân,” viên tướng cứng đầu lầm bầm gầm gừ.

“Anh sẽ đi,” Matrena đáp lại ông, “theo con đường mà em đưa đi.”

Và bà bế thốc ông quay trở lại căn hộ trong lúc cất giọng giục giã Rouletabille:

“Đi đi, domovoi bé nhỏ của tôi! Và xin Chúa hãy phù hộ cho chúng ta!”

Rouletabille biến mất ngay tức khắc qua cánh cửa dẫn ra cầu thang chính, và đám đông được Koupriane hộ tống liền băng qua phòng thay đồ cùng phòng ngủ của viên tướng, với Matrena Petrovna đi đầu cõng theo báu vật nặng nhọc của mình. Ivan Petrovitch đã đặt sẵn tay lên chiếc chốt cửa nổi tiếng khóa chặt lối vào cầu thang gia nhân thì tất cả bọn họ đồng loạt quay ngoắt lại bởi tiếng bước chân dồn dập ở phía sau. Rouletabille đã quay trở lại.

“Bọn chúng không còn ở trong phòng khách nữa.”

“Không ở trong phòng khách ư! Thế thì chúng đang ở đâu?”

Rouletabille chỉ tay về phía cánh cửa mà họ chuẩn bị mở.

“Có lẽ chúng đang ở sau cánh cửa đó. Hãy cẩn thận đấy!”

Tất cả đều hoảng hốt lùi lại.

“Nhưng Ermolai phải biết bọn chúng đang ở đâu chứ,” Koupriane kêu lên. “Bi đâu chúng đã chuồn mất khi phát hiện ra bị bại lộ rồi.”

“Bọn chúng đã ám sát Ermolai rồi.”

“Ám sát Ermolai á!”

“Tôi vừa nhìn thấy xác hắn nằm ngay giữa phòng khách lúc ló đầu qua lan can lầu trên. Nhưng bọn chúng không có trong phòng đó, và tôi sợ rằng các anh sẽ chạm trán chúng, vì rất có thể chúng đang ẩn nấp ngay trong cầu thang gia nhân.”

“Vậy thì hãy mở cửa sổ ra, Koupriane, và gọi thuộc hạ của anh tới giải cứu chúng ta đi.”

“Tôi hoàn toàn sẵn lòng thôi,” Koupriane lạnh lùng đáp, “nhưng làm thế chẳng khác nào tự sát cả.”

“Thế thì sao bọn chúng cứ chần chừ mãi không chịu cho chúng ta chết quách đi cho rồi?” Feodor Feodorovitch lầm bầm. “Tôi thấy bọn chúng lề mề quá đấy chứ. Cậu đang làm cái quái gì thế, Ivan Petrovitch?”

Hình bóng ma quái của Ivan Petrovitch, đang khom người ghé sát bên cánh cửa cầu thang, dường như đang lắng nghe những âm thanh mà những người khác không tài nào bắt được, nhưng chúng lại đáng sợ đến mức khiến họ hoảng loạn tháo chạy tán loạn khỏi phòng ngủ của viên tướng. Ivan Petrovitch áp sát ngay sau họ, đôi mắt lồi cả ra ngoài, miệng lắp bắp không thành tiếng:

“Bọn chúng kìa! Bọn chúng ở đó kìa!”

Athanase Georgevitch vùng vằng lao tới giật tung một khung cửa sổ và hét lên:

“Tôi nhảy ra ngoài đây.”

Nhưng Thaddeus Tchitchnikoff đã kịp chặn ông ta lại bằng một câu nói gọn lỏn. “Còn tôi, tôi sẽ không bao giờ rời bỏ Feodor Feodorovitch đâu.”

Cả Athanase lẫn Ivan đều cảm thấy hổ thẹn, dẫu toàn thân run rẩy nhưng với một lòng dũng cảm ngút ngàn, họ xúm lại vây quanh viên tướng và cất lời: “Chúng ta sẽ chết cùng nhau, sẽ chết cùng nhau. Chúng ta đã sống cùng Feodor Feodorovitch, và chúng ta cũng sẽ chết cùng ông ấy.”

“Bọn chúng đang chờ cái gì thế nhỉ? Bọn chúng đang đợi cái quái gì thế không biết?” viên tướng cằn nhằn.

Hàm của Matrena Petrovnaập vào nhau cập kê. “Bọn chúng đang đợi chúng ta đi xuống đấy,” Koupriane đáp.

“Được thôi, xuống thì xuống. Chuyện này phải chấm dứt thôi,” Feodor tuyên bố.

“Đúng thế, đúng thế,” tất cả bọn họ đồng thanh hô lên, bởi tình hình lúc này đã vượt quá giới hạn chịu đựng; “đủ lắm rồi. Xuống thôi. Xuống đó mau lên. Nguyện xin Chúa, Đức Mẹ cùng các thánh Phêrô và Phaolô phù hộ cho chúng ta. Đi thôi.”

Thế là toàn bộ nhóm người kéo nhau ra khu vực cầu thang chính, với những chuyển động cứ như những kẻ say rượu, tay chân khua khoắng một cách kỳ quái, miệng nhao nhao nói cùng một lúc những điều chẳng ai hiểu nổi ngoài chính họ. Rouletabille đã đi trước mở đường từ bao giờ, vượt xuống dưới chân cầu thang, kịp ném một cái nhìn vào phòng khách, bước qua cái xác to lớn của Ermolai, tiến vào phòng khách nhỏ và phòng ngủ của Natacha, phát hiện ra tất cả những nơi đó đều trống hoác rồi phóng hộc tốc trở lại hiên nhà đúng thời điểm đoàn người bắt đầu bước xuống các bậc thang vây quanh Feodor Feodorovitch. Ánh mắt phóng viên rà soát khắp mọi ngóc ngách tối tăm và chẳng thấy có gì khả nghi cho đến khi anh vừa chạm vào một chiếc điều khiển ghế trong hiên nhà. Một bóng đen bất ngờ tách ra từ đó và lủi nhanh xuống gầm cầu thang. Rouletabille gào lên cảnh báo đoàn người trên cầu thang:

“Bọn chúng đang trốn dưới gầm cầu thang!”

Ngay sau đó, Rouletabille phải chứng kiến một cảnh tượng mà anh sẽ chẳng bao giờ có thể phai mờ trong suốt phần đời còn lại của mình.

Nghe tiếng thét ấy, tất cả bọn họ khựng lại, sau một thoáng phản xạ bản năng muốn quay đầu tháo chạy. Feodor Feodorovitch — người vẫn đang nằm trong vòng tay của Matrena Petrovna — cất tiếng hô vang:

“Vạn tuế Sa hoàng!”

Và rồi, những kẻ mà phóng viên ngầm đinh ninh sẽ hoảng loạn tháo chạy toán loạn theo các ngả đường, hoặc điên cuồng lao mình từ trên cao xuống các bậc thềm, bỏ mặc cả Feodor lẫn Matrena, lại cùng nhau chụm lại bằng một chuyển động tự phát quanh viên tướng, tựa như một đội vệ binh danh dự trong trận chiến đang vây quanh lá quốc kỳ. Koupriane bước đi dõng dạc dẫn đầu. Và họ kiên quyết bước xuống những bậc thang tử thần ấy với nhịp điệu thật chậm rãi, đồng thời cất cao tiếng hát bài quốc ca Bodje tsara Krani!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.