Bàn Tay Trong Bóng Tối

Lượt đọc: 106 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Hiển hiện dưới ánh hoàng hôn u buồn của xứ sở sương mù, ngôi nhà hào lũy cổ kính vươn mình ra từ làn sương mỏng manh bao phủ những đồng cỏ xanh ngát nơi nó tọa lạc, gợi lên ấn tượng về một chốn dung thân đang dần già cỗi, mệt mỏi sau nhiều thế kỷ tồn tại. Nhà cửa cũng già đi giống như giống nòi con người; quá trình ấy chẳng mấy kém phần tất yếu, dẫu có chậm rãi hơn; ở cả hai, sự suy tàn đều bị thúc đẩy bởi thời cuộc cũng như dòng chảy của Thời gian.

Ngôi nhà hào lũy ấy không hẳn là quá cổ kính nếu so với mặt bằng chung các điền trang ở Anh, nhưng nó đã già đi nhanh chóng bởi vì quá khứ của chính mình. Nơi đây gắn liền với một lịch sử kỳ dị và đẫm máu: những trang sử ghi lại các vụ mưu sát, đâm chém và thù hận từ tận thời Anglo-Saxon, khi một tòa lâu đài từng sừng sững chốn này, và từng tấc đất phẳng lặng đã thấm đẫm máu của những người nông nô chiến đấu dưới trướng một bạo chúa Saxon chống lại một bạo chúa Norman vì khẩu hiệu thần thánh mang tên Tự do.

Tên bạo chúa Norman đắc thắng đã giết chết người Saxon, chiếm lấy lâu đài của ông, và bạo ngược áp bức những người nông nô trong quãng đời ngắn ngủi của mình, cho đến khi một bạo chúa lớn lao hơn, chính là Cái Chết, dạy cho hắn bài học đầu tiên—và cũng là cuối cùng—về sự khiêm nhường. Sau khi hắn chết, một kẻ tiếm quyền nào đó đã phá hủy tòa lâu đài bị cướp đoạt ấy, rồi xây lên một ngôi nhà hào lũy ngay trên nền đất cũ. Suốt vài trăm năm tiếp theo, đã có thêm nhiều cuộc chiến tranh vì lòng tham vọng sục sôi, không trật đi đâu được, luôn gắn liền với việc tạo ra và lật đổ các bạo chúa, cho đến khi một vị vua nước Anh phải rơi đầu vì lý tưởng Tự do, và ngôi nhà hào lũy bị ngọn lửa thiêu rụi cũng vì chính nguyên tắc vinh quang ấy.

Nó được xây dựng lại bởi chính tên cướp biển đã châm lửa đốt phá; một kẻ tên là Philip Heredith, hậu duệ của Philip Here-Deith—người có tên được khắc trong Sách Domesday như một trong các hiệp sĩ thuộc quân đội của Công tước William từng tập trung tại Dives để chinh phục nước Anh. Philip Heredith, một chiến binh vĩ đại chẳng kém gì tổ tiên người Norman của ông, đã xác lập quyền sở hữu điền trang mới và tránh được mọi vụ kiện tụng rắc rối liên quan bằng cách giam cầm người chủ theo phái bảo hoàng cùng gia đình bên trong những bức tường của ngôi nhà hào lũy trước khi phóng hỏa thiêu rụi nó. Sau đó, ông kết hôn và an cư lạc nghiệp trong dinh cơ mới với người vợ trẻ của mình. Nhưng tuần trăng mật lại bị quấy rầy bởi bóng ma của tên kỵ sĩ mà ông đã hỏa táng, kẻ đã cảnh báo rằng vì ông đã gieo mầm dòng dõi mình trong sự kinh hoàng thì nó cũng sẽ kết thúc trong kinh hoàng, và ngôi nhà ông xây nên rồi sẽ sụp đổ.

Philip Heredith, giống như nhiều chiến binh vĩ đại khác, là một người vô cùng sùng đạo, với niềm tin sâu sắc vào hiệu lực của lời cầu nguyện. Ông đã tìm cách phá giải lời nguyền của bóng ma bằng cách xây dựng một nhà thờ trong khuôn viên ngôi nhà hào lũy, nơi ông dành trọn những ngày Chủ nhật để cầu nguyện cho sự siêu thoát đời đời của người đàn ông mà ông đã tước đoạt mạng sống khi đang ở độ tuổi thanh xuân rực rỡ. Có lẽ những lời cầu nguyện đã thấu đến trời xanh, bởi vì khi Philip Heredith theo thời gian trở thành vị chủ nhân đầu tiên nằm trong căn hầm mộ hoàn toàn mới mà ông tự xây cho chính mình và các thế hệ kế vị, ông đã để lại rất nhiều tài sản cùng một bản liệt kê những đức tính của bản thân do chính tay ông viết. Của cải thì ông để lại cho con cháu, nhưng ông đặc biệt dặn dò rằng bản ghi chép về các đức tính của ông phải được khắc lên đá và đặt làm một tấm bia vĩnh cửu, nhằm giáo huấn cho các thế hệ mai sau, bên trong ngôi nhà thờ mà ông đã xây dựng.

Đó là một sự phòng ngừa khôn ngoan từ phía ông. Người chết thì câm lặng trước những công trạng của chính mình, còn người sống thì chỉ biết nghĩ đến bản thân. Thời gian cứ thế trôi qua, cho đến khi vị tộc trưởng đầu tiên của dòng họ Heredith bị lãng quên triệt để như thể chưa từng tồn tại trên cõi đời này; thậm chí tro cốt của ông cũng đã bị đẩy ra khỏi chiếc kệ trong hầm mộ của chính mình để nhường chỗ cho đông đảo con cháu thuộc dòng dõi sung mãn và thịnh vượng mà ông đã gầy dựng. Thế nhưng tấm bia đá vẫn còn đó, và ngôi nhà hào lũy cổ kính do ông xây nên vẫn đứng vững giữa đất trời.

Đó là một chốn xưa cổ tuyệt diệu và là niềm hân hoan cho đôi mắt, ngôi nhà hào lũy thời Trung cổ với những viên gạch chín tới màu hổ phách, các mặt tiền bằng đá, mái nhà dốc đứng, cùng những khu vườn bậc thang và con hào bao quanh. Nó đã thách thức Thời gian tốt hơn cả người tạo ra nó, dẫu có hơi chao đảo đôi chút, với những dấu hiệu mục nát xuất hiện rải rác đây đó qua những vết nứt chân chim trên tường gạch, và sự tàn tạ lộ rõ quá mức ở những góc nghiêng xiêu vẹo của phần mái ngói. Thế nhưng lớp dây thường xuân phủ kín các phần tường gạch đã che đi phần nào sự tàn phá của thời gian, đồng thời giúp ngôi nhà hào lũy hiên ngang ngẩng cao đầu trước thế giới, trở thành một nhân chứng được bảo tồn nguyên vẹn của một thời kỳ đầy tính trang trí giữa một thế hệ tầm thường và thô kệch.

Nơi đây trông như thể thuộc về quá khứ và những hồn ma của dĩ vãng. Bước qua cây cầu bắc ngang hào là bước lùi lại từ thế kỷ XX về tận thế kỷ XVII. Những bức tường hào phủ rêu xanh bao bọc lấy một khu vườn mang hơi thở cổ xưa, được canh chừng vô cùng cẩn mật bởi những hàng rào cây tùng cao vút được tỉa tót thành hình thù kỳ quái của loài chim và muông thú; một khu vườn với những luống hoa kiểu cách và bãi cỏ mượt mà, nơi các vị thần biển thổi tù và bằng đá, các tiên nữ khỏa thân tắm mình trong những đài phun nước bằng cẩm thạch; cùng một chiếc đồng hồ mặt trời cổ xưa mà tên lãng tử hào hoa Suckling từng hí hoáy viết một bài thơ son-lê tặng một đôi mắt biếc—một khu vườn ngập tràn lối đi u tịch và góc khuất tĩnh lặng, nơi những vương tôn công tử lịch lãm và giai nhân kiều diễm trong xiêm y lụa là gấm vóc, với phấn son dán mặt, từng nô đùa trong trò chơi vĩ đại của tình ái vào thời của họ. Thời đại ấy từ lâu đã lụi tàn. Các vị thần biển và tiên nữ vẫn ở lại, để nhắc nhở nhân loại rằng đá và cẩm thạch còn bền bỉ hơn da thịt máu huyết, nhưng các lãnh chúa và phu nhân thì đã đi mất, chẳng bao giờ trở về nữa, trừ phi, quả thật là linh hồn họ vẫn lang thang trong khu vườn vào những đêm trăng trắng tinh khôi. Rất có thể họ đã làm thế. Thật dễ dàng để tưởng tượng ra những mỹ nhân vô tư lự ấy lại ghé thăm khu vườn cũ để ôn lại ký ức đã chết về tình yêu và tiếng cười: những bóng hình mờ ảo lén bước tới các cuộc hò hẹn trên bãi cỏ trắng phau đẫm sương đêm, gương mặt tinh quái và đôi mắt sáng ngời—nếu bóng ma cũng có mắt—ló ngó sau những chiếc mũ trùm ma quái nhìn sang những chàng kỵ sĩ ma quái hào hoa; làm vẻ lúng liếng và u buồn sau những chiếc quạt ma quái; thậm chí có lẽ còn dùng những bàn tay nhỏ bé vô hình để cho lũ công ăn hạt, loài vẫn canh giữ lối đi trên bậc thềm phía trên hào nước.

Cảnh tượng một nhóm phụ nữ hiện đại đang cười đùa rôm rả bên tách trà trong những hốc khuất tĩnh mịch của khu vườn bậc thang vang lên một nốt nhạc lạc điệu cay đắng chẳng khác nào một đàn vẹt chát chúa kêu la trong một ngôi thánh đường.

Đó là mùa thu năm 1918, và ngoại trừ một người, các quý bà ngồi bên bàn trà trên bãi cỏ đều đại diện cho kiểu phụ nữ mới mẻ và độc lập được sinh ra từ nhu cầu cấp thiết của quốc gia trong thời chiến. Những người lớn tuổi trông có vẻ thực tế hơn là xinh đẹp, đúng với phong thái của những người phụ nữ Anh ái quốc trong thời kỳ chiến tranh; những người trẻ tuổi hơn thì xinh xắn và duyên dáng, nhưng tất cả bọn họ đều là những người lao động, hoặc giả vờ làm việc, trong sứ mệnh giúp nước Anh giành chiến thắng trong chiến tranh, và một số người trong số họ còn mặc quân phục kaki hoặc sắc phục xanh của lực lượng phục vụ chiến đấu ở nước ngoài. Tất cả đều vô cùng thoải mái, cười nói vui vẻ khi nhâm nhi trà và ném bánh cho bầy công đang đậu trên lối đi bậc thang cao vút ngay trên đầu họ.

Các quý bà là khách mời của Sir Philip Heredith. Vài tháng trước đó, người con trai duy nhất của ông là Philip, lúc bấy giờ đang nắm giữ một chức vụ tại Bộ Chiến tranh, đã phải lòng gương mặt xinh xắn của một cô gái làm việc tại một trong các phòng ban ở Whitehall. Anh kết hôn với cô không lâu sau đó và đưa cô về nhà ở ngôi nhà hào lũy. Chính người chồng trẻ đã gợi ý rằng họ nên làm cho ngôi nhà hào lũy cổ kính thêm phần sinh động bằng cách mời một số bạn bè cũ ở London về chơi. Violet Heredith, người vốn cảm thấy chán ngấy cuộc sống thôn quê sau những sự hào hứng của công việc thời chiến ở London, đã chộp lấy ý định ấy với tất cả sự háo hức, và phần lớn những phụ nữ dự tiệc trà chính là những người quen cũ ở Whitehall của nàng dâu trẻ, những người mà cô từng dùng chung vé xem suất chiếu ban ngày và những buổi tiệc trà chiều tại London trong mùa đông cuối cùng của chiến tranh.

Chủ nhân của buổi tiệc, cô Alethea Heredith, em gái của đương kim nam tước Sir Philip Heredith, và là người cai quản ngôi nhà hào lũy kể từ sau khi Lady Heredith qua đời, thuộc về một tuýp phụ nữ Anh đã lùi vào quá khứ và hầu như đã tuyệt chủng: một quý bà lớn tuổi ở vùng tỉnh lẻ, thủ lĩnh xã hội địa phương, nhà bảo trợ của làng xã, người phụ nữ yêu thể thao và sùng đạo hội tụ trong một con người, một tuýp người hoàn toàn mang bản sắc Anh, phải mất tới vài thế kỷ mới nhào nặn ra được một hình mẫu hoàn hảo. Cô Heredith là một điển hình xuất sắc, dẫu có phần đáng sợ, của tầng lớp ấy. Cô cao và vạm vỡ, với khuôn mặt xương xẩu, rám đỏ vì bầu không khí đồng quê, đôi mắt xám tinh anh nhìn ra bên dưới cặp lông mày rậm giao nhau thành một đường thẳng tắp trên trán (cặp lông mày trứ danh nhà Heredith) cùng chiếc mũi khoằm mạnh mẽ (chiếc mũi ưng của dòng họ Heredith). Nhưng bất chấp vóc dáng vạm vỡ, khuôn mặt đỏ phừng phừng, chiếc mũi khoằm và y phục mang dáng dấp nhà quê ấy, trông cô lại hòa hợp với khung cảnh xung quanh hơn là những bóng hồng mỏng manh và nhợt nhạt mà cô đang tiếp trà. Phảng phất trong những cử động của cô là một nét duyên dáng cứng nhắc và uy nghi, một vẻ trịnh trọng chậm rãi trong sự lịch thiệp dành cho các vị khách, dường như hoàn toàn đồng điệu với bối cảnh mang phong cách thế kỷ XVII của khu vườn ngôi nhà hào lũy.

Vào khoảnh khắc đó, các quý bà đang bàn tán về một sự kiện đã được sắp đặt cho tối hôm nay: một chuyến du ngoạn bằng xe ngựa vùng đồng quê, tiếp nối bởi một buổi tối âm nhạc và khiêu vũ. Thiếp mời đã được gửi đi bởi vợ chồng nhà Weyne, một cặp vợ chồng trẻ vừa mới chuyển về sinh sống tại hạt này. Người chồng là một tiểu thuyết gia nổi tiếng, người đã rời xa những xô bồ của London để tìm kiếm danh tiếng trong sự bình yên và tĩnh lặng ở vùng quê. Mrs. Weyne, người từng có chút quen biết với Mrs. Heredith trước khi kết hôn, vô cùng vui mừng khi biết mình sắp có cô làm hàng xóm. Cô đã sắp xếp buổi tối này vì lợi ích của người bạn và đã mời cô Heredith đưa tất cả các khách của mình tới dự. Sự kiện này được xem như cột mốc đánh dấu sự kết thúc của bữa tiệc tại gia, vốn sẽ giải tán vào ngày hôm sau. Không may thay, Mrs. Heredith đã ngã bệnh từ vài tiếng trước, và vẫn chưa chắc chắn liệu cô có thể tham gia buổi vui chơi này hay không.

"Tôi hy vọng tất cả các bạn đều nhớ rằng bữa tối tối nay sẽ diễn đát sớm hơn mười lăm phút," cô Heredith lên tiếng khi trao tách trà cho một vị khách. "Quãng đường đến dinh cơ nhà Weyne khá dài, thế nên tôi sẽ đặt xe xuất phát lúc bảy giờ rưỡi."

Các vị khách liếc nhìn nữ chủ nhân và lẩm bẩm tỏ ý đồng thuận một cách lịch sự.

"Tôi đang rất mong chờ chuyến viếng thăm này đấy," vị khách nữ nhận tách trà từ tay cô Heredith cất lời. "Chắc chắn sẽ vô cùng lãng mạn—một buổi khiêu vũ đồng quê trong một ngôi nhà quạnh hiu trên đồi. Chiếc tách đáng yêu làm sao, cô Heredith thân mến! Tôi rất mê đồ sứ vỏ trứng Trung Hoa, nhưng chiếc này thì đơn giản là vượt ngoài sức tưởng tượng! Nó thật là——"

"Cái gì đã xui khiến Dolly Weyne tự vùi mình chốn đồng không hiu quạnh thế nhỉ?" một phụ nữ trẻ với mái tóc cắt ngắn và bộ quân phục kaki đột ngột thốt lên. "Cô ta từng căm ghét đồng quê đến tận xương tủy trước khi kết hôn cơ mà."

"Mrs. Weyne đã là một người vợ, và việc yêu mến tổ ấm của chồng chính là bổn phận của cô ấy," cô Heredith đáp lại có phần ra vẻ bề trên. Cô không có thiện cảm với người vừa lên tiếng, kẻ mà bộ quân phục kaki, mái tóc cắt sát, dáng ngồi bắt chéo chân cùng hai tay chống nạnh trông hệt như hiện thân của mọi thứ hiện đại và thiếu nữ tính.

"Thế thì cái gì đã xui khiến Teddy Weyne tự chôn sống mình nơi hoang vu khỉ ho cò gáy ấy? Tôi dám cá là sống ở cái nơi trơ trọi đó với lũ sâu tai và cú mèo làm bạn thì khủng khiếp biết nhường nào."

"Mr. Weyne là một nhà văn," cô Heredith điềm nhiên đáp. "Anh ấy cần sự tĩnh lặng để sáng tác."

"Chồng tôi thì chẳng cần thế," một phụ nữ tóc vàng nhỏ nhắn chen vào. "Anh ấy bảo dân làm báo thì viết ở đâu chẳng được. Và chúng ta cũng biết một nhà văn khác, tôi nghĩ tên anh ta là Harland, người chuyên viết những bài báo dài trên các tờ nhật báo chủ nhật——"

"Tôi không nghĩ tên anh ta là Harland đâu, cưng ạ," một quý bà khác ngắt lời. "Nghe ná ná vậy nhưng không phải Harland. Ôi chao, rốt cuộc tên anh ta là gì nhỉ?"

"Ồ, tên tuổi thì có quan trọng gì đâu," cô bạn kia đáp lại. "Vấn đề là anh ta viết những bài báo dài ngay tại văn phòng ở London. Tại sao Mr. Weyne lại không thể làm thế cơ chứ?"

"Mr. Weyne là một tiểu thuyết gia—chứ không phải nhà báo. Hoàn toàn khác nhau chứ."

"Vậy sao?" người kia ngờ vực hỏi lại. "Viết lách thì giống nhau cả thôi, chẳng phải thế sao? Harry bảo những bài viết của Mr. Harland siêu đẳng đến mức rợn ngợp. Anh ấy thỉnh thoảng vẫn đọc cho tôi nghe dăm ba đoạn."

"Mrs. Weyne đôi khi cũng cảm thấy cô quạnh," cô Heredith nói. "Cô ấy vẫn luôn mong mỏi được gặp lại Violet. Sẽ thật thú vị cho cả hai khi được nối lại tình xưa nghĩa cũ."

"Tôi nghĩ cô ấy và Violet sẽ hợpạ rạ với nhau lắm đấy," cô nàng tóc ngắn nhận xét. "Cả hai đều có khá nhiều sở thích chung. Đơn cử như việc chẳng ai ưa nổi cuộc sống thôn quê." Những vị khách khác đưa mắt nhìn nhau, và người vừa lỡ lời, nhận ra sự kém tinh tế của mình, liền khựng lại đột ngột. "Dạo này Violet thế nào rồi?" cô nói tiếp một cách gượng gạo. "Cô có nghĩ em ấy đủ sức khỏe để đi chơi tối nay không?"

"Tôi vẫn hy vọng con bé đủ khỏe để đi," cô Heredith đáp. "Lát nữa tôi sẽ hỏi lại nó xem sao. Có ai dùng thêm một tách trà nữa không?"

Chẳng ai còn muốn uống trà thêm chút nào nữa. Bữa xế đã kết thúc; nhưng những nhóm quý bà quanh các bàn nhỏ vẫn điềm tĩnh trò chuyện, tận hưởng bầu không khí bình yên cùng ánh nắng buổi chiều. Vợ chồng hay vài cô gái lấy ra những chiếc hộp đựng thuốc lá và châm lửa hút.

Có tiếng bước chân vang lên trên lối đi trải sỏi. Một sĩ quan trẻ tuổi có ngoại hình bảnh bao đang rảo bước băng qua khu vườn từ hướng ngôi nhà. Khi tiến gần đến bàn trà, anh mỉm cười đưa ngón tay lên trán chào theo kiểu quân đội.

"Tôi đến để nói lời chia tay đây," anh thông báo.

Các quý bà quây quần lại quanh anh. Nhìn thái độ của họ cũng đủ thấy anh là một nhân vật được mến mộ đến nhường nào. Một vài cô gái trẻ gọi anh là "Dick" và nài nỉ anh gửi chiến lợi phẩm từ mặt trận về cho họ. Viên sĩ quan trẻ tỏ ra vô cùng tự tin và điềm đạm giữa vòng vây của họ với những tiếng cười đùa. Sau khi đã chào từ biệt tất cả mọi người, anh tiến về phía cô Heredith, đưa tay ra với vẻ lịch thiệp đầy cung kính, tạo nên sự tương phản khá rõ rệt so với thái độ suồng sã thoải mái trong màn chào hỏi vừa rồi.

"Tôi rất tiếc khi anh phải rời xa chúng tôi, Đại úy Nepcote," cô Heredith đứng lên với vẻ uy nghi để đón lấy bàn tay đang chìa ra của anh. "Anh sẽ lập tức trở lại mặt trận chứ?"

"Chắc là tối nay tôi sẽ đi."

Tôi tin rằng chẳng bao lâu nữa anh sẽ trở về quê hương an toàn, vinh quang đội ngũ vòng nguyệt quế chiến thắng."

Đại úy Nepcote cúi đầu có phần ngượng ngùng. Giống như phần lớn những người cùng thế hệ, anh dễ dàng cảm thấy lúng túng trước những lời ngợi khen hoa mỹ hay bất kỳ sự bày tỏ cảm xúc thái quá nào. Anh khoảng chừng hai mươi tám tuổi, chiều cao trung gian, cạo râu nhẵn nhụi, các đường nét gương mặt sắc sảo, tóc nâu và mắt xanh. Thoạt nhìn, anh chẳng mang lại ấn tượng gì hơn ngoài hình ảnh một sĩ quan trẻ điển trai người Anh thuộc tuýp quen thuộc vốn được đào tạo đến hàng ngàn người trong chiến tranh; thế nhưng khi anh đứng đó trò chuyện, một tia nắng bất chợt chiếu lên mái đầu trần đã làm lộ ra những nếp nhăn mờ ảo trên khuôn mặt cùng chút sắc bạc thoáng hiện trong mái tóc cắt sát, gợi lên điều gì đó không hoàn toàn khớp với vẻ ngoài hào hoa phong nhã của anh—nỗi buồn thầm kín hay sự phóng túng, chẳng thể nào đoán định được.

"Cô gửi lời chào tạm biệt của tôi đến Mrs. Heredith nhé?" anh nói sau một khoảng lặng ngắn. "Tôi hy vọng cô ấy sẽ sớm khỏe lại. Tôi đã chào từ biệt Sir Philip và Phil rồi. Sir Philip muốn lái xe đưa tôi ra ga, nhưng tôi thừa hiểu những khó khăn trong việc kiếm xăng dầu dạo này, nên tôi đã không cho phép ông ấy. Thật là một người tốt bụng! Phil có ngỏ ý đi bộ tiễn tôi một đoạn, nhưng tôi nghĩ đi thế quá sức với em ấy."

Họ đã bước ra khỏi khu vực bàn trà hướng về phía cây cầu bắc ngang lối vào ngôi nhà hào lũy. Cô Heredith dừng lại bên hai khẩu đại bác bằng đồng đặt trên bãi cỏ giữa một cụm lá cây kiểng, kèm theo một tấm biển ghi rằng chúng đã chiến lợi phẩm thu được từ chiếc Passe-partout, một chiến thuyền của Pháp bị Đô đốc Heredith bắt giữ ở vùng biển Ấn Độ vào năm 1804.

"Thật khó khăn cho Phil, một người mang dòng máu Heredith, khi phải ở lại phía sau trong lúc tất cả những thanh niên Anh quốc đều đang chiến đấu vì mảnh đất thân yêu của họ," cô nói khẽ, đôi mắt dán chặt vào những cỗ pháo đã lỗi thời này. "Thằng bé xuất thân từ một dòng dõi những chiến binh vĩ đại. Dẫu sao đi nữa," cô nói tiếp với giọng kiên quyết hơn, "Phil vẫn có những bổn phận phải hoàn thành, bất chấp sự tật nguyền của nó. Tất cả chúng ta đều có bổn phận của mình, tạ ơn Chúa. Tạm biệt, Đại úy Nepcote. Tôi đang làm mất thời gian của anh, và anh có thể lỡ tàu mất đấy."

"Tạm biệt, cô Heredith. Cảm ơn cô rất nhiều vì lòng tốt trong chuyến viếng thăm vô cùng dễ chịu này. Tôi đã có những khoảng thời gian tuyệt vời."

"Tôi rất vui vì anh đã tận hưởng kỳ nghỉ của mình. Tôi hy vọng anh sẽ đến thăm chúng tôi lần nữa khi các ðầu vụ quân sự cho phép."

"Ơ... vâng. Cảm ơn cô rất nhiều. Cảm ơn sự tốt bụng của cô một lần nữa."

Viên sĩ quan trẻ thốt lên những lời xã giao mang tính khuôn sáo của một vị khách khi từ giã với đôi chút cụt lủn, cúi đầu chào lần nữa, rồi quay người sải bước qua cây cầu đá cổ kính bắc ngang hào nước.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.