CẢNH SÁT ĐẾN từ lối vào căn hộ tiện nghi bé xíu của Douglas Pavlicek ở East Palo Alto ngay trước bữa sáng. Một cảnh sát thực sự: cú chạm rất nhẹ nhàng. Thứ mà có thể gọi là chủ nghĩa hiện thực. Họ cáo buộc anh tội ăn trộm có vũ khí và đọc luận tội của anh. Vi phạm Luật Hình sự điều 211 và 459. Anh không thể ngăn mình cười mỉa khi họ lần tìm cái còng và còng tay anh.
“Anh nghĩ chuyện này buồn cười à?”
“Không. Không, tất nhiên là không!” À, thật ra là cũng hơi hơi.
Chuyện trở nên bớt buồn cười khi hàng xóm còn mặc đồ ngủ ló đầu ra khỏi các ban công lúc đám cảnh sát dẫn Douggie tới chỗ đoàn xe đang chờ. Anh mỉm cười - Không phải như mọi người nghĩ đâu - nhưng hiệu úng bị giảm đi một chút, do tay anh bị còng ra phía sau.
Một tay cảnh sát tống anh vào ghế sau. Các cửa sau không có tay cầm. Cảnh sát thông báo về vụ bắt giữ anh trên đài. Mọi thứ rất giống kiểu của ban nhạc Naked City, bất chấp tháng Tám tuyệt hảo của trung tâm bán đảo này và bất chấp ý nghĩ rằng anh sẽ được trả mười lăm đô mỗi ngày làm sáng bừng lên khúc nhạc nền đó.
Anh mười chín tuổi, mồ côi hai năm, gần đây bỏ công việc sắp đồ trong siêu thị, và sống bằng tiền bảo hiểm nhân thọ của bố mẹ anh.
Mười lăm đô mỗi ngày trong suốt hai tuần quả là con số khổng lồ, mà không phải làm gì cả.
Tại đồn cảnh sát - một đồn cảnh sát thực sự - anh được lấy dấu vân tay, khử trừng, và bịt mắt. Họ ném anh trở lại vào xe rồi lái đi lòng vòng. Khi họ mở mắt anh ra, anh đã ở trong tù. Phòng của người cai ngục, phòng của cảnh sát, rồi tới các buồng giam. Xích đeo vào chân anh. Tất cả có vẻ rất rõ ràng, thuyết phục. Anh không biết mình đang ở đâu, trong đời thực. Một tòa nhà nào đó. Những ai đang chạy chương trình này đều không lên kế hoạch trước, giống như anh.
Mọi quản ngục và hầu hết Tù nhân đều đã ở đó sẵn. Douggie trở thành Tù nhân số 571. Quản ngục chỉ đơn giản là Ngài, với dùi cui và còi, đồng phục và kính râm. Họ hơi quá tự do với mấy cái gậy đó, ở vai trò các tình nguyện viên làm việc theo giờ. Vào vai của họ, làm tốt các thí nghiệm. Họ lột đồ của Doug và quàng cho anh bộ áo tù. Họ muốn xúc phạm lòng tự tôn của anh, nhưng Douglas ngăn cản họ làm điều đó, bằng cách chẳng có chút nào. Rồi đến “điểm danh - loa gọi và sự sỉ nhục mang tính hình thức - mấy lần liền trong buổi tối đó. Sandwich thịt nghiền cho bữa tối. Ngon hơn những thứ nó ăn gần đây.
Tới gần lúc tắt điện, Tù nhân 1037 trở nên hơi hung hăng vì những màn biểu diễn quá đà này. Cai ngục đánh gục anh. Rất rõ ràng: có cai ngục tốt, cai ngục khó tính, và cai ngục điên khùng. Mỗi thể loại đó lại trượt đi một điểm khi các thể loại khác xuất hiện.
Douggie - 571 - vừa xoay xở chợp mắt được, thì lại bị lôi khỏi giường bởi một cuộc điểm danh vu vơ. Lúc này là hai giờ rưỡi sáng. Đó là khi mọi thứ trở nên lạ lùng. Anh sực hiểu thí nghiệm này không phải về thứ mà người ta bảo. Anh nhận ra rằng họ thực ra đang kiểm tra một thứ gì đó đáng sợ hơn nhiều. Nhưng anh chỉ cần sống sót qua mười bốn ngày. Mà cơ thể con người có thể chịu được hai tuần của bất cứ thứ gì.
Vào ngày thứ hai, một bất hòa về thái độ ở buồng giam số Một trở nên mất kiểm soát. Bắt đầu là một trận xô đẩy rồi dần leo thang. Một số Tù nhân - số 8612, 5704, và một vài người khác - khóa lỏng họ lại ở trong buồng và đẩy các giường lại chặn ngang cửa. Các viên quản ngục gọi tăng viện từ ca trực đêm. Những người đàn ông trẻ xô đấy nhau và túm lấy các khung giường. Một ai đó hét lên: “Đây là một mô phỏng thôi, điên rồ. Một mô phỏng chết tiệt!”
Mà cũng có thể không phải thế. Đám cai ngục đàn áp cuộc quậy phá bằng bình chữa cháy, xích những kẻ cầm đầu lại, rồi ném chúng xuống một cái hố. Cô lập. Không bữa tối cho những kẻ nổi loạn. Ăn, như những viên cai ngục nhắc nhỏ với đám Tù nhân, là một đặc ân. Douggie ăn. Anh biết thế nào là đói. Số 571 sẽ không để bị đói chỉ vì một màn kịch nhỏ của những kẻ nghiệp dư. Tất cả những kẻ khác có thể phát điên, nếu đó là cách chúng muốn trải qua thời gian này. Nhưng không ai lôi được anh khỏi bữa ăn nóng của anh.
Các quản ngục sắp đặt một phòng giam đặc ân. Nếu Tù nhân nào muốn nói ra điều mình biết về cuộc quậy phá vừa rồi, thì có thể được đặt chỗ nằm của mình ở những khu vực sang trọng hơn. Những người hợp tác sẽ được rửa mặt và đánh răng và thậm chí còn được một bữa ăn đặc biệt. Đặc ân không phải là thứ mà Tù nhân 571 muốn. Anh sẽ cẩn thận cho bản thân mình, nhưng anh không phải là một kẻ mách lẻo. Thật ra, không có Tù nhân nào nhận lời đề nghị về phòng đặc ân. Lúc đầu là thế.
Đám cai ngục bắt đầu các tìm kiếm chuỗi hành động. Hút thuốc trở thành một đặc ân. Đến phòng tắm trở thành một đặc ân. Mọi thứ thật kinh tởm và triền miên trong suốt hai ngày tiếp theo. Có những công việc vô nghĩa kéo dài hàng giờ đến kiệt quệ. Có những cuộc điểm danh đêm muộn. Có cả việc chùi các xô chất thải của mọi người. Bất cứ ai bị bắt gặp cười mỉa thì phải hát bài Amazing Grace với hai tay dang ra. Tù nhân 571 bị bắt phải chống đẩy hàng trăm cái cho mỗi lần cự nự nhỏ.
Viên cai ngục mà tất cả Tù nhân đều gọi là John Wayne nói, “Nếu tôi đã nói các cậu chơi cái sàn nhà thì sao? Năm bảy mươi mốt, cậu là Frankenstein. Còn cậu, 3401, cậu là cô dâu của Frankenstein. Okay, hôn đi, lũ khốn.”
Không một ai - dù là cai ngục hay Tù nhân - mà không từng nhập vai. Thật điên khùng. Những con người này rất nguy hiểm; ngay cả 571 cũng thấy điều này. Tất cả họ đều như phát điên. Và họ đang kéo anh xuống cùng với họ. Rốt cuộc, anh nghi ngờ mình có thể vượt qua được hai tuần này. Ngồi trong căn phòng tiện nghi của anh để đọc các quảng cáo tìm việc trong ánh đèn lò mò bắt đầu có vẻ là một cái gì khá xa xỉ.
Vì một việc bất ngờ nhỏ nào đó trong một lần điểm danh, Tù nhân 8612 không có mặt. “Gọi cho bố mẹ tôi. Cho tôi ra khỏi đây!” Nhưng chuyện đó là không thể. Kỳ hạn của y phải kéo dài hai tuần, giống như tất cả mọi người. Y bắt đầu nổi điên. “Đây thực sự là nhà tù. Và chúng ta là Tù nhân.”
Tất cả bọn họ đều thấy rõ điều mà 8612 đang làm là giả điên. Tên khốn này muốn thoát cuộc chơi và bỏ mặc mọi người xúc phân với nhau trong chuỗi ngày dài còn lại. Thế là hành động trở nên thật.
“Chúa ơi, tôi đang bốc hoả! Tôi phát điên trong người. Tôi muốn ra! Ngay lập tức!”
Doug đã có lần thấy một gã phát điên trước đây, thời còn học trung học ở Twin Falls. Gã này là thứ hai. Chỉ nhìn thôi cũng đủ khiến não anh hoang dại.
Họ đưa 8612 đi. Viên cai ngục sẽ không nói là tới đâu. Thí nghiệm này phải giữ nguyên như cũ. Thí nghiệm này phải tiếp tục. 571 thì không muốn gì hơn là chính anh được ra khỏi đây. Nhưng anh không thể làm thế với những người khác. Những người bạn tù của anh sẽ ghét anh mãi mãi, như giờ đây anh đang ghét 8612. Cảm giác mệt nhừ - triệu chứng của lòng tự tôn nhỏ bé mà anh đã không nghĩ mình có - nhưng anh muốn giữ nguyên danh dự của 571. Anh không muốn một nhà tâm lý học ở trường đại học nào, kẻ đang nhìn qua tấm gương hai chiều và qua băng video, nói rằng, A, tên đó - chúng ta lại có thêm một kể bị đập vỡ.
Một mục sư tới thăm, một giáo sĩ Công giáo của nhà tù. Một giáo sĩ thực sự, đến từ bên ngoài. Tất cả Tù nhân đều phải đến gặp ông ấy ở phòng tư vấn. “Anh tên là gì?”
“Năm bảy mươi mốt.”
“Tại sao anh ở đây?”
“Người ta nói tôi phạm tội ăn cắp có vũ khí.”
“Anh đang làm gì để đảm bảo anh được thả?”
Câu hỏi tuột xuống sống lưng 571 rồi đậu lại ở hai cùi chỏ. Anh cần phải làm gì đó sao? Và nếu anh không làm gì - nếu anh không nghĩ ra đó là gì thì sao? Họ có thể giữ anh trong cái lỗ địa ngục này qua kỳ hạn đã thỏa thuận hay không?
Ngày hôm sau là một ngày nao núng với tất cả Tù nhân. Đám cai ngục đùa nghịch trên sự căng thẳng của họ. Cai ngục bảo Tù nhân viết thư về cho gia đình, nhưng họ sẽ đọc cho mà viết. Kính gửi mẹ. Con phát điên. Con thật tội lỗi. Một trong số các cai ngục bắt đầu châm chọc 819 là kém may mắn, thế là gã Tù nhân sụp đổ. Đám cầm quyền đã không ngừng giễu cợt y từ khi giam giữ, và giờ thì họ ném y vào cái hố. Tiếng khóc nức nở của y vẳng khắp cả nhà tù. Số Tù nhân còn lại được gọi ra hành lang để điểm danh. Đám cai ngục bắt họ ngân nga, Tù nhân 819 đã làm việc xấu. Vì việc hắn đã làm, xô phân của tôi sẽ không được đổ. Tù nhân 819 đã làm việc xấu. Vì việc hắn đã làm…
Một Tù nhân mới, 416 - thế chỗ của 8612 - tổ chức một cuộc tuyệt thực. Y có thêm hai Tù nhân khác tham gia cùng, nhưng những người khác thì chửi rủa y vì làm trò quấy phân. Khi có rắc rối, mọi người đều phải chịu vạ. Năm bảy mươi mốt từ chối chọn phe. Anh không phải một người tham gia, nhưng anh cũng không phải trưởng nghiệp đoàn tội phạm. Mọi thứ đang rệu rã. Tù nhân đang quay mặt lại với nhau. Anh không thể trả được cái giá dính líu vào bất cứ đâu. Anh nói với mọi người rằng anh là người không liên kết. Nhưng làm gì có chuyện có người không liên kết.
John Wayne đe dọa 416. “Ăn cái xúc xích chết tiệt đó đi, cậu bé, nếu không mày sẽ hối tiếc đấy.” Bốn mười sáu ném cái xúc xích xuống sàn, cái xúc xích lăn lông lốc trong đất bẩn. Mọi người chưa kịp định thần, tên Tù nhân đã bị hất xuống hố, cái xúc xích bẩn trong tay. “Chừng nào còn chưa ăn thì cứ ở dưới đó.”
Có một thông báo chung rằng: Nếu có Tù nhân nào muốn bỏ chăn tối nay, thì 416 sẽ được thả ra. Nếu không ai muốn, 416 sẽ ở cả đêm trong chỗ giam riêng. Năm bảy mươi mốt nằm trong giường, dưới chăn của mình, ngẫm nghĩ: Đây không phải cuộc đời. Đây chỉ là một cuộc mô phỏng chết tiệt. Có khi anh nên đấu lại với những kẻ làm thí nghiệm, làm rối loạn các kỳ vọng của họ, biến mình thành một Siêu nhân thần thánh. Nhưng mà chết tiệt: chẳng ai làm thế cả. Ai cũng đang đợi anh ngủ lạnh suốt đêm nay. Anh không muốn làm thất vọng tất cả chúng, nhưng anh không phải người đã bảo 416 làm cái trò ngu xuẩn đó. Tất cả bọn họ hẳn sẽ làm nhau chán chết trong hai tuần này và mọi thứ sẽ hẳn sẽ ổn cả thôi.
Anh nằm đó ấm áp suốt đêm, nhưng anh không ngủ. Anh không thể ngừng suy nghĩ. Anh tự hỏi: Nếu chuyện này là thật thì sao? Nếu anh bị nhốt trong hai năm, hoặc mười, hoặc hai trăm năm? Bị giam giữ trong mười tám năm vì tội ngộ sát, giống như thầy giáo dạy cấp hai say xỉn ở Townsend, người đã đâm nát chiếc Gremlin của bố mẹ anh đang trở về từ buổi nhảy line dance? Bị nhốt sau các song chắn, giống như hàng triệu kẻ ẩn danh trên khắp đất nước này, những kẻ mà anh không bao giờ bận tâm tới? Anh hẳn sẽ chẳng là gì cả. Anh hẳn thậm chí không phải là 571. Những kẻ có thẩm quyền thật sự có thể biến anh thành hư vô hoàn toàn.
Sáng hôm sau là một buổi gặp nhanh. Viên cai ngục và cảnh sát được triệu tập bởi những người có quyền lực cao hơn. Một nhà khoa học có trí tuệ lỗi lạc nào đó trong vị trí có thẩm quyền cuối cùng đã sực tỉnh và nhận ra rằng mọi người không thể làm thế này. Toàn bộ thí nghiệm này là tội phạm chết tiệt. Tất cả Tù nhân được tự do rời đi, ân xá sớm, thoát khỏi cơn ác mộng đã kéo dài trong sáu ngày. Sáu ngày. Nghe có vẻ vô lý. Năm bảy mươi mốt không nhớ nổi từ một tuần trước, mình đã là gì.
Các nhà thí nghiệm phỏng vấn mọi người trước khi trả họ lại với thế giới. Nhưng các nạn nhân này dường như đều quá căng thẳng để phản ánh. Các cai ngục thì tự vệ trong khi các Tù nhân thì giận sôi gan. Douggie cũng thế - Douglas Pavlicek - ném văng ra cơn tức tối. “Những người làm thứ này - những người được gọi là các nhà tâm lý học - nên bị bỏ từ hết vì tội vi phạm đạo đức.” Nhưng anh đã không từ bỏ cái chăn. Giờ đây, anh sẽ mãi mãi là gã sẽ không chọn phe và không nhường cái chăn, dù chỉ là trong một thí nghiệm diễn kịch hai tuần nhỏ bé sơ sài.
Anh ra khỏi nhà tù, bước vào không khí buổi sáng tươi đẹp đẽ của Central Peninsula. Một làn gió nhẹ nhàng mang theo hương hoa nhài và cây thông đá Ý phủ xuống áo anh và len vào tóc anh. Anh biết lúc này mình đang ở đâu: Tòa nhà Psych Building, trong khu nam tước cướp. Stanford. Miền đất của trí tuệ, tiền bạc, và quyền lực, với những con đường dài ngút mắt rợp bóng cọ và những mái vòm bằng đá có vẻ đáng sợ. Tu viện sừng sỏ đó là nơi anh luôn ngại bước vào, dù chỉ là đảo qua khi có việc, vì sợ có ai đó sẽ bắt giam anh vì tội mạo danh.
Họ đưa cho anh khoản tiền chín mươi đô la rồi lái xe đưa anh trở lại căn phòng tiện nghi của anh ở East Palo Alto. Anh vùi mình trong cái giường tầng cá nhân, ăn khoai tây chiên Fristos trộn trong bia Pabst và xem truyền hình trên chiếc tivi đen trắng nhỏ tí với những cái râu bằng giấy thiếc nhàu nhĩ làm ăng ten. Tại đây, ba tuần sau đó, anh thấy một chương trình truyền hình với hơn một trăm cái trực thăng Mỹ mất do hoạt động sai ở Lào. Anh chưa từng biết Hoa Kỳ có mặt ở Lào. Anh đặt lon bia xuống cái bàn tròn và có ấn tượng rõ ràng là nó đã để lại vệt nước trên tấm quan tài gỗ thông của ai đó.
Anh đứng lên, đầu nhẹ bẫng, cảm giác giống hệt như lúc anh đã thấy trong cái đêm 416 trải qua trong cái hố đó. Anh lướt ngón tay qua những lọn tóc xoăn rối dài mà nó sẽ sớm rời khởi đầu anh và đồng loạt. Một cái gì đó rõ ràng bị đảo lộn khỏi trạng thái thông thường, và trong đó có anh. Anh không muốn sống trong thế giới mà một số người hai mươi tuổi chết đi để cho những người hai mươi tuổi khác có thể học tâm lý học và viết về những thí nghiệm khốn kiếp. Anh nhận thức rõ ràng rằng cuộc chiến đó đã thất bại. Nhưng điều đó không thay đổi gì cả. Sáng hôm sau, anh đi đến trung tâm tuyển quân dịch ở Broadway ngay khi người ta mở cửa. Công việc ổn định, và ít nhất là chân thật.
TRUNG SĨ KỸ THUẬT DOUGLAS PAVLICEK lái hơn hai trăm chuyến bay chiến thuật trong bốn năm sau ngày tòng quân. Làm nhiệm vụ khuân vác trên chiếc C-130, anh cân bằng máy bay với hàng tấn tấm chống cháy và thuốc nổ Hạng A. Anh đặt đạn vào bàn đế dưới súng cối dày tới nỗi khiến nó phì khói. Anh chất đầy những chuyến bay ra nước ngoài với các xe tải hai tấn rưỡi, xe bọc thép chở quân, và các thùng lưới đầy ắp khẩu phần tác chiến, rồi đưa lên các chuyến bay về những túi chở thi hài. Bất cứ ai để ý cũng thấy rằng nguyên nhân ban đầu đã biến mất từ lâu. Nhưng trong cơ cấu thần kinh của Douglas Pavlicek, việc để ý còn xa mới quan trọng bằng giữ cho mình bận rộn. Khi anh còn làm việc để lấp đầy thời gian và khi đồng đội anh vẫn bật nhạc R&B trên đài, anh không bận tâm tới chuyện sớm hay muộn họ sẽ thua trận chiến vô nghĩa này.
Tình trạng bị lả khi mất nước khiến anh có biệt danh là Ngất Xỉu. Anh hay quên uống nước - tất nhiên là vào buổi ngày. Sau khi mặt trời lặn, anh lết xuống phố Jomsurang tại Khorat hoặc từng mê lộ sex của Patpong và Petchburi ở Bangkok, thành phố các Thiên thần, các nhánh sông Mekong và những thùng đầy bia Singha chảy khá thoải mái. Men cay làm anh thấy vui hơn, chân thật hơn, bớt thần kinh hơn, và có thể đảm đương được những cuộc trò chuyện triết lý mênh mông về số phận với những người lái xe túc túc.
“Cậu sắp về nhà chứ?”
“Ôi chưa đâu. Chiến tranh đâu đã kết thúc!”
“Chiến tranh kết thúc rồi.”
“Với tôi thì chưa đâu. Người cuối cùng ra ngoài vẫn phải tắt đèn cơ mà.”
“Mọi người nói chiến tranh hết rồi. Nixon. Kissinger.”
“Kissinger khốn kiếp. Giải thưởng Hòa bình cơ đấy, thật điên rồ!”
“Phải. Tôi không thích chiến tranh. Le Duc Tho chắc cũng vậy. Mọi người cần về nhà ngay.”
Douggie lúc này không còn biết đâu là nhà nữa.
Khi không làm việc, anh thích thứ với cây đũa chỉ huy nhạc Thái hoặc ngồi hàng giờ chơi đàn bass theo tiếng nhạc của Rare Earth và Three Dog Night. Hoặc anh sẽ đi vẩn vơ quanh những ngôi đền hoang phế - như Ayutthaya, Phimai. Có điều gì ở những ngọn tháp hoang tàn đó an ủi được anh. Những ngọn tháp đổ nát chìm nghỉm trong những thanh xà gỗ tếch và những bức tranh tường vụn vỡ tả tơi những viên đá ốp. Hỗn loạn sẽ sớm đến Bangkok, chẳng bao lâu nữa. L.A., một ngày không xa. Chẳng sao cả. Không phải lỗi của anh. Đây chỉ là lịch sử.
Các căn cứ khổng lồ với những phi đội rải thảm bom đang đóng cửa và nền tiểu thủ công nghiệp ký sinh của một cơ cấu kinh tế như cơn nghiên trở nên hung dữ. Cả đất nước Thái Lan đều biết điều gì đang đến. Họ đã bị ép buộc vào hiệp ước với người da trắng ma quỷ, và giờ thì có vẻ như họ đã chống lưng cho bên sai. Nhưng người Thái mà Douglas gặp không tỏ ra gì khác ngoài sự thân thiện với kẻ đã phá hoại họ.
Anh đang nghĩ sẽ ở lại đây khi hành trình của anh và cuộc chiến bất tận này kết thúc. Anh đã ở đây trong suốt những thời gian tốt đẹp, vì thế anh nên tiếp tục ở lại và trả nợ, trong tăm tối đang đến. Anh đã biết được một trăm từ tiếng Thái. Dâai. Nít nói. Dee mâak! Nhưng bây giờ anh còn ít thời gian nhất trong số những người làm việc ngắn hạn, điều khiển công việc vận tải đáng tin cậy nhất từng được xây dựng. Đây là công việc ổn định, dù gì cũng được thêm mấy tháng nữa.
Anh và đồng đội chuẩn bị chiếc Herky Bird cho một chuyến bay thường nhật nữa tới Campuchia. Họ đã chạy tiếp tế cho Pochentong suốt nhiều tuần. Bây giờ chạy tiếp tế đang chuyển thành sơ tán. Một tháng nữa, có thể là hai - chắc chắn không lâu hơn được. Cộng sản đang tràn đến khắp nơi, giống như mưa mùa hạ.
Anh cài khóa dây an toàn của ghế phụ quanh mình rồi họ lên đường, như thường lệ, trên thế giới vẫn còn xanh mướt tốt tươi, tấm khảm của những thửa ruộng bậc thang và rừng rậm bao quanh. Bốn năm trước, tuyến đường này vẫn xanh suốt dọc những con sông đổ ra biển Đông. Thế rồi xuất hiện những cơn bão thuốc diệt cỏ cầu vồng, mười hai triệu gallon hormone biến đổi thực vật, Chất độc Da cam.
Vài phút sau khi tới Rouge Land, họ bị tập kích. Không thể nào; tất cả phương tiện của họ cho thấy toàn bộ tuyến đường tới Phnom Penh trống trơn. Flak chạy hết tốc lực vào cabin và khoang hàng. Forman, tay kỹ sư máy bay, bị một mảnh đạn văng vào mắt. Một mảnh vỡ vỏ đạn cắt toạc mắt cá của tay hoa tiêu, Neilson, và một cái gì đó ấm, ẩm, sai sai chảy ra từ cơ thể anh ta.
Toàn thể đội bay nín thở bình tĩnh. Họ đã lặp đi lặp lại bộ phim một cuộn rùng rợn này trong những giấc mơ suốt bao lâu nay, và cuối cùng thì nó cũng đến. Việc không tin đây là thực giúp họ có sức hoạt động. Họ sẵn sàng vào vị trí, coi sóc những người bị thương và kiểm tra thiệt hại. Hai làn khói đen ám dầu nhờn giống hệt nhau len tỏa lên từ hai động cơ, cả hai đều ở mạn phải, không tốt chút nào. Chỉ một phút sau, các làn khói đã biến thành luồng. Straub nghiêng máy bay bằng một cú liệng nguy hiểm, quay trở lại Thái Lan và chỗ đội cứu viện. Chỉ cách vài trăm vòng quay thôi. Máy bay Hercules có thể bay với chỉ một động cơ.
Nhưng rồi họ bắt đầu rơi, như một con vịt về lại nhà là một hồ nước. Khói bốc ra từ phía sau khoang chở hàng. Cái từ đó buột khỏi miệng Pavlicek trước khi anh kịp hiểu là gì: Lửa! Trên một chiếc máy bay mà chất lên cả thân máy toàn là nhiên liệu và thuốc nổ. Anh cố gắng quay trở lại chỗ ngọn lửa đang lan rộng. Anh phải lôi các thùng lưới ra khỏi khoang trước khi chúng bắt lửa. Anh, Levine, và Bragg đánh vật với các khóa dây chằng hàng và móc. Ống dẫn khí, đã vỡ trong vụ nổ, xì khói nóng nung lên người anh. Luồng khí nóng thổi bỏng bên trái mặt anh. Anh chẳng cảm thấy gì. Chưa phải lúc này.
Họ xoay xở ném tất cả các thùng hàng xuống. Một trong các thùng nổ tung trong lúc rơi khỏi máy bay. Thứ chết tiệt đó phát nổ khi nó rơi qua không khí. Rồi Pavlicek cũng vậy, cắm xuống đất giống như một hạt giống có cánh.
HÀNG TRĂM DẶM PHÍA DƯỚI và ba thế kỷ trước, một con ong mang phấn hoa đã bò xuống một cái lỗ ở trên đỉnh của cây vả xanh nọ và đặt trúng trên khắp khu vườn xoắn ốc của những bông hoa ẩn nấp bên trong. Mỗi thế giới của một trong số bảy trăm năm mươi loài của chi sung có một loài ong riêng làm công việc thụ tinh cho nó. Và con ong này bằng cách nào đó đã tìm ra những loài vả quý giá này cho định mệnh của mình. Ong chúa đặt những quả trúng xuống rồi chết. Chính đóa hoa mà nàng đã thụ phấn cho về sau kết trái cũng trở thành mộ tẩm của nàng.
Được ấp trứng, các ấu trùng được nuôi dưỡng bên trong cụm hoa này. Nhưng chúng không còn nằm yên đó làm uổng phí thứ nuôi dưỡng chúng nữa. Các phần tử đực giao phối với chị em gái của chúng, rồi chết bên trong nhà tù là thành quả huy hoàng của chúng. Các phần tử cái xuất hiện từ cây vả rồi bay đi, thân mình phủ đầy phấn hoa, mang cuộc chơi bất tận tới nơi nào đó khác. Cây vả mà chúng để lại phía sau sản xuất ra một hạt màu đỏ nhỏ hơn nốt tàn nhang trên mũi Douglas Pavlicek. Cây vả đó đã bị nghiền nát bởi một chiếc xe tăng. Cái hạt kia thì đã đi vào ruột một con chim và rơi xuống từ trời trong một đụn phân to rồi đậu xuống nhánh cong của một cái cây khác, ở đó nắng và mưa nuôi dưỡng cho hạt mầm đã vượt được qua hàng triệu cung đường của tử thần đó. Nó lớn lên; rễ của nó trượt xuống và bao quanh lấy vật chủ của nó. Nhiều thập kỷ trôi qua. Rồi nhiều thế kỷ. Chiến tranh trên lưng voi đã nhường chỗ cho những cuộc đổ bộ lên mặt trăng và bom nhiệt hạch.
Các thân của cây vả chìa ra cành nhánh, và cành nhánh lại tạo nên những chiếc lá đầu tròn hình giọt nước. Các khuỷu nhánh gập lại từ các cành lớn. Hạ mình thấp xuống tận đất rồi nở nang ra thành những thân cây mới. Trong lúc đó, cái thân cây trung tâm duy nhất đó trở thành một bệ đỡ. Cây vả vươn tỏa ra thành một vòng oval với ba trăm thân cây chính và hai nghìn thân nhỏ hơn. Nhưng tất cả nó vẫn là một cây vả duy nhất. Một banyan.
CHUYÊN GIA XẾP HÀNG PAVLICEK trườn sấp giữa không khí trong vắt, xanh tươi. Tiếng rì rì làm anh xáo động. Thảm họa trôi dạt trên vùng mây phía anh, không cần phải giải quyết nữa. Anh chỉ còn muốn tha thứ cho thế giới, quên đi, và rơi. Gió đưa anh tới nơi nó sẽ đưa, giữa đường tới tỉnh Nakhon Ratchansima. Khi mặt đất hiện ra để đón Douglas, anh như hồi sinh. Anh cố gắng đánh lái cái dù về phía một khoảnh ruộng bậc thang, trên bề mặt có nước và lấm tấm những bó mạ màu xanh. Nhưng rồi các chốt néo vướng vào nhau, anh dạt ra xa, và trong một cú bổ nhào điên cuồng của một trăm feet cuối, một khẩu súng kẹt vào đùi anh và phát nổ. Viên đạn nhằm vào phía dưới xương bánh chè, chạy xuống xương chày, rồi xé toang xuống tận gót chân trong chiếc bốt. Tiếng hét của anh thấu trời, cơ thể anh rơi bịch xuống cành của banyan, khu rừng một cây duy nhất đó đã phát triển suốt dọc ba trăm năm chỉ để kịp thời cứu cú ngã của anh.
Cành nhánh toạc qua bộ đồ phi công của anh. Tấm dù cuộn lấy anh như tấm vải liệm. Giữa các vết sứt sẹo và vết bỏng, vết thương do đạn và cái chân nát bươm, tay phi công lịm đi. Anh treo lơ lửng hai mươi feet trên Mặt đất, trong một lãnh địa thân thiện, úp mặt xuống sõng soài trong những cánh tay của cái cây thiêng lớn hơn cả nhiều ngôi làng.
Một chiếc baht bus chỏ đầy người hành hương tới cầu nguyện ở cây thần. Họ đi qua hàng cột của những rễ chông để tới thân cây trung tâm, cái thân đã trườn xuống quanh dưỡng phụ mà nó đã bóp nghẹt chết từ nhiều năm trước. Đặt trong thân cây ngoằn ngoèo là một miếu thờ phủ đầy hoa, chuỗi hạt, chuông, giấy cầu nguyện, những bức tượng khắc trên rễ cây, và những sợi chỉ thiêng. Những người hành hương đi về phía điện thờ qua mê trận của giàn cành nhánh lan rộng, hát ngân nga bằng tiếng Pali. Trên cánh tay họ đầy những thẻ hương, những hộp nhiều tầng đựng đầy cà ri gang gai, những vòng hoa sen và hoa nhài. Ba đứa trẻ con chạy phía trước, đôi môi ríu ra ríu rít hát một bài điệu luk thung.
Đoàn người tiến gần tới miếu thờ. Họ treo các vòng hoa lên vòm treo đồ tế lễ đã có từ trước trải khắp các cành nhánh. Rồi bầu trời sụp đổ và một vật thể đâm sầm vào vòm cây phía trên. Hương, vòng hoa, hộp đồ ăn văng tung tóe vì sự việc. Cú sốc khiến hai người hành hương ngất xỉu xuống đất.
Sự hỗn độn lắng xuống. Những người hành hương nhìn lên. Một ông Tây - farang - khổng lồ treo trên đầu họ, chừng như có thể nghiến gãy cành lá để rơi nốt đoạn đường ngắn cuối cùng xuống tới đất. Họ gọi với lên người nước ngoài. Anh ta không nhúc nhích. Một cuộc tranh luận nổ ra về việc làm cách nào để với tới người đàn ông và lôi anh ta ra khỏi vòng vây của cây vả và tấm dù. Trung sĩ kỹ thuật Pavlicek tỉnh lại thì thấy có mấy người Thái đứng bên cạnh cúi xuống lay lay anh. Anh nghĩ mình đang nằm ngửa, bập bềnh trong một vũng không khí, trong khi những người lộn ngược kia cúi xuống và tóm lấy anh từ phía dưới bề mặt một tấm gương. Cơn đau từ chân và mặt nghiền nát anh. Anh ho ra một bụm nước bọt nhuốm đỏ. Anh nghĩ: Mình chết rồi.
Không, một giọng gần mặt anh đính chính. Cái cây cứu sống anh rồi.
Ba từ hữu dụng nhất trong suốt bốn năm sống ở Thái Lan lúp búp bật ra từ miệng anh. “Mâi kâo chai.” Tôi không hiểu. Nói xong, anh lại lịm đi và trở lại với cảm giác bị rơi dài, theo đợt. Lần này, anh cứ chìm nghỉm mãi xuống khi Mặt đất phía dưới mở ra nuốt anh vào. Anh rơi sâu xuống phía dưới, một cú rơi dài xa hoa vào vương quốc của các rễ cây. Anh lao vào mực nước ngầm, chìm xuống phía khởi nguồn của thời gian, vào hang ổ của một sinh vật trong truyền thuyết, mà sự tồn tại của nó nằm ngoài trí tưởng tượng của anh.
TRẠM Y TẾ ĐỊA PHƯƠNG sẽ không chạm vào chân của một lính Mỹ. Một nhân viên lái xe đưa anh tới Khorat trên chiếc Mazda màu san hô với một lá cờ Luân hồi bay phất phới từ cái ăng ten. Chiếc xe kêu như một con thuyền khlong kêu cót két và kéo theo sau một đám khói ám dầu y hệt lúc con thuyền khởi động. Pavlicek, mê man ngồi trong ghế sau, nhìn ra chặng đường hàng cây số xanh ngắt loang loáng lượt qua. Khung cảnh dưới thấp trù phú, cùng những ngọn đồi nhấp nhô. Trong hồ có cá; trên đầm có gạo. Toàn bộ vùng này sẽ chìm như một tàu lá chuối trong một cơn bão. Charlie sẽ tắm nắng ở Siam Intercontinental, vào mùa hè năm sau. Một cái cây đã cứu đời anh ta. Thật vô lý.
Khi mũi tiêm của trạm y tế hết tác dụng, Pavlicek cầu xin người lái xe giết anh đi. Người lái xe khua tay lên miệng ra hiệu. “No Angrit.” Xương gót chân của Douglas lộ cả ra. Một bác sĩ ở căn cứ ở Khorat băng bó vết thương cho anh rồi chuyển anh tới Fifth Field, Bangkok. Tất cả người trên cùng chuyến bay của anh sống sót - phần chính là nhờ anh, báo cáo sau vụ việc cho biết. Còn anh - anh nợ một cái cây mạng sống của mình.
KHÔNG LỰC không giải quyết được vấn đề chân cẳng. Họ cho anh đôi nạng, một huân chương Air Force Cross - huân chương cao thứ hai mà người ta trao cho lòng dũng cảm - và một vé miễn phí về sân bay San Francisco. Anh nhận ba mươi lăm đô la cho huân chương đó tại Friendly’s Pawn on Mission. Anh không chắc Thân thiện có nghĩa là giúp đỡ một thương binh hay là vô tình xé nát anh ta. Nhưng anh cũng không cần phải quan tâm nhiều. Đó là kết thúc những nỗ lực của phi công xếp hàng Douglas Pavlicek nhằm giúp bảo vệ thế giới tự do.
Vũ trụ là một banyan, rễ của nó ở phía trên còn cành nhánh thì ở dưới. Thinh thoảng những từ ngữ này lan tỏa lên thân cây tới chỗ Douglas, như thể anh vẫn còn treo lủng lẳng giữa không trung: Cây đã cứu đời anh. Chúng chẳng buồn nói cho anh vì sao.
CUỘC SỐNG ĐẾM NGƯỢC. Chín năm, sáu công việc, hai cuộc tình thoáng qua, ba biển ô tô của ba bang, hai tấn rưỡi bia, và một ác mộng lặp đi lặp lại. Thêm một mùa thu nữa qua đi và mùa đông đến, Douglas Pavlicek lấy cái búa đầu tròn ra đục hàng loạt ổ gà trên con đường có bề mặt tương đối bằng phẳng chạy ngang qua trại nuôi ngựa xuống dưới Blackfoot. Mục đích là để người đi xuống phố chậm lại một chút để anh có thể đứng bên bờ rào mà ngắm gương mặt họ trong chốc lát. Tháng Mười Một sắp đến, có lẽ sẽ còn lâu nữa anh mới sẽ có lại niềm vui đó.
Douglas dành một ngày thứ Bảy làm việc đó, sau khi lũ ngựa đã được cho ăn và đọc cho nghe. Những công việc thường nhật. Nếu có xe nào chạy thật chậm, anh và con chó sẽ rảo bước đi bên cạnh cho tới khi người lái xe hoặc là hạ cửa sổ để chào hỏi hoặc là rút súng ra. Một vài cuộc nói chuyện vui vẻ kiểu đó, thực sự là cho-và-nhận. Có người thậm chí còn dừng lại một lát. Douggie nhận ra rằng hành động như thế sẽ có vẻ rất kỳ dị, khi nhìn từ ngoài vào. Nhưng đây là Idaho, và ta dành tất cả thời gian với ngựa, tâm hồn ta rộng mở một chút cho tới khi cung cách của con người hé lộ ra rằng họ chẳng là gì hơn một bữa tiệc hóa trang thì ta sẽ thấy quả thực là chẳng nên tin vào cái mẽ bề ngoài.
Thực ra, Dougie ngày càng tin rằng lỗi lớn nhất của loài người là khuynh hướng nghiêm trọng là nhầm lẫn đồng thuận thành chân lý. Thứ ảnh hưởng lớn nhất lên điều mà một người tin hoặc không tin là những gì mà người xung quanh phủ lên đám đông. Nếu có ba người ở chung một phòng thì họ sẽ quyết định rằng định luật hấp dẫn là tội ác và nên bị bác bỏ vì chú của một người trong số họ đã say xỉn rồi ngã lộn nhào.
Anh đã từng thủ ý tưởng này với nhiều người khác, nhưng chẳng thành công mấy. Nhưng có một mảnh kim loại đang trượt xuống gần đốt sống L4 của anh, một khoản tiền nhỏ là trợ cấp nghỉ việc, một huân chương Air Force Cross (cầm đồ), một huân chương Purple Heart tặng về sau, thứ này gợi anh nghĩ tới cái bệ ngồi toilet, và khả năng làm mọi thứ bằng đôi tay, những điều khiến anh có quyền đưa ra những ý kiến mạnh mẽ.
Anh vẫn hơi khập khễnh, khi anh quai búa. Mặt anh trở nên dài như mặt ngựa, trong sự bắt chước vô thức với những con vật mà anh chăm sóc. Anh phải tự sinh sống bảy tháng mỗi năm khi những người chủ cao tuổi của trại ngựa này ngao du với các thứ vui và tới từng ngôi nhà khác của họ.
Núi non bủa vây anh khắp ba mặt. Tiếp sóng truyền hình duy nhất mà anh có thể thu được là đám muỗi nhiễu. Nhưng một phần trong anh vẫn muốn biết nếu những suy nghĩ riêng tư hiếm hoi của anh trên thực tế có được đồng thuận bởi ai đó, ở một nơi nào đó. Sự xác nhận từ những người khác: một chúng bệnh mà toàn thể giống loài sẽ vì thế mà diệt vong. Và thế là anh vẫn dành ngày thứ Bảy thứ hai của tháng Mười đục đẽo con đường chạy qua trước mặt ngôi nhà, hy vọng rằng một cái ổ gà cỡ lớn sẽ làm người ta phải đi chậm lại.
Anh đang chuẩn bị đánh dấu điểm chốt lại của ngày hôm đó rồi trở về trang trại nói chuyện về Nietzche với Chief Plenty Coups, con ngựa thồ giống Bỉ, thì vừa lúc đó một chiếc Dodge Dart màu đỏ phóng lên con dốc với vận tốc gần bằng vận tốc âm thanh. Nhìn thấy dải hố, chiếc xe đâm sầm vào với một cú trượt bánh xe được kiểm soát đáng kinh ngạc. Douggie và con chó chạy ùa tới. Cánh cửa sổ hạ xuống khi họ vừa đến bên cạnh. Một người phụ nữ tóc đỏ rực thò đầu ra. Họ có rất nhiều thứ để nói, Douglas thấy điều này. Định mệnh trở thành bạn bè.
“Sao đường lại lộn xộn thế này, và chỉ ở đây?”
“Nổi loạn,” Douglas giải thích.
Cô nàng cuộn cửa kính lên rồi phóng vút đi, trục bánh xe tít mòng. Không buồn nhìn lấy một cái. Trò chơi kết thúc. Nó lấy đi thứ gì đó từ trong Douglas. Thêm một chút nhỏ nhoi nữa, cuối cùng. Không còn chút sinh lực nào sót lại để đọc phần tiếp theo của Zarathustra cho con ngựa.
Đêm hôm đó nhiệt độ xuống âm độ, những cánh tuyết tua tủa chà trên mặt anh như thể toàn bộ không gian ngoài trời rộng lớn này đã biến thành một phòng tẩy da chết ở California. Anh đi tới Blackfoot, ở đó anh nốc hết cả tháng lương cho cocktail hoa quả, phòng khi tỉnh rượu quá sớm. Cuối cùng anh tới quán bar bi-a, lia những tờ đô màu bạc như thể chúng là những miếng nhôm sên.
“Ta phải sẵn sàng cháy hết mình trong ngọn lửa của chính ta,” anh nói với một loạt khách trong quán. Đó là câu nói của Tù nhân 571 trước đây, người sẽ luôn phải nói rằng anh ta đã không đưa chăn cho bạn tù khi mà đáng lẽ anh ta nên làm thế. Anh trở về nhà sau mười tám lượt chơi tám bóng với nhiều tiền hơn số mà anh còn lại. Chôn chỗ tiền mặt đó vào bãi cỏ phía bắc, bên cạnh số tiền dự trữ còn lại, trước khi đất trở nên quá cứng để đào.
Mùa đông ở đây dài hơn cả quá trình khai hóa văn minh về cách trả sau. Anh sàng lọc. Anh lôi ra mấy thức từ mớ bòng bong của mình: một cái đèn, một cái giá treo áo khoác, một cái ghế. Anh nghĩ về cô gái tóc đỏ và kiểu cao sang không với tới của cô. Anh lắng nghe tiếng động vật vặn vẹo trên gác mái. Anh đọc hết cuốn The Portable Nietzsche rồi tiếp tục với cuốn The Complete Tiostradamus, đọc hết trang nào thì đốt luôn trang đó trong lò sưởi. Anh chải lông cho hàng loạt con ngựa, cưỡi chúng hằng ngày chạy lòng vòng khu trại trong nhà, đọc cho chúng nghe Paradise Lost, vì Nostradamus thì quá buồn.
Vào mùa xuân, anh cầm một khẩu .22 đi vào rừng. Nhưng anh không thể kéo cò, dù là với một con thỏ què. Có cái gì đó sai sai trong anh, anh nhận thấy thế. Khi chủ trang trại trở về vào đầu mùa hè, anh cảm ơn họ rồi giã từ. Anh không biết chắc mình sẽ đi đâu. Kể từ chuyến bay cuối cùng làm người xếp hàng, một nhận thức như thế trở nên thật là xa xỉ.
Anh muốn đi tiếp về hướng Tây. Vấn đề là, dải đường duy nhất dẫn về hướng Tây của anh lại giống như là trở lại miền Đông. Thế là anh lấy chiếc F100 đã qua sử dụng nhưng vẫn còn tốt của mình, thay lốp mới, tốn kha khá tiền, chứng nhận thương binh, đi cùng một người bạn tên là Eugene. Con đường trở lại đẹp đẽ xuyên qua những rặng núi vượt qua Boise và xa hơn nữa. Cuộc đời lại tươi đẹp như lúc anh rơi từ trên trời xuống banyan. Radio của chiếc xe tải bì bõm khi xe xuyên các hẻm núi, giống như những bài hát tỏa ra từ mặt trăng. Từ giai điệu high lonesome uốn xuống dòng techno. Nhưng thật ra anh không nghe. Anh đang mê mải với những rặng vân sam Engelmann và linh sam subalpine. Anh thả lỏng vai để thư giãn. Ở đây trên những rặng núi này, anh có thể đi tiểu ở làn giữa của đường cao tốc và con người hẳn chẳng phải một loài khôn ngoan. Nhưng hoang dã là một con dốc trơn trượt[1], như anh thường đọc cho lũ ngụa. Anh bước xuống con đường, đi vào trong rừng.
Ở đó, giương cờ lên giữa cột, mắt nhìn vào thiên nhiên, chờ cho bàng quang xả ra, Douglas Pavlicek nhìn những luồng ánh sáng xuyên qua những thân cây nơi lẽ ra phải âm u xuống suốt cả lòng rừng. Anh kéo khóa quần rồi thám thính. Bước sâu hơn vào vùng rừng tầm thấp, đi sâu hơn mà lại thành ra xa hơn. Những đoạn đường đi bộ ngắn nhất, và rồi anh xuất hiện ở… một nơi thậm chí không thể gọi là khoảng trống. Phải gọi đó là một vầng trăng. Một vùng hoang vắng đầy những gốc cây trải ra trước mặt anh. Mặt đất như ứa máu vì đất sỏi đỏ trộn với mụn cưa và cành lá gãy. Khắp các hướng xa ngút tầm mắt anh đều giống như một con chim khổng lồ bị vặt trụi lông. Trông như thể những tia tử thần ngoài hành tinh đã xẹt qua, còn thế gian này đang cầu xin được chết. Chỉ một thứ anh từng trải nghiệm trông hơi giống cảnh này: là ở ba đất nước đầy rừng rậm mà anh, Dow, và Monsanto đã giúp phát quang. Nhưng bãi trống này có tác động hơn nhiều.
Anh lập bập quay bước xuyên qua rặng cây ẩn hiện, băng qua đường, nhìn ngắm khu rừng từ phía bên kia. Nhiều cảnh trăng trải xuống sườn núi. Anh khởi động xe rồi lái đi. Con đường trông như khu rừng, dặm nối dặm màu lục bảo. Nhưng lúc này Douggie nhìn qua ảo giác. Anh đang lái xe qua động mạch mỏng manh nhất của cuộc sống trá hình, một tấm màng ẩn giấu hố bom to như một đất nước có chủ quyền. Khu rừng trông như một đạo cụ hóa trang, một mảnh nghệ thuật tinh ranh. Cây cối giống như vài chục vai phụ trong các bộ phim được thuê để khỏa lấp một cảnh quay cận cảnh và vờ như đây là New York.
Anh dừng lại ở một trạm xăng để đổ xăng. Anh hỏi người thu ngân, “Họ đã chặt trụi cây cối à, phía trên thung lũng ấy?”
Người đàn ông nhận những tờ đô màu bạc của Douggie. “Ôi dào, thế đấy.”
“Rồi giấu nó sau một tấm rèm ô bỏ phiếu nhỏ sao?”
“Chúng được gọi là miếng lột mặt. Hành lang viễn cảnh.”
“Nhưng… toàn bộ đó không phải là rừng quốc gia sao?”
Người thu ngân nhìn chằm chằm, giống như thể có bẫy trong sự ngớ ngẩn hết sức của câu hỏi đó.
“Tôi cứ nghĩ rừng quốc gia là để bảo vệ đất.”
Người thu ngân thổi một quả mâm xôi to như quả dứa. “Anh đang nghĩ đến công viên quốc gia đấy. Công việc của rừng quốc gia là để chặt đốn, giá rẻ. Cho bất cứ ai mua.”
Ừm - việc học hỏi thật điên rồ. Douglas rèn luyện để học thêm điều mới mỗi ngày. Nhận thức nhỏ bé này sẽ tồn tại thêm nhiều ngày nữa trong anh. Cơn giận bắt đầu trào sôi, đâu đó trước khi tới Bend. Không chỉ vì vừa sáng sớm sang chiều đã có hàng trăm nghìn mẫu rừng biến mất quanh anh. Anh có thể chấp nhận sự thật rằng các chiến dịch môi trường Smoky Bear và Ranger Rick đang nuốt chửng số tiền trợ cấp được trả bởi công ty địa ốc Weyerhaeuser. Nhưng mánh lới có chủ ý, thô sơ, có tác động đến đáng sợ của bức mành cây trên đường cao tốc này khiến anh muốn đấm ai đó. Mỗi dặm đường như thế đã đánh lừa được trái tim anh, đúng như chúng dự kiến. Tất cả trông rất thật, rất nguyên sơ, rất hoàn hảo. Anh cảm thấy như anh đang trên núi Cedar, trong cuốn Sử thi Gilgamesh, cuốn mà anh đã tìm thấy trong thư viện ở trang trại và đọc cho lũ ngựa nghe năm ngoái. Cánh rừng từ ngày đầu tiên hình thành. Nhưng hóa ra Gilgamesh và gã bạn Enkidu đã đi khắp nơi đó và chặt tỉa hết cây. Câu chuyện cũ mèm nhất của thế giới. Bạn có thể lái xe suốt dọc bang này mà chẳng hề hay biết. Đó chính là mấu chốt của cơn giận.
Ở Eugene, Douglas đổi một xấp đô la nặng trĩu lấy một chuyến bay trên chiếc trực thăng nhỏ. “Hãy cho tôi bay một vòng rộng nhất có thể với chừng đó tiền. Tôi muốn biết từ trên cao nhìn xuống dưới kia trông như thế nào.”
Nó trông như mảng sườn bị cạo của một con vật bị bệnh đang chờ phẫu thuật. Khắp mọi nơi, khắp mọi hướng. Nếu khung cảnh này được phát sóng trên truyền hình, việc đốn cây hẳn sẽ dùng vào ngày mai. Trở lại bề mặt ẩn mật của hành tinh, Douglas nằm dài ba ngày trên chiếc trường kỷ của người bạn thân, câm lặng. Anh không có vốn.
Không có hiểu biết chính trị. Không giỏi ăn nói. Không có nhạy cảm về kinh tế hay nền tảng xã hội. Tất cả những gì anh có là một khoảng trống của cây cối bị đốn trải ra trước mắt anh, dù mắt anh nhắm hay mở, vẫn ám ảnh anh suốt dọc đường tới chân trời.
Anh đưa ra một số yêu cầu. Với đôi chân thương tật chỉ còn một bên lành lặn, anh làm thuê cho một nhà thầu, chuyên trồng cây giống vào lại những dải đất bị đốn cây. Họ trang bị cho anh một cái xẻng và một cái túi Johnny Appleseed đựng đầy cây giống mà mỗi cây họ trả cho anh mấy xu. Và với mỗi cây sống sót sau một tháng, họ hứa sẽ trả cho anh hai mươi cent.
Linh sam Duglas: loại cây thân gỗ có giá trị nhất nước Mỹ, chắc chắn - vậy tại sao không trồng một trang trại chỉ toàn loại cây này? Mỗi mẫu đủ dựng năm căn nhà mới. Anh biết rằng mình đang gieo cây cho những kẻ trung gian cho chính những kẻ khốn nạn ban đầu đã chặt những vị thần nguyên thủy. Nhưng anh không phải là kẻ ngăn chặn ngành công nghiệp gỗ hay thậm chí là kẻ phục thù cho tự nhiên. Anh chỉ muốn kiếm sống và xóa bỏ cảnh tượng cây cối bị đốn kia, một cảnh tượng khoan vào anh như một con bọ cánh cứng khoan vào thân gỗ.
Nhiều ngày trời anh đi trong những vùng đất thoai thoải đầy dốc câm lặng chết chóc. Có khi, anh bò lê qua những rác rưởi ngổn ngang, lạc bước trong đống gỗ vụn trập trùng, kéo mình băng qua mớ hỗn độn của rễ, gốc, cành nhánh, que lẻ, thân cây, bị cắt xẻ vụn, bị bỏ lại mục ruỗng trong một nghĩa địa hoang tàn rối rắm. Anh làm chủ nghệ thuật của một trăm cách khác nhau để bới móc. Anh khom người, xúc một đường xéo xuống đất, đặt vào đó một cây giống, đưa mũi giày ấn nhẹ để lấp miệng hố. Rồi anh lặp lại việc đó. Trong những cái hố rải rác. Trên những sườn đồi và dưới những vùng đất lở. Mấy chục lần mỗi giờ đồng hồ. Hàng trăm lần mỗi ngày. Hàng ngàn rồi lại hàng ngàn lần mỗi tuần cho tới khi cả cơ thể phập phồng tuổi ba tư của anh căng tròn lên như thể tràn đầy nọc độc của rắn. Có những ngày nếu sẵn trong tay cái giũa, anh sẽ chọc thẳng xuống cái chân què của mình.
Anh ngủ trong các trại dành cho người trồng cây, đầy những người du thủ du thực, bất hợp pháp, khắc nghiệt, dễ mến, quá mệt mỏi với cả ngày làm việc, nên chẳng muốn nói gì nhiều. Một câu cứ ùa đến trong đầu anh khi anh ngả lưng xuống vào buổi tối, người cứng đờ vì nhức mỏi - những lời anh từng đọc cho những con vật được anh trông nom trong cuộc sống của một người làm trong trại gia súc trước đây của anh. Nếu bạn đang cầm một cây con trong tay khi Đấng cứu thế đến, hãy trồng cây non đó trước rồi hẵng ra chào Đấng cứu thế. Cả anh lẫn lũ ngựa đều không hiểu nhiều về nó. Cho tới lúc này.
Mùi hương của những vết cưa thân cây bao phủ anh. Ngăn kéo đụng gia vị dấp dính. Chất len ẩm ướt. Sơn móng tay cũ gỉ. Ớt ngâm giấm. Những mùi hương đưa anh trở lại tuổi thơ. Những mùi hương tiêm vào anh niềm hạnh phúc không thể cắt nghĩa. Mùi vị liệng anh xuống đáy của cái giếng sâu nhất rồi giữ anh ở đó suốt nhiều giờ. Rồi có âm thanh, như thể đôi tai anh đang vùi vào cái gối. Tiếng lao xao của những cái cưa, máy liên hợp xén và cẩu cây, vọng lại từ đâu đó xa xôi. Một sự thật lớn xuất hiện: Cây đổ với hình ảnh âm thanh khủng khiếp. Nhưng trồng trọt thì câm lặng và phát triển thì vô hình.
Có những ngày, bình minh mờ mịt tựa sương mù thành Avalon. Có những buổi sáng cái lạnh chực muốn giết anh, cho đến sức nóng của buổi trưa khiến anh sụm xuống trên chiếc mông gần như tê liệt. Những buổi chiều xanh ngăn ngắt anh nằm ngả lưng nhìn lên cao cho tới khi mắt ứa nước. Có những cơn mưa đùa giỡn đến nhẫn tâm. Mưa mang sức nặng và màu sắc của chì. Mưa e dè, như diễn thử với nỗi sợ sân khấu. Mưa làm nảy mầm trên chân anh những rêu và địa y. Đã từng có hàng đống khổng lồ tua tủa đan cài đủ thứ gỗ ở đây. Rồi sẽ lại có những đống như thế.
Đôi khi anh làm việc cùng những người gieo cây khác, một số người nói tiếng gì anh không hiểu. Anh gặp những người đi bộ đường trường muốn biết những cánh rừng của tuổi trẻ họ đã biến mất ở đâu rồi. Những pinero[2] làm việc theo mùa vụ đến rồi đi, và những người cố định, giống như anh, tiếp tục làm việc. Hầu hết, chỉ có anh và những người da màu, da đen, với nhịp điệu đều đều của công việc. Xúc đất, khom người, đặt cây, đứng lên, rồi lấp đất lại bằng mũi giày. Và anh như có thể ngửi thấy mùi cánh rừng mà những cây non đó sẽ tạo tác lại - ứa nhựa, tươi mới, ngập tràn mong đợi, nhựa của một loài quả không phải là quả, mùi hương của những Giáng sinh lâu đời hơn cả chúa Kitô.
Chúng trông rất đáng thương, những cây linh sam nhỏ xíu của Douglas. Giống như những sợi cọ ống hút. Giống như những món đồ trong đoàn tàu đồ chơi. Từ xa nhìn lại, bao quát khắp những đồi xanh do tay người gieo trồng này, chúng như kiểu tóc crew cut của một người đàn ông bị hói. Nhưng mỗi thân cây như cọng cỏ anh đặt vào trong đất là một điều thần diệu vĩnh hằng của tạo hóa. Anh gieo xuống hàng nghìn cây, anh yêu thương và tin tưởng chúng như yêu thương tin tưởng đồng loại của mình.
Để lại đó một mình - trong điều kiện chọn lọc - bỏ lại một mình với không khí, ánh sáng, gió mưa, mỗi cây có thể đạt tới trọng lượng hàng chục tấn. Mỗi cây do anh gieo có thể phát triển suốt sáu trăm năm sau và lớn hơn ống khói nhà máy lớn nhất. Nó có thể làm nơi trú ngụ cho nhiều thế hệ chuột mà chẳng bao giờ xuống đất, và hàng tá loài côn trùng chỉ muốn khoét ruỗng thân chủ của chúng. Có thể rụng xuống mười triệu chiếc lá kim mỗi năm trên những cành thấp hơn của chính nó, tạo nên những thảm đất mà từ đây phát triển nên những khu vườn treo trên không.
Bất cứ cây nào trong số những cây giống mảnh khảnh đó cũng có thể trổ ra hàng triệu quả trong suốt vòng đời của nó, những quả giống đực màu vàng nhỏ với phấn rải khắp nhiều bang, những quả giống cái rụng xuống với những cái vảy mềm chìa ra ngoài cuộn vảy cứng, một hình ảnh mà anh thấy thân thương hơn cả cuộc sống của chính mình.
Douglas Pavlicek làm việc ở một khoảng rừng bị đốn lớn hơn cả thị trấn Eugene, nói lời tạm biệt với từng cây mỗi khi anh vùi đất lại. Kiên trì nhé. Chỉ mười, hai mươi thập kỷ thôi. Trò trẻ con, đối với các bạn. Bạn chỉ cần tồn tại lâu hơn chúng tôi. Rồi sẽ không còn ai nữa có thể hạ gục bạn.
❀ ❀ ❀
[1] Câu này phỏng theo tên một bản nhạc của San Serac, Human Savagery Is a Slippery Slope - ND.
[2] Pinero (pine-worker) chỉ những người nói tiếng Tây Ban Nha làm công việc trồng cây - ND.