Vòm Rừng

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thân

❊ ❊ ❊

Một người đàn ông ngồi bên bàn trong buồng giam trong một nhà tù an ninh hạng trung. Cây cối đã đưa anh tới đây. Cây và tình yêu quá lớn dành cho cây. Anh vẫn không thể biết mình đã sai ở đâu, hay phải chăng anh đã lựa chọn sai lầm lần nữa. Văn bản duy nhất có thể trả lời câu hỏi đó trải ra, không thể đọc được, dưới tay anh.

Những ngón tay anh mân mê thô của mặt bàn bằng gỗ. Anh đang cố nghĩ xem tại sao những vòng tròn hỗn độn này có thể từng sinh ra từ một thứ đơn giản như là những vòng tròn. Một bí ẩn nào đó trong góc cắt, vị trí của mặt phẳng bên trong các hình trụ lồng nhau. Nếu não của anh là một cái gì khác đi một chút, thì vấn đề có lẽ đã dễ dàng. Nếu bản thân anh đã lớn lên khác đi một chút, thì có lẽ anh đã có thể nhìn thấy.

Thớ gỗ dưới ngón tay anh dao động giữa các đường không đều - sáng dày, tối mỏng. Anh ngạc nhiên khi nhận ra, sau cả cuộc đời nhìn ngắm cây, rằng: Anh đang nhìn vào các mùa, con lắc của năm, sự bừng nở của mùa xuân và sự ôm ấp của mùa thu, nhịp của một bài hát nhịp hai-bốn được ghi âm ở đây, trong một nhà tù tầm trung nơi thứ đó được tạo nên. Các thớ gỗ uốn lượn như những rặng núi và thung lũng trên các bản đồ địa hình. Màu nhạt chạy về phía trước, màu sẫm giữ lại phía sau. Trong chốc lát, các vòng tròn biến mất khỏi các đương cắt chéo. Anh có thế lập bản đồ chúng, viết lịch sử của chúng vào mặt phẳng gỗ. Thế nhưng, anh mù chữ. Rộng rãi trong những năm tốt lành - chắc rồi - và chật hẹp trong những năm không vui. Nhưng chẳng có gì hơn.

Giá như anh có thể đọc, giá như anh có thể dịch… Giá như anh là một tạo vật khác đi một chút, thì có lẽ anh đã học tất cả về cách mặt trời tỏa sáng, cách mưa rơi, và cách mà gió thổi qua những thân cây rất dài và mạnh. Có lẽ anh đã giải mã được các dự án mà đất chủ trì, sự đống băng giết chóc, những chịu đựng và đấu tranh, những thiếu hụt và dư thùa, những cuộc tấn công bị đẩy lùi, những năm tháng xa hoa, những cơn bão kéo dài, tổng hợp của tất cả các mối đe dọa và cơ hội đến từ mọi hường, vào mọi mùa mà cái cây này từng sống.

Ngón tay của anh lướt qua cái bàn trong tù đó, cố gắng hiểu những dòng chữ lạ lùng này, phiên âm, giống như một vị sư trong tu viện. Anh lần theo thớ gỗ và nghĩ về tất cả những thứ mà almanac cổ xưa, không thể giải mã này có thể nói, tất cả những thứ mà cánh rừng tưởng nhỏ này hẳn đang nói vời anh, trong nơi mà anh đang bị giam giữ đây, nơi không có sự thay mùa và thời tiết không biến đổi.

CÔ CHẾT một phút mười giây. Không mạch đập, không thở. Rồi cơ thể Olivia văng khỏi cái đèn khi cầu chì nổ, lăn qua mép giường rơi bịch xuống sàn nhà. Cú rơi hồi sinh quả tim đã ngừng đập của cô.

Trần truồng và hôn mê trên sàn gỗ thông: người chồng vừa cũ của Olivia tìm thấy cô như thế khi anh ta ghé qua với hy vọng được một bữa tiệc từng sau khi sex làm hòa. Anh ta tức tốc đưa cô tới bệnh viện của trường đại học, nơi cô được cứu. Cô vẫn còn mê man. Hai mạn sườn thâm tím, bàn tay cô bị bỏng, và mắt cá chân rách toạc. Trợ lý của bác sĩ muốn biết chi tiết sự tình, nhưng Olivia không thể nói.

Người chồng cũ hoảng sợ, vô tâm bỏ mặc cô lại với các bác sĩ. Các bác sĩ muốn thực hiện một số đánh giá thần kinh. Họ muốn chụp chiếu. Nhưng Olivia trốn thoát khi không có ai để ý. Đây là một bệnh viện đại học, và ai cũng bận rộn. Cô đi bộ hết sảnh, một hình ảnh của sự khỏe mạnh. Ai lại đi ngăn cản cô? Cô quay trở lại nhà trọ và giam mình trong phòng. Bạn cùng nhà lên căn gác để kiểm tra cô, nhưng cô không chịu mỏ cửa. Hai ngày tròn trôi qua, cô vùi mình trong phòng. Mỗi lần có ai gõ cửa, tiếng nói bên trong lại vọng ra, “Tớ không sao!” Bạn cùng nhà không biết phải gọi cho ai. Không có tiếng động nào bên trong cửa ngoại trừ tiếng sột soạt trong chăn.

Olivia ngủ hoặc nằm yên, ôm lấy những mạn sườn thâm tím, và cố nhớ lại xem chuyện gì đã xảy ra. Cô đã chết. Trong những giây đó khi mạch không đập, có những hình thù to lớn, mạnh mẽ, nhưng cũng đầy tuyệt vọng, vẫy vẫy gọi cô. Chúng cho cô thấy cái gì đó, cầu xin cô. Nhưng khi cô sống lại, mọi thứ biến mất.

Cô tìm thấy cuốn sổ ghi bài hát chèn phía sau bàn học. Những đoạn ghi ngắn nhiều màu sắc tái tạo những giai điệu trong đầu cô trước khi cô bị điện giật. Qua những giai điệu đó, cô tái tạo phần lớn thảm họa đêm hôm đó. Cô thấy mình đang rảo bước quanh gác mái được cải tạo này, say đắm thân thể mình. Giống như đang xem một con thú làm xiếc trong chuồng của nó. Lần đầu tiên trong đời, cô nhận ra rằng một mình là một sự mâu thuẫn về mặt khái niệm. Ngay cả trong những giây phút riêng tư nhất của một thân thế, sẽ có thứ gì đó khác nhập vào. Một ai đó đã nói với cô khi cô chết. Dùng đầu cô như một màn hình cho những ý nghĩ thoát xác. Cô đã vượt qua một đường hầm hình tam giác của sắc màu loang loáng. Ở đó, các hiện thân - từ duy nhất để gọi chúng - mở tấm che mắt cô ra và khiến cô nhìn thấu suốt. Rồi cô rơi trở lại vào cơ thể tù đày của cô, và những viễn tượng lạ kỳ đó biến mất vào hư không.

Cô nghĩ: Có khi não mình có vấn đề rồi. Nhiều lần cô phải nhắm mắt suốt cả giờ đồng hồ, trong khi từ ngữ di chuyển trên đôi môi bất động của cô. Nói cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra. Tôi nên làm gì bây giờ? Mất một lúc cô mới nhận ra mình đang cầu nguyện.

CÔ BỎ TẤT CẢ CÁC BÀI THI CUỐI KỲ. Gọi cho bố mẹ để nói rằng cô sẽ không bay về nhà vào Giáng sinh. Bố cô phản đối, rồi giận dỗi. Thông thường cô hẳn sẽ tìm cách để qua mặt bố. Nhưng không có cơn giận của ai có thể làm tổn thương một cô gái đã chết nữa. Cô nói với ông tất cả - bữa tiệc ly hôn một mình, vụ điện giật. Giờ giấu giếm không còn ý nghĩa gì nữa. Một thứ gì đó đang quan sát - những kẻ canh gác sống, khổng lồ, biết cô là ai.

Giọng bố cô như lạc đi, cảm giác giống như vẫn cảm thấy hằng đêm khi nằm trên giường, tin rằng cô sẽ không bao giờ khôi phục lại được thứ đã hiện ra trước cô trong khi cô chết. Giờ đây, sau cái chết, cô nghe thấy nỗi sợ của bố cô - những dòng chảy ngầm tăm tối mà cô chưa bao giờ nghĩ sẽ có trong người luật sư đó. Lần đầu tiên trong đời từ lúc còn là một đứa trẻ, cô muốn an ủi bố. “Bố, con hơi mệt. Con thấy choáng đầu. Con phải nghỉ đã.”

“Về nhà đi. Con có thể nghỉ ở đây. Con không thể một mình trong kỳ nghỉ được.”

Giọng ông nghe yếu ớt. Ông đã luôn thật xa lạ với cô, một người đàn ông của thủ tục ở nơi cần đến yêu thương. Lúc này cô tự hỏi phải chăng cũng như cô, ông đã chết một lần.

Họ nói chuyện lâu hơn tổng thời gian họ từng nói bao năm qua. Cô kể cho ông nghe cảm giác về cái chết. Cô thậm chí cố nói với ông về các hiện thân trong vùng phát quang, những hiện thân đã cho cô xem mọi thứ, tuy nhiên cô cố dùng các từ không làm ông khó hiểu. Xung động. Năng lượng. Hai lần ông chuẩn bị nhảy lên ô tô để lái sáu trăm năm mươi dặm tới đón cô về nhà. Cô trấn an ông lại. Bảy mươi giây chết đã mang đến cho cô một năng lượng khác lạ. Mọi thứ giữa họ đều đã biến đổi, như thể lúc này ông là một đứa trẻ còn cô là người bảo vệ.

Cô yêu cầu một điều cô chưa từng yêu cầu trước đây. “Đưa máy cho mẹ một lát đi. Con muốn nói chuyện với mẹ.” Ngay cả cơn giận của mẹ lúc này cũng làm Olivia phải hiểu và xoa dịu. Khi kết thúc cuộc trò chuyện, cả hai người phụ nữ đều đẫm nước mắt, hứa hẹn với nhau những điều điên khùng.

CÔ MỘT MÌNH trong căn nhà thuê từ Giáng sinh cho tới dịp Năm mới. Mọi chất gây say mà cô sở hữu đều đi xuống toilet. Kết quả điểm thi của cô báo về: hai F, một D- và một C. Các con chữ là sự làm sao nhãng từ cái điều mà cô đang cố gắng để nhớ ra. Hầu như các ngày trôi qua mà cô không ăn gì. Một cơn bão tuyết bao phủ thành phố trong một lớp băng đá điêu khắc. Nó làm gãy nhiều cành cây sồi và cây phong. Olivia ngồi trên cái giường nơi tim cô đã từng ngừng đập, đầu gối hướng lên ngực, và cuốn sổ ghi bản nhạc đặt trong lòng. Cô đứng lên, đi lại. Chỗ mà Davy đã tìm thấy cô đêm hôm đó như nóng lên dưới bàn chân trần của cô. Cô vẫn sống, mà cô không hiểu tại sao.

Cô nằm thao thức trong đêm, nhìn lên trần nhà, nhớ lại lúc ở ngay bên cạnh phát kiến duy nhất có ý nghĩa. Cuộc đời đang thì thầm những lời chỉ dẫn với cô, thế mà cô đã không thể ghi chúng lại. Lời cầu nguyện cho mọi thứ trở nên dễ dàng hơn. Tôi vẫn còn sống. Tôi đang lắng nghe. Người muốn điều gì từ tôi? Vào dịp Năm mới, cô đi ngủ lúc mười giờ. Hai tiếng sau, cô thức giấc vì tiếng súng và bật dậy, la hét. Rồi đồng hồ nhắc nhở cô: tiếng pháo hoa. Thập kỷ chín mươi đến rồi.

Bạn cùng nhà với cô trở lại vào năm mới. Họ đối xử với cô như thể cô bị ốm. Họ sợ cô, khi mà giờ đây sự xấu tính của cô đã biến mất. Cô ngồi trong bếp trong khi mọi người xung quanh trêu đùa phá phách và cố lờ đi bóng ma bên bàn ăn. Cô ngạc nhiên nhận ra rằng trước đây cô chưa bao giờ cảm nhận được nỗi buồn của họ hay nhận ra những đau khổ của họ. Lạ lùng thay, họ vẫn tin vào sự bất biến. Họ sống như thể có một loại keo dính gắn chặt họ vào với nhau. Trong mắt cô lúc này họ trở nên dễ tổn thương, và vô cùng thân yêu.

Vào ngày đầu của học kỳ mới, Olivia ngồi ngoài rìa của giảng đường lớn trong khi một giảng viên hoạt bát đang tính toán phần trả bảo hiểm và chi phí cần thiết cho cả bên bảo hiểm và phía người chết sao cho cảm thấy họ đã thắng. “Bảo hiểm,” giảng viên nói, “là xương sống của sự văn minh hóa. Không có góp chung rủi ro thì không có nhà cao tầng, không phim bom tấn, không nông nghiệp quy mô lớn, không y tế có tổ chức.”

Chỗ ngồi trống bên cạnh cô bỗng sột soạt. Cô quay sang. Ở đó, cách mặt cô mấy phân, là thứ mà cô cầu nguyện bấy nay. Một luồng khí tích điện thổi ùa vào suy nghĩ của cô. Họ đã quay trở lại, vẫy gọi. Họ muốn cô đứng lên và rời khỏi giảng đường. Cô sẽ làm bất cứ điều gì họ bảo. Khoác áo ấm vào, bước xuống các bậc tam cấp bằng đá, cô băng qua sân chính lạnh ngắt. Cô đi dọc theo các tòa giảng đường, thư viện, ký túc xá dành cho sinh viên năm nhất, bước đi không suy nghĩ, dẫn lối bởi các hiện thân. Trong một thoáng, cô hình dung điểm đến của mình là nghĩa trang Nội chiến ở phía Nam của khuôn viên trường. Rồi mọi thứ trở nên rõ ràng cô đi về phía bãi đỗ xe nơi cô đang để xe.

Trong xe, Olivia hiểu ra rằng cô sẽ lái xe một lúc. Cô dừng lại ở nhà trọ để lấy mấy thứ. Ba lần lên phòng đủ để cô cứu vãn mọi thứ cô muốn. Cô chất đống quần áo vào ghế sau. Rồi cô biến mất.

Chiếc xe lần tìm ra đường cao tốc. Chẳng bao lâu cô vượt qua những cánh đồng cỏ cói và những cánh rừng sồi thưa phía Tây Nam thành phố. Những gốc rạ của mùa thu năm ngoái rải rác trên những cánh đồng phủ tuyết. Cô lái xe hồi lâu, tuân theo các hiện thân. Giống như một đài phát thanh từ một thành phố khác, tín hiệu của chúng dao động giữa rõ ràng và nhiễu sóng. Cô biến mình thành một công cụ của ý chí của chúng.

Qua Maumee, con đường chạy về hướng Tây Nam. Một chút đồ ăn sáng trong ngăn chứa đồ cạnh vô lăng để dành cho bữa trưa. Ví tiền mặt của cô chỉ có mấy đô la và thẻ tín dụng của một tài khoản chứa dưới hai nghìn đô. Đầu cô chẳng có ngay cả một định hướng mơ hồ. Nhưng cô vẫn nhớ điều Jesus nói về những người mắc nợ, và về việc đừng lo lắng cho ngày mai. Một lần các nữ tu đã bắt mỗi sinh viên nhớ một đoạn Kinh thánh; cô đã chọn đoạn khiến bà giáo vốn vô cùng coi trọng trách nhiệm cá nhân đã phải tức giận. Cô thích Chúa Jesus phải làm kinh hãi giáo dân người Mỹ tuân thủ pháp luật và sở hữu tài sản. Chúa Jesus Cộng sản, kẻ điên cuồng đập phá đồ đạc trong cửa hàng, bạn của những con nợ. Sự nhọc nhằn ngày nào đủ cho ngày ấy. Một cảm giác hối hận trào lên khi cô lái xe. Mình đang bỏ lỡ môn Suy luận Thống kê. Cũng hợp lý. Tới thời điểm này trong cuộc đời, cô đã bỏ lỡ tất cả mọi thứ. Bây giờ sự suy luận biến mất, và sớm thôi cô sẽ biết.

Hoàng hôn và Indiana đến nhanh hơn cô đợi. Bóng đêm, đến nhanh một cách kỳ quái, vẫn còn rất gần đông chí. Cô đã thèm lả một bữa ăn tử tế và cũng quá mệt để có thể tiếp tục nảy trên những dải gò cảnh báo phủ đầy tuyết nữa. Các hiện thân đã biến mất nửa giờ đồng hồ rồi. Cảm giác tự tin của cô trôi đi. Thật khó để có thể vừa cầu nguyện vừa lái xe. Trước mặt cô trải dài những cánh đồng ngô trơ trụi của chính vùng Trung Tây. Cô không biết mình đang ở đâu. Có cái gì đó chiếm lấy ghế ngồi bên cạnh, và cô còn đủ sức cho một trăm dặm nữa.

Davy từng nói với cô rằng nơi tốt nhất để ngủ chùa là bên ngoài một siêu thị lớn. Cô nhanh chóng tìm thấy một siêu thị như thế và đỗ xe vào một ô đã được dọn tuyết trong một góc sáng đèn, dưới camera an ninh. Cô vào trong một lát để đi vệ sinh và mua chút đồ ăn, rồi quay lại xe để dựng trại ở ghế sau. Cô ngủ vùi dưới ba đống quần áo, cầu nguyện, chờ đợi, lắng nghe.

ĐÓ LÀ INDIANA, năm 1990. Ở đây, năm năm là một thế hệ, năm mươi năm là khảo cổ học, và những thứ lâu đời hơn thế sẽ phủ bóng vào huyền thoại. Thế nhưng, nơi này lại ghi nhớ những gì mà người ta quên. Bãi đỗ xe nơi cô ngủ từng là một vườn hoa quả, cây cối của nó được trồng bởi những giáo dân người Thuỵ Điển hiền lành khờ khạo lang thang qua những miền đất này, ăn mặc rách rưới và đội mũ chụp bằng thiếc, rao giảng về Thiên đường Mới và dập tắt lửa trại để tránh những con bọ chết người. Một vị thánh lập dị chuyên thực hành ăn chay trong khi cung cấp đủ táo nghiền lên men để giữ cho tất cả người khai khẩn Mỹ từ chín tới chín mươi tuổi khỏi chết đói qua nhiều thập kỷ.

Suốt ngày dài, cô theo con đường Johnny Appleseed đã từng đi để vào sâu hơn. Olivia từng đọc về người khai khẩn này, trong một cuốn truyện tranh mà cha cô đã cho cô. Trong cuốn truyện tranh đó ông là một siêu anh hùng, có sức mạnh làm mọi thứ trỗi lên từ đất. Truyện không kể gì về chuyện con người chuyên làm việc thiện này có ý thức sở hữu tài sản cực kỳ mạnh mẽ, một người lang thang đã chết khi sở hữu một nghìn hai trăm mẫu của vùng đất trù phú nhất đất nước này. Cô đã luôn nghĩ rằng ông chỉ là thần thoại. Cô vẫn còn phải khám phá rằng các thần thoại đều dựa trên các sự thật quyện với thuật quản lý ký ức, những lời chỉ dẫn xuất phát từ quá khứ đó, những ký ức đợi để trở thành những lời dự đoán.

Đây là cốt lõi về một quả táo: nó mắc trong cổ họng. Nó là một thỏa thuận trọn gói: lòng tham và hiểu biết. Bất tử và cái chết. Phần thịt ngọt và phần hạt chát xít. Mối bất hòa ngon lành vàng rực, một món quà liệng vào trong tiệc cưới dẫn tới cuộc chiến tranh không hồi kết. Được cứu rỗi là thời khắc quả táo bị ngắt đi[1].

Còn đây là cốt lõi về một quả táo: chúng không thể đoán trước. Cây con có thể là bất cứ loại gì. Cha mẹ thuần có thể tạo ra cây con dại. Ngọt có thể sinh ra chua, đắng có thể biến thành ngậy. Olivia Vandergri hẳn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng: mỗi loại táo đều mang tên của chính giống cây đó. Jonathan, Mclntosh, Empire: những cú lật may mắn theo trò chơi Monte Carlo của định luật Malus.

Và một quả táo có tên là một quả táo được cấp bằng sáng chế, như bố của Olivia hẳn sẽ nói với cô. Đã có lần cô tranh cãi với ông về một vụ án của ông. Ông đang giúp một công ty đa quốc gia kiện một người nông dân vì người này đã giữ lại một số đậu nành từ năm trước để trồng lại, mà không trả thêm tiền bản quyền. Cô đã vô cùng tức giận. “Ta không thể sở hữu quyền với một thực thể sống!”

“Có thể đấy. Nên như thế. Bảo vệ sở hữu trí tuệ tạo ra của cải.”

“Thế hạt đậu nành đó thì sao? Ai trả cho đậu nành quyền sở hữu trí tuệ của nó?”

Ông nhìn cô với cái chau mày phán xét: Con là con của ai thế nhỉ?

Người đàn ông từng sở hữu nơi cô đang ngủ đây - sứ giả lang thang luôn đội mũ chớp cao của cây táo - đã tin rằng việc ghép cây khiến cây đau đớn. Ông nhặt các hạt táo trong bã táo ép của một nhà máy rồi gieo vãi chúng thành một vườn táo, xa hơn một chút về phía Tây. Và các hạt táo ông gieo đều tạo ra một thí nghiệm lạ lùng không thể đoán trước của riêng chúng. Giống như một ma thuật diệu kỳ, cái phẩy tay của người đàn ông biến cả vạt đất từ Pennsylvania tới Illinois thành cây ăn quả. Suốt ngày dài, cô lái xe trên miền đất đó. Lúc này cô đang ngủ trong một bãi đỗ xe, nơi đã từng là một vườn đầy những cây táo không thể dự đoán. Những cây táo đó đã biến mất và thị trấn đã lãng quên. Nhưng đất thì không.

Cô tỉnh dậy sớm, lạnh cóng dưới đống quần áo. Chiếc xe phủ đầy ánh sáng. Chúng ở khắp mọi nơi, vẻ đẹp nghẹn thở, hệt như trong cái đêm mà tim cô ngừng đập. Chúng tiến vào và xuyên qua cơ thể cô. Chúng không mắng cô vì cô đã quên thông điệp mà chúng trao cho cô. Chúng đơn giản là truyền cho cô thêm một lần nữa. Niềm vui với sự trở lại của chúng ngập tràn trong cô, và cô bật khóc. Chúng không lớn tiếng dù một lời nào. Không có gì thô lỗ như thế. Chúng thậm chí không còn là chúng. Chúng là một phần của cô, thân thích theo một cách nào đó chưa rõ ràng. Những sứ giả của đấng sáng tạo - những thứ mà cô đã nhìn thấy và đã biết trong thế giới này, trải nghiệm sự mất mát, một số nhận thức đã bị bỏ qua, các chi của dòng họ đã bị phân tách mà cô phải khôi phục và hồi sinh. Cái chết đã cho cô một cái nhìn mới.

Ngươi đã từng vô giá trị, chúng thì thào. Nhưng giờ đây ngươi không còn như vậy nữa. Ngươi đã thoát chết để rồi sẽ làm một việc quan trọng.

Việc đó là gì? cô muốn hỏi. Nhưng cô phải giữ im lặng và không nhúc nhích.

Khoảnh khắc cuộc đời là đây. Một thử nghiệm chưa từng có trong đời.

Cô sống trong thời khắc vĩnh hằng, dưới đống quần áo, trong ghế sau của một chiếc xe lạnh cóng. Các hiện thân từ phía xa của cõi chết lộ ra, ở đây, lúc này, trong bãi đỗ xe của một siêu thị lớn, kêu gọi sự giúp đỡ từ cô. Mặt trời ló lên từ phía chân mây. Hai người đi mua sắm đi ra từ trong cửa hàng. Mới bình minh, thế mà họ đang đấy một cái xe đẩy với thùng carton to bằng xe của cô. Những suy nghĩ của cô thu gọn lại một điểm. Xin hãy nói với tôi. Hãy nói với tôi điều các bạn muốn, tôi sẽ làm. Một chiếc xe Container chạy qua, gầm gừ trên đoạn đường tới chỗ bốc xếp. Trong sự ầm ĩ đó, các hiện thân biến mất. Olivia sợ hãi. Chúng đã ngừng việc trao cho cô nhiệm vụ. Cô lục tìm trong ba lô một cái gì đó để viết. Trên mặt sau của một gói kẹo thông họng, cô viết nguệch ngoạc, thoát, thử nghiệm. Nhưng những con chữ đó không có ý nghĩa gì.

Giờ thì trời sáng bảnh rồi. Bàng quang cô như muốn vỡ tung. Trong một phút tới, không có gì quan trọng ngoài đi tiểu. Cô rời xe và đi qua bãi đỗ vào siêu thị. Bên trong, một người đàn ông đứng tuổi chào cô như thể cô là bạn lâu năm. Siêu thị này giống như một màn trình diễn rực rỡ của niềm vui và hạnh phúc. Tivi xếp thành bức tường phía sau, dàn hàng theo kích thuốc từ cỡ hộp bánh mì đến dạng thiết kế nguyên khối. Tất cả đều mở cùng một chương trình giải trí buổi sáng.

Hàng trăm người nhảy dù cùng tham gia một màn phục vụ nhà thờ ở trên không. Cô đi nhanh qua năm mươi mét chạy dài giữa hai hàng màn hình đó để vào nhà vệ sinh. Giải tỏa, khi cần thiết, thật quá sung sướng. Rồi nỗi buồn lại đến. Chỉ một dấu hiệu thôi, cô cầu xin, khi lau khô. Xin hãy nói điều các người muốn từ tôi.

Trở lại chỗ hai hàng tivi, màn phục vụ nhà thờ trên truyền thông đại chúng đó đã nhường chỗ cho một chương trình gặp gỡ khác. Suốt dọc bức tường đó, trên vô số màn hình kích cỡ khác nhau, người ta ngồi thành hàng bên nhau trên cái ghế băng trước một cái máy ủi, trong thị trấn nhỏ mà dòng chữ tiêu đề ghi là Solace, California. Một nhát cắt nhanh, một tá người đã tạo thành một vòng tròn người bao quanh cái cây mà họ ôm không xuể. Cái cây trông giống như một hiệu ứng đặc biệt. Góc quay, dù từ một khoảng cách xa, chỉ bao trọn phần gốc trơ trụi. Màu sơn xanh vấy trên thân của cái cây xù xì. Một giọng nói đang tường thuật buổi trình diễn, nhưng cái cây, bao phủ cả bức tường màn hình, khiến Olivia choáng váng đến nỗi bỏ lỡ các chi tiết. Máy quay lia đi, tới chỗ một phụ nữ chừng năm mươi tuổi, có mái tóc chải ngược ra sau, áo sơ mi sọc, và đôi mắt sáng quắc. Bà nói, “Một số cây ở đây có khoảng trước khi Chúa giáng sinh. Chúng ta đã hạ chín mươi bảy phần trăm những cây già cỗi. Chúng ta không tìm được cách nào để giữ lại ba phần trăm còn lại ư?”

Olivia khựng lại. Các tạo vật của ánh sáng đã từng phục kích cô trong ô tô lúc trước giờ lại tụ tập quanh cô và nói, Điều này, điều này, điều này. Nhưng khoảnh khắc cô biết cô phải thật sự tập trung, đoạn phim kết thúc và đoạn khác bắt đầu. Cô đứng lại, nhìn chằm chằm vào cuộc tranh luận có hay không việc súng phun lửa được bảo vệ bởi Tu chính án thứ Hai. Các hiện thân ánh sáng biến mất. Mặc khải sụp đổ vào điện tử tiêu dùng.

Cô đờ đẫn bước ra ngoài cửa hàng khổng lồ. Đói lả nhưng cô không mua gì. Cô thậm chí không thể nghĩ tới chuyện ăn. Vào trong ô tô, cô biết bây giờ mình phải dấn bước về phía Tây. Mặt trời lên phía sau cô, tràn ngập tấm gương chiếu hậu. Tuyết nhuộm hồng ánh bình minh phủ đầy sân. Khắp bầu trời phía Tây, những vầng mây xám bắt đầu sáng lên, và đâu đó phía dưới chúng hiện lên khoảnh khắc cuộc đời.

Cô cần gọi cho bố mẹ, nhưng cô không biết cách nào để nói với họ điều đang xảy ra. Cô lái xe thêm năm mươi dặm nữa, cố gắng để tái hiện những gì cô vừa thấy. Bằng nguyên những cánh đồng Indiana đã thu hoạch bừng lên màu vàng - nâu - đen pha trộn, suốt dọc đường tới chân trời. Con đường quang đãng và xe cộ thưa thớt, hai bên không có thị trấn nào. Hai ngày trước, dưới một con đường giống thế này, cô hẳn đã hành động như thể mình đã tám mươi tuổi. Hôm nay, cô lái xe giống như cuộc đời cô vẫn còn ý nghĩa nào đó.

Gần ranh giới, cô lên một con dốc. Phía dưới đường, một thanh chắn đường ray xe lửa xuất hiện. Một chuyến tàu dài chậm chạp lăn bánh qua trên con đường tiến về phía Bắc tới trung tâm lớn của Gary và Chicago. Tiếng ka-thụp đều đều của bánh tàu khi lăn qua đoạn đường giao nhau tạo ra âm thanh ù ù trong đầu cô. Đoàn tàu dài vô tận; cô dừng yên. Rồi cô để ý thấy hàng hoá. Toa nối tiếp toa lướt qua, toa nào cũng chất đầy các kiện gỗ xẻ. Một dòng sông cuồn cuộn của gỗ đã xẻ thành những khúc với kích thước bằng nhau đang chảy qua như vô tận. Cô bắt đầu đầu đếm số toa, nhưng rồi dừng lại ở số sáu mươi. Cô chưa bao giờ thấy nhiều gỗ tới như vậy. Một tấm bản đồ trải ra trong đầu cô: những con tàu như thế này, trong chín giây phút này, đang trải ra khắp mọi hướng của đất nước, nuôi sống tất cả các nhánh metro khổng lồ và các vệ tinh của chúng. Cô nghĩ: Chúng đã sắp xếp điều này cho mình. Rồi cô nghĩ, Không: những con tàu như thế này thì lúc nào cũng thấy. Nhưng giờ cô đang được chỉ dẫn để trông thấy.

Các toa tàu chất gỗ cuối cùng lướt qua, thanh chắn đường ray nhấc lên, và đèn đỏ thôi nhấp nháy. Cô không di chuyển. Ai đó bấm còi phía sau cô. Cô vẫn không nhúc nhích. Người bấm còi dí còi xe, rồi liệng qua bên cạnh xe cô, gào thét từ trong cabin đóng kín, lúc lắc ngón tay giữa về phía cô như muốn khiêu chiến. Cô nhắm mắt lại; dưới hàng mi của cô, những con người nhỏ bé đang xếp thành hàng dài quanh một cái cây khổng lồ.

Sản phẩm kỳ diệu nhất của bốn tỉ năm sự sống đang cần cứu giúp.

Cô bật cười rồi mở mắt, đẫm lệ. Xác nhận. Ta đã nghe thấy các người. Đúng thế.

Cô nhìn qua vai trái thì thấy một chiếc xe chạy ngược chiếc dừng lại bên cạnh xe cô, hạ kính xuống. Một người đàn ông châu Á mặc áo phông in dòng chữ Noli Timere cất tiếng hỏi cô, lần thứ hai, “Cô có sao không?” Cô mỉm cười, gật đầu và vẫy tay xin lỗi. Cô khởi động xe, vốn đã tắt ngấm trong khi cô nhìn dòng sông gỗ chảy vô tận. Rồi cô tiếp tục cho xe lăn bánh về phía Tây. Phải đến bây giờ cô mới biết mình đang đi đâu. Solace. Không gian xung quanh bừng lên những kết nối. Các hiện thân kia thắp ánh sáng quanh cô, hát những bài hát mới. Thế giới bắt đầu từ đây. Đây là khởi đầu ban sơ nhất. Cuộc đời có thể làm bất cứ điều gì. Ta chẳng biết được đâu.

NHIỀU NĂM TRƯỚC và ở xa hơn về phía Tây Bắc, Ray Brinkman và Dorothy Cazaly Brinkman trở về nhà lúc quá nửa đêm sau bữa tiệc mở màn vở Who’s Afraid of Nirginia Woolf? của đoàn kịch St. Paul Players. Họ đã đóng vai cặp tình nhân trẻ Nick và Honey, hai con người mà sau vài chầu rượu với đám bạn mới của họ, đã học điều mà giống loài của họ làm.

Nhiều tháng trước, trong buổi diễn thử đầu tiên, bốn nhân vật chính đã phải thưởng thức sự ngớ ngẩn của vở kịch. “Tôi phát điên rồi,” Dorothy gào lên với cả đoàn kịch. “Tôi đồng ý với các bạn. Nhưng những con người đó - những con người đó chết thật rồi.” Vào đêm mở màn, cả bốn người bọn họ đều tả tơi, chán ngấy nhau và sẵn sàng làm mọi thứ phá sản. Vở kịch được thực hiện cho một nhà hát cộng đồng lớn. Vở kịch là sản phẩm tốt nhất của Brinkmans cho tới nay. Ray khiến mọi người kinh ngạc với sự kết hợp nhuần nhuyễn. Dorothy tỏa sáng với suốt hai giờ rơi tự do từ sự hồn nhiên qua sự thức tỉnh. Chỉ cần chút xíu rất ít kỹ thuật trình diễn Stanislavski để tìm thấy những con quỷ bên trong họ.

Ngày thứ Sáu sau đó là sinh nhật tuổi bốn hai của Dorothy. Suốt mấy năm trời, họ đã sử dụng một trăm năm mươi nghìn dollar cho điều trị hiếm muộn nhưng kết quả đều là số không. Ba ngày trước khi vở kịch mở màn, họ đã nhận được cú giáng cuối cùng. Không còn lại gì để thử.

“Cuộc đời em là thế, phải không?” Dorothy co rúm lại và khóc nức nở trên ghế khách, khi về nhà sau buổi diễn thành công. “Tất cả đều là của em. Em phải sở hữu nó, đúng không?”

Đó là một điểm đầy đau đớn giữa họ, quyền sở hữu: điều Ray dành hết tháng ngày để bảo vệ. Anh chưa bao giờ thực sự thuyết phục được vợ anh rằng khởi tố những tên trộm các ý tưởng hay là cách tốt nhất để khiến mọi người giàu hơn. Uống rượu không thể giải tỏa được mức độ của cuộc tranh luận. “Quyền sở hữu riêng tư cá nhân của riêng em. Em có thể làm một vụ bán đồ cũ chết tiệt được không? Em không thể cứ đơn giản là… tìm được thì được giữ sao?”

Công việc của bản thân Dorothy khiến cô phát ốm. Mọi người kiện cáo lẫn nhau, và cô phải ghi chép lại từng lời lẽ phỉ báng bằng máy đánh chữ tốc ký với bàn phím nhỏ hẹp, từng chữ từng chữ một. Tất cả những gì cô muốn là có một đứa con. Có con, chí ít cũng mang cho cô một công việc ý nghĩa. Ngoài điều đó ra, cô muốn kiện ai đó.

Ray có cách giữ yên lặng trước các cuộc tấn công của cô. Anh nói với bản thân, không phải lần đầu tiên, rằng anh đã không lấy đi điều gì từ cô cả. Nếu có điều gì… anh nghĩ. Nhưng rồi anh khước từ nghĩ ý nghĩ đó. Đó là quyền của anh - không nghĩ điều chỉ công bằng khi nghĩ.

Anh không cần phải thế. Cô đã có sẵn ý nghĩ đó cho anh. Anh bấm nút bảng điều khiển và ga-ra mở ra. Họ tấp xe vào. “Anh nên rời bỏ em,” cô nói.

“Dorothy. Thôi nào. Em đang làm anh phát điên đấy.”

“Thật đây. Đi đi. Đi đâu đó. Tìm ai đó để anh có thể có một gia đình. Đàn ông luôn làm như thế. Đàn ông có thể tán tỉnh con gái ngay cả khi họ đã tám mươi, vì bất cứ cái quái gì. Em không sao đâu, Ray ạ. Thật đấy. Công bằng thôi. Anh là người công bằng nhất, nhớ không? Ôi. Anh ấy chẳng nói gì đâu. Không có gì để nói. Chẳng có gì để nói để bào chữa.”

Im lặng là những gì ông có. Vũ khí tốt nhất đầu tiên và cuối cùng của ông.

Họ bước vào cánh cửa trước. Thật kiệt quệ, cả hai cùng nghĩ, dù không ai cần phải nói ra. Họ vứt đồ đạc lỉnh kỉnh lên đi-văng rồi đi lên lầu, ở đây họ cởi bỏ quần áo, mỗi người trong một buồng thay đồ riêng. Họ đứng trước bồn rửa mặt của riêng mình, đánh răng. Buổi biểu diễn tốt nhất họ từng diễn. Một nhà hát có kích cỡ tuyệt vời với tràn ngập những tiếng vỗ tay nhiệt liệt. Những tiếng hú đòi diễn lại.

Dorothy tiến trước một bước so với người còn lại, cường điệu, như thế tay cảnh sát - chồng cô - đang khiến cô bước tới nước cùng. Cô đưa bàn chải đánh răng lên miệng, chải tới chải lui, rồi òa khóc nức nở, cắn chặt một đầu của thanh nhựa đó, trong khi nắm chặt đầu kia.

Ray, người điều khiển được chỉ định cho đêm đó, bình tĩnh hơn anh dự định, đặt cái bàn chải xuống và đi về phía cô. Cô gục đầu lên cổ anh. Kem đánh răng nhỏ từ miệng cô xuống cái áo tắm kẻ sọc của anh. Kem đánh răng và nước bọt khắp nơi. Tiếng nói của cô xào xạo. “Em chỉ muốn đứng trong sảnh trước buổi diễn và nói với mọi người khi họ đi vào. Chẳng có đứa con nào hết!”

Anh đưa cô lại nhổ bọt và lấy khăn lau miệng cho cô. Rồi anh dẫn cô lại gường, một chỗ giống như cái hòm gỗ thông rộng gấp đôi, suốt hai tháng qua. Anh phải nhấc chân cô lên, rồi đẩy cô qua để có chỗ trông. “Chúng ta có thể đi Nga.” Cảm giác thật tốt khi nói bằng giọng của chính mình, sau suốt rất nhiều giờ như thể ai đó đang xun xoe. Anh không muốn diễn một vở kịch nào nữa, không một lần nào nữa. “Hoặc Trung Quốc. Rất nhiều trẻ em cần bố mẹ để thương yêu chúng.”

Có một thứ mà mọi người trong rạp hát đó gọi là treo cái chao đèn lên. Giả sử có một đoạn ống to xấu xí lộ ra trên bức tường phía sau sân khấu, mà ta không thể loại bỏ nó. Thế thì hãy treo một cái chao đèn lên và xem đó như một vật cố định.

Giọng cô nghèn nghẹt dưới gối ướt. “Như thế không phải của chúng ta.”

“Đương nhiên là của chúng ta rồi.”

“Em muốn một RayRay bé bỏng. Đứa con nhỏ của anh. Một thằng con trai. Giông như anh bấy lâu nay.”

“Sẽ không phải…”

“Hoặc một đứa con gái, giống anh. Sao cũng được.”

“Em yêu. Đừng như thế. Ta nuôi nấng thế nào thì con trẻ sẽ như thế. Không phải vì gene mà…”

“Gene là thứ ta nhận, trời ạ.” Cô đấm xuống nệm và cố ngóc đầu lên. Tốc độ ngẩng lên khiến cô chúi xuống. “Thứ. Duy nhất. Ta. thực sự. sở hữu.”

“Chúng ta không sở hữu gene của chúng ta,” anh nói, bỏ qua chi tiết các công ty có thể sở hữu chúng thay chúng ta. “Nghe nào. Chúng ta sẽ tới đâu đó nơi có quá nhiều trẻ em. Chúng ta nhận nuôi hai đứa. Chúng ta yêu chúng, chơi với chúng và dạy chúng cái gì đúng cái gì sai, rồi chúng lớn lên hoàn toàn gắn bó với chúng ta. Anh không quan tâm tới gene chúng có là của ai.”

Cô kéo gối chụp lên đầu. “Nghe anh ấy kìa. Người đàn ông này có thể yêu mọi người. Thế thì hãy cho anh ấy một con chó. Tốt hơn nữa, một cây rau mà chúng ta có thể nhổ ngoài sân rồi quên luôn.” Rồi cô nhớ ra thói quen kỷ niệm ngày cưới của họ, đã bị bỏ quên trong hai năm qua. Cô vùng dậy như để giật lại những lời đã phun ra. Nhưng vai cô thức phải hàm của anh vì anh đang ngả người về trước. Răng anh bập vào lưỡi. Anh hét lên, ôm mặt, quằn quại vì đau đớn.

“Ôi, Ray. Trời ơi. Em chết tiệt! Em không… Em không định…”

Anh khua khua tay. Anh không sao. Hoặc: Em bị làm sao thế? Hay thậm chí: Tránh anh ra đi. Cô không biết, thậm chí sau một thập kỷ hôn nhân và nhiều sân khấu nghiệp dư khác, là gì. Bên ngoài sân, khắp xung quanh nhà, những thứ mà họ đã trồng trong nhiều năm trôi qua đã trở nên quan trọng, trở nên có ý nghĩa, dễ dàng như chúng tạo ra đường và gỗ từ hư vô, từ không khí, từ nắng, từ mưa. Nhưng những con người đó không nghe thấy gì.

NĂM CON ĐƯỜNG LIÊN BANG dẫn về phía Tây, những ngón của một cái găng tay đặt trên lục địa này với cổ tay là Illinois. Olivia chọn con đường chính giữa. Giờ cô đã có mục tiêu - Bắc California bằng con đường xa nhất, trước những cái cây to như tàu rocket ngã xuống. Cô băng qua Mississippi ở khu vục Quad Cities rồi dừng lại ở Trạm dùng xe tải lớn nhất thế giới, trên cao tốc liên bang 1-80, bên kia ranh giới Iowa. Nơi này là một thành phố nhỏ. Có nhiều lựa chọn cây bơm xăng hơn mà cô có thể đếm hết trước khi lạnh cóng. Hàng trăm chiếc xe tải tụ lại quanh chỗ mà cô tấp xe vào, những con cá mập trong cơn điên cuồng kiếm thức ăn.

Ánh sáng đã tắt. Olivia thuê một chỗ tắm cho mình ra người ngợm trở lại. Cô dạo xuống một khu vực đông đúc nhiều nhà hàng đưa ra hàng trăm cách ăn ngô, xi rô ngô, gà nuôi bằng ngô, bò nuôi bằng ngô. Có một phòng khám răng và một người mát-xa. Một showroom hai tầng rộng lớn. Một bảo tàng cho biết thế giới này dựa dẫm vào xe tải như thế nào. Có các phòng trò chơi và những đoạn đường giải trí, phòng triển lãm, các lounge, và một lò sưởi bên cạnh là những chiếc ghế bông. Cô cuộn mình vào một cái ghế và thiếp đi. Cô tỉnh giấc khi một người bảo vệ đá vào mắt cá chân cô. “Không được ngủ.”

“Tôi mới vừa chợp mắt.”

“Không được ngủ.”

Cô quay trở lại xe và lại vùi mình dưới đống quần áo cho tới sáng. Khi quay trở lại đoạn đường bán đồ ăn, cô mua một cái bánh muffin, đổi bốn đô la thành các đồng hai lăm xu, tìm một bốt điện thoại, và căng mình chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất. Nhưng trong ngực cô, một sự bình tĩnh lạ thường vừa xuất hiện. Những lời đó sẽ dâng lên.

Một giọng tổng đài nói cô đặt cọc tiền. Bố cô nhấc máy. “Olivia? Mới sáu giờ sáng. Có chuyện gì thế?”

“Không có gì! Con ổn. Con đang ở Iowa.”

“Iowa? Có chuyện gì xảy ra thế?”

Olivia mỉm cười. Chuyện đang xảy ra quá lớn để nói qua cái điện thoại này. “Bố, không sao đâu. Đó là một chuyện tốt. Rất tốt.”

“Olivia. A lô? Olivia?”

“Con đây.”

“Con gặp rắc rối gì à?”

“Không bố ạ. Ngược lại cơ.”

“Olivia. Chuyện quái quỷ gì đang xảy ra thế?”

“Con vừa kết… mấy người bạn mới. Ừm, những người tổ chức. Họ có việc dành cho con.”

“Việc gì thế?”

Những sản phẩm kỳ diệu nhất của bốn tỉ năm sự sống cần giúp đỡ. Rất đơn giản, và hiển nhiên, khi mà giờ đây các hiện thân-ánh sáng đã chỉ ra nó. Mỗi người có lý trí trên hành tinh này đều có thể thấy. “Đó là một dự án ở miền Tây. Một công việc tình nguyện quan trọng. Con vừa được tuyển dụng.”

“Con nói gì, tuyển dụng là sao? Thế còn các lớp học?”

“Con sẽ không thể hoàn thành việc học trong học kỳ này. Thế nên con mới gọi đây. Con cần nghỉ một thời gian.”

“Con cần gì cơ? Thật ngớ ngẩn. Không thể nào lại nghỉ một thời gian khi mà chỉ bốn tháng nữa là tốt nghiệp.”

Về cơ bản thì không sai, nhưng mà các vị thánh và những người sớm-trở-thành tỉ phú đã làm đúng như thế đấy.

“Chỉ là con đang mệt thôi, Olivia à. Chỉ cần vài tuần thôi. Mọi chuyện sẽ qua nhanh thôi con ạ.”

Olivia nhìn ra chỗ những người lái xe đang tụ tập quanh quầy để ăn sáng. Băn khoăn không thể nói thành lời: Trong một kiếp, cô đã chết vì điện giật. Trong một kiếp khác, cô đang ở điểm đỗ xe tải rộng nhất thế giới, giải thích với bố cô rằng cô đã được các hiện thân của ánh sáng lựa chọn đi giúp bảo tồn những tạo vật tuyệt vời nhất trên Trái Đất. Giọng nói bên kia đầu dây trở nên tuyệt vọng. Olivia bất chợt mỉm cười: cuộc đời mà bố cô muốn cô quay trở lại ư - ma tuý, sex không bảo vệ, những bữa tiệc thác loạn và những liều lĩnh đe dọa cả tính mạng - thật là địa ngục, trong khi chuyến đi về miền Tây này mang cô trở lại từ cõi chết.

“Con sẽ không thể lấy lại tiền thuê nhà. Cũng đã quá muộn để được hoàn tiền học phí. Học cho xong đi, rồi con có thể làm công việc tình nguyện đó trong mùa hè mà. Bố tin mẹ con…”

Ở phía sau, mẹ Olivia hét lên, “Bố tin mẹ con thế nào?”

Olivia nghe thấy tiếng mẹ hét gì đó về chuyện trả tiền cho việc học của bản thân cô. Mọi người bủa vây cô. Cô cảm thấy sự căng thẳng của họ - sự di chuyển vạch cầu môn của khao khát. Cuộc đời của riêng cô vốn đã là một đám mây mù của đặc quyền, của lòng tự ái, của tuổi vị thành niên kéo dài tới vô lý, đầy ắp những trò nhạo báng, nhỏ nhen và sự tự vệ. Lúc này cô đang được gọi.

“Nghe này,” bố cô thì thầm vào điện thoại. “Hãy tỉnh táo. Nếu con không thể học thêm một học kỳ nữa ngay lúc này thì hãy về nhà đã.”

Nhiều yêu thương trao gửi tới Olivia hơn cô từng cảm nhận được từ thời thơ ấu. “Bố? Con cảm ơn. Nhưng con cần làm điều này.”

“Làm cái gì? Ở đâu? Con yêu? Con vẫn đó chứ? Con yêu ơi?”

“Con đây, bố ạ.” Những phần của cô gái mà đã là cô của mấy ngày trước đây giằng giật cô, hò reo, Đấu tranh, đấu tranh. Nhưng cuộc đấu tranh bây giờ mới thực sự, và ở một nơi khác.

“Ollie, ngồi yên đó. Bố sẽ tới đón con. Bố có thể tới đó lúc…”

Mọi thứ thật rõ ràng, rõ ràng đến vui sướng. Nhưng bố mẹ cô không thể thấy. Có một công việc thiết yếu, hân hoan, và vĩ đại để thực hiện. Nhưng đầu tiên một con người cần phải tốt nghiệp khỏi lòng ái kỷ bất tận trước đã.

“Bố ạ, con không sao. Con sẽ gọi lại khi có thêm thông tin.”

Một tiếng phụ nữ thu âm cắt ngang, yêu cầu thêm bảy mươi lăm xu nữa. Olivia không có đồng tiền lẻ nào nữa. Tất cả những gì cô có là một thông điệp, nói bởi người phụ nữ ánh mắt màu tro trên bức tường của những chiếc tivi giảm giá và được lặp lại bởi các hiện thân-ánh sáng, những người lúc này đang ra lệnh cho cô rõ ràng như thể họ đang ở đầu bên kia của cái điện thoại. Những thứ tốt đẹp nhất đang còn sống cần sự giúp đỡ của cô.

Qua những cánh cửa trước bằng kính của trạm đỗ xe tải, Olivia thấy hàng tá máy bơm xăng, và xa hơn chúng, đường 1-80 trải dài bằng lặng trong ánh bình minh, những cánh đồng phủ đầy tuyết, dòng xe xuôi Đông ngược Tây qua lại bất tận. Bố cô vẫn tiếp tục nói, dùng tất cả các kỹ năng thuyết phục mà người ta dạy bạn ở trường luật. Bầu trời tạo ra những thứ thật kỳ diệu. Nó hơi tím sẫm ở miền tự do phía Tây, còn phía Đông thì tràn ra màu thạch lựu. Điện thoại kêu click rồi tắt ngấm. Olivia gác máy, một đứa trẻ mồ côi vừa được hình thành. Một thứ đang hướng về phía mặt trời, sẵn sàng cho tất cả mọi điều.

CÔ RỜI KHỎI TRẠM NGHỈ, tràn ngập tình yêu với sự nhân bản vô mục đích. Trở lại đường liên bang, mặt trời lại nhô lên trong tấm gương chiếu hậu của xe. Những ngọn đồi trập trùng phía trước. Con đường tạo thành một rãnh kép xuyên màn tuyết trắng của mùa đông, vươn tới tận chân trời. Không có nhiều địa điểm thu hút chú ý, nhưng mỗi địa điểm đều khiến cô rất vui. Bảo tàng và Thư viện The Herbert Hoover. Nhà đấu giá Sharpless Auction. Khu làng Amana Colonies. Các lối ra khỏi cao tốc liên bang giống như các nhân vật trong một cuốn tiểu thuyết về các quý tộc miền Nam điên khùng, ương ngạnh: Wilton Muscatine, Ladora Millersburg, Newton Monroe, Altuna Bondurant…

Một điều gì đó bao phủ cô, lòng dũng cảm lạ thường và đẹp đẽ. Cô không có nguồn lực nào, chỉ có tên của một điểm đến, và không có ý niệm thực sự nào về điều cô cần phải làm khi đã tới đó. Bên ngoài, ảm đạm và lạnh lẽo, và tất cả các sở hữu vật chất của cô đều ở lại trong ngôi nhà chung đó. Nhưng cô có một thẻ ngân hàng kết nối với một quỹ tín thác nhỏ, một chiếc ô tô chạy tốt, một cảm nhận về sứ mệnh mà sẽ không rời bỏ, và bạn bè trong cái mà cô chỉ có thể giả định là những nơi rất cao.

Nhiều giờ trôi qua giống như những đám mây trên bầu trời. Cô đang đi rất xa xuống đường địa giới thẳng tắp giữa Des Moines và Council Bluffs, khắp mọi hướng chẳng có gì ngoài rơm rạ phủ băng bất tận, thì có gì đó đập vào khóe mắt cô. Cô quay sang nhìn thì thấy cái gì như bóng ma xin đi nhờ đang đúng trong tuyết phía bên phải đường liên bang. Anh ta vẫy vẫy nhiều cánh tay hơn cả Vishnu. Một trong số đó cầm một tấm biển mà cô không đọc được.

Cô nhấc chân khỏi chân ga rồi đạp phanh. Người xin đi nhờ xe hóa ra là một cái cây to tới nỗi có thể chất đầy cả một toa của con tàu chở gỗ chết chóc ở Indiana lúc trước. Thân cây gồ ghề uốn lượn lên hàng chục feet rồi tỏa ra những nhánh cổ thụ. Cái cây đó đứng phía trong cách xa con đường cao tốc này, một cây cột sừng sững chọc lên trời xanh, thứ duy nhất cao hơn một ngôi nhà nông trại trong vòng một dặm quanh đây. Các hiện thân cựa quậy bên ghế khách. Khi tấp xe vào bên cạnh cái cây, Olivia đọc to những vết sơn trên tấm biển treo trên một cành cây khổng lồ: NGHỆ THUẬT VỀ CÂY MIỄN PHÍ. Các hiện thân chạy lướt trên gáy cô.

Cô rẽ ở lối ra tiếp theo khỏi cao tốc liên bang. Dưới biển dừng nơi đoạn đường nối gặp đường cao tốc quận, một tấm biển sơn bằng tay với những con chữ uốn lượn y hệt lúc trước chỉ dẫn cô rẽ phải. Tấm biển thứ hai, cách đó một quãng khá xa, chỉ cho cô đường tới cái cây kỳ diệu đó. Dưới lối rẽ, Địa đàng hiện ra trước cô - một trảng những cây lá rộng nở hoa như thể lúc này đang là tháng Năm. Nó giống như một lối mở ở nơi Trái Đất lạnh lẽo bị lãng quên này, vào một mùa hè ẩn mật. Thêm một trăm mét nữa, trảng cây đó trở thành bức tường của một kho trại cũ, được chuyển hóa bởi nghệ thuật đánh lừa con mắt kỳ diệu. Cô hướng lên lối đi rải sỏi chạy vào chỗ đỗ xe bên cạnh cái kho rồi bước ra. Cô đứng nhìn trân trân vào bức tường. Khi tới gần hơn, ảo giác đó khiến cô bàng hoàng.

“Cô tới đây vì tấm biển à?”

Cô quay người. Một người đàn ông mặc quần jean và áo chui màu trắng xám với mái tóc giống như các nhà tiên tri thời đồ đồng quan sát cô. Hơi thở của anh ta bốc khói. Hai bàn tay trần ôm lấy khuỷu tay phía bên kia. Anh ta trông lớn hơn cô mấy tuổi, buồn bã và hoang dại, sợ hãi khi nhìn thấy một vị khách. Cánh cửa của nhà chính cách sau lưng anh chừng hai mươi feet đang để mở. Cái cây đứng cạnh ngôi nhà. Olivia chợt cảm thấy như thể ai đó đã trồng nó ở đây từ rất lâu chỉ để thu hút sự chú ý của cô. “Vâng, tôi nghĩ có lẽ thế.”

Cô đứng run lẩy bẩy, muốn lấy chiếc áo khoác ở trong xe. Anh nhìn cô như thể anh đang muốn bỏ trốn. Anh ngước cằm lên rồi hạ xuống hai lần. “Ừm. Cô là người đầu tiên.” Anh chỉ một ngón tay thon dài về phía nhà kho được vẽ, bàn tay của Chúa đóng đinh thời Phục hưng. “Cô có muốn xem phòng trưng bày không?”

Anh dẫn cô lên một con dốc thoai thoải và đi vào tòa nhà. Cú bật công tắc điện hé lộ một không gian nửa như ổ chuột của người vô gia cư, nửa như mộ tẩm của pharaon. Bùa chú ở khắp nơi: totem, các bức hoạ, những món đồ của giáo phái cargo cult, bày ra trên từng miếng ván gỗ dán trải dài trên những chiếc sawhorse. Chúng trông giống như sản phẩm của một người theo thuyết phiếm thần thời Đồ Đá bị tự kỷ, được khai quật bởi khảo cổ học.

Olivia lắc đầu, ngơ ngác. “Anh đang cho đi những thứ này à?”

“Như thế không được à?”

“Tôi không hiểu.” Cô muốn nói, Chuyện này thật điên. Nhưng kể từ khi cô bắt đầu nghe các giọng nói, thì từ này trở nên bớt hữu dụng. Chợt nhiên cô thấy lo lắng, ở đây giữa nơi đồng không mông quạnh với một người đàn ông mà với mọi thước đo hào phóng cũng được xem là xa lạ. Nhưng một cái liếc nhìn là đủ để xác minh: thứ lạ nhất về anh chính là sự ngây thơ của anh.

Và nghệ thuật này là thực. Cô cúi xuống nhìn một bức tranh mang một cảm nhận Gothic rất kỳ quặc. Dù là trong ánh sáng lờ mò của nhà kho, hình ảnh vẫn khá rõ. Một người đàn ông nằm trên chiếc giường hẹp, nhìn chằm chằm xuống chớp của một nhánh cây đâm vào cửa sổ phòng ông ta, vươn tới trên mặt ông. Một miếng dán xanh trên nẹp tranh đề $0. Cô chuyển sang xem bức bên cạnh nó. Bức này vẽ trên viền của một tấm của lõm phần giữa. Phần lõm lại trở thành cánh cửa, mở vào một khoảng trống thông qua một vùng rậm rạp cành lá.

Cô nhìn khắp lượt cái bàn, đầy những sản phẩm với các đối tượng quen thuộc. Luôn là cây, trườn vào qua cửa sổ, tường, và trần của những căn phòng có vẻ an toàn, tìm kiếm một mục tiêu con người nào đó giống như những máy dò tầm nhiệt. Trong một số sản phẩm khác, những chữ được sơn lướt trên những khung cảnh siêu thực: Cây gia đình. Cây giữ phom giày. Cây kim ngân. Rào nhầm cây. Trên một cái bàn khác, bốn tác phẩm điêu khắc bằng đất sét đen vẫy như bàn tay của tử thi vươn lên từ đất trong Ngày phán xét. Mỗi tác phẩm đều gắn một cái nhãn màu xanh đề $0.

“Okay. Trước tiên…”

“Tôi sẽ để cô mua một tặng một. Vì cô là khách hàng đầu tiên của tôi.”

Cô đặt bức tranh trong tay xuống và nhìn người làm ra nó. Cánh tay anh vòng trước ngực và ôm lấy vai, như thể anh đang ấn mình vào một cái áo trói straitjacket trước khi thế giới làm điều đó. “Tại sao anh lại làm như thế này?”

Anh nhún vai. “Miễn phí có lẽ là điều mà thị trường sẽ chịu.”

“Anh nên bán những thứ này ở New York. Chicago.”

“Đừng nói với tôi về Chicago. Tôi đã vẽ các bức tranh ảo giác bằng phấn trên vỉa hè ở Grant Park suốt hai năm rưỡi. Đã rất nhiều người bước lên.”

Cô mím môi, lắng nghe lời chỉ dẫn. Nhưng, dù đã mang cô tới đây - NGHỆ THUẬT VỀ CÂY MIỄN PHÍ - các hiện thân của ánh sáng đã bỏ rơi cô. “Tôi là người đầu tiên đã dừng lại ư?”

“Thế đấy! Đáng lẽ: Ai mà chẳng dừng lại vì một tấm biển như thế? Thị trấn gần nhất cách đây mười hai dặm, và ở đó có năm mươi người. Tôi đã nghĩ mình sẽ đón chủ yếu là những kẻ sát nhân lẩn trốn. À mà cô không phải là một kẻ giết người đang lẩn trốn đấy chứ?”

Cô phải nghĩ, ước đoán xem điều này phù hợp ra sao với nhiệm vụ mà cô vừa được giao. Những chiếc hộp siêu thực kiểu Cornell chất đầy những món đồ gỗ kỳ lạ. Tập hợp của các mảnh gốm vỡ, hạt cườm, và các sợi của lốp cao su trông như rễ và tơ cây. Những cành cây đã dẫn dắt cô tới đây. “Anh làm tất cả thứ này sao? Và tất cả đều…?”

“Giai đoạn phát triển cái cây của tôi. Chín năm vài tháng.”

Cô thăm dò khuôn mặt anh để hiểu chiếc chìa khóa mà nó nắm giữ. Có lẽ cô đã có một chiếc chìa cho anh. Nhưng cô thậm chí không biết ổ khóa có thể là gì. Cô bước về phía anh và anh lùi lại, chìa bàn tay ra. Cô bắt tay anh, và họ trao đổi tên. Olivia Vandergri nắm tay Nick Hoel một lát, cảm giác như một lời giải thích. Rồi cô thả tay anh và quay lại phía các tác phẩm nghệ thuật. “Gần mười năm à? Và tất cả là… về cây?”

Không hiểu sao, điều này khiến anh bật cười. “Thêm nửa thế kỷ khác nữa, thì tôi sẽ làm ông nội của chính tôi.”

Cô nhìn anh, bối rối. Để giải thích, anh dẫn cô tới cái bàn bên mé chỗ trưng bày. Anh đưa cho cô một cuốn sách làm thủ công dày ịch. Cô mở trang đầu tiên, một bức tranh bằng bút mực tỉ mỉ đến kinh ngạc vẽ một cây non. Trang tiếp theo là bức vẽ tương tự.

“Lật đi.” Anh đưa ngón cái ra dấu chỉ dẫn cho gợi ý đó.

Cô làm theo. Tất cả cuộn xoáy lên sống động. “Chúa ơi! Đó là cái cây ở ngoài kia.” Một sự thực nữa mà anh không chối. Cô lại lật tiếp. Sự mô phỏng quá chính xác nên không thể chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng đơn thuần. “Làm sao anh vẽ được những bức này?”

“Có ảnh. Mỗi tháng một bức trong bảy mươi sáu năm. Tôi thuộc một phả hệ dài và xuất chúng của những người bị ám ảnh cưỡng chế.”

Cô lật thêm mấy trang nữa. Anh quan sát, nôn nóng, háo hức, một chủ cơ sở nhỏ đang trên bờ phá sản. “Nếu có cái gì cô thích, tôi có thể gói cho cô.”

“Đây là nông trang của anh à?”

“Của đại gia đình tôi. Họ vừa bán nó, cho ác quỷ và tất cả các công ty con của hắn. Tôi có hai tháng để rời đi.”

“Anh sống bằng gì?”

Người đàn ông cười nhăn nhở, nghiên nghiêng đầu. “Cô mạnh dạn đoán xem.”

“Anh không có thu nhập à?”

“Các chính sách bảo hiểm nhân thọ.”

“Anh bán chúng sao?”

“Không. Tôi được trả bởi chúng. Cho tới nay là thế.” Anh nhìn cái bàn trưng bày như thể một người đấu giá đáng ngờ. “Tôi ba lăm tuổi rồi. Chẳng có gì nhiều để thể hiện với một công việc kiếm sống.”

Sự ngượng ngừng tỏa ra từ anh giống như hơi nóng từ lò sưởi. Cô cảm thấy nó từ cách hai mét. “Tại sao?” Từ này thốt ra vang hơn cô dự tính.

“Tại sao lại cho không ấy hả? Tôi không biết. Nó cảm giác giống như một tác phẩm nghệ thuật khác. Tác phẩm cuối cùng của tổng thể. Cây cối luôn cho đi mà, chẳng phải sao?”

Phương trình đó khiến cô giật bắn mình. Nghệ thuật và quả sồi: cả hai đều là của cho không thỏa thuê mặc sức mà gần như sai trái.

Người đàn ông thả ánh mắt lành lạnh xuống những cái sawhorse và các tấm ván trưng bày. “Cô có thể gọi nó là một cuộc sale lửa. Mà không - một cuộc sale nấm.”

“Ý anh là sao?”

“Đây.” Anh đi về phía của nhà kho. “Tôi sẽ cho cô xem.”

Họ đi băng qua cánh đồng phủ băng, lướt qua ngôi nhà. Cô dừng lại để lấy chiếc áo khoác; anh chẳng có gì khác ngoài quần jean và áo chui. “Anh không lạnh à?”

“Luôn luôn. Lạnh tốt cho chúng ta. Mọi người thường giữ bản thân quá ấm.”

Nick dẫn cô qua đoạn đường, và kia vật sừng sững đứng, trải rộng giữa nền trời màu sứ. Bài toán đẹp đẽ lạ kỳ quản lý phép tính cửa hàng trăm cành cây, hàng nghìn nhánh, mười nghìn nhành con, một vẻ đẹp mà nhà kho đầy tác phẩm nghệ thuật đó vừa cho cô xem trước.

“Tôi chưa bao giờ thấy cái cây nào trông như thế này.”

“Hiếm người đương thời từng thấy.”

Từ con đường cao tốc liên bang, cô đã không thể thấy được nét tuyệt mỹ cao vút sum sê của cái cây này. Cách nó vươn lên tới nhánh rẽ bát ngát đầu tiên. Cô hẳn đã không để ý thấy, nếu không có cuốn sách. “Cây gì đây?”

“Cây dẻ. Giống gỗ đỏ ở miền Đông.”

Từ đó khiến toàn thân cô nổi gai ốc. Xác nhận, dù cô không thật sự cần điều đó. Họ đi qua vùng bao phủ của cây, dưới tán lá.

“Giờ mọi người đã đi rồi. Tại sao anh chưa bao giờ thấy ai?”

Anh kể cho cô nghe. Kỵ của anh đã trồng cái cây này như thế nào. Cụ của anh đã bắt đầu chụp ảnh ra sao, vào đầu thế kỷ. Bệnh đốm nâu càn quét khắp bản đồ trong mấy năm và quét sạch loài cây tốt nhất ở miền Đông nước Mỹ như thế nào. Và cái vật mẫu độc nhất này đã sống sót khỏi tất cả các chất gây ô nhiễm ra sao cho tới tận giờ.

Cô nhìn lên tán cây. Mỗi cành cây là một đối tượng cho một trong số các bức điêu khắc uốn lượn nữa ở trong nhà kho kia. Một điều gì đó đã xảy ra với gia đình của người đàn ông này: cô đã thấy điều đó như thể đang đọc ra nó từ một tờ giấy. Và anh đã sống trong ngôi nhà xây từ thời cụ kỵ này suốt cả thập kỷ, tạo ra tác phẩm nghệ thuật từ một chứng nhân sống sót khổng lồ kỳ diệu. Cô đặt tay lên lớp vỏ cây gân guốc. “Và anh đã… vượt qua? Đang bước tiếp sao?”

Anh lùi lại, kinh sợ. “Không. Không bao giờ. Tất cả đã hết với tôi.” Anh vòng qua phía bên kia của thân cây khổng lồ. Ngón tay dài, mang chất Phục hưng lại chỉ trỏ. Những vòng tròn khô với những đốm cam rải rác nhiều chỗ trên khắp thân cây. Anh ấn vào các điểm đó. Chúng lõm xuống dưới cái ấn của anh.

Cô chạm vào thân cây lỗ rỗ. “Ôi, trời. Cái gì thế?”

“Cái chết, thật không may.” Họ rời khỏi vị thần đang chết để trở về. Với những bước đi chậm chạp, họ lững thững lên con dốc dẫn về nhà. Anh đá giày vào hiên sau nhà để rũ tuyết khỏi giày. Anh đi về phía nhà kho, nơi có thể xem là phòng triển lãm của anh. “Cô có thể mang một hai thứ đi với cô được không? Như thế sẽ khiến hôm nay thành một ngày rất tuyệt vời.”

“Trước hết tôi phải kể với anh vì sao tôi lại tới đây.”

ANH PHA TRÀ bằng cách dùng cái lò trong bếp nơi bố mẹ và bà nội anh đã ngồi vào buổi sáng một thập kỷ trước đó, khi anh chào tạm biệt họ và lái xe tới bảo tàng nghệ thuật ở Omaha. Vị khách của anh kể câu chuyện của cô, với những cái cau mặt và những nụ cười. Cô tả lại đêm cô chuyển hóa - sự hỗn độn, sự trần truồng ướt nước, cái đui đèn chết người. Anh ngồi nghe, đỏ mặt chăm chú nghe cô miêu tả.

“Tôi không cảm thấy điên cuồng. Đó là điều lạ nhất. Tôi đã thấy điên cuồng trước đó. Tôi biết cảm giác điên cuồng là thế nào. Tất cả điều này cảm giác như… tôi không biết nữa. Giống như cuối cùng tôi đã thấy được sự hiển nhiên.” Cô khum hai bàn tay quanh cốc trà nóng.

Cây dẻ đang chết lay động cô theo một cách mà anh không thể nào hiểu hết được. Cô trẻ trung, tự do, bốc đồng, và đầy động lực mới. Với mọi thước đo đáng tin cậy, cô chênh vênh không phải ít. Nhưng anh vẫn muốn cô ở lại như thế này, nói những lý thuyết điên khùng trong căn bếp của anh, suốt đêm. Có bầu bạn trong ngôi nhà này. Ai đó vừa về từ cõi chết. “Cô không có gì điên cả,” anh nói dối. Không điên một cách nguy hiểm, phải nói thế mới đúng.

“Tin tôi đi, tôi biết tôi nghe như thế nào. Phục sinh. Những sự trùng hợp kỳ quái. Các thông điệp từ các dãy tivi trong một đại siêu thị giảm giá. Những hiện thân của ánh sáng mà tôi không thể thấy.”

“À, cô nói vậy thì là vậy…”

“Nhưng có một lời giải thích. Hẳn là có. Tất cả đều ở trong tiềm thức của tôi, cuối cùng cũng quan tâm tới một thức gì khác ngoài hơn là bản thân tôi. Có lẽ tôi đã nghe về những người bảo vệ cây mấy tuần trước đó, trước khi tôi tụ bị điện giật, và giờ thì, cuối cùng tối đang thấy chúng ở khắp nơi.”

Anh hiểu thế nào là nghe lời sai khiến từ ma quỷ. Anh đã một mình quá lâu, ký họa cái cây đang chết của anh, đến mức anh sẽ không dám phủ nhận giả thuyết của ai. Không có cái gì kỳ lạ hơn sự kỳ lạ của các sinh thể. Anh cười khục, nhai vụn cacao đắng. “Tôi đã làm các món đồ ma thuật trong suốt chín năm qua. Tín hiệu bí mật là đặc ngữ của tôi.”

“Đó là điều tôi không thể hiểu.” Đôi mắt cô cầu xin ơn huệ của anh. Trà của cô, khói tỏa lên mặt cô, những vùng đất hoang dã của Iowa đầy tuyết: một câu chuyện quá cũ và rộng đến nỗi cô không nắm bắt hết được. “tối đang lái xe trên đường thì thấy tấm biển của anh, treo trên một cái cây trông như…”

“A thì, cô biết đấy, nếu ta lái xe lâu quá…”

“Tôi không biết. Tôi không biết phải tin điều gì. Mà tóm lại thì cũng thật điên rồ khi tin vào bất cứ điều gì. Chúng ta luôn luôn, luôn luôn sai.”

Anh thấy mình đang vẽ trong bức tranh chiến tranh tươi sáng.

“Cô muốn gọi nó là gì thì hãy cứ gọi như thế. Một cái gì đó đang cố thu hút sự chú ý của tôi.”

Có người nghĩ tất cả các nghiên cứu của anh về Cây Dẻ Nhà Hoel trong suốt thập kỷ qua có thể có ý nghĩa nào đó. Thế là đủ với anh. Anh nhún vai. “Thật kỳ diệu là những thứ điên rồ có thể trở thành, một khi cô bắt đầu nhìn vào chúng.”

Cô đi từ tuyệt vọng tới niềm tin trong chớp mắt. “Chính là như thế đấy! Còn gì có thể điên rồ hơn? Tin rằng chắc chắn có những hiện thân ở rất gần mà chúng ta không biết? Hay là đốn ngã những cây gỗ đỏ cổ thụ hiếm hoi cuối cùng trên mặt đất để đóng sàn hay lợp nhà?”

Anh giơ ngón tay xin phép đi lên tầng. Anh trở lại mang theo bản đồ đường sắt và ba tập từ một bộ bách khoa toàn thu mà ông nội anh đã mua từ một người bán hàng rong vào năm 1965. Thực sự có một Solace, California ở trung tâm của vùng cây cổ thụ. Thực sự có những cây gỗ đỏ cao ngang ba mươi tầng lầu và cổ đại như Chúa Jesus. Điều điên rồ là các loài ở dưới không bị đe dọa chút nào. Anh nhìn cô; khuôn mặt cô sáng bừng kỳ vọng. Anh muốn theo tới bất cứ nơi nào mà mộng tưởng của cô dẫn dắt. Và khi mộng tưởng đó sụp đổ, anh muốn theo tới bất cứ nơi nào mà cô đi tiếp theo sau đó.

“Anh không đói à?” cô hỏi.

“Luôn luôn. Đói tốt cho chúng ta. Mọi người nên để mình đói.”

Anh làm cho cô cháo yến mạch với phô mai tan chảy và ớt. Anh nói với cô, “Tôi sẽ cần phải suy nghĩ về điều đó trong đêm.”

“Anh giống tôi.”

“Như thế nào?”

“Tôi nghe thấy bản thân tốt nhất khi tôi ngủ.”

Anh để cô ở trong phòng của ông bà anh, nơi mà từ Giáng sinh năm 1980, anh không bước vào trừ khi quét bụi. Anh ngủ ở lầu dưới, trong góc thời thơ ấu của anh, dưới chân cầu thang. Và suốt đêm anh lắng nghe. Những suy nghĩ của anh trải ra muôn hướng, tìm kiếm ánh sáng. Anh nhận ra rằng chẳng có gì khác trong cuộc đời anh thậm chí có thể được hào phóng gọi là một kế hoạch.

Khi anh thức giấc, cô đang ở trong bếp, đã thay bộ đồ khác lấy từ xe, đang cố làm mấy cái bánh kếp từ chỗ bột mà anh đã để cho mối mọt tấn công. Anh mặc cái áo choàng Aannel, ngồi xuống bên bàn. Anh cố cất giọng, “Tôi phải dọn khỏi ngôi nhà này vào cuối tháng này.”

Cô hất đầu về phía mấy cái bánh kếp. “Cái này có thể làm được.”

“Và tôi cần phải xử lý các tác phẩm nghệ thuật của mình. Ngoài thế ra, tôi có một khoảng trống nhỏ trên lịch vào cuốn năm nay.”

Anh nhìn ra cánh cửa sổ nhiều ô của phòng bếp. Qua Cây Dẻ Nhà Hoel, bầu trời xanh ngắt đến ngớ ngẩn như thể đã bị một đứa trẻ học sinh tiểu học vẽ bằng tay bôi trét quá đà.

MÙA XUÂN LẠI ĐẾN với Mimi Ma, mùa xuân đầu tiên không còn bố. Hoa thiên điểu, hoa lê, dương tử kinh, sơn thù du nở rực rỡ trong sắc hồng sắc trắng. Tất cả những cánh hoa vô tâm giễu cợt cô. Nhất là những cây dâu tằm, chúng khiến cô muốn đốt hết tất cả những thứ gì nở hoa. Người đàn ông ấy sẽ không bao giờ thấy một phần nhỏ nào của sự choáng ngợp này nữa. Thế mà chúng vẫn cứ bừng nở, những sắc màu khác biệt, tàn nhẫn của Hiện tại.

Một mùa xuân nữa nối tiếp khó khăn mùa xuân đó, qua một phần ba. Công việc rèn luyện sức chịu đựng của cô, hay là các loài hoa bắt đầu trở nên vô nghĩa. Thẻ bay thường xuyên của Mimi đã sang hạng bạch kim vào tháng Năm. Họ gửi cô đến Hàn Quốc. Họ gửi cô tới Brazil. Cô học tiếng Bồ Đào Nha. Cô học được rằng mọi người ở mọi chủng tộc, màu da, và tín ngưỡng đều có khao khát bất tận đối với gốm đúc theo đặt hàng.

Cô tập chạy, đi bộ, và đạp xe. Cô tập khiêu vũ, rồi jazz, rồi salsa, thứ xua đuổi tất cả các điệu nhảy khác giúp cô mãi mãi. Cô tham gia khóa quan sát chim và nhanh chóng có một danh sách dài dằng dặc với một trăm ba mươi loài. Công ty thăng cô lên chức trưởng khu vực. Cô học một khóa về nghệ thuật Phục hưng, các khóa học ban đêm về thơ hiện đại, tất cả những thứ của Holyoke mà cô đã vứt bỏ để trở thành một kỹ sư. Mục tiêu gần giống như lòng yêu nước: chơi trên mọi sân chơi. Có tất cả. Là mọi thứ.

Một đồng nghiệp bảo cô chơi hockey trong giải đấu của công ty. Chẳng mấy chốc cô trở nên đam mê. Cô chơi poker với đàn ông ở bốn châu lục và ngủ với đàn ông ở hai châu. Cô trải qua một tuần ở San Diego với một cô gái có khẩu vị vô cùng đa dạng rồi khiến trái tim cô gái đó tan vỡ, bất chấp giao ước trước đó của họ. Cô đã khá say đắm một người đàn ông có vợ của một đội hockey khác, người đã nhẹ nhàng chưa từng có khi tranh chấp với cô trên sân băng. Họ gặp nhau một lần, ở Helsinki, vào tháng Mười hai, ở một cuộc đời khác trong ba ngày kỳ diệu trong bóng tối ban ngày. Cô không bao giờ gặp lại anh ta.

Cô suýt nữa đã kết hôn. Ngay sau đó, cô không thể nhớ nổi tại sao chuyện đó lại có thể gần xảy ra đến thế. Cô bước sang tuổi ba mươi. Rồi (kỹ sư đáng tin cậy) ba mốt và ba hai. Trong giấc ngủ, cô mãi mãi đi băng qua các sân bay rộng lớn, giữa những đám người đông đúc, khi tên cô được xướng lên.

CÔNG TY CHUYỂN CÔ về trụ sở chính. Mức tăng chín nghìn đô la hầu như không có ý nghĩa gì với cô nhưng lại khiến cô khao khát ngay tức khắc. Nhưng dù sao cô đã tiến từ một cái bàn chỉ có vách ngăn trong một xưởng sản xuất đến một văn phòng ở góc với cửa kính từ sàn tới trần nhìn ra một hàng thông mà trong đầu cô không hiểu sao đó chính là điểm đến cuối cùng của một chuyến đi chơi rất dài bằng xe riêng của gia đình. Một thế thân hoang dại riêng tư nhất và nhỏ nhất của thế gian.

Cô trang trí văn phòng bằng những thứ mà mẹ cô không biết rằng cô đã đánh cắp chúng. Một cái tráp phủ đầy các nhãn dán - CARNEGIE INSTITUTE, GENERAL MEIGS, UNIVERSITY OF NANKING. Một cái rương in rập một cái tên không thể phát âm. Bao quanh viền bàn làm việc của cô là bức ảnh của hai người, nghe nói là ông bà cô, đang cầm một tấm ảnh ba đứa cháu lạ lùng của họ. Bên cạnh đó, có bản in của chính tấm ảnh-trong-ảnh đó: ba đứa con gái nhỏ mơ hồ về chủng tộc đang ngồi đăm đăm trên một cái ghế dài, giả vờ như chúng thuộc về Wheaton. Đứa lớn tuổi nhất dường như sẵn sàng càn quét con đường dẫn tới sự thuộc về. Sẵn sàng đấm văng kẻ nào nghĩ cô là kẻ lạc loài.

Xung quanh các bức tường của văn phòng, giống như một đường diềm trang trí cổ điển, rủ xuống bức tranh cuộn của cha cô. Có vẻ không đúng đắn khi khoe các bức tranh này dù là với chút nắng ít ỏi của miền Tây Bắc này len qua những tấm cửa kính từ sàn tới trần của nhà cô. Không đúng đắn khi dán keo dính để giữ cho khỏi rơi một tác phẩm nghệ thuật đã rất cũ và quý hiếm. Không đúng đắn khi để một thứ vô giá ở nơi bất cứ ai trong đội làm đêm cũng có thể cuộn nó lại và cho nó vào trong túi. Không đúng đắn khi treo thứ này ở nơi nó nhắc nhở cô về cuộc tự sát của cha cô, mỗi khi cô ngước mắt lên.

Mọi người khi bước vào văn phòng cô lần đầu tiên thường hỏi về các vị Phật nhỏ trong căn phòng của sự giác ngộ đó. Cô nghe thấy cha cô, vào ngày ông cho cô xem cuộn tranh lần đầu tiên. Những người đàn ông này ư? Họ vượt qua bài thì cuối. Có những ngày tại bàn làm việc của cô, trong sự thành công mãnh liệt về sự nghiệp của mình, nhìn lên bức tranh từ cuồn cuộn các hóa đơn và phép tính, cô thấy mình đạt tới bậc học cuối cùng mà cha cô đã đạt. Khi cảm giác chết đuối bóp nghẹt lấy lồng ngực cô, cô nhìn ra khung cửa sổ kịch trần vào cánh rừng của cô, nơi ba đứa trẻ từng có thời tự do hoang dại đi nhặt tiền là quả thông trên các bờ của một hồ nước cổ xưa. Đôi khi cảnh tượng đó gần như trấn an được cô. Đôi khi cô gần như có thể thấy người đàn ông đó, ngồi xổm và viết mọi thứ cần nói về nơi cắm trại này vào cuốn sổ chi chít của mình.

Đồng nghiệp dùng phòng làm việc của cô làm chỗ ăn trưa, vào những bữa mà cô không ăn món trứng bắc thảo. Thực đơn của cô trong hôm nay là sandwich thịt gà, nên chỗ này an toàn cho mọi dân tộc. Ba người quản lý khác và một tay từ phòng Nhân sự chơi bài ăn tiền nhỏ. Mimi cũng tham gia. Cô luôn tham gia bất cứ trò chơi nào có tỉ lệ may rủi nhỏ và giúp lãng quên tạm thời. Quy ước duy nhất của cô là cô giữ ghế Chỉ huy.

“Chính xác thì nó ra lệnh gì, Đội trưởng?”

Cô khoát tay về phía cửa sổ. “View này.”

Những người chơi rời mắt khỏi con bài, ngước lên. Họ nheo mắt và nhún vai. Được rồi: Một con đường nhỏ chạy qua mảnh đất này, hai bên tràn ngập bóng cây. Cây là thứ mà miền Tây Bắc có. Cây ở mọi độ cao, chen chúc lẫn nhau, bò vào, che rợp cả bầu trời.

“Thông à?” phó giám đốc marketing đoán. Trưởng phòng kiểm định chất lượng vốn muốn vị trí của Mimi tuyên bố, “Ponderosa”

“Thông ponderosa ở Willamette Valley,” Gã Biết Tuốt, giám đốc phòng Nghiên cứu và Phát triển nói.

Các quân bài lướt trên mặt bàn. Các đống tiền xu đổi tay. Mimi trở ngón tay đeo chiếc nhẫn ngọc của cô. Cô ngụy trang nó, để không ai chặt tay cô vì ăn trộm nó. Cô quấn bọc quanh nó. Cây dâu tằm chi chít cành nhánh của xứ Phù Tang - cái cây mà cô đã vẽ khi các chị em cô phân chia tài sản của bố - xoay xoay quanh ngón tay cô. Cô chìa bàn tay về phía người chia bài, thẳng thắn. “Đưa đây nào. Cho tôi việc gì đó để làm ở đây với chứ.”

Thêm một lần chìa tay nữa. Cô lại ngước mắt lên. Bầu trời trưa xanh ngắt rót xuống khu rừng nhỏ của riêng cô. Mặt trời xuyên tia nắng vào màu xanh đồng của lá kim, một nghìn chùm ánh sáng của thiên thể. Những khoanh vỏ to ló sần sùi như da khủng long của thân cây ngả màu cam, màu đất nung, và màu quế. Tay trưởng phòng Kiểm định chất lượng, người muốn công việc của cô, nói, “Mọi người đã bao già ngủi mùi vỏ cây chưa?”

“Cây va ni,” trưởng phòng Kiểm định chất lượng nói.

“Đó là cây thông Jeffrey,” Gã Biết Tuốt tuyên bố.

“Xem ai là chuyên gia kìa. Lại lần nữa!”

“Không phải va ni. Nhựa thông.”

“Tôi đã nói mà…” gã phòng Kiểm định chất lượng nói. “Thông ponderosa. Va ni. Tôi đã học một khoá.”

Gã Biết Tuốt lắc lắc đầu. “Không đâu. Nhựa thông đấy.”

“Ai đó đi ngửi các chỗ nứt mà xem.” Tiếng cười khúc khích rộ lên.

Gã phòng Kiểm định đập bàn. Bài bay lên và đồng xu đổ xuống. “Mười đô.”

“Chúng ta đang còn tranh luận mà!” gã bên phòng Nhân sự nói.

Mimi đang đi ra cửa thì ai đó nhận ra.

“Này! Chúng ta đang chơi đấy nhé.”

“Cần dữ liệu,” con gái của người kỹ sư trả lời. Và thêm mấy bước nữa, cô đi ra ngoài. Mùi hương đã ùa tới cô trước khi cô tới chỗ hàng cây - mùi thơm của nhựa cây và của đất đai miền Tây bát ngát. Mùi sạch sẽ của riêng những ngày nguyên sơ suốt thời thơ ấu của cô. Cả tiếng đàn của cây cối nữa, hòa theo tiếng gió. Cô còn nhớ rõ. Mũi cô áp vào một trong những kẽ nứt giữa các khoanh vỏ màu nâu đất. Cô chìm đắm trong mùi thơm đó, một luồng hương đã biến mất của hai trăm triệu năm về trước. Cô không thể tưởng tượng được mùi thơm như thế này đã từng có ý nghĩa như thế nào. Nhưng giờ đây nó đang làm một điều gì đó cho cô. Kiềm chế trí tuệ. Không phải va ni cũng không phải nhựa thông, mà chan hòa những sắc mùi mạnh nhất của từng thứ. Một nhấp vị kẹo bơ đường của tinh thần. Một nhành hương dứa. Nó có mùi không giống với thứ gì ngoài chính nó, hăng nồng và thoát tục. Cô hít vào trong, mắt nhắm lại, tên thật của loài cây.

Cô đứng đó với mũi áp vào vỏ cây, thân mật đến quá đà. Cô làm thế cho mình một lúc lâu, giống như một bệnh nhân của nhà tế bần tự chế morphine cho bản thân. Hóa chất ùa xuống khí quản của cô, qua mạch máu đi tới các ngóc ngách của cơ thể, vượt rào máu não để vào tới những suy nghĩ của cô. Mùi thơm siết lấy cuống não cô cho tới khi cô và người đàn ông đã chết ấy lại ngồi câu cá bên nhau, dưới bóng của cây thông nơi con cá đó lẩn trốn, trong công viên quốc gia sâu thẳm nhất của đáy linh hồn.

Một người phụ nữ đi ngang qua vỉa hè thấy cô đang hít ngửi thì băn khoăn không biết có cần cấp cứu hay không. Hạnh phúc với ký ức và cơ thể lâng lâng, Mimi trấn an bà bằng một ánh nhìn. Lúc đó trên văn phòng, những người chơi bài cùng cô đang đứng ở cửa sổ kính kịch trần, quan sát cô như thể cô đang trở nên nguy hiểm. Cô dựa vào cái cây, thả mình lần cuối vào mùi hương không thể gọi tên đó. Mắt nhắm, cô hồi nhớ lại vị la hán dưới cây thông của ông, thoáng vui thứ nhè nhẹ đó trên môi ông khi ông vượt qua bờ vực của việc chấp nhận hoàn toàn của sự sống và cái chết. Một cái gì đó bao phủ lấy cô. Ánh sáng này trở nên sáng hơn; mùi hương này trở nên đậm hơn. Sự thoát xác đưa cô lên cao, bồng bềnh bởi những con sóng của tuổi thơ. Cô rời khỏi thân cây với một cảm nhận hạnh phúc sâu sắc. Là nó đây phải không? Mình đã tới rồi? Gắn vào thân của một cây ngay cạnh đó là một tấm biển viết tay:

Buổi gặp mặt ở tòa thị chính! Ngày 23 tháng Năm!

Cô lướt về phía tấm poster và đọc. Thành phố tuyên bố sự tích tụ của lá kim và vỏ cây rụng đang đe dọa hỏa hoạn, rằng cây cối quá già và tốn kém để dọn dẹp, hết năm này qua năm khác. Họ lên kế hoạch để thay thế thông bằng những loài cây an toàn hơn và sạch sẽ hơn. Các lực lượng phản đối sự loại bỏ này đã yêu cầu một phiên điều trần.

Hãy đến để bày tỏ suy nghĩ của bạn!

Người ta muốn đốn hạ cây của cô. Cô nhìn lại dọc đường về văn phòng. Các đồng nghiệp của cô đang áp vào cửa kính, cười cô. Họ vẫy vẫy tay với cô. Họ đập đập vào tấm kính. Một trong số họ chụp ảnh cô bằng một chiếc máy ảnh dùng một lần. Mũi cô đang ngập tràn một mùi hương không thể tả bằng lời. Có thể gọi là mùi ký ức. Có thể gọi là mùi tiên tri. Va ni, dứa, kẹo bơ đường, nhựa thông.

MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG KHOẢNG BỐN MƯƠI Tuổi ném ra một nắm đô la bạc trong quán rượu spar, dưới đường 212, không xa một thành phố có tên là Damascus. Damascus, Oregon. “Lễ kỷ niệm, chết tiệt thật. Anh phải mừng nó với một ly bia.”

Lời đề nghị đó có người nhận. “Chúng ta mừng cái quái gì thế, Rockefeller?”

“Cây thứ năm mươi nghìn của tôi. Chín giờ mỗi ngày, bất kể nắng mưa, năm ngày rưỡi mỗi tuần, trong suốt tất cả các tháng trồng được cây, trong suốt bốn năm.”

Tiếng vỗ tay khắp nơi và một tiếng hú. Mọi người đang có mặt ở đó nói rằng họ sẽ uống vì điều đó.

“Một công việc gian nan với một gã đứng tuổi.”

“Anh đã thay vùng thắt lưng chưa thế?”

“Anh biết đấy, họ sẽ chặt ngang chúng tiếp thôi, trong vài năm nữa.”

Lòng biết ơn của những người xa lạ trong quán rượu, được mua cho một ly không vì điều gì. Douglas Pavlicek mỉm cười chấp nhận. Anh đặt thêm hai mươi tờ đô la bạc nữa trên góc của một bàn bi-a và khua khua trong không trung chiếc gậy với cán làm bằng gỗ Thích cứng, mời tất cả mọi người tới chơi. Chẳng mấy chốc mà anh có hai người nhận lời, là Dum và Dee.

Họ chơi ba bi, quay vòng. Douglas quá đáng thương. Bốn năm vật lộn qua những đống gỗ vụ và bùn đất, khom người và gieo trồng, đã hạ gục hệ thần kinh của anh, phá hỏng cái chân vốn đã vô dụng của anh, và để lại anh với bệnh rung khi vận động thể hiện rõ qua các máy đo địa chấn ở dưới Bay Area. Dum và Dee cảm thấy tồi tệ, nhận tiền của anh, xếp bóng rồi lại xếp bóng, bắn rồi lại bắn, chọc lỗ rồi lại chọc lỗ. Nhưng Douggie đã có một thời gian vui vẻ, ở đây trong thành phố lớn này, nốc ly bia sủi bọt và nhớ lại niềm vui có được từ một công ty ẩn danh. Tối nay anh sẽ ngủ trên giường. Tắm nước nóng. Năm mươi nghìn cây.

Dum chọc cả ba bóng trúng lỗ liên tiếp. Cú ăn thông thứ hai của anh ta đêm nay. Có lẽ anh ta đã xếp chúng cho một chiến thắng tức thì. Douglas Pavlicek không quan tâm. Rồi Dee hoàn thành trong bốn lần chọc.

“Thế… Năm mươi nghìn cây nhi?” Dum nói, chỉ để phân tâm Douggie, người đang phải vật lộn đủ rồi dù không có thêm gánh nặng nhận thức của việc tiếp tục một cuộc trò chuyện.

“Ừ. Giờ có thể chết rồi, thế nên tôi sẽ dẫn đầu ván này.”

“Anh làm gì với phụ nữ, ở ngoài kia.”

“Rất nhiều phụ nữ vận chuyển cây. Kỳ nghỉ hè thì nhiều lắm. Chuyện gì cũng xảy ra.”

Sao nhãng bởi những ký ức hạnh phúc, anh chọc viên bi-a trúng lỗ. Dù chỉ thế cũng đáng được cười to.

“Anh trồng cho ai?”

“Bất cứ ai trả tiền cho tôi.”

“Rất nhiều oxy mới ngoài kia, nhờ các anh. Rất nhiều khí ga nhà kính mới được giải quyết.”

“Mọi người chẳng biết gì đâu. Anh có biết người ta đã làm dầu gội đầu từ cây hay không? Và kính cường lực? Kem đánh răng nữa?”

“Tôi đã không biết đấy.”

“Xi đánh giày. Chất làm đặc kem.”

“Nhà cửa nữa, phải không? Sách vở các thứ. Tàu thuyền. Đồ nội thất.”

“Con người chẳng biết gì đâu. Vẫn đang là Thời Đồ Gỗ. Những thứ vô giá trị rẻ nhất từng có trên đời.”

“Lạy Chúa, anh bạn. Hai mươi đô để thêm một lượt nữa nhé?”

Họ chơi suốt nhiều giờ. Douggie, người có thể uống mà không có hậu quả lớn nào, chiến đấu trở lại từ miệng vực. Dee và Dum rời xới, thay thế bằng những người mới, Thứ Một và Thứ Hai. Doug mua thêm một vòng nữa, giải thích cho nhóm chơi đêm khuya này điều họ đang chúc mừng.

“Năm mươi nghìn cây. Ồ.”

“Đó là khởi đầu,” Douglas nói.

Thứ Hai đang có cuộc tranh cãi gay gắt cho một thứ rác rưởi của đêm đó. Thậm chí là của tuần đó.

“Không muốn làm anh vỡ mộng, anh bạn. Nhưng anh biết đấy chỉ riêng BC đã lấy hai triệu thân cây gỗ mỗi năm nhỉ? Bởi chính nó! Anh sẽ phải trồng trong khoảng bốn năm trăm năm chỉ để…”

“Thôi nào. Ở đây, chúng ta cứ bắn đi.”

“Và các công ty mà anh trồng cho ấy mà? Anh có thấy là họ nhận chứng nhận công dân tốt cho từng cây con mà anh trồng không? Mỗi lần anh chọc một lỗ xuống đất, nó lại khiến họ nâng mức cho phép đốn cây hằng năm.”

“Không,” Douglas nói. “Điều đó không thể đúng.”

“Ôi, sự thật là thế, sự thật đấy. Anh đặt cây con để họ có thể đốn cây cụ kỵ. Và khi các cây giống của anh lớn, chúng sẽ bị rầy nâu vì độc canh, anh bạn ạ. Những bữa ăn lụng cây cho những con bọ hạnh phúc.”

“Okay. Câm mồm lại một giây được không.” Douglas ôm chặt quả bóng bi-a, rồi ôm đầu. “Anh thắng, anh bạn. Tiệc kết thúc.”

MIMI KHÔNG THAM GIA buổi chơi bài trưa tiếp theo. Cô ăn trưa ngoài trời dưới hàng thông.

“Thế chúng tôi có thể dùng văn phòng của cô không?” tay phòng Nhân sự hỏi.

“Cứ việc. Thoải mái đi.”

Cô ngồi đó, lưng tựa vào thân cây màu cam. Nhìn lên những tia nắng xuyên qua thảm lá kim. Bắt chước vị la hán, chờ đợi, thỏ. Hoàng tử Ấn Độ Tất Đạt Đa cũng đã như thế này, khi cuộc đời khước từ ông và niềm vui thú của ông biến mất. Ông ngồi dưới tán cây linh thiêng hùng vĩ - cây Bồ đề, Ficus religiosa - và thề sẽ không đứng dậy cho tới khi ông hiểu được điều mà cuộc đời mong đợi từ ông. Một tháng trôi qua, rồi một tháng nữa. Rồi ông tỉnh khỏi giấc mộng nhân thế. Chân lý chiếu vào đầu ông, mọi thứ quá đơn giản, ẩn trong ánh sáng bao la. Vào khoảnh khắc đó, cái cây trên đầu vị Phật mới - các cành nhánh từ đó vẫn phát triển khắp nơi trên Trái Đất - bung nở hoa, và những bông hoa đó trở thành những quả bồ đề màu tím thẫm tròn trĩnh.

Mimi không chờ đợi điều gì vĩ đại dù chỉ bằng một phần trăm như thế. Thực ra, cô không chờ đợi điều gì - vì đã đủ hư không để cô chìm đắm bản thân vào. Mùi hương không thể gọi tên đó - đó là tất cả những gì cô muốn. Khu rừng nhỏ này. Mùi hương hai trăm triệu năm tuổi đó. Gia đình cô ở đỉnh cao tự do nhất, đất nước bản địa của chính họ. Lại đi câu cá, ở bên cạnh người đàn ông duy nhất từng hiểu cô, trong dòng chảy của một con sông đã từ lâu biến mất.

Một người phụ nữ với một chiếc xe nôi đôi giữ hai đứa trẻ sinh đôi ngồi xuống một lát trên chiếc ghế dài bên cạnh. “Một bóng râm tuyệt vời,” Mimi nói. “Chị có biết thành phố muốn đốn bỏ chúng hay không?”

Trở nên chính trị. Kích động. Cô ghét những người kích động, cách họ luôn quẳng vào mặt bạn những thứ mà chẳng liên quan gì tới bạn. Trong một phút tiếp theo, cô nói với người mẹ trẻ đang lo sợ về cuộc gặp ở tòa thị chính vào ngày hai mươi ba. Và bóng ma của cha cô đứng cách đó không xa, dưới hàng thông của ông, mỉm cười với cô.

DOUGLAS PAVLICEK TỈNH GIẤC khi Mimi hít đầy phổi cô thêm một lần cuối và quay lại bảng điều hòa nhiệt độ. Anh mất thêm một thoáng nữa để nhận ra rằng anh đang ở trong một phòng của nhà nghỉ, nơi anh đã thuê sau khi tiêu hai trăm đô la vào bia và mất thêm một trăm nữa vào bàn bi-a ba bóng. Chẳng có gì trong số đó khiến anh phải cau mày. Chiều nay, cảm giác kinh sợ khi thức giấc nghiêm trọng hơn. Tất cả sự căng thẳng của anh huống về mức đốn cây cho phép hằng năm, và liệu có phải bốn năm vừa qua, anh đã đâm đầu vào hoài phí cuộc đời, hay thậm chí là tệ hơn thế.

Anh đã bỏ lỡ bữa sáng kiểu Âu miễn phí từ bốn giờ trước. Nhưng người nhân viên bán cho anh một quả cam, một thanh sô-cô-la, một tách cà phê, ba báu vật vô giá từ cây đưa anh tới thư viện công cộng. Ở đó anh tìm một người thủ thư để giúp anh nghiên cứu. Người đàn ông lấy mấy tập chính sách và luật xuống khỏi giá, rồi họ dò tìm cùng nhau. Câu trả lời không tốt. Thú Hai, thằng cha lắm mồm, đã đúng. Trồng cây con không có ý nghĩa gì ngoài cho phép có thêm những khoảng chặt rừng trống trải bát ngát. Đến tận giờ ăn tối Douggie mới thật sự hoàn toàn chấp nhận thực tế này. Anh đã không ăn gì suốt ngày từ sau ba món quà từ cây. Nhưng ý nghĩ về ăn - hơn bao giờ hết - lại khiến anh nôn nao.

Anh cần đi bộ. Đi bộ: thứ điên khùng duy nhất còn lại. Điều anh thực sự muốn là chạy ào lên một sườn đồi trọc và đặt cái tương lai đó trở lại vào đất. Đó là điều mà các cơ của anh biết rõ, đặc biệt là tổng thể của anh - phần tâm hồn. Một cái xẻng và một túi đeo vai đầy những cây non xanh. Thứ mà, cho tới tận hôm nay, anh vẫn xem là niềm hy vọng.

Anh đi bộ cả đêm, chỉ dừng lại để thỏa hiệp với cơ thể của mình: bằng một cái bánh burger, thứ bỏ qua các nụ vị giác trên đường trôi xuống bụng. Đêm hôm đó trong và không khí rất nhẹ tới nỗi mà chỉ trong nửa dặm anh đã quên mất nỗi sợ như rơi bỗng của mình. Nhưng anh không thể ngừng các câu hỏi: Bây giờ mình phải làm gì, trong bốn mươi năm tiếp theo? Công việc nào mà hiệu quả của sự hợp nhất cả nhân loại không thể bóp nát thành phân bón đơn thuần?

Anh đi suốt nhiều giờ và nhiều dặm, men theo khu trung tâm Portland vào một khu phúc hợp yên tĩnh, bị cuốn đi theo một mùi hương mà anh không thể gọi tên. Anh dừng lại ở một cửa hàng tạp hóa trong góc để mua chai nước hoa quả màu xanh, rồi uống trong khi đọc các thông báo trên bảng tin bên lối ra vào cửa hàng đó. Thất lạc con mèo vô cùng thông minh. Tái cân bằng Qi. Cuộc gọi đường dài giá rẻ. Và rồi:

Buổi gặp mặt ở tòa thị chính! Ngày 23 tháng Năm!

Một di sản điên rồ nào đó trong bộ não từ giống loài của anh không hoạt động và tương tác phù hợp với các loài khác. Anh hỏi đứa trẻ ở quầy thu ngân về hướng đi đến địa chỉ đó. Thằng bé trông như con chuột nhắt vặn vặn mũi. “Đi bộ thì xa lắm.”

“Chú sẽ thử.” Hóa ra Douggie đã đi qua nó trên đường đến đây. Anh phải quay lại suốt cả con đường anh tới đây. Anh ngửi thấy mùi của công viên nhỏ đó trước khi anh trông thấy nó - giống như một lát bánh sinh nhật của Chúa. Những cái cây đã bị kết án đều có ba lá kim chụm lại thành một khóm, những mảng vỏ lớn màu cam. Những người bạn cũ. Anh cắm trại trên một chiếc ghế dài dưới những cây thông. Anh để tàng cây an ủi anh. Không gian rất tối, nhưng khu này trông có vẻ an toàn. An toàn hơn vận tải hàng không ở Campuchia. An toàn hơn nhiều quán bar anh từng ngủ trong đó. Anh muốn ngủ ở đây. Mặc kệ thực tế và các ràng buộc liên đới của nó. Cho một gã đàn ông giữa đêm ngoài trời, chẳng có gì chen vào giữa cái đầu trần của anh và một cơn mưa bào tử. Ngày hai mươi ba, anh chợt nghĩ - cuộc gặp ở tòa thị chính - chỉ còn bốn ngày nữa.

Giấc mơ của anh, khi nó đến, còn sống động hơn anh hình dung trong bao nhiêu năm qua. Lần này, chiếc máy bay lao xuống một khu rừng rậm Khmer. Đại uý Straub bị xiên trên một loài cây tàn ác nào đó mà anh không thấy được. Levine và Bragg rơi xuống bên cạnh, nhưng Douglas không thể với tới họ, và trong một lát họ ngừng trả lời tiếng hét của anh. Anh lại một mình, ở nơi mà anh nhận ra đó là một Bizarro Portland, bị nuốt chửng hoàn toàn bởi một banyan duy nhất. Anh thức dậy khi nghe tiếng trực thăng rà soát tán cây, chiếu đèn pha để tìm kiếm anh.

Tối nay máy bay trực thăng biến thành xe tải. Những người đàn ông đổ ra từ đó, với vũ trang đầy đủ. Trong một phút, họ vẫn lầm rầm, tới để giết chóc ngôi làng của Douggie ở trận oanh tạc cuối cùng. Rồi anh tỉnh táo trở lại đủ để thấy các cưa máy. Anh kiểm tra đồng hồ: quá nửa đêm một chút. Thoạt đầu anh nghĩ mình đã ngủ suốt bốn ngày. Anh nhổm người đứng dậy rồi đi lại chỗ đám người.

“Này!” anh đi lại gần cái máy cưa. “Xin chào!” Những chiếc mũ bảo hộ giật nảy lên, như thể trông thấy người điên. “Không phải các ông đang bắt đầu đấy chứ?”

Họ vẫn tiếp tục công việc, khởi động các món vũ khí. Chạy băng cuốn quanh khắp chu vi. Đặt cái giỏ ở đầu cần cẩu vào vị trí và kéo các móc khóa xuống.

“Các anh có nhầm lẫn không đấy. Mấy ngày nữa mới tới buổi điều trần. Trên poster bảo thế mà.”

Một cảm giác của trưởng tiểu đội dấy lên trong anh. Không phải là đe doạ, tất nhiên rồi. Từ chính xác là quyền uy. “Thưa ông, chúng tôi sẽ phải yêu cầu ông rời đi trước khi chúng tôi bắt đầu cắt.”

“Các anh đang cắt ư? Trời tối như mực.” Nhưng tất nhiên là không như phải vậy. Không hẳn tối đen vì hai hàng đèn hồ quang giống hệt nhau được chở vào đây. Không còn tối như mực nữa. Rồi trách nhiệm công dân bất chợt xuất hiện. “Chờ một giây.”

“Mệnh lệnh của thành phố,” tay quản đốc nói. “Anh phải ra khỏi khu vực băng cuốn.”

“Mệnh lệnh của thành phố ư? Thứ chết tiệt đó có nghĩa gì vậy?”

“Nó có nghĩa là ra ngoài đi. Ra khỏi khu vực băng cuốn.”

Douglas lao về phía những cái cây đã bị kết án. Sự di chuyển đó khiến mọi người kinh ngạc. Mất một giây những người đội mũ bảo hộ mới bắt đầu đuổi theo. Khi anh cách một trong các xe tải vài mét nữa thì họ đuổi kịp anh. Họ tóm lấy chân anh. Một người đánh anh bằng cán của máy cắt cành dài. Anh gục xuống đất và sụm xuống trên cái chân hỏng của mình.

“Đừng làm như thế. Ôi điên mất!”

Hai người cắt cây ghì anh trên mặt đất cho tới khi cảnh sát tới. Lúc đó là một giờ sáng. Chỉ là thêm một tội phạm nữa quấy phá tài sản công cộng, bị bắt trong khi cả thành phố đang say ngủ. Lần này các tội danh chống lại anh là phá rối trật tự công cộng, gây cản trở thi hành công vụ, và chống đối khi bị bắt giữ. “Anh nghĩ chuyện này buồn cười sao?” tay cảnh sát hỏi trong khi còng tay anh.

“Tin tôi đi, ông rồi cũng sẽ thấy như thế.”

Tại sở cảnh sát trên Second Street, họ hỏi tên anh. “Tù nhân 571.” Họ phải dùng vũ lực để lấy ví trong túi quần anh ra mới biết được ID thật của anh. Và họ cần phải cách ly anh, đề tránh việc anh khích động các tội phạm khác thành một cuộc nổi dậy.

BẢY GIỜ BA MƯƠI SÁNG Mimi đến văn phòng sớm. Một đơn đặt hàng bánh công tác cho bơm ly tâm từ Argentina đã bị huỷ. Cô đặt cà phê xuống, bật các ngọn đèn trên đầu, khởi động máy tính, và chờ kết nối vào mạng LAN của công ty. Cô xoay người thoáng nhìn ra bên ngoài, rồi đột nhiên hét lên. Nơi đáng lẽ là tán lá, giờ chỉ còn là một khoảng bao la mây vũ tích xám xanh.

Chỉ trong hai phút, cô đã đứng trên vạt đường trơ trọi, nơi những hàng cây cô từng nhìn ra trong một khoảnh khắc hoài niệm và bình yên. Cô còn chưa đối đôi giày thể thao sang giày cao gót. Khoảng đất trống trầm ngâm phủ nhận có điều gì đó đã từng xảy ra. Không một thân cây hay cành cây nào còn sót lại. Chi có mụn cua và lá kim rải rác quanh những vết cắt mới phẳng lỳ sát mặt đất. Gỗ màu vàng cam lộ ra trong không khí, nhựa dâng lên trên rìa ngoài cùng của các vòng gỗ hàng năm của cây - vòng nối tiếp vòng, nhiều gốc có số vòng nhiều hơn cả số tuổi mà cô có.

Và mùi hương của nó, mùi của mong đợi và mất mát, của những cây thông vừa bị cắt. Thông điệp đó, liều thuốc an thần cho não của cô, giờ đây quy tụ lại, trải mở ra trong cái chết. Trời bắt đầu mưa phùn. Cô nhắm mắt lại. Cơn phẫn nộ nhấn chìm cô, sự lén lút của loài người, một cảm nhận về sự bất công lớn chưa từng có trong cả cuộc đời cô, những mất mát xưa cũ sẽ không bao giờ. không bao giờ được trả lời. Khi cô mở mắt ra, các chân lý ùa vào trong đầu cô. Giống như Khai sáng, chỉ có điều không có ánh sáng.

SỰ NẢY MẦM xảy ra nhanh. Neeley hoàn thành trò chơi khoa học viễn tưởng vũ trụ của mình. Một phần của cậu bé dài ngoằng trong chiếc xe lăn vị lai đó vẫn muốn cho đi miễn phí. Nhưng rồi xuất hiện một khoảnh khắc, như luôn có trong bản thân trò chơi, khi ta phải biến vùng nước tù đọng xinh đẹp của vũ trụ của ta thành một một suối nguồn thu nhập.

Xuất bản trò chơi đòi hỏi có một công ty, dù chỉ là công ty giả mạo. Trụ sở chính của công ty là căn hộ tiện ích tại tầng hầm của anh với dốc trượt vào nhà gần El Camino ở Redwood City. Doanh nghiệp cần một cái tên, dù rằng cả công ty không có ai khác ngoài một người Mỹ gốc Ấn khoảng hai mấy tuổi lăn tới lui giống như một bó cành cây trên một chiếc xe kéo. Nhưng đặt tên một công ty hóa ra lại khó hơn cả viết code cho một hành tinh. Trong suốt ba ngày, Neelay vật lộn với các kết hợp từ và các từ mới, tất cả đều quá ngắn hoặc đã được dùng. Anh đang xỉa răng sau bữa tối - bằng một cây tăm quế - và nhìn chằm chằm vào phần letterhead giả mạo thì từ Redwood - gỗ đỏ - xuất hiện trong phần địa chỉ nhận của anh. Cứ như thể có ai đó thì thầm cái tên hiển nhiên đó vào tai anh. Dùng một chương trình đồ hoạ, anh chế ra một logo - một phần của cái cây đáng sợ trong logo của trường Stanford. Và thế là công ty Sempervirens - Hồng Sam - ra đời.

Anh gọi phát hành đầu tiên của công ty là The Sylvan Prophecies - Những lời tiên tri của rừng. Với phần mềm DTP hiện đại nhất, anh thiết kế một quảng cáo. Ô trên đầu quảng cáo đó, anh đề ở chính giữa dòng chữ:

CÓ MỘT HÀNH TINH HOÀN TOÀN MỚI NGAY BÊN CẠNH

Rồi Neelay chạy quảng cáo đó ở phía sau của các tập truyện tranh và tạp chí về máy tính trên khắp đất nước. Một hãng in đĩa lậu trên Menlo Park tuồn ra ba nghìn bản. Anh thuê hai người bạn cũ ở trường Stanford để đưa game vào các cửa hàng và xuống cả hai bò đất nước. Trong vòng một tháng, Những lời tiên tri của rừng bán sạch. Neelay ra thêm đĩa. Họ lại bán hết sạch. Anh ngạc nhiên khi rất nhiều thiết bị ở ngoài kia đáp ứng được các thông số kỹ thuật tối thiểu của trò chơi. Những lời truyền tụng không ngừng lan ra. Doanh thu chảy vào như nước, và chẳng mấy chốc có quá nhiều việc để anh có thể xoay xở một mình.

Anh ký hợp đồng thuê năm năm một căn hộ trước đây là phòng khám nha khoa. Anh thuê một thư ký và gọi cô là quản lý văn phòng. Anh thuê một hacker và gọi anh ta là lập trình viên chính. Anh ký với một gã có bằng kế toán, người được biến hình thành giám đốc kinh doanh. Lắp ráp nhóm này cảm giác giống như xây dựng hành tinh chính trong Lời tiên tri của rừng. Từ hàng loạt những người ứng tuyển, anh chọn thuê những người tỏ ra nao núng ít nhất khi họ nhìn thấy thân hình như lau sậy mọc ra từ chiếc xe lăn của anh.

Ngạc nhiên thay, các nhân viên mới đều thích được trả tiền mặt trước hơn là cổ phần trong tương lai. Đó là một sự thất bại hoàn toàn của trí tưởng tượng. Họ không hề biết gì về việc giống loài của họ đang đi tới đâu. Anh cố để thuyết phục họ, nhưng tất cả đều chọn an toàn và tiền mặt.

Chẳng bao lâu người giám đốc kinh doanh tiết lộ với Neeley: giả vờ anh là một công ty là không đủ. Anh phải hợp nhất thật sự. Sempervirens trở thành pháp nhân. Neelay lên giường hằng đêm với giấc mơ về lập chi nhánh và mở rộng kinh doanh. Đây là một ngành công nghiệp mới tinh với đường cong tăng trưởng không giới hạn đầy tiềm năng. Anh chỉ cần vài cú hit thị trường, mỗi lần lại kết hợp với thành công của lần trước đó. Rồi anh sẽ khuấy đảo cả thế giới, cách mà nó đã bày ra trước mắt anh, trong một thoáng, bằng những sinh thể lạ lùng trong cái bồn cảnh thủy tinh là sân trong của trường Stanford.

Ban ngày, khi không lo chuyện điều khiển công ty, Neelay tiếp tục viết code. Lập chương trình vẫn khiến anh ngạc nhiên. Khai báo một biến. Chỉ định một thủ tục. Gọi mỗi chương trình được hình thành tốt để thực hiện phần của nó, các cấu trúc khả dụng hơn, thông minh hơn, rộng hơn bên trong, giống như các hạt cơ quan đang xây nên một tế bào. Và từ các hướng dẫn đơn giản xuất hiện một đối tượng với hành vi tự trị. Lời nói đến hành động: đó là Thứ Mới Tiếp Theo của hành tinh. Viết code, anh vẫn là một cậu bé lên bảy, với cả thế giới của mọi khả năng sống đến từ bậc tam cấp, trên cánh tay của người cha.

Game đầu tiên vẫn đang bán với tốc độ mạnh mẽ khi Sempervirens tung ra trò chơi tiếp theo. Những lời tiên trì của rừng sử dụng các vẻ thật khó tin nổi với hai trăm năm mươi sáu màu đáng kinh ngạc. Lần này có bao bì thực sự, với tác phẩm nghệ thuật chuyên nghiệp, dù cách chơi là một hoạt động thăm dò và giao dịch cũ đặt trong một dải thiên hà có độ phân giải cao hơn rất mới mẻ, rực rỡ. Công chúng không quan tâm nó là một bản làm mới. Họ yêu thế giới thiên nhiên mở bất tận đó. Không có cách thực sự để thắng trong game này. Cũng giống như với hoạt động kinh doanh, vấn đề là giữ cho việc chơi kéo dài càng lâu càng tốt.

Những lời tiên tri của rừng mới leo lên đỉnh của các bảng xếp hạng, trước cả khi tiền thân của nó rời khỏi top ten. Những người chơi gửi thông điệp lên các bảng thông báo Online về các sinh vật hoang dã mà họ tìm thấy trong các hành tinh xa thẳm, các kết hợp kỳ lạ bất ngờ của động vật, thực vật, và khoáng chất. Rất nhiều người thấy rằng tìm ra cây cỏ chim muông trong trò chơi này thú vị hơn là tìm kho báu trong trung tâm dải ngân hà.

Kết hợp lại, hai game đó tạo ra nhiều tiền hơn nhiều bộ phim của Hollywood, với chi phí thấp hơn rất nhiều. Neelay đầu tư tất cả số lợi nhuận đó vào phần thứ ba, sẵn đã tham vọng hơn hai phần trước kết hợp lại. Khi Khải huyền rừng xuất hiện vào chín tháng sau, nó có giá rất cao là năm mươi đô la. Nhưng với số người chơi ngày càng tăng, đó là một giá thấp phải trả để có một trải nghiệm chuyển hóa mà thậm chí đã không tồn tại từ hai năm trước.

Một hãng phát hành lớn có tên là Digit-Arts đề nghị mua lại công ty của anh. Các điều khoản đều nghe rất hợp lý. Các chuyên gia sẽ đảm nhận việc bán và phân phối mọi sản phẩm trong tương lai, giải phóng để Sempervirens cống hiến bản thân nó cho sự phát triển. Neelay không muốn điều hành công ty; anh muốn tạo ra các thế giới. Đề nghị của Digit-Arts có thể sẽ đảm bảo cho sự tự do của anh và giữ cho anh được ngồi trên những chiếc xe lăn tối tân nhất mãi mãi.

Đêm hôm đồng ý về mặt nguyên tắc với thỏa thuận, Neelay không thể ngủ. Anh nằm trên chiếc giường có thể điều chỉnh của mình, được mẹ anh viền xung quanh bằng những cái túi đựng chần bông, và có một tay cầm bằng thép bọc xốp vòng qua. Khoảng nửa đêm, chân anh bắt đầu co thắt giống như chân của một người có thể đi lại được. Anh cần phải ngồi dậy. Nếu có người trợ giúp thì mọi việc sẽ dễ dàng, nhưng phải mấy giờ nữa Gena mới đến. Một cái ấn nút đưa phần đầu giường dựng thẳng hẳn lên. Anh vòng cánh tay quanh cái cột dọc phía bên phải và hất tay trái lên trước thanh ngang. Sự lãng phí cơ bắp đã khiến các cánh tay của anh trông như những mảnh ghép đôi của gỗ trôi dạt. Các cùi chỏ đều lồi ra các cục phồng. Anh phải dùng toàn bộ sức mạnh để bẩy thân mình lên tư thế ngồi. Hai vai anh run lẩy bẩy, và anh gồng mình vượt qua cái khoảnh khắc khi mà anh có nguy cơ bị rơi trở lại xuống giường. Anh đung đưa hồi lâu, rồi nghiêng mình về trước đủ để vung hai tay ra phía sau rồi nhấc người đứng thẳng dậy. Bước một bước. Hoặc năm mươi hai bước hay khoảng thế, tùy thuộc vào cách bạn đếm.

Cái quần mềm của anh đã tụt xuống quanh đầu gối trong vị trí sẵn sàng, nơi anh giữ chúng mỗi khi nhu cầu đến. Anh ngả người xa hết mức, gần như gập đôi người, để trọng lượng của đầu và vai của anh giữ ở một vị trí xa đủ mức để anh có thể đưa tay về phía gần mông. Bàn tay phải của anh trượt xuống dưới đùi trái, vẫn có một chút thịt ít ỏi quý giá còn lại ở đó - thực ra là chẳng có gì - nhưng nó chứng tỏ những thứ thuộc về đôi chân anh vẫn đủ sức để chống đỡ và giữ cho thân mình teo tóp của anh đứng thẳng.

Anh vật lộn với những giọt mồ hôi và ngả xuống trên khuỷu tay trái. Đu lên khỏi cái chân bị gãy. Mông anh nhấc lên đủ để cho anh mò mẫm kéo cái đũng quần lên người. Thành công sắp đến. Cái chân rơi xuống, anh ngã ngửa ra sau với hai bả vai nhô lên, rồi anh lại nằm sõng soài ra. Kéo mình lên một lần nữa với bàn đạp là thanh chắn ngang đó, anh lặp lại quá trình với phía người bền phải cho tới khi mồ hôi nhỏ thẳng xuống vùng eo. Vuốt phẳng ống quần legging ở hai bên cần nhiều thời gian, nhưng thời gian, vào lúc nửa đêm, là một nguồn dư dả. Rồi nắm vào thanh chắn trên đầu, và giữ vũng trở lại, với ra một trong rất nhiều móc treo đầy các thiết bị, anh chộp lấy cái dịu vải bạt hình chữ u, và trong một trăm lần nhích nho nhỏ, trải nó ra trên giường quanh phần thân nhổm dậy của anh. Mỗi chân được bọc từ bên dưới trong một cái đai da kéo lên đến giữa.

Anh lao ra một lần nữa và chộp lấy đầu của cái tời, kéo nó qua cái trụ ngang của chính nó cho tới khi nó ở vị trí ngay trên đầu. Cả bốn cái móc dây đều xuyên qua các chốt của cái tời, mỗi bên hai cái. Anh bật chiếc điều khiển từ xa đang giữ bằng miệng, giữ các dây đai đúng vị trí, cắn xuống nút khởi động cho tới khi cái tời nâng anh đứng thẳng lên. Anh gắn chiếc điều khiển từ xa vào cái dịu và gõ túi đựng nước tiểu của ống thông ra từ bên kia giường. Giữ ống vòi bằng răng để hai tay rảnh rang, anh gắn i túi vào cái dịu mà anh vừa bọc quanh mình. Rồi anh lại ấn nút của cái tời, giữ, và lên không trung.

Luôn có một khoảnh khắc như thế, khi anh lướt ở tư thế ngồi trên không trung từ giường xuống chiếc xe đang chờ sẵn, khi toàn bộ hệ thống bất an đó đầy rúng động. Anh từng có lần di chuyển sai và hạ xuống rất mạnh, đập vỡ các thanh chống bằng kim loại rồi rơi bịch xuống sàn trong đau đớn và nước tiểu. Nhưng lần di chuyển hôm nay không hề sai sót. Chỗ ngồi trên xe lăn hẳn đã được điều chỉnh, các bánh xe được đặt lại, nhưng anh hạ trúng chỗ đỗ. Ở đó, trong xe lăn, anh đảo ngược lại tất cả các bước, tháo cái tời, treo cái túi lên, và giống như Houdini[2], trượt tự do ra khỏi cái dịu phía dưới anh mà không hề nhấc người lên. Mặc áo choàng thì dễ. Đi giày, dù chỉ là dép lê và to như của anh hề, thì khó khăn hơn. Nhưng lúc này anh có thể di chuyển, lao nhanh bằng cần điều khiển, và điều tiết dễ dàng như làm các lộn vòng kiểu Immelmann một mô phỏng chuyến bay.

Thêm mười phút nữa, anh ra đến bên cạnh chiếc xe tải, chờ cho bản lề sàn thủy lực của bàn nâng xe lăn hạ xuống mặt đất. Anh lăn xe lên bề mặt thép vuông đó rồi nâng nó lên. Anh lăn qua thân xe mở vào trong buồng lái trông không. Bàn nâng nâng lên, các cánh cửa đóng lại, anh ngồi trong xe lăn phía trước một bàn điều khiển, nơi bàn đạp và phanh đều ở tầm ngang hông để ngay cả những cánh tay dư thừa cũng có thể điều khiển.

Thêm vài chục lệnh nữa trong thuật toán của sự tự do này, rồi anh đỗ xe tải, ra ngoài, và lăn vào trong sân trong của Stanford. Anh xoay tròn một vòng, quan sát, một lần nữa lại bao bọc bởi những sinh thể từ thế giới khác đúng như sáu năm trước. Tất cả các các sinh vật từ thiên hà khác, xa, rất xa: cây bồ câu, phượng tím, desert spoon, long não, cây ngọn lửa, empress tree, cây kurrajong, dâu tằm trái đỏ. Anh vẫn nhớ chúng đã thì thầm với anh như thế nào về một trò chơi mà anh có định mệnh để tạo ra - một trò chơi được chơi bở vô số người trên khắp thế giới, một trò chơi sẽ đặt người chơi ngay vào chính giữa sự sống, hít thở rừng xanh tràn ngập những tiềm năng mới chỉ thoáng mường tượng được.

Đêm này cây cối mím chặt môi, từ chối nói với anh bất cứ điều gì. Anh ấn ngón tay lên hai đùi đang run rẩy, chờ đợi, lắng nghe, trong một lúc thậm chí còn lâu hơn thời gian di chuyển đến đây. Không có ai ở xung quanh. Ánh trăng như một chiếc điện thoại phát sáng mà bất cứ ai trên Trái Đất cũng có thể gọi cho anh, đơn giản bằng cách nhìn lên và thấy những gì anh đang thấy. Anh muốn đoàn quân cây cho anh một tín hiệu. Những thực thể ngoài hành tinh vẫy vẫy cành lá kỳ quái của chúng. Sự đồng loạt vỗ vào không khí đó gầm gừ với anh. Ký ức trỗi lên bên trong, giống như dòng nhựa. Và giờ đây như thể những cành lá đang cong mình xào xạc kia đang chỉ dẫn anh ra ngoài, phía sau sân trong này, ra Escondido, rồi xuống Panama Street, qua Roble…

Anh tới chỗ sự đung đưa đó đưa anh tới. Xuống dưới phía Nam, những đỉnh tròn của dãy núi Santa Cruz nhô lên phía trên các mái nhà trong sân trường. Và giờ anh nhớ ra: một ngày, nửa cuộc đời anh trước đó và hơn nữa, đi giữa con đường rừng trên rặng núi đó với cha anh và vượt qua một cây gỗ đỏ khổng lồ hùng vĩ, cây Methuselah[3] mà không biết bằng cách nào đã thoát được khỏi tay những người đốn gỗ. Giờ, anh đã thấy: đó là cái cây mà hẳn rằng anh đã đặt tên công ty mình theo nó. Và ngay lập túc không do dự, anh biết rằng mình phải hỏi ý kiến của nó.

Con đường khúc khuỷu lên Sand Hill Road, ngoằn ngoèo cực độ, chìm trong bóng tối ghê rợn. Anh xoay xở tới lui như thể một trong những cái kén bay mà ta có thể xây dựng ở mức kỹ thuật thứ 29 trong Những lời tiên tri của rừng. Con đường trống trải vào giờ này, không ai có thể thấy Ent[4] gầy guộc với đôi chân vô dụng này lái một chiếc xe tải độ lại với những ngón tay xương xấu quái dị của anh. Khi lên tới đỉnh rặng núi, trên Skyline, một con đường được đặt tên cho tuyến cáp đã quét trọc những quả núi này để xây dựng San Francisco, anh rẽ phải. Đó là tất cả những gì anh nhớ được. Nếu ký ức có thay đổi các con lối mòn trong não, thì con đường đó hẳn vẫn sẽ nằm ở đó. Vấn đề chỉ nằm ở chỗ chờ đợi cho những thứ hoang dã xuất hiện dưới tầng lá thấp.

Anh lái xe qua đường hầm của rừng thứ sinh, thứ đã trở lại đầy đủ trong một trăm năm để khiến anh nhầm lẫn, trong không gian đen đặc này, tưởng đâu là rừng nguyên sinh. Một chỗ đỗ xe phía bên phải kích hoạt đủ nhận thức khiến anh dừng xe lại. Có một cái đèn pin trong ngăn đựng đồ trước xe. Anh lăn trên cái bàn nâng của chiếc xe tải xuống mặt đất xôm xốp rồi chờ đợi, băn khoăn xem bằng cách nào để lái chiếc xe lăn, dù được trang bị lốp lớn và chịu được địa hình hiểm trở, xuống con đường phía trước anh. Nhưng đó là điều mà chuyến phiêu lưu trỏ-và-nhấp-chuột này hy vọng.

Khoảng một trăm mét đường mòn, anh ổn. Rồi lốp trái của xe đâm vào một mé dốc ẩm ướt và trượt đi. Anh quờ quạng tìm cần điều khiển, cố lái qua. Anh lùi lại rồi xoay, hy vọng thoát khỏi tình trạng bị nghiêng. Bánh xe sa vào bùn và lún xuống. Anh khua khua đèn pin phía trước mình. Những cái bóng dâng lên như ma quỷ nhào bổ tới. Mỗi nhành cây gãy lại nghe như tiếng của một con thú ăn thịt đã tuyệt chủng. Tiếng to dần của một động cơ chợt vang lên, xa tít dưới Skyline. Neelay gào tung cả lồng ngục gầy còm và vẫy vẫy cái đèn như một kẻ điên. Nhưng chiếc xe phóng vụt đi.

Anh ngồi trong bóng tối, tự hỏi bằng cách nào con người từng sống sót ở một nơi như thế này. Một người đi bộ sẽ tìm ra anh, khi mặt trời lên. Hoặc vào ngày hôm sau. Ai biết được con đường này có bao nhiêu xe cộ qua lại? Một tiếng rú vang lên từ phía sau. Anh lia chiếc đèn pin, nhưng không thể quay đủ xa. Tim anh mất một lúc mới trở lại nhịp bình thường. Khi nó trở lại bình thường, anh hẳn phải đổ hết túi thông tiểu đã đầy xuống mặt đất, xa khỏi bánh xe nhất mà anh có thể với được.

Rồi anh thấy nó, đan xen giữa những chiếc bóng khác cách anh chưa đầy mười mét. Anh biết tại sao anh bỏ lỡ nó: Nó quá to. Quá to để hiểu ý nghĩa của nó. Quá to để xem là một sinh thể. Một phiến cửa ba cánh cửa bóng tối mở vào màn đêm. Ánh đèn pin không thể đi xa hơn con đường nhỏ nhất lên thân cây vô tận đó. Rồi lên trên thân cây đó, thẳng vút lên, vượt qua hiểu biết, một hệ sinh thái tập hợp phong phú, bất tử - Sempervirens - cây hồng sam.

Bên dưới sự sống phi thường này, một người đàn ông nhỏ xíu với cậu con trai thậm chí còn nhỏ hơn ngước nhìn lên. Cùng nhau, họ thấp hơn cái rễ phụ mọc chìa ra khỏi hệ thống rễ của cây này. Neelay quan sát, biết rõ điều gì sẽ tới. Ký ức ấy đậm đặc như thể nó vừa được anh viết code lại. Cha anh ngả ra sau và giơ hai tay lên trời. Cây vả của Vishunu, Neelay-ji. Trở lại nuốt lấy chúng tôi!

Chàng trai đang đứng hẳn lúc đó đã phì cười, như người đang ngồi lúc này muốn thế.

Pita? Đừng có điên khùng thế chứ. Đó là một cây gỗ đỏ mà!

Người bố chỉ ra vấn đề: Mọi thân cây trên thế giới đều đến từ cùng một mẩu rễ và đều đang tỏa ra ngoài, xuống những cành nhánh trải rộng của cùng một cái cây, cố gắng vì điều gì đó.

Nghĩ về cách mà cái code đã tạo ra thứ khổng lồ này đi, Neelay của cha. Có bao nhiêu tế bào ở bên trong? Có bao nhiêu chương trình nó đang chạy? Tất cả chúng đang làm gì? Chúng đang cố vươn tới đâu?

Ánh sáng tỏa ra tràn ngập bên trong đầu của Neelay. Và ở đây, trong khu rừng tối này, vẫy vẫy ánh đèn nhỏ xíu và cảm nhận một tiếng rì rầm lan ra từ cái cột đen cao vút này, anh biết câu trả lời. Cành cây chỉ muốn tiếp tục lan nhánh, vấn đề của game là giữ cho trò chơi tiếp tục. Anh không thể nào lại bán đi công ty này. Có một đoạn code cổ xưa, đã xuất hiện trong các chương trình đầu tiên nhất mà anh và cha anh đã viết, vẫn còn ảnh hưởng với anh. Anh thấy dự án tiếp theo, và nó là thứ đơn giản nhất. Giống như tiến hóa, nó tái sử dụng những phần cũ thành công của mọi thứ đã đến trước đó. Giống như evolution - tiến hoá, nó thực chất có nghĩa là mở ra.

Giờ anh có thể chịu chờ đợi tới ngày mai để được tìm thấy. Anh có một ý tưởng khác nữa, nhỏ hơn nhiều, nhưng sát sườn hơn. Anh nhấc áo choàng ra khỏi lưng và thả xuống đất ngay trước cái lốp xe bị kẹt. Anh ấn cần điều khiển và anh tự do, lên đường mòn và vào trong xe tải, từ đây anh lái đi, ngực trần, qua một nghìn bước và chương trình con, quay xuống trở về với Redwood City và cái máy trạm của anh.

Ngày hôm sau, anh gọi cho Digit-Arts và hủy bỏ thỏa ước. Các luật sư về quyền sở hữu của họ đe dọa và la lối. Nhưng thứ duy nhất họ đã thực sự muốn từ vụ sáp nhập chính là anh. Anh là vốn duy nhất của Sempervirens đáng có được. Không có thiện chí của anh thì thỏa thuận này vô nghĩa.

Với sự sáp nhập đổ vỡ, anh tập hợp nhân viên vào phòng họp rồi nói với họ dự án tiếp theo sẽ tiến hành như thế nào. Người chơi sẽ bắt đầu trong một nơi không có người ở của Trái đất. Anh ta sẽ có thể đào mỏ, đốn cây, cày ruộng, dựng nhà, xây nhà thờ, chợ và trường học - bất cứ điều gì trái tim anh ta mong muốn và bàn chân anh ta có thể chạm tới. Anh ta sẽ chu du xuống mọi cành nhánh trải rộng của một cây kỹ thuật khổng lồ, nghiên cứu mọi thứ từ chế tác đá cho tới trạm không gian, tự do theo bất kỳ tập quán nào, để tạo ra bất kỳ thứ gì văn hóa tràn đến những con tàu tối tân của anh ta.

Nhưng có một khúc mắc: những người khác, con người thật, ở đầu bên kia của các modem, sẽ từng người thức đấy văn hóa riêng của họ vào các phần khác nhau của thế giới nguyên sơ này. Và mỗi người trong số những người thật, khác đó sẽ ngày càng trở nên muốn mảnh đất dưới đế chế của những người chơi khác.

Trong vòng chín tháng, một bản alpha chạy quanh văn phòng đưa Sempervirens vào tình trạng nghẽn. Một khi những người chơi chơi, họ không muốn gì khác. Họ không ngủ. Họ quên ăn. Các mối quan hệ bớt gây bực mình hơn. Một lượt nữa. Chỉ cần thêm một lượt nữa.

Trò chơi có tên là Định mệnh.

HỌ DÀNH HAI TUẦN để đóng cửa nhà Hoel, Nick và người khách vãng lai của anh. Des Moines Hoels ghé qua mua chiếc xe của Nick và nhận quyền thừa kế các di vật của gia đình anh. Họ theo chân những người bán đấu giá, những người dán một nhãn dán màu xanh của lên bất cứ món đồ đạc và thiết bị nào mà có khả năng bán được. Những người đàn ông to khỏe với những bắp tay lực lưỡng chất những món đồ di chuyển được và các nông cụ rỉ sét vào chiếc xe tải hai mươi tư bánh rồi lái nó đi xa cách đó hai dặm, nơi mọi thứ sẽ được ký gửi đại lý bán hàng. Nick không đặt giá bán tối thiểu. Các tài sản tích luỹ qua nhiều thế hệ phân tán như phấn hoa trong gió.

“Tổ tiên của tôi đã tới bang này với hai bàn tay trắng. Tôi cũng nên ra đi như thế, phải không?”

Olivia chạm vào vai anh. Họ đã trải qua mười bốn ngày và mười ba đêm thu dọn căn nhà này cùng nhau, như thể, sau nửa thế kỷ trồng trọt mùa màng và sống sót qua những thay đổi của thời tiết, cuối cùng họ đang tới Scottsdale để nghỉ hưu để rồi chết gục, trán kề trán, trên tấm bảng ghi điểm chơi bài kipbi. Sự kỳ lạ đến vô lường của tình huống này khiến Nick mất ngủ nhiều đêm. Anh sẽ tới California với một phụ nữ mà đã rẽ xe vào từ đường cao tốc liên bang trong sự thôi thúc tình cờ, khi nhìn thấy tấm biển vô nghĩa của anh. Một người phụ nữ mà nghe thấy những giọng nói im lặng. Giờ đây, lúc này, Nicholas Hoel nghĩ, là một màn biểu diễn thực.

Con người ngủ với người lạ. Con người kết hôn với người lạ. Con người dành nửa thế kỷ trên giường cùng nhau rồi cuối cùng trở thành người xa lạ. Nocholas biết tất cả điều này; anh đã lau chùi căn nhà sau cái chết của bố mẹ và ông bà anh, khám phá ra những điều khủng khiếp mà chỉ cái chết mới sánh vừa. Mất bao lâu để hiểu một con người? Năm phút, thế là đủ. Chẳng gì có thể lay chuyển được ấn tượng đầu tiên của bạn. Con người ngồi bên cạnh ghế lái trong cuộc đời của bạn ư? Luôn là một người xin đi nhờ xe, để thả xuống đâu đó dọc đường.

Thực tế thì, những ám ảnh của họ đan cài khớp vào nhau. Mỗi người mang một nửa thông điệp bí mật. Anh có thể làm gì khác hơn là cố để ráp hai nửa đó vào với nhau? Và nếu họ tiếp tục, thức dậy khỏi giấc mơ mà chẳng có gì, thì anh đã mất đi cái gì ngoài sự đợi chờ trong cô độc chứ?

Quá nửa đêm, Nick ngồi trong phòng ngủ trống trơn của tổ tiên anh, đọc bằng ánh sáng của ngọn đèn dầu le lói. Mười năm ngồi xổm trong chốn này, giờ đây anh cảm thấy như mình đang sống tự cung tự cấp trong một căn nhà gỗ ở chốn xa xôi. Anh cứ đọc đi đọc lại mục Gỗ đỏ trong cuốn bách khoa toàn thu đó, cuốn bách khoa toàn thu đã bị dán nhãn của những người đấu giá. Anh đọc về những cái cây có độ cao bằng chiều dài của một sân bóng. Những cái cây mà bề mặt của gốc có thể làm một cái sàn đủ cho vài tá người nhảy cotillion.

Anh cũng đọc trong cuốn bách khoa toàn thư đó mục về các rối loạn tâm thần. Phần về chẩn đoán tâm thần phân liệt có câu này: Niềm tin không nên bị coi là ảo tường nếu chúng phù họp với các quy tắc xã hội.

Người bạn cùng nhà với anh ngâm nga một mình khi cô chuẩn bị khởi hành. Cái cau mày của cô khiến anh ngừng thở. Cô trẻ và ngây thơ, không hề sợ hãi, với một sự mạnh mẽ vang dội hơn bất cứ nữ tu thời trung cổ nào. Anh không thể khước từ một chuyến chu du cùng cô thêm nữa đúng hơn là anh có thể ngừng biến những giấc mơ thành những bức tranh. Vả lại anh cũng sắp phải rời khỏi nhà. Giờ đây cuộc đời anh có một thứ xa xỉ mà anh chưa bao giờ có: một nơi để đến, và một người để đến đó cùng nhau.

Hai tuần ở cùng nhà trong cái lạnh giữa đông của miền Trung Tây, thế mà anh thậm chí chưa từng cố chạm vào cô. Đó là phần hoang đường duy nhất. Và cô cũng biết anh sẽ không làm thế. Cơ thể cô, khi ở gần anh, không bị nhiễm bởi cái gì thô lỗ đến như là sự căng thẳng. Sự cảnh giác của cô dành cho anh còn chẳng mạnh bằng mặt hồ gợn sóng khi cơn gió lướt qua.

Họ chia sẻ một bữa sáng lạnh trong buổi sáng cuối cùng sau khi chiếc xe tải đấu giá chở những tài sản cuối cùng của nhà Hoel đi. Họ đã ngủ đêm trước đó trong túi ngủ. Giờ cô đang ngồi trên sàn nhà gỗ thông trắng, gần chỗ chiếc bàn gỗ sồi được đóng bởi ông kỵ của Nick đã đứng suốt hơn một thế kỷ. Những gợn sóng trên mặt gỗ sàn nhà sẽ nhớ nó mãi mãi. Cô đang mặc chiếc áo sơ mi đuôi tôm dài một cách thật may mắn, và cái quần lót sọc trông như cây kẹo gậy.

“Cô không thấy chết lạnh à?”

“Dạo này có vẻ tôi hay thấy bốc hỏa. Từ khi chết.”

Anh ngoảnh mặt đi rồi vỗ tay vào đôi chân trần của cô. “Cô có thể - che lại, hoặc sao đó không? Đàn ông có thể bị tổn thương đấy.”

“Ôi làm ơn. Chẳng có gì anh chưa từng thấy cả.”

“Không phải là trên cô.”

“Đồ đạc cơ bản thì giống nhau cả.”

“Tôi làm sao mà biết được.”

“Ha. Phụ nữ đã từng sống ở đây. Mới gần đây.”

“Sai. Tôi là một nghệ sĩ độc thân. Tôi có một món quà đặc biệt.”

“Kem chống nhăn trong tủ thuốc. Sơn móng tay.” Cô ngừng lại, đỏ mặt. “Trừ khi anh…”

“Không. Chẳng có gì sáng tạo tới thế. Những người phụ nữ mới đây. Một người phụ nữ.”

“Chuyện thế nào?”

“Cô ấy rời đi không lâu sau khi tôi phát hiện cây dẻ tàn rụi. Sợ quá bỏ đi. Cô ấy nghĩ một người đàn ông nên vẽ cái gì đó hơn là cứ vẽ cành cây suốt.”

“Điều này nhắc tôi. Chúng ta cần dựng một ngôi nhà là gallery.”

“Ngôi nhà?” Nụ cười của anh méo xẹo như thể anh mút phải phèn chưa - ký ức về cái nhà kho ở Chicago đã là nhà của rất nhiều tác phẩm vĩ đại của anh thời hai mươi tuổi, cho tới khi anh biến chúng thành một hệ thống tác phẩm lớn dễ cháy.

Cô lại mang ánh nhìn xa xăm đó, giống như cô đang nhận các mệnh lệnh từ các thực thể một lần nữa. “Chôn chúng xuống phía sau nhà thì sao?”

Anh chợt nghĩ tới các kỹ thuật cổ xưa xuất hiện, gỉ đồng và rạn gốm, phủ bóng và làm men rạn, những thực hành gốm dưới mặt đất mà anh đã học khi còn ở trường nghệ thuật. Ý tưởng này ít ra cũng có vẻ tốt hơn là cố gắng cho đi các thứ đó cho những người lái xe ngang qua. “Tại sao không? Hãy để chúng phân hủy dưới đó.”

“Tôi đang nghĩ tới màng bọc xốp.”

“Giờ là tháng Một, cô biết đấy. Dù trời đã khá ấm. Dù muốn đào lỗ bằng chừng nào chúng ta cũng phải thuê máy xúc đào.” Rồi anh nhớ ra. Ý tưởng làm anh bật cười. “Mặc quần áo vào. Áo khoác ấy. Đi nào.”

Họ đứng bên nhau trên con dốc bên cạnh nhà để máy, khuất tầm mắt khỏi căn nhà chính, nhìn chằm chằm ra cái ụ đá cao tới ngang hông người và một cái hốc khá lớn cạnh đó.

“Anh em họ của tôi và tôi đã luôn đào bới phía sau này, khi chúng tôi còn là trẻ con. Tiến tới lõi nóng chảy của Trái Đất. Chẳng ai buồn lấp nó lại cả.”

Cô khảo sát xung quanh, “Ừm. Tốt đấy. Nghĩ xem nào.”

Họ chôn các tác phẩm nghệ thuật. Tạp ảnh - cuốn Aipbook suốt một thế kỷ phát triển của cây dẻ - cũng vào trong đó. An toàn ở đó hơn ở bất cứ đâu trên mặt đất.

Đêm hôm đó họ lại ở trong bếp, chuẩn bị cho một sáng khởi hành. Cô còn tối giản hơn, chỉ mặc áo chui và quần legging. Anh bước đi, đầy cảm giác co thắt trong dạ dày cứ từ đâu cuộn lên. Nửa sợ hãi, nửa hồi hộp: Mọi thứ lan tràn trong không khí. Chúng ta sống, chúng ta được biết đến một chút, và rồi không chút nào nữa, không bao giờ. Và chúng ta biết điều gì đang đến - nhờ trái của cây cấm mà chúng ta đã bị sắp đặt để ăn phải. Tại sao lại đặt nó ở đó, để rồi cấm đoán? Chỉ để chắc chắn nó bị hái đi.

“Cô đang nói gì thế? Người điều khiển của cô…”

“Không phải thế, Nicholas.”

Anh chụp hai bàn tay lại dưới cằm mình. “Thế thì như thế nào?”

“Họ đang nói, Kiểm tra dầu. Được chưa?”

“Làm sao để chúng ta tìm ra được họ?”

“Những người điều khiển tôi ấy hả?”

“Không. Những người phản đối. Những người cây.”

Cô cười phá lên rồi chạm vào vai anh. Cô lại bắt đầu làm như thế, còn anh ước gì cô đã không làm vậy.

“Họ đang cố làm việc với báo chí. Chuyện đó có lẽ dễ thôi. Nếu chúng ta tới gần hơn mà vẫn không thể tìm thấy họ, chúng ta sẽ bắt đầu hành động của riêng mình.

Anh cố cười lại, nhưng cô có vẻ rất nghiêm túc.

Khi trời sáng, họ lên đường. Xe của cô chất đồ đầy ứ. Năm giờ về phía Tây, họ biết về nhau rõ hơn bất cứ hay con người nào có thể hiểu về nhau, không giấu giếm gì. Anh kể với cô, khi anh lái xe, về những điều anh chưa từng kể với ai. Về cái người đã ngủ đêm ngoài đường ngoài dự định ở Omaha, đến khi trở về nhà thì thấy bố mẹ và bà nội đã chết vì ngạt khí gas.

Cô chạm vào bắp tay anh. “Tôi đã biết mọi chuyện là như thế. Gần như chính xác là như thế.”

MƯỜI GIỜ TRONG XE, cô nói, “Anh thật thoải mái với sự im lặng.”

“Tôi đã luyện tập một chút.”

“Tôi thích điều đó. Tôi có rất nhiều người quen cũ.”

“Tôi muốn hỏi… Tôi không biết nữa. Tư thế của cô. Cả… mùi hương nữa. Giống như thể cô đang chuộc tội cho điều gì đó.”

Cô bật cười như đứa trẻ lên mười. “Có thể như thế lắm.”

“Cho cái gì vậy?”

Olivia tìm kiếm câu trả lời ở chân trời phía Tây, nổi lên với những dãy núi đằng xa. “Cho đứa con gái tồi tệ mà tôi đã từng là. Cho con người biết quan tâm tôi chưa từng là.”

“Không nói gì có sức trấn an rất lớn.”

Anh nghĩ: Nếu mình bị cầm từ mãi mãi, hoặc bị giam trong một cái hầm, mình sẽ chọn con người này.

Ở một nhà nghỉ dưới Salt Lake một đoạn, người tiếp tân hỏi, “Phòng một giường đôi hay hai giường đơn ạ?”

“Hai giường đơn,” Nick nói, nghe thấy tiếng cười của đứa trẻ đó bên cạnh anh. Họ theo lượt vào phòng tắm một cách ngượng ngừng. Rồi họ nằm thức suốt một giờ, trò chuyện qua khoảng cách hai bước chân giữa hai giường. Rất nhiều lời, nếu so với hàng nghìn dặm đường mà họ vừa cùng nhau đi qua.

“Tôi chưa từng tham gia vào cuộc phản đối tập thể nào.”

Anh hẳn phải nghĩ: chắc chắn là có một hành động nổi giận mang tính chính trị nào đó, khi còn ở trường đại học. Anh ngạc nhiên khi phải nói, “Tôi cũng thế.”

“Tôi không tưởng tượng được có ai có thể không từng tham gia.”

“Những người đốn cây. Những người theo chủ nghĩa tự do Những người tin vào định mệnh của con người. Những người cần ván lát sàn và lợp nhà.” Chẳng bao lâu sau hai mắt anh nhắm lại theo ý chí riêng của chúng, rồi anh chìm vào trong giấc ngủ, nơi hằng đêm giải thoát như cỏ cây.

NEVADA RỘNG và ảm đạm đủ để chế giễu mọi hoạt động chính trị của con người. Sa mạc trong mùa đông. Anh len lén nhìn chăm chăm trong khi cô lái xe. Cô nôn nao cồn cào cảm giác lo sợ. Rồi lên đến dãy Sierra, ở đó họ gặp bão tuyết. Nick phải mua xích bao lốp xe từ một cửa hàng bán lẻ bên đường. Ở đèo Donner, anh bị mắc kẹt sau một chiếc xe móc kéo, hai hàng bánh xe bọc kim loại lún sâu xuống bề mặt dày đặc tuyết. Anh điều khiển xe bằng thần giao cách cảm, tìm ra một khoảng trống nhỏ ở làn bên trái, và lách ra để thoát lên. Rồi cả trời trắng xoá. Những tấm màng tuyết chăng qua kính chắn gió.

“Livia. Chết tiệt. Tôi chẳng thấy gì cả!”

Xe thúc vào thanh chắn đường rồi liệng trở ra. Anh mò mẫm trở lại làn đường, tăng tốc, dò dẫm tiến về phía trước, thoát khỏi cái chết qua từng tấc tuyết.

Mấy dặm sau đó, anh vẫn còn run rẩy. “Chúa ơi. Tôi suýt giết cô.”

“Không đâu,” cô nói, như thể có ai đó đang nói với cô mọi thứ sẽ diễn ra như thế nào. “Chuyện đó không xảy ra đâu.”

Họ xuống sườn núi phía Tây tiến đến chốn địa đàng. Trong chưa đầy một giờ, thế giới bên ngoài cái kén của họ chuyển từ những cánh rừng cây lá kim ngập trong tuyết trắng đến Central Valley xanh bao la, với những cây lưu niên nở hoa rợp của hai bên đường cao tốc.

“Cali,” cô nói.

Anh thậm chí không cố để dấu nụ cười. “Tôi tin là cô đã đúng.”

CŨNG ĐẾN NGÀY MÀ DOUGLAS phải ra tòa.

“Anh bị cáo buộc cản trở thi hành công vụ,” thẩm phán nói. “Anh biện hộ thế nào?”

“Ngài thẩm phán. Sự thi hành công vụ đó bốc mùi như thể thứ gì mà con chó ướt của ai đó bỏ lại bên đường cao tốc vậy.”

Viên thẩm phán bỏ kính ra và xoa xoa mũi.

Ông đăm chiêu nhìn xuống những tầng sâu của luật học. “Thật không may, điều đó chẳng liên quan gì đến trường hợp của anh.”

“Tại sao không, thưa ngài thẩm phán, tôi có thể trân trọng được biết điều đó không?” Trong hai phút, vị thẩm phán giải thích cho anh về cung cách của luật pháp. Quyền sở hữu. Quản trị dân sự. Xong.

“Nhưng các nhà chức trách đang cố để dập tắt dân chủ.”

“Các phiên tòa tồn tại để cho bất cứ nhóm công dân nào tìm kiếm công bằng cho bất kỳ hành động nào mà thành phố đã thực thi.”

“Thưa ngài thẩm phán. Tôi là một cựu chiến binh được tặng huy chương. Họ đã trao cho tôi huân chương Purple Heart và huân chương Air Force Cross. Trong bốn năm vừa qua, tôi đã trồng năm mươi nghìn cây xanh.”

Anh thu hút được sự chú ý của vị thẩm phán.

“Tôi đã đi qua không biết bao nhiêu dặm đường, cắm những cây giống xuống đất, cố gắng để đảo ngược quá trình lại từng chút một. Rồi tôi nhận ra rằng tất cả những gì tối đang làm là đưa cho những thằng khốn đó quyền được đốn cây lâu năm hơn nhiều hơn. Tôi xin lỗi, nhưng nhìn sự ngu ngốc diễn ra ở trong công viên thành phố đó khiến tôi hết chịu nối. Đơn giản là như thế.”

“Anh đã từng vào từ chưa?”

“Câu hỏi khó đấy. Rồi và chưa.”

Vị thẩm phán suy ngẫm. Bị cáo đã cản trở một công việc được thực hiện bởi công ty cắt cây tư nhân theo lệnh của thành phố vào lúc đêm muộn. Anh không đánh ai trong đoàn người đó. Không có sự lấy đi tài sản. Vị thẩm phán cho Douglas một án treo bảy ngày, cộng hai trăm đô la tiền phạt và ba ngày lao động công ích, trồng cây tần bì Oregon cho chuyên gia trồng cây thành phố. Douglas chọn trồng cây. Khi anh rời khỏi phòng xử án và lao nhanh về lại nhà nghỉ, chiếc xe tải đã bị cẩu đi. Đám người đó đời ba trăm đô để trả xe lại. Anh đề nghị họ giữ xe cho anh cho tới khi anh gom đủ tiền. Anh có một ít đô la chôn ở chỗ này chỗ nọ.

Anh dốc hơi sức cho thành phố, trồng cây trong một tuần - số ngày dài hơn mức phục vụ công ích của anh bắt buộc.

“Tại sao?” chuyên gia trồng cây hỏi. “Khi mà anh không cần phải thế?”

“Cây tần bì là loài cây cao quý.” Có khả năng đàn hồi cao nhất. Thú làm cán dụng cụ và làm gậy bóng chày. Douglas yêu những chiếc lá hình lông chim tua tủa đó, cách chúng đung đưa ánh sáng và làm cho cuộc đời mềm dịu hơn thực tế. Yêu những quả giống hình thuyền thon nhọn. Anh thích ý tưởng trồng một số cây tần bì, trước khi làm thứ duy nhất mà bất cứ ai thực sự phải làm đó.

Người đàn ông đó làm việc càng chăm chỉ, người chuyên gia trồng cây càng cảm thấy có lỗi. “Đó đâu phải là thời gian tốt nhất trong thành phố, chuyện xảy ra trong công viên ấy mà.” Đó là một sự động viên nhỏ, nhưng với một người nhận lương của thành phố, đó gần như là sự kích động chống đối.

“Thế mới khốn nạn. Ẩn nấp trong bóng đêm. Chỉ mấy ngày trước một buổi tòa thị chính nghe người dân được lên kế hoạch.”

“Đời là một đấu trường đẫm máu,” chuyên gia trồng cây nói. “Cũng giống như tự nhiên.”

“Con người chẳng biết cái quái gì về tự nhiên cả, kể cả về dân chủ. Anh từng nghĩ những kẻ điên đó có thể đúng không?”

“Còn tuỳ. Kẻ điên nào co?”

“Những kẻ điên màu xanh. Một nhóm bọn họ đang giúp trồng lại một khoảng rừng bị cưa ở dưới ven sông Siuslaw. Tôi đã một số người khác trong một cuộc phản đối trong tộc người Umpqua. Họ đang bỏ công việc gia công gỗ trên khắp Oregon.”

“Trẻ con và những kẻ nghiện. Sao tất cả bọn họ cứ bắt chước Rasputin thế?”

“Ôi!” Douggie nói, “Rasputin cũng có điểm hay.” Anh hy vọng người trồng cây sẽ không khiến anh nổi loạn.

ANH KHÔNG RỜI PORTLAND ngay. Anh quay lại thư viện công cộng, để đọc về làm rừng theo kiểu du kích. Người bạn thủ thư cũ của anh lại tiếp tục vô cùng hữu ích. Người đàn ông đó dường như có chút gì đó với Douggie, bất chấp mùi hương của anh. Mà có khi vì chính mùi hương đó. Một số người thích thú với mùi đất mùn. Có một bài báo về một hành động gần vùng hoang dã Salmon-Huckleberry khiến anh chú ý - một công ty đào tạo cho mọi người cách phong tỏa những con đường chở gỗ. Tất cả những gì Douglas cần làm là lấy chiếc xe tải của anh ra khỏi chỗ cầm cố. Tuy nhiên, đầu tiên, anh phải thể hiện một hành động du kích của riêng mình. Anh không chắc về tính hợp pháp của việc trở lại hiện trường gây án. Một hành động khác của sự bất tuân dân sự sẽ đưa anh trở lại nhà tù. Phần trong Douglas muốn nhìn Trái Đất từ trên cao xuống, như anh đã nhìn khi còn là một phi công xếp hàng, gần như muốn điều đó xảy ra.

Thịnh nộ dâng lên khi anh tới gần công viên. Lúc đó còn chưa tới trưa. Hai vai anh, cổ, và cái chân thương binh lại cảm thấy nó - bị quật ngã xuống đất bởi những kẻ du côn đang lừa gạt quần chúng. Nhưng cơn giận không khiến anh nổi phùng lên. Mà ngược lại. Nó bẻ gập người anh xuống và thoi mạnh vào búi thần kinh mặt trời của anh cho đến khi, vào lúc anh đứng giữa khoảng rừng, anh run lẩy bẩy.

Cái gốc đầu tiên trong số những gốc mới bị cưa đó vẫn còn ứa nhựa. Anh ngồi phịch xuống mặt đất bên cạnh nó rồi lấy ra cây bút vẽ Magic Marker và bằng lái xe của anh, để dùng như một cái thước. Anh giữ cả hai trên mặt gỗ đã bị cưa như thể đang làm phẫu thuật, rồi đếm ngược. Các năm lăn đi dưới những ngón tay anh - lũ lụt và hạn hán của chúng, những đợt lạnh và những mùa nóng nực của chúng đều được viết lên những vòng gỗ hằng năm khác nhau. Khi đếm lùi đến năm 1975, anh đánh một dấu X đen đậm và rồi vòng ngày đó lại. Rồi anh đếm lùi thêm hai mươi lăm năm nữa, đánh một dấu X nữa trên một đường hơi chếch ngược chiều kim đồng hồ sơ với đường thứ nhất, và đánh dấu năm 1950.

Công việc tiếp tục, kéo dài trong khoảng một phần tư thế kỷ, cho tới khi anh đến chính tâm. Anh không biết thành phố này có từ bao giờ, nhưng cái cây này rõ ràng đã là một cái cây nhỏ cứng cáp trước khi người da trắng nào tới bất cứ đâu gần với địa điểm này. Khi Douglas vòng lại số năm cuối cùng mà anh đếm chính xác, anh quay trở lại viền ngoài, rất gần đây vẫn tiếp tục mở rộng, và được viết lên bằng những chữ in hoa chạy như một cái bánh xe vòng quanh nửa chu vi, BỊ CẮT TRONG KHI CHÚNG TA NGỦ.

Anh vẫn ở đó, đánh dấu các gốc cây, khi Mimi ra ngoài ăn trưa. Tức giận giống như một ván bài giữa giờ ăn trưa, được cô chơi một mình trong khi ăn sandwich trứng và ớt trên chiếc ghế dài trong khu vườn Thiền mới bị đốn này. Từ sau cuộc phá hoại trong đêm, cô đã gọi nhiều cuộc điện thoại, tham gia một cuộc gặp gỡ người dân quan trọng, và nói chuyện với hai luật sư, cả hai đều khuyên nhủ cô rằng công chính là một chuyện hoang đường. Ra ngoài ăn trưa là cứu cánh duy nhất của cô, nhìn chăm chú những gốc cây mới và nhai ngấu nghiến nỗi giận dũ của cô. Cô thấy người đàn ông đang bò dưới đất hí hoáy lên gốc cây bị đốn và cảm thấy bùng nổ. “Anh đang làm cái gì thế?”

Douggie nhìn lên người phụ nữ có ngoại hình giống cô gái tên là Lalida làm trong quán bar ở Patpong mà anh đã từng yêu hơn cả sinh mạng. Một phụ nữ đáng để vượt mọi trở ngại để đến gần bên. Cô tiến tới, đe dọa anh với cây thương là miếng sandwich.

“Tàn sát chúng còn chưa đủ sao? Anh còn phải bôi bẩn chúng à?”

Anh bỏ đồ ra khỏi tay, rồi chỉ vào các con chữ trên một gốc cây. Cô dừng lại nhìn - các vòng gỗ hàng năm được đánh dấu ngược vào trung tâm của bề mặt. Năm mà bố cô đã thổi tung não của ông bay khắp sân sau. Năm cô tốt nghiệp đại học và có công việc chết tiệt này. Năm mà bố cô cho xem cuộn tranh. Năm cô chào đời. Năm bố cô tới học ở Viện Kỹ thuật Carnegie vĩ đại. Và trong vòng ngoài cùng, có ghi chú: BỊ CẮT TRONG KHI CHÚNG TA NGỦ.

Cô liếc nhìn lại người đàn ông đang quỳ gối. “Ôi, Chúa ơi. Tôi rất xin lỗi. Tôi đã nghĩ anh là… tôi đã suýt đá vào mặt anh.”

“Những gã làm việc này đã hơn hẳn cô việc đó.”

“Sao cơ. Anh đã ở đây lúc đó?” Cặp mày cô cau lại khi cô ước tính ứng suất đàn hồi. “Nếu tôi đã ở đó, tôi hẳn đã đánh họ.”

“Các cây lớn đổ xuống khắp nơi.”

“Phải. Mà đây là công viên của tôi. Bánh mì mỗi ngày của tôi.”

“Cô biết đấy, chúng ta nhìn những dãy núi kia, và chúng ta nghĩ: Sự văn minh hóa sẽ biến mất, nhưng thứ đó sẽ tiếp tục mãi mãi. Chỉ có điều, văn minh không đang khụt khịt như con bò non dùng hormone tăng trưởng, và những dãy núi đang đổ xuống.”

“Tôi đã nói chuyện với hai luật sư. Không có luật nào bị vi phạm cả.”

“Tất nhiên là không rồi. Những con người sai trái luôn có mọi quyền.”

“Anh có thể làm gì?”

Ánh mắt của người đàn ông điên rồ liên láo. Anh trông giống như vị la hán thứ mười hai, thú vị với sự ngu ngốc trước tất cả dục vọng của con người. Anh do dự. “Tôi có thể tin cô được không? Ý tôi là, cô không ở đây để ăn cắp thận của tôi hay gì đó chứ?”

Cô cười phá lên, và đó là tất cả những gì anh cần để tin cô.

“Thế thì nghe đây. Cô không tình cờ có ba trăm đô ở đâu đó chứ? Hoặc có thể là một chiếc xe có thể đi?”

NHÀ BRINKMANS HÌNH THÀNH THÓI QUEN ĐỌC SÁCH, khi họ riêng tư bên nhau. Và, bên nhau, họ một mình trong phần lớn thời gian. Nhà hát cộng đồng đã kết thúc; họ đã không diễn thêm vở kịch nào nữa kể từ vở mà sau đó họ nói chuyện về đứa trẻ không tồn tại. Họ chưa bao giờ nói thành lời với nhau rằng những năm tháng biểu diễn của họ đã qua rồi. Không cần lời hội thoại nào.

Ở nơi đáng lẽ của trẻ con, giờ là sách. Trong thị hiếu đọc của họ, mỗi người thành thật với những giấc mơ thời trẻ của mình. Ray thích thoáng nhìn vào đại dự án của sự văn minh hóa tiến dần lên tới định mệnh vẫn còn chưa rõ của nó. Ông chỉ thích đọc, trong đêm muộn, về việc tăng chất lượng cuộc sống, sự giải phóng không ngừng đối với con người thông qua sự phát minh, sự phá vỡ của bí quyết cuối cùng sẽ cứu giống loài. Dorothy cần những khai phá rộng hơn, những câu chuyện không có ý tưởng và chìm trong các bản thể địa phương. Sự cứu chuộc của cô gần gũi, nóng hổi, và cá nhân. Nó dựa trên một khả năng của con người có thể gọi là dù sao thì, để làm một thứ nhỏ có vẻ như vượt trên họ, và trong một khoảnh khắc, phá vỡ sự kìm kẹp của thời gian.

Các giá sách của Ray sắp xếp theo chủ đề; các giá sách của Dorothy xếp theo thứ tự tên tác giả. Anh thích những cuốn sách thời thượng với những bản quyền mới tinh. Cô cần giao lưu với những tâm hồn xa lạ đã chết từ lâu càng khác với cô càng tốt. Mỗi lần Ray bắt đầu đọc, anh phải đọc từ đầu tới cuối, dù sự mê mải đó mệt nhọc tới thế nào. Dorothy thì thoải mái bỏ qua triết lý của tác giả để đến với những khoảnh khắc khi mà một nhân vật, thường là nhân vật gây bất ngờ nhất, chạm đến sâu trong lòng cô và tốt hơn bản chất của cô cho phép.

Cuộc đời ở độ tuổi bốn mươi của họ. Một khi bất cứ tập sách nào đó đến nhà họ, nó có thể không bao giờ rời đi. Đối với Ray, mục đích là đọc: một cuốn sách cho một mục đích vô định. Dorothy nỗ lực để giữ cho các hiệu sách độc lập địa phương phát triển và cứu những viên ngọc quý bị lãng quên khỏi quầy giảm giá. Ray nghĩ: Ta không bao giờ biết được có khi cuối cùng ta lại phải loay hoay đọc cuốn sách ta đã chọn từ năm năm trước. Còn Dorothy nghĩ: Một ngày nào đó ta sẽ cần lấy xuống một tập sách cũ kỹ và lật tôi khổ ở cuối một trang bên tay phải, cách trang cuối mười trang, mà khiến ta ngập tràn nỗi đau ngọt ngào và tàn nhẫn.

Sự chuyển đổi từ nhà sang thư viện của họ diễn ra quá chậm để có thể thấy. Những cuốn sách không phù hợp thì cô đặt ở hai bên, trên đỉnh của các hàng đã có sẵn. Như thế làm gãy các gáy sách và khiến anh phát điên. Trong một thời gian, họ giải quyết vấn đề đó bằng cách lắp đặt thêm đồ đạc. Một đôi giá sách gỗ anh đào đặt giữa các cửa sổ trong phòng làm việc dưới cầu thang của anh. Một cái kệ lớn gỗ óc chó ở phòng khách, trong không gian vốn dĩ dành riêng cho kệ ti vi. Giá sách gỗ Thích đặt trong phòng khách. Anh nói, “Như thế sẽ giúp chúng ta yên ổn một thời gian.” Cô bật cười, biết rõ, từ mọi cuốn tiểu thuyết cô từng đọc, một thời gian có thể là một thời gian ngắn đến thế nào.

Mẹ Dorothy qua đời. Họ không thể chịu được nếu bỏ đi dù chỉ một tập trong các cuốn sách của người phụ nữ quá cố này. Thế nên họ thêm chúng vào một bộ sưu tập mà hẳn sẽ là nỗi ghen tị của các vị vua. Dorothy tìm được Trọn bộ tiểu thuyết Waverly của Walter Scott với giá rất hời trong một hiệu sách cũ dưới phố. “Một nghìn tám trăm tám mươi hai! Nhìn mấy cái bìa lót phía sau tuyệt đẹp này mà xem. Thác Marble.”

“Em biết chúng ta có thể làm gì không?” Ray tung ý tưởng đó ra trên đường đến quầy thanh toán. Bên cạnh bộ sách của Scott, anh thả xuống một cuốn The Age of Intelligent Machines - Thời đại của những cỗ máy thông minh. “Bức tường bẩn thỉu của cái phòng ngủ nhỏ trên lầu ấy mà. Chúng ta đã có thể thuê một người thợ mộc thiết kế mấy cái giá âm tường.”

Những kế hoạch mà họ từng có cho căn phòng đó giờ đây dường như cũ kỹ hơn bất cứ thứ gì trên giá của họ. Cô gật đầu và cố mỉm cười, với xuống đáy sâu trong lòng cô để tìm lấy một từ. Cô không biết từ đó là gì. Cô thậm chí không biết rằng đó là điều cô đang làm. Dù sao thì. Từ đó là dù sao thì.

HỌ CÓ MỘT TRÒ ĐÙA CỐ HỮU, vào dịp Giáng sinh, một trò đùa đã luôn sẵn không phải là trò đùa, ngay khi thực hiện. Món quà họ đưa cho nhau phải là một sự biến đổi có ý đồ hàng năm đó. Năm nay, anh tặng cô cuốn Fifty Ideas That Changed the World - Năm mươi ý tưởng thay đổi thế giới.

“Anh yêu! Có ý nghĩa quá!”

“Đã thay đổi anh rõ ràng.”

Anh sẽ chẳng bao giờ thay đổi, cô nghĩ, rồi hôn lên bên cạnh môi anh. Rồi cô đến với phần thuộc nghi lễ của mình: một ấn bản mới có chú thích của Bốn tiểu thuyết vĩ đại của Jane Austen.

“Dorothy, em yêu. Em đọc được tâm trí anh!”

“Anh biết đấy, anh đã có thể thử đọc bà ấy, một trong những năm này.”

Anh đã thử đọc bà ta, từ nhiều năm trước, và suýt nghẹt thở mà chết vì cảm giác ngột ngạt. Họ dành cả kỳ nghỉ cuộn mình trong áo choàng dài, mỗi người đọc món quà mà người kia mua cho. Vào đêm trước năm mới, họ cố gắng để thức đến nửa đêm. Họ nằm trên giường, bên cạnh nhau, chân áp chân, nhưng các bàn tay giữ chặt những trang giấy trước mặt họ. Buồn ngủ rục, anh đọc cùng một đoạn cả chục lần; các câu từ trở thành những thứ hỗn độn, giống như những hạt giống có cánh chao liệng trong không khí.

“Chúc mừng năm mới,” anh nói, khi quả cầu trên quảng trường Thời đại cuối cùng cũng rơi. “Sống sót thêm một năm nữa chứ?”

Họ rót những thứ sủi bọt đã chờ sẵn bên cạnh giường lên đá lạnh. Cô chạm ly, uống, rồi nói, “Năm nay chúng ta nên đi đâu đó một chuyến.”

Các giá sách đã chất đầy các giải pháp từ trước đó, mua rồi chất lên giá. Nấu món Ấn không để mồ hôi. Một trăm cuộc đi bộ ở Greater Yellowstone. Một hướng dẫn thực địa về các loài chim ở miền Đông. Đến với hoa dại miền Đông. Những cung đường xa lạ ở châu Âu. Thái Lan huyền bí. Các sách hướng dẫn ủ bia và làm rượu. Những văn bản ngôn ngữ nước ngoài chưa thể giải mã. Tất cả những khám phá đây đó để họ thử và hoang phí. Họ đã sống như những vị thần phù phiếm hay quên.

“Một thứ gì đó đe dọa cuộc sống,” cô nói. “Em chỉ mới đang nghĩ như thế.”

“Hay là chúng ta chạy marathon.”

“Em… có thể là huấn luyện viên của anh. Hoặc gì đó.”

“Một việc gì đó chúng ta có thể làm cùng nhau. Bằng phi công thì sao?”

“Có thể,” anh nói, mê man vì mệt mỏi. “Ờ.” Anh đặt kính xuống và vỗ lên đùi.

“Ừ. Thêm một trang nữa rồi tắt điện nhé?”

CÔ SA VÀO nỗi thống khổ thực sự của những sinh vật sống trong tưởng tượng. Cô nằm bất động, cố không đánh thức anh với tiếng nức nở của mình. Cái gì đây, đang bóp nghẹt trái tim mình, như thể nó có ý nghĩa nào đó? Cái gì mang cho nơi vờ vĩnh này nhiều sức mạnh như thế rồi phủ chụp lên tôi. Đơn giản là thế này: cái nhìn thoáng qua của ai đó nhìn thấy cái gì đó mà cô đã không thể thấy. Một ai đó thậm chí không biết cô đã được tạo tác ra, vẫn đang trong trò chơi đối diện với một tình huống không thể tránh được.

VÌ LÝ DO NÀO ĐÓ khi dịp kỷ niệm ngày kết hôn đến, nhà Brinkman lại quên trồng một cái gì đó.

RÙNG Gỗ ĐỎ khiến họ không thể thốt nên lời. Nick lái xe đi trong yên lặng. Ngay cả những cây chưa phát triển hết cũng giống như những thiên thần. Và khi, sau mấy dặm, họ đi qua một cây khổng lồ, chìa ra cành vút lên cao đầu tiên ở cách mặt đất bốn mươi feet, to bằng hầu hết những cái cây ở miền Đông, anh biết rằng: từ cây phải phát triển lên, thành thực. Thứ khiến anh nín thở không phải là kích cỡ của cái cây, hoặc ít nhất là không chỉ là kích cỡ. Mà đó là sự hoàn hảo của những rãnh thân cây như những thức cột Doric màu nâu đỏ, chĩa thẳng lên từ tầng rêu và dương xỉ cao ngang vai người - vút lên thẳng tắp, không vuốt nhọn, giống như một vị thần lực lưỡng mang màu huyết dụ. Và khi các cột đó bắt đầu tạo tán, nó diễn ra ở trên rất cao, xa khỏi bệ đõ của những thân cột đó, đến nỗi nó có thể là một thế giới thứ hai ở trên cao kia, trên chốn gần hơn với vĩnh hằng.

Tất cả sự khích động của hành trình này trỗi lên trong Olivia. Giống như thể cô đã sẵn biết nơi này, mặc dù cô chưa bao giờ tới phía Tây của công viên Six Flags Over Mid-America. Đến con đường hẹp qua cánh rừng ven biển, cô kêu to, “Dừng xe lại.”

Anh tấp xe vào một chỗ đỗ ven đường với lá thông dày cả tấc. Cửa xe mở ra và không khí mang mùi hăng hắc ngọt ngào. Cô rảo bước từ phía ghế ngồi bên cạnh ghế lái vào một khoảng rừng toàn những cây khổng lồ. Khi anh đi đến với cô, gương mặt cô lem nhem vệt nước và đôi mắt cô đỏ ngầu ầng ậc bởi niềm vui sướng. Cô lắc lắc đầu, đầy ngờ vực. “Chính là nó. Chính là chúng. Chúng ta tới đây rồi.”

KHÔNG KHÓ ĐỂ TÌM THAY những người bảo vệ rừng. Các nhóm khác nhau đang được tổ chức trên khắp Lost Coast. Hầu như ngày nào cũng có một thông báo về hành động nào đó trên các báo địa phương. Nick và Olivia cắm trại trong xe sống tạm qua mấy ngày, đánh giá xem ai là ai trong một tập đoàn những kẻ du thủ du thực sống tạm bợ và một tổ chức hoạt động tùy hứng, nói giảm là như thế.

Họ tìm hiểu về một khu cắm trại tình nguyện trong những bãi đất bùn lầy của những người lính nghỉ hưu đầy thương cảm, cách Solace không xa. Những tập đoàn người cắm trại với nhiều hoạt động hơn là sự cố kết. Những người trẻ nhanh nhẹn, lớn tiếng về sự tận hiến của họ, kêu gọi khắp thảo nguyên với những căn lều rải rác. Mũi, tai, lông mày của họ loang loáng đồ mỹ ký. Những cuộn tóc tết rối rắm cùng những thớ vải trên từng trang phục màu mè của họ. Họ bốc mùi của đất, mồ hôi, chủ nghĩa lý tưởng, dầu hoắc hương, và cây gai dầu mọc khắp trong những cánh rừng này. Một số người ở khoảng hai ngày. Một số, đánh giá theo số nấm mốc trên người họ, hẳn đã ở khu trại này nhiều hơn một vài mùa.

Khu trại này là một trong những trung tâm thần kinh của một phong trào hỗn loạn không có lãnh đạo mà phần lớn hoạt động với cái tên là Lực lượng Bảo vệ Sự sống. Nick và Olivia thám thính các bãi đất, nói chuyện với mọi người. Họ chia sẻ một bữa tối có trứng và đậu với người đàn ông lớn tuổi hơn họ tên là Moses. Anh ta, về phần mình, cũng đặt câu hỏi và thăm dò họ, đảm bảo với bản thân rằng họ không phải là những kẻ do thám đến từ công ty đất rừng Weyerhaeuser hoặc công ty đồ gỗ Boise Cascade hay một lực lượng còn sát sao hơn trong những lĩnh vục này, công ty xẻ gỗ Humboldt Timber.

“Làm sao để chúng ta được… giao việc?” Nick hỏi.

Từ đó khiến Moses cười phá lên. “Không có sự giao việc ở đây. Nhưng không bao giờ hết việc.”

Họ nấu ăn cho hàng chục người và giúp rửa dọn sau khi ăn xong. Có một cuộc tuần hành vào ngày hôm sau. Nick viết chữ cho các bảng biểu còn Olivia tham gia hò hét phụ hoạ. Một phụ nữ tóc đỏ rực, áo kẻ sọc, trông như con diều hâu đi lướt qua khu trại, choàng một chiếc khăn đan. Olivia chộp lấy Nick. “Bà ấy đấy. Người phụ nữ trên chương trình tivi tôi thấy ở Indiana.” Con người mà các hiện thân của ánh sáng muốn cô tìm đến.

Moses gật đầu. “Đó mà Mẹ N. Bà ấy có thể biến một cái loa thành một cây đàn vi-ô-lông xtrat.”

Khi trời sáng, Mẹ N tổ chức buổi nói chuyện định hướng trên một bãi đất trống gần lều của Moses. Bà lướt mắt khắp các vòng những con người đang ngồi, nhận ra các cựu chiến binh và chào đón những người mới đến. “Thật tốt để nhìn thấy rất nhiều bạn vẫn còn ở đây vào cuối mùa đông như thế này. Trước đây, rất nhiều người đã về nhà vào mùa đông, khi những cơn mưa tạm dừng các chương trình khai thác gỗ cho tới mùa xuân. Nhưng Humboldt Timber đã bắt đầu làm việc quanh năm.”

Tiếng rì rào dâng lên trong đám đông.

“Họ đang cố chặt thật nhiều trước khi luật pháp đuổi kịp họ. Nhưng họ đã không tính tới tất cả các bạn!”

Một niềm vui ùa ra như một con sóng bạc bao trùm lấy Nicholas. Anh quay sang Olivia và nắm lấy bàn tay cô. Cô siết tay anh, như thể đây không phải là lần đầu tiên anh chạm vào cô trong niềm vui sướng. Cô cười rạng rỡ, và Nick ngạc nhiên thêm lần nữa trước sự tin chắc của cô. Cô đã đưa họ tới chuyến đi xa ngần này bằng cảm nhận - nhiệt tình lên, hướng này, nhiệt tình lên - những lời hướng dẫn thì thầm từ những hiện thân mà cô có thể nghe thấy. Và giờ họ ở đây, giống như họ đã biết mình sẽ đến đâu từ bấy lâu nay.

“Rất nhiều người trong số” các bạn đã ở ngoài này một thời gian,” Mẹ N nói tiếp. “Rất nhiều công việc hữu ích! Canh gác. Nhà hát du kích. Biểu tình ôn hòa.”

Moses xoa xoa cái đầu cạo trọc của anh và hét to, “Giờ thì chúng ta khiến họ phải biết kính sọ Chúa trời.”

Tiếng reo hò tăng lên gấp đôi. Cả Mẹ N cũng mỉm cười. “À, có thể thế! Nhưng LDF thực sự đề cao không bạo lực. Với những người mới đến trong các bạn, chúng tôi muốn các bạn tham gia huấn luyện kháng chiến thụ động và cam kết thực hiện luật không bạo động trước khi tham gia bất cứ hành động trực tiếp nào. Chúng ta không dung thứ cho những sự phá hoại tài sản công khai…”

Moses hét lên, “Nhưng bà sẽ ngạc nhiên khi biết một chút xi măng đóng vữa nhanh có thể làm gì trong chớp mắt.”

Khóe môi của Mẹ N cong lên. “Chúng ta là một phần của một quá trình rất dài, rất rộng, trên toàn thế giới. Nếu những người phụ nữ Chipko ở Ấn độ có thể để bản thân họ bị đe dọa và đánh đập, nếu những người da đỏ Kayapo ở Brazil có thể đặt cuộc sống của họ giữa lằn ranh, thì chúng ta cũng có thể.”

Trời mưa lây phây. Nick và Olivia hầu như không để ý.

“Hầu hết các bạn đã biết rõ về công ty Humboldt Timber. Với những ai chưa biết thì, họ là công ty gia đình đã có gần một thế kỷ. Họ điều khiển thành phố công ty (company town) tối tân ở đất nước này và trả những phúc lợi khổng lồ. Hệ thống tiền hưu trí của họ vô cùng dư dả. Họ chăm sóc cho người của họ và hiếm khi thuê những người du thực. Quan trọng nhất, họ đốn cây có chọn lọc, để có một nguồn lợi mà họ có thể duy trì mãi mãi.

“Vì họ chặt những cây già từ tù, họ vẫn sẽ có nhiều tỉ board foot[5] gỗ mềm trên khắp hành tinh, rất lâu sau khi các đối thủ của họ trên khắp dọc bờ đất nước này đang bước vào suy thoái. Hai trăm nghìn mẫu rừng - bốn mươi phần trăm của vùng rừng già còn lại. Nhưng giá cổ phiếu của HT tăng chậm so với các công ty mà đang tối đa hóa lợi nhuận đó. Điều đó, theo các quy tắc của chủ nghĩa tư bản, có nghĩa là một ai đó phải đến và chỉ cho những người kinh doanh lâu đời nghề này hiểu bằng cách nào để điều hành doanh nghiệp. Các bạn còn nhớ Henry Hanson, Vua Trái phiếu rủi ro cao chứ? Gã đã bị bỏ từ năm ngoái vì gian lận tài chính chứ. Ông ta đã đặt ra một thỏa thuận. Một gã bạn của ông ta chuyên mua lại công ty đã thực hiện trò ăn cướp này, trên khắp cả phố Wall. Mưu mẹo, thực sự: bạn đổ tiền mặt huy động được từ trái phiếu vào một công ty thu mua đối thủ, rồi bán khoản nợ đó cho các khoản tiết kiệm và nợ của bạn, điều mà chắc chắn trong giới sẽ giải cứu. Rồi bạn thế chấp toàn bộ công ty để trả nợ cho khoản tiền nực cười đó, cướp từ quỹ hưu trí, sử dụng các khoản dự trữ, bán đi mọi thứ có giá trị, và bán tháo đi những thứ vô giá trị còn lại sau khi phá sản. Thần kỳ! Sự ăn cướp mà từ đó trả thêm nữa cho bạn để ăn cướp.

“Lúc này họ bước vào giai đoạn ngay trước khi hạ màn đó: bán tháo hết tất cả những mảnh gỗ bán được còn trong kho của họ. Điều này trong trường hợp này có nghĩa là rất nhiều những cây bảy trăm, tám trăm tuổi. Những cây to hơn giấc mơ của các bạn đang đi vào Nhà máy B và đi ra là những tấm ván. Humboldt đang đốn gấp bốn lần tốc độ của ngành này. Và họ đang tăng tốc, trước khi luật pháp có thể đuổi kịp họ.”

Nick quay sang Olivia. Cô gái trẻ hơn anh rất nhiều tuổi, nhưng anh đã bắt đầu thường nhìn cô để tìm những lời giải thích. Gương mặt cô tĩnh lặng và đôi mắt nhắm nghiền đau đớn. Nước mắt lăn xuống hai gò má cô.

“Rõ ràng, chúng ta không thể ngồi chờ luật pháp. Một Humboldt Timber mới và hiệu quả hơn sẽ giết hết toàn bộ những cây khổng lồ trước khi luật pháp đuổi kịp họ. Thế nên đây là câu hỏi tôi hỏi từng người trong các bạn. Bạn có thể mang tới điều gì cho nỗ lực này? Chúng ta sẽ nhận bất cứ điều gì bạn trao cho. Thời gian. Nỗ lực. Tiền mặt. Tiền mặt hiệu quả đến bất ngờ!”

Tiếng vỗ tay và tán thưởng kết lại buổi nói chuyện của bà, và mọi người lui về bên bữa súp đậu lăng đã được nấu trên những ngọn lửa trại. Olivia hỗ trợ nấu nướng, cô là người đã từng thường chôm thức ăn trong tủ lạnh của đám bạn cùng nhà hơn là nấu chút nước pha mì ramen. Nick cảm nhận thấy những con người ở rừng này, những người đã không tắm suốt nhiều tuần, cố tỏ ra thờ ơ khi cô phục vụ cho họ, như thể một nữ thần cây vừa rơi xuống cánh đồng này bên cạnh họ.

Một nhóm dưới sự chỉ huy của người đàn ông tên là Râu Đen quay trở lại từ một cuộc đột kích phá hủy động cơ của chiếc xe ủi đất D8 đang đỗ với xi rô ngô mang theo. Mặt họ lấp lánh vẻ mãn nguyện trong ánh sáng bập bùng của lửa trại. Họ định ra ngoài tiếp, sau khi trời tối, để kiểm tra sự canh thức ban đêm của công ty này đối với các máy móc lớn hơn ở phía xa hơn trên đồi.

“Tôi không thích tội phạm quyền sở hữu,” Mẹ N nói. “Tôi thực sự không thích.”

Moses cười phá lên trước lời của bà. “Không có tài sản có giá trị nào bị phá hủy ngoại trừ những cánh rừng này cả. Chúng ta đang trong một cuộc chiến tranh làm hao mòn dần dần. Chúng ta giữ chân các đội cưa gỗ trong vài giờ, rồi họ sẽ sửa chữa máy móc. Nhưng trong lúc đó, họ đánh mất thời gian và đô la.

Râu Đen nhìn chằm chằm vào ngọn lửa. “Humboldt mới chính là tội phạm quyền sở hữu. Thế mà chúng ta phải đối xử tử tế sao?”

Hơn hai chục tình nguyện viên bắt đầu nói chuyện rôm rả với nhau. Sau nhiều năm ở vùng nông thôn Iowa, Nick giống như một đứa trẻ lớn lên bên một cái radio bé tí lần đầu tiên được trực tiếp nghe giao hưởng. Anh đã đến với một giáo phái cây từ cổ đại, giống với một thứ mà anh từng đọc được trong những đêm đông trong cuốn bách khoa toàn thư của gia tộc Hoel. Sự tôn sùng cây sồi trong miếu thờ của Dodona, những khu rừng nhỏ của các tu sĩ Celts cổ đại ở Britain và Gaul, tục sùng bái hoa sakaki trong Thần đạo Nhật Bản, những cây ước nguyện treo đầy trang sức của Ấn Độ, cây bông gòn của người Maya, cây sung dâu của người Ai Cập, cây ngân quả thiêng của người Trung Hoa - tất cả những cành cây của tôn giáo đầu tiên trên thế giới. Một thập kỷ phác họa đầy ám ảnh của anh đã thực hành cho bất kể là loại nghệ thuật nào mà tín ngưỡng ngày đã yêu cầu anh.

Olivia vươn tới. “Anh không sao chứ?” Câu trả lời của anh nằm trong nụ cười rộng tới mang tai.

Nhóm tấn công sẵn sàng quay trở ra bên ngoài. Râu Đen, Lá Kim, Người Ăn Rêu, và Mặc Khải: những chiến binh đấu tranh cho cây cọ, cây nguyện quế, cây ô liu.

“Chờ chút,” Nick nói với họ. “Thử thứ này xem.” Anh bảo họ ngồi xuống một chiếc ghế gập trong ánh lửa bập bùng, trong khi anh vẽ gương mặt của họ. Anh nhúng một cây cọ vào trong hộp mủ cây màu xanh mà một phụ nữ tên là Tinkerbell thường dùng để viết các banner.

Anh theo các đường viền sọ của họ, những đường cong của trán và đường nhô của gò má, tìm lối đến bằng những đường xoáy và xoắn ốc, những ký ức phóng khoáng siêu thực của những hình xăm Tā-moko của người Maori. Những chiếc áo phông nhuộm cột và những khuôn mặt vẽ hoa văn: mang hiệu ứng thực sự kinh khủng. Những kẻ biệt kích trong đêm đứng lên và trầm trồ lẫn nhau. Có một thứ gì đó ùa vào trong họ; họ trở thành những sinh thể khác, được khắc họa và được biến đổi, tràn đầy sức mạnh từ những tín hiệu cổ xưa.

“Jesus H! Thứ này sẽ khiến bọn chúng sợ chết khiếp.”

Moses gật gù trước tác phẩm thủ công của gã mới đến này. “Tốt lắm. Chúng ta muốn họ nghĩ chúng ta nguy hiểm.”

Olivia đến phía sau Nick trong cảm giác tự hào. Cô ôm hai bàn tay vào bắp tay anh. Cô không hề biết điều đó có tác động ra sao tới anh, sau những ngày cùng nhau trên chuyến xe xuyên đất nước, những đêm bên cạnh nhau trong những cái túi ngủ dày cộp. Cũng có thể là cô biết, mà chẳng bận tâm. “Đẹp quá,” cô thì thầm.

Anh nhún vai. “Cũng chẳng có gì đặc biệt hữu ích.”

“Rất cần thiết. Tôi tin chắc là như thế.”

Đêm đó họ đặt cho nhau những cái tên của rừng, trong cơn mưa nhè nhẹ của những cây gỗ đỏ, trên chiếc thảm lá kim. Trò chơi lúc đầu có vẻ rất trẻ con. Nhưng thật ra tất cả nghệ thuật đều trẻ con, tất cả việc kể chuyện, hy vọng và sợ hãi của con người. Tại sao họ lại không nên mang tên mới cho công việc mới này chứ? Cây cối mang hàng chục bảng tên khác nhau. Có Texas buckeye, Spanish buckeye, false buckeye, và Monillo, tất cả cùng là tên của cây dẻ ngựa. Những cây với các tên phung phí như hạt giống của cây phong. Sung dâu là buttonwood, cũng là plane tree, cũng là sycamore: giống như một người đàn ông với một ngăn kéo đầy ắp hộ chiếu giả. Cây chanh có nơi là lime, lại có nơi là linden, Tilia khi chỉ chung cả chi Đoạn, nhưng lại là basswood khi đã là gỗ xẻ hoặc mật ong. Hai mươi tám cái tên cho chỉ riêng cây thông lá dài.

Olivia quan sát Nick trong bóng tối, cách xa ngọn lửa. Cô nheo mắt tìm dấu vết xem nên gọi anh là gì. Vuốt tóc anh ra sau tai, nghiêng cằm anh trong đôi tay lạnh của cô. “Người canh gác. Nghe có hợp không? Anh là Người Canh Gác của tôi.”

Người quan sát, người đứng xem. Người bảo vệ tương lai. Anh cười tươi, khám phá ra.

“Giờ anh đặt tên cho tôi đi!”

Anh với tay ra lấy một ngón tay đầy thứ như bột mì mà chẳng mấy chốc sẽ không bao giờ nhẹ hơn bùn đó. Nó bay tung ra dưới những ngón tay anh. “Bạch Quả.”

“Thứ đó có thật không vậy?”

Nó là, anh nói với cô, tên khác của một loài hóa thạch sống, có sớm hơn những loài cây nở hoa, sớm ngang với những cây lá kim sớm nhất, là cây bản địa trong một thời gian, trong thượng nguồn sông suối, biến mất hàng triệu năm, rồi sau đó trở lại trong dạng được nuôi trồng. Một loài cây có từ khỏi thủy của các loài cây.

CÔ CUỘN NGƯỜI quay lưng về phía anh trong căn lều tam giác khi họ đi ngủ, giữ an toàn khỏi bất cứ gần gũi nào hơn sự nhiệt tình của hầu hết trong số rất nhiều người tình nguyện khác. Anh nằm nhìn chằm chằm vào lưng cô, sự nhẹ nhàng dâng lên hạ xuống của mạng sườn của cô. Chiếc áo phông cô dùng làm đồ ngủ trượt xuống khỏi bò vai, để lộ một hình xăm dọc theo xương bả vai cô, một dòng chữ uốn lượn: Một sự thay đổi đang đến.

Anh nằm im thin thít, một vị sư gây tê tại chỗ. Anh đếm tiếng trống ngực thình thịch vang lên trong tai cho tới khi cơn sóng yếu dần chìm vào giấc ngủ. Khi anh thiếp đi, một ý nghĩ rối ren chao đảo trong anh. Con người từ hành tinh khác sẽ thắc mắc có vấn đề gì với tên ở Trái Đất này thế, tại sao lại đặt rất nhiều tên cho cùng một thứ. Nhưng lúc này anh đang nằm đây, bên cạnh người bạn mà anh mới biết mấy ngày, như gặp lại nhau sau rất nhiều kiếp. Nick và Olivia, Người Canh Gác và Bạch Quả - bộ tứ hoàn hảo - mở ra vào một đêm tháng Một, dưới những cột cây cao bất tận của rừng gỗ đỏ ven biển, những cây Hồng sam bất tử.

PATRICIA WESTERFOR NGỒI TRÊN chiếc ghế dựa bên cái bàn bằng gỗ thông, cây bút trong không trung, lắng tai nghe tiếng rỉ rả của côn trùng. Gần mười một giờ mà cô vẫn không có gì - không một câu nào mà cô không phải sửa cho tới chết. Gió len qua cửa sổ, mang theo mùi của đất mục và cây tuyết tùng. Mùi hương đó làm dấy lên nỗi mong nhớ thẳm sâu, xưa cũ dường như không có đối tượng cụ thể nào. Rừng đang gọi, và cô phải đi.

Cả mùa đông, cô vật lộn để miêu tả niềm vui trong công việc của cuộc đời mình và những khám phá mà đã được củng cố trong mấy năm vừa qua: cách các cây nói chuyện với nhau, trên không trung và dưới lòng đất. Cách chúng chăm sóc và cho nhau ăn, những hành động chia sẻ phối hợp qua đất đai được kết nối với nhau. Cách chúng xây dựng các hệ thống miễn dịch rộng như cả khu rừng. Cô dành một chương để mô tả chi tiết cách một khúc gỗ chết mang lại sự sống cho vô số loài khác. Loại bỏ thân cây đổ đó thì sẽ giết chim gõ kiến mà luôn để mắt tới những con mọt ngũ cốc vốn có thể giết chết các cây khác. Cô miêu tả các quả hạch và các chùm hoa, chùy và tổng bao mà một người có thể đi qua suốt cả đời và không hề để ý thấy. Cô nói về cách những cây tổng quán sủi hình nón thu hoạch vàng. Một cây hồ đào mới cao một inch có rễ dài tới sáu feet. Lớp vỏ bên trong của cây bạch dương có thể nuôi sống người sắp chết đói. Một dải hoa của cây trăn chứa tới mấy triệu hạt phấn hoa. Ngư dân bản địa dùng lá cây óc chó vò nát để nhử và bắt cá. Cây liễu có thể làm sạch dioxin, các hợp chất PCB, và kim loại nặng trong đất.

Cô chỉ ra cách mà sợi nấm - vô số dặm sợi gấp khúc trong mỗi thìa đất - dỗ dành các rễ cây trồi trên mặt đất và kết nối với chúng. Cách các sợi nấm ràng cuốn đó cung cấp chất khoáng cho cây. Cách cây trả công cho những vật nuôi dưỡng này bằng đường, thứ mà nấm không thể tự tạo ra.

Một điều gì đó rất kỳ diệu đang diễn ra trong lòng đất, một điều gì đó chúng ta chỉ mới đang học cách xem xét. Những tấm thảm của những sợi nấm mycorrhizal liên kết với cây thành những cộng đồng thông minh, khổng lồ trải rộng khắp hàng trăm mẫu đất. Cùng nhau, chúng hình thành các mạng lưới trao đổi rộng lớn cửa hàng hoá, dịch vụ, và thông tin…

Không có cá thể đơn độc ở trong rừng, không có sự kiện riêng rẽ. Con chim và cành cây nó đậu lên là một thứ quyện hòa. Một phần ba hoặc nhiều hơn cửa sổ thức ăn mà một cái cây to tạo ra có thể nuôi các sinh thể khác. Ngay cả các loài cây khác nhau cũng hình thành các mối quan hệ liên kết. Chặt một cây bạch dương, thì một cây linh sam Douglas gần đó cũng có thể bị ảnh hưởng…

Trong những khu rừng lớn ở miền Đông, sồi và mại châu đồng bộ hóa sự sản xuất hạt của chúng để chống lại các con vật ăn chúng. Lời nói lan đi, và các cây của một loài cụ thể nào đó - bất kể chúng đứng giữa nắng hay trong bóng râm, vùng khô hay vùng ướt - chịu đựng khổ sở hoặc không hề như vậy, cùng nhau, như một cộng đồng…

Các khu rừng sửa chữa và định hình bản thân chúng thông qua các tiếp hợp dưới lòng đất. Và trong sự hình thành bản thân chúng, chúng cũng hình thành mười nghìn sinh thể liên đới khác mà nên từ bên trong chúng. Có lẽ sẽ hữu ích khi nghĩ về rừng như sự trải rộng vô tận, phân nhánh, dưới những cây khổng lồ.

Cô nói về cách một cây du giúp khởi đầu Cách mạng Mỹ. Cách một cây mesquite năm trăm năm tuổi mọc giữa một trong những sa mạc khô cằn nhất hành tinh. Cách một bóng cây dẻ ngựa ngoài cửa sổ mang lại hy vọng cho Anne Frank, dù trong cuộc ẩn náu vô vọng. Cách các hạt bay lên trời rồi rơi xuống đâm chồi nảy lộc khắp Trái Đất. Cách thế giới là nơi cư ngụ của những sinh vật kỳ diệu mà không ai biết. Con người phải mất nhiều thế kỷ để hiểu được cây cối rõ như những người bản địa từng hiểu.

Chồng cô sống trong thành phố cách đó mười bốn dặm. Họ gặp nhau mỗi ngày một lần, cho những bữa trưa mà Dennis làm từ nguyên liệu mùa nào thức nấy. Cả ngày và cả đêm dài, những người bên cô là cây cối, và phương tiện trò chuyện duy nhất của cô với chúng là những lời nói, các bộ phận của kẻ đến sau sống bằng năng lượng mà cây cối tạo ra.

Các bài tạp chí đã luôn rất khó khăn. Những năm cô sống như kẻ bị ruồng bỏ ngoài xã hội, trở lại với cô mỗi khi cô viết bài, ngay cả khi cô chỉ là một trong số hàng chục đồng tác giả. Cô thậm chí cảm thấy càng căng thẳng hơn khi viết bài cùng những người khác. Cô thà nghỉ hưu sớm lần nữa chứ không muốn khiến những người đồng nghiệp đáng yêu này phải chịu đựng điều gì giống như cô đã từng phải chịu đựng. Tuy nhiên ngay cả các bài tạp chí cũng là một cuộc đi dạo trong rừng nếu so sánh với việc viết cho công chúng. Các tờ báo khoa học đặt trong các phòng lưu trữ, những vấn đề mà phần lớn mọi người chẳng quan tâm. Nhưng cuốn sách thử thách này: Cô chắc chắn sẽ bị chế giễu và hiểu nhầm trên truyền thông. Và cô sẽ không bao giờ xúng đáng với những gì mà nhà xuất bản đã trả cho cô.

Suốt cả mùa đông dài cô đã cố gắng xoay xở tìm cách để nói với một người xa lạ tất cả mọi điều cô biết. Những tháng trời đó là địa ngục, nhưng cũng là thiên đường. Chẳng bao lâu, thiên đường như địa ngục này sẽ kết thúc. Trong tháng Tám, cô sẽ đóng phòng thí nghiệm hiện trường của cô, đóng gói các thiết bị, và di chuyển tất cả các mẫu nghiên cứu tỉ mỉ của cô tới bờ biết, tới trường đại học đó nơi mà cô sẽ - thật không thể tin được - bắt đầu giảng dạy trở lại.

Câu chữ khước từ đến với cô, đêm nay. Cô nên cứ thế đi ngủ, và xem các giấc mơ sẽ nói điều gì. Nhưng thay vì thế, cô ngẩng đầu lên để nhìn vào chiếc đồng hồ trong bếp phía trên chiếc tủ lạnh cũ kỹ xộc xệch, vẫn còn thời gian cho một cuốc đi bộ lúc nửa đêm xuống chỗ hồ nước.

Các cây vân sam gần ngôi nhà gỗ rì rào những lời tiên ma quái dưới mặt trăng gần tròn vạnh. Có một đường thẳng nối chúng, ký ức về một hàng rào đã biến mất nơi những con chim crossbill màu đỏ từng thích đậu và ị ra những hạt giống. Những cây đó rất bận rộn trong đêm nay, điều hòa carbon trong thời gian đen tối của chúng. Chẳng bao lâu nữa tất cả sẽ nở hoa: việt quất và lý chua, cẩm cù, nho Oregon thân cao, cỏ thi và checkermallow. Cô lại ngạc nhiên một lần nữa về cách mà sự thông minh siêu việt của hành tinh có thể khám phá ra các phép tính và các luật hấp dẫn của vũ trụ trước khi con người biết được ý nghĩa tồn tại của một loài hoa.

Đêm nay các cây đang sinh trưởng đó đều ướt đẫm và u ám như tâm trí đầy ngôn từ của cô. Cô tìm thấy con đường mòn đó và chui dưới những cây Pseudotsuga - linh sam Duglas yêu thích của cô. Một con đường nhỏ dưới những thân cây đồ sộ được thắp sáng bởi ánh trăng cuối đông, một con đường mà hầu như đêm nào cô cũng dạo bước, đi ra đi về như một câu thơ đọc xuôi đọc ngược như nhau: La ruta nos aportó otro paso natural - Con đường mang cho thiên nhiên thêm một lối đi. Nhiều hợp chất bay hơi chưa được xếp loại mà lá kim tỏa ra không khí ban đêm làm nhịp tim cô chậm lại, làm hơi thở cô dịu đi, và, nếu cô đúng, thậm chí còn điều chỉnh cả tâm trạng và suy nghĩ của cô. Rất nhiều chất trong thuốc của rừng mà chưa ai có thể định danh. Các hóa chất phân tử mạnh trong vỏ cây, ruột cây, lá cây, những thứ mà tác động của chúng vẫn chưa được khám phá. Một họ các hormone đau khổ (distress hormones) được dùng bởi các cây của cô - jasmonate - cung cấp cơ sỏ cho tất cả các loại nước hoa nữ tính mà mang lại sự bí ẩn và quyến rũ. Ngửi em đi, yêu em đi, em đang đau khổ. Nhiều đau khổ hơn mà cô có ý định kể với độc giả trong cuốn sách nhỏ của mình. Đau khổ, giống như bầu khí quyển, tỏa đi khắp nơi, trong những dòng chảy vượt trên sức mạnh của con người để có thể dự đoán hay điều khiển.

Cô bước ra bãi đất trống cạnh hồ nước. Bầu trời sao lấp lánh hiện ra trên đầu cô, tất cả giải thích mà con người cần cho câu hỏi tại sao con người có chiến tranh giành giật rừng mãi mãi. Dennis từng nói với cô rằng những người đốn rừng hay nói: Nào chúng ta hãy cho cái vùng đầm lầy đó tí ánh sáng nào. Rừng sợ con người. Quá nhiều thứ diễn ra ngoài đó. Con người cần một bầu trời.

Chỗ ngồi quen thuộc của cô để trống và đang chờ đợi - khúc cây đổ phủ dày rêu bên cạnh bờ hồ. Khoảnh khắc cô nhìn ra mặt hồ lăn tăn gợn sóng đó, đầu cô quang đãng và cô thấy được lối đi mà mình đã theo đuổi. Cô đã tìm kiếm một cái tên cho những thân cây cổ xưa vĩ đại của khu rừng còn nguyên vẹn này, những thân cây đã giữ cho thị trường carbon và các chất chuyển hóa tiếp tục. Lúc này cô có một cái:

Nấm đào đá để cung cấp hóa chất cho các cây của chúng. Chúng săn bọ đuôi bật, dùng để nuôi vật chủ của chúng. Cây, về phần mình, dự trữ thêm đường trong các khớp tiếp hợp với nấm, để ban cho những sợi bị ốm, bị che khuất, hoặc bị thương. Rừng tự chăm sóc bản thân nó, thậm chí còn xây dựng một khí hậu bản địa mà nó cần để sống sót.

Trước khi chết, một cây linh sam Douglas, nửa thiên niên kỷ tuổi, sẽ gửi kho dự trữ các hóa chất của nó xuống trở lại rễ và lan ra cho các đối tác nấm, tặng của cải của nó vào quỹ vốn chung của cộng đồng trong một di chúc cuối cùng. Chúng ta cũng có thể gọi những nhà hảo tâm cổ xưa này là cây ban tặng.

Công chúng đọc sách cần một cụm từ như thế để khiến sự thần diệu này trực quan, rõ ràng hơn một chút. Đó là một điều mà cô đã học được từ rất lâu, từ cha cô: con người hiểu những thứ giống với họ hơn. Cây ban tặng là một thứ mà bất cứ người hào phóng nào có thể hiểu và yêu thích. Và với ba chữ này, Patricia Westerford dán lại định mệnh của cô và chuyển vào tương lai. Thậm chí cả tương lai của các loài cây.

BUỔI SÁNG, cô khoát nước lạnh lên mặt, cô làm một hỗn hợp quả mọng và hạt lanh, uống trong khi đọc các trang đã viết ngày hôm qua, rồi ngồi bên chiếc bàn gỗ thông, thề không đứng dậy cho tới khi cô có một chương đáng để cho Dennis nghe vào bữa trưa. Mùi của cây bút chì làm từ gỗ tuyết tùng đỏ khiến cô phấn chấn. Sự ấn nhẹ đầu bút bằng than chì trên mặt giấy gợi cô nghĩ tới sự bốc hơi đều đặn mang hàng trăm gallon nước lên cao hàng trăm feet trên thân một cây linh sam Douglas khổng lồ mỗi ngày. Hành động đơn độc ngồi bên trang giấy và chờ cho bàn tay di chuyển này có thể gần nhất với mức cô sẽ đạt được trong sự giác ngộ về cây.

Chương cuối cùng trốn tránh cô. Cô cần một cú đánh cược ba thứ bất khả hàng đầu: hy vọng, có ích, và ngay thật. Cô có thể dùng Old Tjikko, cây vân sam Na Uy sống ở khoảng giữa của dọc chiều dài Thuỵ Điển. Phần trên mặt đất, cây chỉ vào khoảng vài trăm năm tuổi. Nhưng phía dưới, trong lòng đất lỗ chỗ vi trùng, cái cây vươn về quá khúc chín nghìn năm hoặc hơn - già hơn hàng nghìn năm so với mẩu viết mà cô dùng để nắm bắt nó.

Suốt buổi sáng, cô cố để ép huyền thoại Bắc Âu chín nghìn năm tuổi này vào mười câu: một đoàn các thân cây đã ngã xuống và mọc trở lại từ cùng chính gốc cây đó. Đó là hy vọng mà cô theo đuổi. Sự thật là một cái gì đó tàn nhẫn hơn. Cuối buổi sáng, cô tiến được tới hiện tại, khi mà, lần đầu tiên hơn bao giờ hết, bầu không khí nhân tạo mới vỗ về nuôi dưỡng thân cây mới nhất trong những thân cây thường còi cọc lụi tàn trong tuyết của Old Tjikko thành một cây phát triển hết mức.

Nhưng hy vọng và sự thật chẳng có ích gì với con người, nếu không có ích lợi. Trong những câu chữ nguệch ngoạc, vụng về, cô tìm kiếm công dụng của Old Tjikko, lên đến ngọn cây cằn cỗi đó, tàn lụi và hồi sinh bất tận trong từng biến đổi của khí hậu. Ích lợi của nó là chỉ ra rằng thế giới được tạo tác không phải để dành cho sự vị lợi của chúng ta. Chúng ta có ích lợi gì, cho cây? Cô nhớ lại những lời của Phật: Cây là một thứ kỳ diệu mà có thể che chở, cho thức ăn, và bảo vệ tất cả các sinh vật. Nó thậm chí còn tặng bóng mát cho những kẻ tiều phu đến phá hủy nó. Và với những lời này, cô kết thúc cuốn sách của mình.

DENNIS ĐẾN VÀO BUỔI TRƯA, đáng tin cậy như cơn mưa, mang theo mỳ nướng kiểu Ý kèm súp lơ và hạnh nhân, bữa trưa tuyệt phẩm mới nhất của ông. Cô nghĩ, như vài lần mỗi tuần, rằng thật may mắn khi được trải qua những năm tháng hạnh phúc này kết hôn với người đàn ông duy nhất trên Trái Đất chấp nhận cho người vợ dành phần lớn thời gian ở một mình. Một Dennis dũng cảm, kiên nhẫn, và tốt bụng. Ông bảo vệ công việc của cô và đòi hỏi rất ít. Trong trái tim của một người đàn ông tháo vát, ông biết rõ người đàn ông thực sự được đánh giá bởi rất ít điều. Và ông hào phóng, nhiệt tình như cỏ.

Khi họ ăn bữa tiệc của Dennis, cô đọc cho ông nghe phần nợ ông hôm nay về Old Tjikko. Ông lắng nghe, ngạc nhiên, giống như một đứa trẻ hạnh phúc lắng nghe thần thoại Hy Lạp. Cô kết thúc. Ông vỗ tay. “Ôi, em yêu. Hay lắm.” Một điều gì đó sâu thẳm trong tâm hồn xanh non của cô thích được là em yêu già nhất thế gian. “Anh ghét phải nói với em điều này, nhưng anh nghĩ em xong rồi.”

Nghe thật đáng sợ, nhưng ông đúng. Cô thở dài và nhìn chăm chú ra ngoài cửa sổ gian bếp, nơi ba con quạ đang lên kế hoạch tỉ mỉ để tấn công cái thùng ủ phân trộn. “Thế bây giờ em phải làm gì?”

Ông cười vang như thể cô đã nói điều gì rất buồn cười. “Em đánh máy lại rồi chúng ta sẽ gửi đến các nhà xuất bản. Trong vòng bốn tháng.”

“Em không thể.”

“Tại sao không?”

“Mọi thứ đều sai. Bắt đầu từ cái nhan đề.”

“Nhan đề Cây sẽ cứu thế giới như thế nào thì làm sao? Cây sẽ không cứu thế giới được à?”

“Em tin chắc là có. Sau khi thế giới hất chúng ta đi.”

Ông cười khục và gói mấy cái đĩa bẩn lại. Ông sẽ đưa chúng về nhà, ở đó có bồn rửa sâu, lọc rác, và nước nóng. Ông nhìn cô qua gian bếp. “Đặt tên nó là Sự cứu rỗi rừng. Như thế em sẽ không phải làm rõ ai đang cứu cái gì.”

“Em thực sự yêu anh.”

“Đã có ai nói em không như thế sao? Nghe này. Em yêu. Đây nên là niềm vui đơn thuần. Nói cho mọi người nghe về niềm vui vĩ đại của cuộc đời em.”

“Anh biết đấy, Den. Lần trước khi em trong con mắt soi xét của công chúng, mọi việc không suôn sẻ lắm.”

Ông khoát tay vào không trung. “Đó là một cuộc đời khác.”

“Bầy đoàn. Không phải là họ đã muốn bác bỏ em. Họ muốn máu!”

“Nhưng em đã được giải oan. Hết lần này qua lần khác.”

Cô muốn nói với ông điều cô chưa bao giờ đề cập: nỗi đau của những năm tháng đó lớn tới nỗi cô đã nấu cho mình một bữa tiệc tạ thế từ rừng. Nhưng cô không thể. Cô quá xấu hổ về cô gái đã chết từ lâu đó. Một phần trong cô không bao giờ còn hoàn toàn tin rằng cô có thể nghĩ tới việc trải qua một chặng đường như thế nữa. Nhà hát bị khước từ.

Một cuộc chơi. Thế nên cô che giấu điều duy nhất mà cô từng giữ kín với ông - chuyện cô đã đưa nấm độc vào sát miệng mình.

“Em yêu. Em là một nhà tiên tri thực sự, của thời nay.”

“Em cũng đã trải qua nhiều năm bị ruồng bỏ. Nhà tiên tri nghe vui hơn nhiều đấy.”

Cô giúp ông mang đĩa bát bẩn ra xe.

“Em yêu anh, Den.”

“Làm ơn đừng nói thế nữa. Em đang làm anh sợ đấy.”

CÔ ĐÁNH MÁY BẢN THẢO. Cô tỉa đi một số chữ và gọt bớt một số đoạn văn. Lúc này đến chương có tên là “Cây ban tặng”, viết về những cây linh sam Duglas yêu thích của cô và tình trạng phúc lợi ngầm của chúng. Cô chu du qua khắp các khu rừng trong đất nước, từ những cây dương cottonwood cao hết cỡ tới một trăm feet trong vòng một thập kỷ cho tới những cây thông bristlecone chết từ từ trong suốt năm nghìn năm. Rồi tới thư viện, nơi tất cả cảm giác căng thẳng trút sạch khỏi cô ngay lúc cô trả tiền cước phí và gửi bản thảo đến bờ kia đất nước.

SÁU TUẦN SAU, điện thoại ở phòng làm việc của cô reo lên. Cô ghét điện thoại. Tâm thần phân liệt khiến tay co rút. Những giọng nói lạ thì thầm với ta từ xa. Chẳng có ai gọi cô mà không phải vì những việc không vui. Đó là người biên tập của cô, người mà cô chưa bao giờ gặp, từ thành phố New York, một thành phố mà cô chưa bao giờ thấy. “Cô Patricia ạ? Cuốn sách của cô. Tôi vừa đọc nó xong!”

Patricia nhăn mặt, chờ một nhát rìu. “Không thể tin được. Ai mà biết được cây có thể trở thành tất cả những thứ đó nhỉ?”

“À. Mấy trăm triệu năm tiến hóa cho chúng ta một bản danh sách.”

“Cô làm cho chúng sống.”

“Thực ra, chúng đã sống sẵn rồi.” Nhưng Patricia đang nghĩ về cuốn sách mà bố cô đưa cho vào năm cô mười bốn tuổi. Cô nhận ra rằng cô phải tặng cuốn sách này cho cha cô. Và cho chồng cô. Và cho tất cả những con người sẽ, đến lúc, chuyển hóa thành những thứ khác.

“Patty, cô không tin được là cô đã giúp tôi thấy điều gì đâu, giữa bến tàu điện ngầm và văn phòng của tôi. Phần về cây ban tặng ấy mà? Thật sự kinh ngạc. Chúng tôi đã không trả đủ cho cô cho thứ này.”

“Các bạn đã trả cho tôi nhiều hơn tôi kiếm được trong suốt năm năm qua.”

“Cô sẽ kiếm được chừng đó nữa trong vòng hai tháng.”

Thứ mà Patricia Westerford muốn có lại là sự một mình, sự ẩn danh của cô, những thứ mà cô bắt đầu cảm thấy - như cây cối có thể cảm thấy một cuộc tấn công hẵng còn rất xa - sẽ không bao giờ còn là của cô nữa.

DESTINY - ĐỊNH MỆNH ĐẾN, và không quay đầu lại. Hai tháng sau khi phát hành ở Bắc Mỹ trò chơi đó, chủ tịch, CEO, và cổ đông chính của Sempervirens khởi động một bản trên cỗ máy khủng, trong căn hộ phía trên trụ sở mới sáng choang của công ty nằm ở dưới chân đồi trên Page Mill Road. Toàn bộ đều là gỗ đỏ và kính - một sân chơi với những không gian trầm tư, cổ quái. Những góc kỳ lạ bao quanh các tâm nhĩ thông khí trồng những cây thông đá Italia khổng lồ. Làm việc trong góc riêng của bạn thì chẳng khác gì đi cắm trại ở công viên quốc gia.

Nơi ẩn náu của Neelay được giấu trên cao, phía trên tòa nhà hình tổ ong này. Cách duy nhất lên đó là bằng thang máy cái nhân, ẩn phía sau khoảng cầu thang thoát hiểm. Ở chính giữa của căn phòng ẩn mật đó là một chiếc giường bệnh phức hợp. Neelay hầu như không bao giờ dùng nó nữa. Bốn mươi phút để nằm xuống và ra khỏi đó; cảm giác quả thực như cái chết, trong những ngày này, dù chỉ là nằm xuống. Không có thời gian. Anh ngủ luôn trên ghế, hiếm khi quá bốn mươi phút mỗi lần. Các ý tưởng tra tấn anh giống như các nữ thần báo thù Furies. Các kế hoạch và các đốt phá cho thế giới đang diễn tiến của anh rượt đuổi anh khắp thiên hà một cách không khoan nhượng.

Anh ngồi trước một màn hình khổng lồ đặt trên mặt bàn làm việc cao đủ để lăn xe vào bên dưới. Qua màn hình đó, một bức kính bao trọn không gian hé lộ cả đinh núi Monte Bello. lam nhìn này, và những dải sao lấp lánh khắp cửa kính trần nhà ban đêm, tạo ra hầu hết những hành trình viễn du của Neelay.

Những cuộc đột kích của anh giống các cuộc đột kích thời nay - thám hiểm xuống hai bờ của những vùng đất rộng ban đầu bị che khuất trong sương mù rồi sau đó mở ra vào cuộc khám phá. Anh thiết kế các nền tảng của trò chơi, viết mã với tỉ lệ hợp lý, và dành nhiều tháng thực hiện khắp các đường hướng khả dĩ của nó. Destiny lẽ ra không có sức để làm anh ngạc nhiên hơn nữa; nhưng nó lại không ngừng khiến mạch máu anh đập nhanh hơn. Với một cú nhấp chuột, mấy lần gõ phí, và anh lại đối diện với lục địa nguyên sơ tiếp theo.

Thực ra, game này rất tệ. Nó hai chiều - không mùi, không xúc giác, không vị, không cảm nhận. Nó nhỏ bé và sần sùi, với một mô hình thế giới tối giản như Genesis trong Kinh Cựu ước. Nhưng nó cắm rễ sâu vào thân não anh mỗi khi anh bật nó lên. Các bản đồ, khí hậu, và các tài nguyên rải rác đều như mới, trong mỗi lần đăng nhập. Đối thủ của anh có thể là Kẻ xâm chiêm, Chủ thầu, hoặc Nhà kỹ trị, Kẻ sùng bái tự nhiên, Kẻ hà tiện, Nhà nhân đạo, hay các Nhà không tưởng cấp tiến. Không có gì giống với một nơi từng tồn tại. Nhưng đến đó lại giống như trở về nhà. Tâm trí anh đã chờ đợi một sân chơi như thế từ rất lâu trước khi anh rơi từ cái cây phản bội của mình.

Hôm nay anh chọn làm một Nhà hiền triết. Tin đồn đang lan khắp các bảng thông báo truy cập quay số từ Mỹ đến châu Âu, về một chiến lược chiến thắng áp đảo mà những người chơi gọi là Khai sáng. Các thủ lĩnh cấp cao nhất đang thức đẩy để toàn bộ tiếp cận này bị ngăn cản. Nhưng ngay cả với tư cách một Nhà hiền triết, anh phải có đủ than, vàng, quặng, đá, gỗ, thức ăn, danh dự, và vinh quang để trả cho sự phát triển của dân chúng của anh. Anh phải khám phá địa hình xa lạ, hình thành các tuyến đường thương mại, và đột kích các khu định cư xung quanh, tìm đường dọc theo các cây phân nhánh của anh cho Văn hoá, Thủ công, Kinh tế, và Kỹ thuật. Trò chơi này đưa ra gần như nhiều lựa chọn như trong Real Life - Đời Thực, hoặc, như nhân viên của anh từng gọi nó, hơi giễu cợt: RL. Sáng nay các đồ họa trông hơi lởm chởm nếu so với Destiny 2, đã có sẵn trong xưởng sản xuất. Nhưng các đồ họa không bao giờ có nhiều ý nghĩa đối với Neelay. Thú hiển thị chỉ là placeholder của những khao khát thực. Tất cả những gì anh và nửa triệu người chơi Destiny khác cần là sự thay đổi định dạng dễ dàng và vô tận, trong một vương quốc sẽ phát triển mãi mãi.

Có cái gì đó thắt lại trong anh. Anh mất mấy phút để nhận ra cảm giác đó là cơn đói. Anh nên ăn, nhưng ăn là một quá trình dài. Anh lăn xe lại cái tủ lạnh nhỏ và lấy một chai nước tăng lực cùng với thứ gì đó mà sau mới nhận ra là chiếc bánh nhồi nhân gà, thứ mà anh nuốt luôn không cần nướng lại. Đêm nay và ngày mai anh sẽ ăn một bữa tử tế. Anh đang xếp một chồng ván gỗ bách từ đội tiều phu giỏi nhất của mình vào trong một con voi ma mút thì điện thoại reo. Cuộc gặp buổi sáng của anh với một nhà báo, người muốn phỏng vấn ngôi sao đang lên của nền công nghiệp non trẻ này, cậu bé vẫn đang trong độ tuổi hai mươi, người đã làm một ngôi nhà cho rất nhiều cậu bé không nhà.

Người phóng viên này có vẻ không già hơn đối tượng của anh ta là bao, và tỏ ra sững sờ. “Ông Mehta?”

Ông Mehta là bố anh, người mà Neelay đã sắp xếp cho ở trong một lâu đài nhỏ bên ngoài Cupertino với đầy đủ hồ bơi, rạp chiếu phim trong nhà, và cái ao bên cạnh là một điện thờ bằng gỗ hồng mộc, nơi bà Mehta làm lễ puja hằng tuần để cầu nguyện thánh thần mang đến cho con trai bà niềm hạnh phúc và một cô gái mà sẽ nhìn nhận cậu như chính con người cậu.

Một hình ảnh phản chiếu trên tấm kính nhìn lên như thách thức anh: một con bọ ngựa khẳng khiu màu nâu với các khớp xương phồng ra và đầu là cái khung sọ khổng lồ bọc da. “Gọi tôi là Neelay.”

“Ô, Chúa ơi. Vâng. Ôi! Neelay. Tôi là Chris. Cảm ơn đã nói chuyện. Thế, đầu tiên tôi muốn hỏi: Từ đầu anh có biết Destiny sẽ thành công vang dội như thế này không?”

Neelay đã biết, rất lâu trước khi game được tung ra thị trường. Anh đã biết từ cái khoảnh khắc anh có ý tưởng này, dưới cái cây bát ngát khổng lồ rì rào trong đêm đó, phía trên Skyline. “Có lẽ. Có. Phiên bản beta đã khiến cả công ty treo máy. Quản lý dự án của tôi đã phải thực hiện một lệnh ngăn cản.”

“Ôi trời. Anh có doanh số bán hàng không?”

“Hiện nay đang bán rất tốt. Ở mười bốn nước.”

“Vì sao anh nghĩ ra ý tưởng này?”

Thành công của game này rất đơn giản. Nó là bản sao chép hữu lý của nơi mà Neelay từng hình dung năm lên bảy tuổi, khi bố anh lần đầu tiên lắc lư bưng cái hộp các tông to đùng lên bậc tam cấp của căn hộ. Nào, Neelay-ji. Xem sinh vật bé nhỏ này có thể làm được gì nào? Thứ mà cậu bé đó đã muốn cái hộp màu đen đó làm rất đơn giản: đưa cậu trở lại thời của huyền thoại và nguyên sơ, khi tất cả những nơi một con người có thể tới đều dẻo dai xanh mướt, và cuộc đời có thể vẫn chẳng là gì cả.

“Tôi không biết. Có những nguyên tắc đơn giản. Thế giới hồi đáp ta. Mọi thứ xảy ra nhanh hơn trong cuộc đời. Ta có thể quan sát đế chế của ta lớn mạnh.”

“Tôi… Tôi phải thứ nhận với anh. Tôi thực sự say mê! Đêm qua, lúc cuối cùng tôi cũng đành ngừng chơi là bốn giờ sáng. Tôi chỉ cần nhìn thấy điều gì sẽ xảy ra với một bước nữa. Thế rồi khi tôi đứng dậy khỏi màn hình, cả phòng ngủ của tôi quay cuồng chao đảo.”

“Tôi hiểu cảm giác của anh.” Vì Neelay cũng như thế. Ngoại trừ phần đứng dậy.

“Anh có nghĩ nó đang thay đổi trí não của những người chơi nó?”

“Có, Chris. Và cả với mọi thứ nữa, tôi nghĩ thế.”

“Anh đã đọc bài báo tuần trước trên Times về nghiện game chưa? Mọi người đang dành năm mươi tiếng mỗi tuần cho video game?”

“Destiny không phải một video game. Đó là một trò chơi tư tưởng.”

“Được rồi. Nhưng anh phải thừa nhận, rất nhiều thời gian lao động hiệu quả đang bị lãng phí.”

“Game này rõ ràng là tiêu thụ cuộc đời.” Anh nghe thấy một dấu hỏi bật ra từ một bong bóng suy nghĩ ở phía bên kia đầu dây. “Giết thời gian.”

“Anh có nghĩ ngợi gì không, khi là một người phá hoại sự lao động hiệu quả?”

Neelay nhìn chăm chăm ra dải núi đã bị đốn trọc từ nửa thế kỷ trước.

“Tôi không nghĩ… Có lẽ cũng không quá tệ, khi phá hủy một sự lao động hiệu quả nhỏ nhoi.”

“Hừm. Được rồi. Dù sao, trò chơi đó đang giết cuộc đời nhỏ bé của tôi đây. Tôi cứ liên tục gặp những thứ không có trong cuốn hướng dẫn trò chơi một trăm hai mươi tám trang đó.”

“Phải rồi. Đó là một phần của thứ giúp giữ chân người chơi.”

“Một khi đã vào game, tôi cảm thấy mình có một mục tiêu. Luôn có thêm điều gì đó để làm.”

Phải, ôi, chính thế, Neelay muốn nói với mình. An toàn và dễ hiểu, không có đầm lầy của sự mơ hồ nào nuốt bạn xuống, không có bóng tối giữa người với người, và ý chí của riêng bạn sẽ nhận được mảnh đất xứng đáng của nó. Gọi là ý nghĩa. “Tôi nghĩ rất nhiều người cảm thấy có mái ấm hơn, khi ở đó. Hơn cả khi họ ở ngoài này.”

“Có thể! Ít nhất là rất nhiều gã ở tuổi tôi.”

“Vâng. Nhưng chúng tôi đang lên kế hoạch cho tất cả các loại vai mới cho phiên bản tiếp theo. Các cách chơi game mới. Những con đường khả dĩ cho tất cả mọi loại người. Chúng tôi muốn nó là nơi đẹp đẽ cho tất cả mọi người.”

“Ồ. Tốt. Điều đó rất ấn tượng. Thế tiếp theo công ty sẽ làm gì?”

Công ty đang trượt khỏi tầm kiểm soát của Neelay. Các đội và các quản lý hình thành một cây tổ chức mà anh không thể theo dõi. Các nhà phát triển tốt nhất ở Thung Lũng gõ cửa hằng ngày, muốn đình công. Các kỹ sư phần mềm trên đường Route 128 quanh Boston, nhiều sinh viên mới tốt nghiệp gần đây từ Georgia Tech và Carnegie Mellon - những bộ não hình thành từ thời thơ ấu bằng các game mà Neelay thường cho miễn phí - xin anh cho cơ hội giúp sắp xếp cuộc chuyển cư quy mô lớn đang diễn ra bấy lâu nay.

“Ước gì tôi có thể nói với anh.”

Chris rên rỉ. “Nếu tôi nài nỉ anh thì sao?”

Giọng nói của anh ta có đầy đủ sự tự tin của một người đàn ông khỏe mạnh, có thể đi lại. Có thể là cả da trắng và đẹp trai. Sự quyến rũ và lạc quan của một chàng trai vẫn chưa biết tới điều người ta có thể làm với người khác, với những sinh thể khác, khi mà những kinh sợ, tổn thương và dục vọng xuất hiện.

“À, đơn giản thôi, thực sự đấy. Thêm mọi thứ. Thêm ngạc nhiên. Thêm khả năng. Thêm nơi chốn, với thêm nhiều sinh vật hơn. Tưởng tượng Destiny xem, sau khi nó tăng gấp đôi sự giàu có và sự phức tạp lên bốn mươi lần. Chúng ta thậm chí không thể biết một nơi như thế có thể trông như thế nào.” Tất cả từ một hạt giống lớn đến thế này.

“Ôi. Điều đó thật kỳ diệu. Thật… đẹp!”

Một cái gì đó đâm vào lòng Neelay. Anh muốn hỏi: Hỏi tôi lại xem. Vẫn còn nữa đấy.

“Tôi có thể hỏi về anh được không?”

Mạch của Neelay đập mạnh, giống như anh đang cố để nâng mình lên trên các vòng treo tập thể dục. Làm ơn, không. Xin đừng. “Tất nhiên.”

“Tôi đã đọc khá nhiều câu chuyện về anh. Các nhân viên của chính anh gọi anh là một người ẩn dật.”

“Tôi không phải người ẩn dật. Chỉ là - chân tôi không hoạt động.”

“Tôi đã đọc về điều đó. Anh điều hành công ty bằng cách nào?”

“Điện thoại. Email. Tin nhắn Online.”

“Tại sao không có bức ảnh nào về anh?”

“Vì không đẹp.”

Câu trả lời khiến Chris bối rối. Neelay muốn nói: Không sao. Đó chỉ là RL.

“Anh có cảm thấy lớn lên là con của những người di cư…”

“Ồ, tôi không thấy thế. Có lẽ vậy, không.”

“Không, cái gì cơ?”

“Tôi không nghĩ điều đó đã có quá nhiều ảnh hưởng lên tôi.”

“Nhưng… là một người Mỹ gốc Ấn thì như thế nào? Anh không cảm thấy…”

“Đây là điều tôi nghĩ. Tôi đã là Gandhi và Hitler và Chief Joseph. Tôi đã đánh những thanh trường kiếm trong khi mặc bộ bikini lưới mà, nói thẳng thì, nó chẳng cho tôi sự bảo vệ đến thế!”

Chris bật cười. Tiếng cười đẹp đẽ, tự tin. Neelay không quan tâm người đàn ông ấy trông thế nào. Anh không quan tâm kể cả khi anh ta nặng bốn trăm pound và miệng đầy vết lở. Khao khát ùa lên trong anh. Anh có muốn lúc nào đó đi ra ngoài cùng nhau không? Nhưng đi ra ngoài hẳn sẽ có nghĩa là đi vào trong. Không cần phải làm gì hết. Không có gì có thể làm thì đúng hơn. Tất cả đã mất hết rồi. Chúng ta có thể chỉ… ngồi cùng nhau ở đâu đó, nói về tất cả mọi điều, không sợ hãi, không tổn thương, không hệ quả. Chỉ ngồi và nói về chuyện con người đang đi về đâu.

Bất khả. Chỉ cần nhìn một cái vào đôi chân kỳ cục của Neelay thì ngay cả nhà báo tự tin hay cười này cũng sẽ thấy ghê tởm. Nhưng anh chàng Chris này - anh ta yêu game của Neelay. Anh ta chơi nó thâu đêm suốt sáng. Code mà Neelay đã viết đang thay đổi bộ não của con người khác này.

“Đúng là như thế đấy. Tôi đã là rất nhiều thứ. Tôi đã sống qua tất cả. Ở châu Phi thời Đồ Đá và trên viền ngoài của những thiên hà khác. Tôi nghĩ rằng chẳng bao lâu nữa - không phải ngay lập tức, nhưng sớm thôi - nếu phần mềm cứ tiếp tục tốt lên và cho chúng ta thêm khoảng trống, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ có thể biến chúng ta thành bất cứ thứ gì chúng ta muốn.”

“Điều đó… nghe có vẻ hơi ở ngoài đời thực.”

“Phải. Có thể là như thế.”

“Game thì không… Con người vẫn sẽ muốn tiền. Họ vẫn sẽ muốn danh tiếng và địa vị xã hội. Chính trị. Điều đó là mãi mãi.”

“Phải. Mãi mãi ư? Có thể lắm.” Neelay nhìn chằm chằm vào màn hình, một thế giới đang trở nên khó khăn, nơi địa vị xã hội sẽ được tích luỹ hoàn toàn bằng phiếu bầu trong một không gian mà đã từng khẩn thiết, toàn diện, ẩn danh, thực tế, và tàn nhẫn.

“Con người vẫn có cơ thể. Họ muốn quyền lực thực sự. Bạn bè và người yêu. Phần thưởng. Sự công nhận.”

“Tất nhiên rồi. Nhưng chẳng bao lâu chúng ta sẽ mang tất cả những thứ đó trong khắp các túi của chúng ta. Chúng ta sẽ sống và trao đổi và thương thảo và có những cuộc tình, tất cả trong không gian biểu tượng. Thế giới sẽ là một trò chơi, với những điểm số trên màn hình. Và tất cả thứ này sao?” Anh khoát tay, như người ta thường làm trên điện thoại, dù biết Chris không thể nhìn thấy anh. “Tất cả những thứ mà anh nói là con người thực sự muốn? Đời thực? Chẳng bao lâu nữa chúng ta thậm chí sẽ không nhớ nó đã từng như thế nào.”

MỘT CHIẾC XE HƯỚNG LÊN PHÍA BẮC trên đường cao tốc 36. Impala, chạy rất nhanh khi lên dốc. Xuống con dốc dài đó, hàng chục cái thùng màu đen trên đường chặn lối phía trước. Quan tài. Người lái xe phanh rồi tấp xe vào một chỗ đỗ cách đám tang tập thể vài mét. Trên không trung bên trên các quan tài, trên một sợi dây cáp vắt ngang nối giữa hai cái cây to như hai ngọn hải đăng, một con sư tử núi cái đang trèo. Một bộ đai nịt ôm quanh vòng hông màu nâu sẫm của nó, được treo bởi cái móc nối vào dây an toàn. Đuôi của nó phe phẩy giữa hai cái đùi sau mập mạp, còn cái đầu nhiều ria, quý phái của nó ưỡn ra trên cố khi nó quan sát một tấm biểu ngũ được treo vào thân mình. Chiếc xe thứ hai đi tới từ phía Nam. Rabbit, phanh gấp và dừng lại trước đống quan tài. Nó bấm còi hai lần, trước khi người tài xế để ý thấy con báo sư tử. Cảnh tượng thật lạ lùng, ngay cả ở vùng đất kỳ ảo này, đến nỗi người lái xe hạnh phúc trố mắt nhìn suốt một hồi lâu. Con vật trẻ trung, uyển chuyển, và chỉ mặc mỗi bộ đồ bó, với dòng chữ Một sự thay đổi đang đến trên vai, lộ ra từ bên dưới bộ đồ bó. Con báo vật lộn với tấm biểu ngữ; những người lái xe chờ đợi, tò mò. Một chiếc xe khác kẹt lại phía sau chiếc xe chạy hướng Bắc. Rồi một chiếc nữa.

Trên một cái bục bên đường, một con gấu đang giật một sợi dây, cố kéo tấm biểu ngữ gắn vào con báo kia giăng qua sợi dây cáp. Cái mũi và đôi mắt trũng sâu của con gấu xám mà những mảnh giấy bồi được sơn nổi bật. Hai hốc mắt nhỏ đến nỗi con gấu phải lúc lắc cái mõm to đùng của nó để thấy được bất cứ cái gì khác. Trong mấy phút tiếp theo, xe cộ bắt đầu lùi lại ở cả hai hướng. Hai người tài xế nọ ra khỏi xe. Họ tức giận nhưng không thể không phì cười với những con thú khổng lồ này. Một cú đánh vuốt của con báo sư tử và tờ giấy cuối cùng rơi xuống đất, gặp gió, rồi bay phấp phới trên đường cao tốc như một cánh buồm:

NGỪNG DÂNG HIẾN SỰ TRINH NGUYÊN

Các con chữ in đậm phủ đầy những cành dương xỉ và hoa lá ở viền của những nét viết kiểu trung đại. Những tay lái xe bị tắc đường sững sờ nhìn hồi lâu. Vài người tài xế bộc phát vỗ tay ầm ĩ. Ai đó gọi với ra từ cửa sổ mở xuống, “Anh sẽ giúp em vấn đề trinh tiết của em, em yêu!” Ở phía trên đường cao tốc, báo sư tử vẫy vẫy tay. Đám con tin ra dấu lại, bằng ngón cái hoặc ngón giữa. Cái mặt nạ hoang dại của cô, nhìn xuống từ trên cao, khuấy đảo cảm giác chao đảo cổ xưa trong ngũ tạng của những kẻ quan sát.

Một trong số những người lái xe tấn công đám quan tài. “Công việc xẻ gỗ của tôi trả tiền cho tài khoản phúc lợi của các người đấy. Dọn mấy thứ này ra khỏi đường ngay đi!” Anh ta đá vào mấy cái thùng màu đen, nhưng chúng không nhúc nhích. Từ một cái vòng đep đeo quanh cố, con báo sư tử tạo ra một tiếng huýt và thổi ba tiếng kèn. Những cái thùng mở bung ra, và các cơ thể dựng lên như thể Ngày Tận Thế. Con gấu gia tăng thêm sự hỗn độn bằng cách ném xuống những quả bom khói. Các sinh vật chui ra từ các quan tài, quấn trong những trang phục mang màu sắc của tạo hoá. Có một con nai sừng tấm với đôi gạc chìa ra như đôi cánh thiên thần. Một con sóc chuột Sonoma với những cái răng của khổng lồ. Một con chim ruồi Anna lóe lên màu hồng rực và màu đồng óng ánh. Một con kỳ nhông Thái Bình Dương khổng lồ trông ác mộng như tranh của Dalí. Một con sên chuối tròn lẳn vàng rồm rộm.

Đám tài xế bị mắc kẹt cười phá lên với màn hồi sinh của động vật. Thêm tiếng vỗ tay, và thêm một vòng chửi rủa nữa. Bầy động vật ùa ra nhảy nhót tưng bừng. Điều này khiến những người lái xe nao núng; họ đã từng trông thấy cuộc huyên náo này - muông thú chạy nhảy tung tăng theo các vòng điên loạn - ký ức lưu lại từ những trang sách được minh họa từ những cuốn sách đầu tiên họ từng miết ngón tay qua, ở cái thời mà mọi thứ còn khả dĩ và có thực. Trong sự làm sao nhãng của màn nhảy múa của bầy muông thú, con gấu và con báo sư tử tháo các đai nịt và bò xuống từ chỗ đậu của chúng. Khi đèn còi của chiếc xe cảnh sát hú lên từ phía sau đám xe tắc nghẽn, cảm giác ban đầu giống như một màn trình diễn khác. Tay cảnh sát len lỏi men lên theo mé ngoài con đường kẹt cứng, cho đám động vật nhiều rất nhiều thời gian để túa vào trong rừng. Khi họ bỏ đi như vậy, một người phụ nữ đứng tuổi và một người đàn ông đang giữ chặt camera trong tay cũng biến mất vào rừng cùng họ.

Hai ngày sau, đoạn phim được xem rầm rộ khắp cả nước. Phản ứng lan nhanh dữ dội. Những người treo biểu ngữ là những anh hùng. Họ là những tội phạm kích động náo loạn đáng bị nhốt lại. Muông thú: đúng thế. Các nghệ sĩ giả muông thú, có trí tuệ, vì cộng đồng, những người đã cố để chặn đường cao tốc trong suốt mười lăm phút và khiến nơi đó, trong một chốc, dường như rất giống với cảnh tượng hoang dã vốn có.

BỐN NĂM Ở Đại học Fortuna thu lại còn một khoảnh khắc này: Adam, trong chỗ ngồi của mình trên hàng ghế đầu, ở hội trường giảng đường Daniels. Giáo sư Rubin Rabinowski trên bục giảng - môn Tác động và Nhận thức. Bài giảng cuối cùng trước bài thi cuối, và Rabi-Man đang khảo cứu tất cả các chứng có thực nghiệm cho thấy - trước niềm hào hứng của lớp học được đăng ký vượt mức - rằng giảng dạy tâm lý học là một sự lãng phí thời gian.

“Giờ tôi sẽ cho các bạn thấy sự tự đánh giá của con người về việc họ nghĩ họ nhạy cảm như thế nào đối với hiệu ứng mở neo, sai lầm tỉ lệ cơ sở thuộc nguyên nhân, hiệu ứng sở hữu, tính hiệu lực, duy trì niềm tin vô căn cứ, sự xác nhận, tương quan ảo tưởng, tín hiệu - tất cả các thiên kiến mà các bạn đã học trong khóa học này. Đây là điểm số của nhóm kiểm soát. Còn đây là điểm của những người đã học khóa này từ các năm trước.”

Rất nhiều tiếng cười: con số cũng nhiều tương tự. Cả hai nhóm đều tự tin ở ý chí thép, tầm nhìn rõ ràng, và suy nghĩ độc lập của họ.

“Đây là những màn trình diễn trên một số đánh giá khác nhau được thiết kế để che giấu thứ mà họ đang kiểm tra. Hầu hết mọi người ở nhóm thứ hai đã làm bài kiểm tra dưới sáu tháng kể từ khi họ học khóa này.”

Tiếng cười chuyển thành tiếng rên rỉ. Mù kiến thức và thiếu lý trí, quá mức. Những người đã tốt nghiệp môn học này, cố gắng tiết kiệm năm đô la khổ sở gấp hai lần so với kiếm chỗ tiền đó. Những người đã tốt nghiệp sợ gấu, cá voi, sấm chớp, và những kẻ khủng bố hơn là họ sợ người tay tài xế xay xỉn. Tám mươi phần trăm nghĩ rằng họ thông minh hơn mức trung bình. Những người đã tốt nghiệp phóng đại một cách quá đáng số kẹo thạch đậu mà họ nghĩ có trong một cái hũ, chỉ dựa trên những phỏng đoán ngớ ngẩn của kẻ nào đó khác.

“Công việc của tâm thần là giữ cho chúng ta ngây thơ một cách hạnh phúc về chúng ta là ai, chúng ta nghĩ gì, và chúng ta sẽ ứng xử ra sao trong từng tình huống. Chúng ta đều hành động trong một màn sương mù dày đặc của những sự tăng viện lẫn nhau. Những suy nghĩ của chúng ta được định hình chủ yếu bởi các phần cứng kế thừa được phát triển để tất cả những người khác phải đúng. Nhưng ngay cả khi đám sương mù đó được làm rõ, chúng ta cũng đi qua nó một cách không hề tốt hơn.

“Thế thì tại sao, các bạn có thể hỏi, tôi lại tiếp tục nói, ở trên này? Tại sao tiếp tục, năm này qua năm khác, nhận tiền của nhà trường?”

Tiếng cười lúc này đều hòa lẫn thương cảm. Adam ngưỡng mộ nhà giáo dục đại tài này. Riêng anh, chí ít thì, anh thề, sẽ ghi nhớ bài giảng này nhiều năm nữa, và sự soi sáng của nó sẽ khiến anh khôn ngoan hơn, bất kể các nghiên cứu cho thấy điều gì. Chính anh, cuối cùng, sẽ thách thức những con số bị cáo buộc.

“Để tôi cho các bạn xem những câu trả lời do chính các bạn đã điền vào một bảng hỏi đơn giản mà tôi đã đưa ra vào hồi đầu học kỳ. Thậm chí các bạn có thể thậm chí đã quên mình từng điền nó.” Vị giáo sư liếc qua các câu trả lời thông thường và nhăn mặt. Môi ông mím lại trong cơn đau đớn. Tiếng cười rúc rích lan khắp phòng. “Các bạn có thể nhớ hoặc không nhớ rằng tôi đã hỏi các bạn liệu các bạn có nghĩ mình sẽ…” Giáo sư Rabinowski kéo kéo cái cà vạt. Ông xoay xoay cánh tay trái của mình, nhăn mặt lần nữa. “Xin lỗi một phút nhé.” Ông loạng choạng xuống bệ rồi đi ra cửa. Tiếng rì rầm lan khắp hội trường. Tiếng rầm rầm vang lại từ hành lang - một đống thùng đổ lộn nhào. Năm mươi tư sinh viên ngồi và chờ đợi phút mở thắt nút. Những âm thanh văng vẳng, nghèn nghẹn lan khắp hành lang. Nhưng không có ai nhúc nhích.

Adam đưa mắt nhìn khắp lượt các ghế phía sau anh. Sinh viên cau mày nhìn nhau hoặc bận rộn ghi chép. Anh quay lại nhìn cô gái tuyệt đẹp ngồi cách ghế của anh về phía bên trái hai ghế nãy giờ. Học dự bị y khoa (premed), tóc màu hung, xinh đẹp một cách vô thức, tập hồ sơ đầy kín các ghi chép bằng tay ngay ngắn, và anh lại nghĩ hẳn sẽ rất tuyệt nếu ngồi trong siêu thị Buckys bên một ly bia cùng cô và nói về lớp học kỳ thứ này. Nhưng học kỳ chỉ còn hai ngày nữa là kết thúc, và cơ hội cũng sắp qua đi.

Cô liếc nhìn sang phía anh, tò mò. Anh lắc lắc đầu và bất giác khóe môi mỉm cười. Anh ghé lại để thì thầm, và cô cũng làm theo. Có thể cơ hội vẫn chưa biến mất. “Kitty Genovese. Hiệu ứng bàng quan. Darley và Latané, 1968.”

“Nhưng ông ấy không sao chứ?” Hơi thở của cô mang mùi quế.

“Nhớ xem chúng ta đã phải trả lời liệu chúng ta có giúp một người mà.

Một phụ nữ hét lên từ bên dưới bảo ai đó hãy gọi xe cấp cứu. Nhưng khi nhân viên y tế đưa xe cấp cứu tới sân trường, giáo sư Rabinowski đã chết vì một cơn nhồi máu cơ tim.

“TÔI KHÔNG HIỂU,” người đẹp học dự bị y khoa nói, khi họ trong một ô bàn ở Buckys. “Nếu anh đã nghĩ ông ấy đang chứng minh hiệu ứng bàng quan, thì tại sao anh cứ ngồi yên như thế?”

Cô đang uống ly cà phê đá thứ ba, và điều này khiến Adam khó chịu. “Đó không phải là vấn đề. Câu hỏi là tại sao năm mươi ba người khác, trong đó có cô, những người đã nghĩ ông ấy lên cơn đau tim, mà lại không làm gì. Tôi đã nghĩ ông ấy đang đánh lừa chúng ta để đưa ra một vấn đề.”

“Thế thì đáng lẽ anh phải đứng lên mà chỉ ra trò lừa của ông ấy chứ!”

“Tôi đã không muốn phá hỏng màn biểu diễn.”

“Đáng lẽ anh phải đứng lên trong vòng năm giây.”

Anh đập xuống mặt bàn. “Làm thế chẳng thay đổi được cái quái gì cả!”

Cô lùi ra sau như thể anh định đánh cô. Anh ngửa hai bàn tay ra, ngả người tới xin lỗi cô, cô lại lùi ra sau. Anh khựng lại, đưa tay lên trời, chờ xem cô gái đang thu mình lại đó làm gì.

“Tôi xin lỗi. Cô nói đúng.” Bài giảng cuối cùng của giáo sư Rabinowski. Học tâm lý quả là, thực sự, rất vô dụng. Anh trả tiền đồ uống rồi rời đi. Anh không bao giờ gặp lại cô, trừ tuần sau đó, từ cách bốn hàng ghế, trong hai giờ đồng hồ, lúc làm bài thi viết cuối cùng.

ANH ĐƯỢC NHẬN học chương trình sau đại học ngành tâm lý học xã hội ở Santa Cruz. Khuôn viên trường là một khu vườn mê hoặc nằm trên một sườn đồi nhìn ra vịnh Monterey. Đó là nơi tệ nhất mà anh có thể tưởng tượng được để hoàn thành chương trình tiến sĩ - hoặc làm bất cứ công việc thực sự nào dù đó là gì. Nhưng mặt khác, đó cũng là nơi tuyệt vời để tiếp xúc liên loài vòi sư tử biển dưới bến tàu, thường trèo lên cây Sunset Tree trần trụi trong đêm, và nằm ngửa trên bãi cỏ Great Meadow, tìm kiếm một chủ đề cho luận án giữa bầu trời kín đặc sao. Sau hai năm, các sinh viên sau đại học khác thành ra hay gọi anh là Anh chàng Thiên kiến. Trong bất cứ cuộc thảo luận nào về các cơ cấu xã hội, Adam Appich, bậc thầy khoa học, sẽ luôn đưa ra nhiều nghiên cứu cho thấy sự mù quáng về nhận thức kế thừa sẽ mãi mãi khiến con người không thể hành động vì những lợi ích tối đa của họ.

ANH HỎI Ý KIẾN người hướng dẫn của mình. Giáo sư Mieke VanDijk, cô có mái tóc cắt bằng siêu ngắn tuyệt đẹp, với giọng nói phụ âm nuốt, và nguyên âm mềm mỏng. Thực ra, cô bắt anh phải trao đổi với cô hai tuần một lần, trong văn phòng của cô trên trường College Ten, hy vọng sự kiểm tra bắt buộc này sẽ thức đẩy khởi động nghiên cứu của anh.

“Em cứ lê chân qua những chỗ không đâu.”

Thật ra, anh đã nhấc chân hẳn lên, ngả người trên chiếc sofa giường ở phía cuối phòng đối diện bàn làm việc của cô, như thể cô đang chữa bệnh tâm lý cho anh. Điều này khiến cả hai vui vẻ.

“Lê chân ư…? Không hề. Em hoàn toàn tê liệt.”

“Nhưng tại sao? Em quá giỏi so với việc này mà. Nghĩ về một luận án…” - cô không thể phát âm chữ th (thesis) - “như một dự án thảo luận dài thôi. Em không cần phải cứu thế giới đâu.”

“Em không cần ư? Thế em có thể ít nhất cũng cứu rỗi một quốc gia-dân tộc hoặc hai không?”

Cô cười to; hàm răng với hàm trên bao rộng hàm dưới của cô khiến mạch anh đập nhanh. “Nghe này, Adam. Hãy giả vờ như chuyện này chẳng liên quan gì tới sự nghiệp của em. Không liên quan gì đến sự xác nhận tính chuyên nghiệp. Điều mà cá nhân em muốn khám phá là gì? Điều gì sẽ khiến em hứng thú tìm hiểu trong vài năm?”

Anh quan sát các con chữ ùa ra từ khuôn miệng xinh đẹp đó, thoát khỏi những biệt ngữ khó hiểu của khoa học xã hội mà cô thường roi vào trong các buổi học. “Niềm hứng thú mà cô nói tới đó…”

“Chậc. Em muốn biết một điều gì đó.”

Anh muốn biết cô đã bao giờ, dù chỉ một lần, nghĩ về anh về mặt tính dục hay chưa. Điều này không thể dò đoán được. Cô chỉ hơn anh khoảng mười tuổi. Và cô thì - phải nói là đầy sinh khí. Anh cảm thấy một nhu cầu kỳ lạ được nói với cô tại sao anh tới đây, trong văn phòng của cô, tìm kiếm đề tài cho luận án. Muốn vẽ toàn bộ lịch sử trí tuệ của mình trên một đường thẳng - từ chuyện bôi sơn móng tay lên bụng các con kiến đến chuyện quan sát người huống dẫn thân yêu ở trường đại học chết - rồi hỏi cô xem đường thẳng đó tiếp theo sẽ dẫn tới đâu.

“Em hứng thú với… sự xóa mù.” Anh lén nhìn cô. Giá như con người, cũng giống một số loài không xương sống, sẽ biến thành màu tím sẫm khi họ cảm thấy bị thu hút. Nếu như thế thì toàn bộ giống loài này sẽ bớt thần kinh hơn nhiều.

Cô mím môi. Cô hẳn phải biết hành động đó ở cô đẹp đến nhường nào. “Xóa mù ư? Cô chắc là điều ấy có một ý nghĩa nào đó.”

“Con người có thể đưa ra những quyết định đạo lý độc lập mà đi ngược lại với các niềm tin của tộc người mình hay không?”

“Em muốn nghiên cứu tiềm năng chuyển hóa như là một chức năng của sự thiên vị quy tắc nội bộ mạnh mẽ.”

Anh gật đầu, nhưng từ thuật ngữ khiến anh bực điên người. “Nó như thế này. Em nghĩ bản thân mình là một người đàn ông tốt. Một công dân tốt. Nhưng có thể nói em là một công dân tốt của thời tiền La Mã, thời mà người cha có quyền lực, và đôi khi có cả trách nhiệm, ném con mình vào chỗ chết.”

“Cô hiểu. Và em, một công dân tốt, có động lực giữ gìn sự khác biệt tích cực…”

“Chúng ta mắc kẹt. Trong bản sắc xã hội. Ngay cả khi có những sự thật khổng lồ, to lớn nhìn chằm chằm chúng ta trong…” Anh nghe thấy đám bạn đồng môn cười nhạo báng, Anh chàng Thiên kiến.

“Ồ, không đâu. Rõ ràng là không, nếu không thì sự điều chỉnh lại trong nội bộ đã không bao giờ xảy ra. Sự chuyển hóa của bản sắc xã hội.”

“Thật sao?”

“Chứ sao nữa! Ngay ở nước Mỹ đây, mọi người đã đi từ chỗ tin rằng phụ nữ quá yếu đuối để có thể bỏ phiếu đến chỗ có một ứng viên phó chủ tịch của một đảng chính, chỉ trong vòng một đời người. Từ vụ Dred Scott đến Giải phóng nô lệ chỉ trong vòng mấy năm. Trẻ em, người ngoại quốc, kẻ thù, phụ nữ, người da đen, người tàn tật và bị bệnh tâm thần: tất cả họ đều chuyển từ thân phận tài sản sang thân phận con người. Cô đã sinh ra ở cái thời mà ý tưởng tinh tinh được xét xử ở tòa án dường như hết sức buồn cười. Nhưng khi em bằng tuổi cô bây giờ. chúng ta sẽ tự hỏi tại sao chúng ta từng từ chối cho những con vật đó quyền như những sinh vật thông minh.”

“Nhưng mà cô bao nhiêu tuổi rồi ạ?”

Giáo sư Van Dijk bật cười. Hai gò má cao xinh đẹp của cô hồng ửng lên; anh chắc chắn như thế. Rất khó để che giấu, với làn da đó. “Về chủ đề, làm ơn.”

“Em muốn xác định các nhân tố cá nhân khiến cho một số cá nhân có thể trở nên thắc mắc tại sao mọi người có thể mù quáng đến thế… “

“.. .trong khi những người khác vẫn đang cố để củng cố lòng trung thành trong nhóm. Giờ chúng ta đã đến một chỗ. Đây có thể là một đề tài đấy. Với nhiều định nghĩa và giới hạn hơn rất nhiều đấy. Em có thể nhìn vào bước tiếp theo của tiến trình lịch sử tương đồng của sự nhận thức này. Nghiên cứu những người ủng hộ cho một quan điểm mà bất cứ con người có lý trí nào trong xã hội của chúng ta đều nghĩ là bị điên.”

“Ví dụ ạ?”

“Chúng ta sống ở một thời mà các đòi hỏi đang được tạo ra cho một thế lực quyền lực đạo đức nằm vượt lên trên con người.”

Cơ bụng anh khẽ cuộn lên một đợt, rồi anh ngồi dậy. “Ý cô là sao ạ?”

“Em đã xem bản tin rồi đấy. Mọi người trên dưới bờ biển này đang đánh cược mạng sống của họ cho cây cối. Tuần trước cô đọc được câu chuyện - về người đàn ông đã bị cưa đứt hai chân bởi một cái máy mà ông ta cố dùng thân mình ngáng lại.”

Adam đã thấy những câu chuyện đó, nhưng anh không để ý tới chúng. Giờ anh không thể hiểu tại sao lại thế. “Quyền của cây cối? Nhân tính của cây.”

Một cậu bé anh biết từng nhảy vào một cái hố không sợ bị chôn sống để bảo vệ cái cây non của thằng em sơ sinh của nó khỏi nguy hiểm. Thằng bé đó giờ chết rồi. “Em ghét các nhà hoạt động.”

“Thế thì sao? Tại sao?”

“Chính thống và dương biểu ngữ. Tẻ nhạt. Em ghét khi những gã Hòa bình xanh đó xô đẩy em trên đường. Bất cứ ai tỏ ra công lý… không hiểu nổi.”

“Hiểu cái gì?”

“Tất cả chúng ta đều sai lầm và yếu ớt vô vọng tới thế nào. Về mọi thứ.”

Giáo sư Van Dijk cau mày. “Cô hiểu. Thật tốt là chúng ta không làm một nghiên cứu tâm lý về em.”

“Những người đó thực sự quan tâm đến một trật tự đạo đúc mới, phi nhân loại sao? Hay chỉ là họ có cảm tình với những thứ màu xanh đẹp đẽ?”

“Đó là nơi các thước đo tâm lý được khống chế tham gia vào.”

Anh khẽ nhếch mép, với chính mình. Nhưng có cái gì đó to lớn trào lên trong anh, mà anh thậm chí không dám nhúc nhích vì sợ rằng nó sẽ biến mất. Một con đường thẳng tới thành công. “Hình thành bản sắc và năm nhân tố cá nhân lớn (Big Five) giữa các nhà hoạt động về quyền của cây.”

“Hay là: Ai là người mà người-ôm-cây thực sự ôm ấy, khi người đó ôm cây?”

MẶT TRỜI CHIẾU phía Tây dãy Cascades khi Mimi và Douglas lên con đường Forest Service hai bên đỗ đầy xe. Người chen chúc quanh khoảng rừng trống nhỏ đó. Nhiều hơn họ đã tưởng rất nhiều. Đây không phải là một cuộc tuần hành phản đối. Đây là một lễ hội. Người quản lý khuôn gốm hỏi người thương binh, “Những người này là ai thế?”

Douggie bước ra khỏi xe với nụ cười ngớ ngẩn hút nắng, hút không khí mà Mimi đã dần trở nên yêu thích, theo cái cách ta yêu thích những tiếng ngúng ngoắng của con chó mà vừa vớt dưới hồ nước lên. Anh vẫy vẫy bàn tay chai sần với đám người đó với niềm vui cao bồi ngờ nghệch. “Homo sapiens, ôi. Luôn sẵn sàng nhỉ!”

Mimi rảo bước cho kịp anh. Đám đông khiến cô chóng mặt. “Họ làm gì thế?”

Douglas nghiêng phía bên tai còn tốt về phía cô. “Nghĩa là sao?” Đám đông ồn ào quây thành từng nhóm theo mục đích của họ, và thính giác của anh đã giảm sút rất nhiều từ thời làm trên các máy bay vận tải.

Nhưng nó vẫn khiến cô kinh ngạc. Một người đàn ông bận tâm lắng nghe. “Bố tôi thường nói thế. Họ làm gì?”

“Họ làm gì?”

“Phải. Nghĩa là, Những con người kìa đang hy vọng làm được cái quái gì thế?”

“Ông ấy là người nơi khác à?”

“Người Trung Quốc. Ông ấy tin rằng tiếng Anh nên hoạt động hiệu quả hơn.”

Douglas vỗ trán. “Cô là người Trung Quốc.”

“Một nửa Trung Quốc. Anh đã nghĩ gì thế?”

“Tôi không biết. Đâu đó da sẫm màu hơn.”

Đây là câu hỏi thật, Mimi biết, đó là Cô làm gì? Cô vẫn ngạc nhiên là anh đã xoay xở đưa cô tới được đây cho cuộc phản đối này. Hành động chính trị duy nhất trước đây của cô là một cuộc báo thù ở trường trung học phản đối Chủ tịch Mao. Mối hận thù của cô lúc này là với thành phố, cuộc đột kích ban đêm đầy mưu mô chống lại các cây thông của cô. Đối với cây cối ở đây, quá xa bên ngoài thành phố: Cô là một kỹ sư, xin hãy biết là như thế. Các cây này đang kêu gọi được sử dụng.

Nhưng với đôi bài thuyết giảng, và một chuyến đi đến buổi gặp mặt có tổ chức cùng với con người ngây thơ vụng về này đã khiến trái tim cô rung động. Những quả núi này, những cánh rừng này - giờ đây khi đã thấy chúng, chúng là của cô. Thế nên cô ở đây, tại một cuộc biểu tình công cộng hẳn sẽ khiến người cha nhập cư của cô tới lôi cô về nhà trong nỗi sợ bị trục xuất, tra tấn, hoặc thậm chí tệ hơn. “Nhìn mọi người kìa!”

Có các bà cụ già với đàn guitar, những đứa trẻ chập chững tay cầm súng nước. Sinh viên đại học ra ngoài để chứng tỏ bản thân họ xứng đáng với người khác. Những người lập kế hoạch đối phó khủng hoảng đẩy những cái nôi của trẻ em giống như những chiếc xe địa hình Hobbit Humvees. Đàn học sinh mang những tấm áp phích đầy sốt sắng: HÃY TÔN TRỌNG CÁC BẬC CAO TUỔI. CHÚNG TA CẦN NHỮNG LÁ PHỔI. Chúng ta cần những lá phổi. Một tập đoàn của giày dép màu sắc sặc sỡ có mặt từ khắp các thân cây đến đoạn đường vận tải - giày lười, giày tập, xăng đan mũi hếch, giày thể thao Chuck Taylors, và tất nhiên, cả ủng đốn củi. Quần áo còn đa dạng hơn: áo sơ mi oxford, quần jean rách, áo nhuộm cột và áo kẻ sọc, sơ mi hickory, thậm chí cả một chiếc áo jacket Không lực Hoa Kỳ giống như chiếc Douggie từng cầm đồ với giá vài đô từ mười lăm năm trước. Những bộ suit diễn hề, swimsuit, jumpsuit - tất cả các loại suit trừ những loại three-suit.

Phần lớn đám đông đã được chở bằng xe buýt lên bãi đất này bởi bốn nhóm hoạt động môi trường hoàn toàn khác nhau định gây chiến với nhau khi không có mục tiêu nào gần hơn. Một nhóm người đeo ba lô mất hai ngày đi bộ suốt dọc đường dài để gia nhập vào cảnh tượng này, tất cả đang cố để tát đại dương tư bản chủ nghĩa bằng nắp vỏ hạt sồi. Một số người địa phương cũng tới xem. Ở ngoài xa này, hầu hết mọi người trong vòng một trăm dặm tồn tại nhờ ơn của gỗ. Họ cũng có những tấm biển viết tay. LŨ ĐỐN RỪNG: NHỮNG LOÀI BỊ TUYỆT CHỦNG THỰC SỰ! TRÁI ĐẤT ĐẦU TIÊN! CHÚNG TA SẼ ĐỐN CÁC HÀNH TINH KHÁC SAU.

Hai người đàn ông chưng bộ râu dài xuống tận xương ức lượn lờ xung quanh bãi đất chĩa các camera gắn vào vai của họ. Một phụ nữ tóc xám mặc quần Đanskin, đội mũ phớt, và áo vest không tay đang phỏng vấn bất kỳ ai sẵn lòng trả lời. Sâu hơn vào trong chỗ cây cối, một người đàn ông và một người phụ nữ dùng loa để khuấy động tâm trạng của đám đông. “Mọi người! Các bạn thực sự rất cừ. Một cuộc hội tụ tuyệt vời. Cảm ơn tất cả các bạn! Sẵn sàng cho một chuyến vào rừng chưa?”

Tiếng reo hò vang lên, và đoàn diễu hành len lỏi xuống một lối đi đầy sỏi vào con đường kéo gỗ vừa mới mỏ. Douglas hòa vào đoàn người, Mimi bên cạnh anh. Họ len vào đám đông sặc sỡ đang vung vẩy những tấm biểu ngữ đủ màu và hò hét chửi bới om sòm. Trong không khí tưng bừng, dưới một bầu trời xanh ngắt, đi bộ khoác tay với những người xa lạ lên một con dốc thoai thoải, Mimi hiểu. Trong suốt cả cuộc đời mình, một cách vô thức, cô tuân thủ nguyên tắc chung đầu tiên của cha mẹ cô: Không gây tiếng ồn nào với thế giới này. Cô, Carmen, Amelia - cả ba cô gái nhà họ Ma. Đừng đấu tranh; các con không có quyền. Không ai nợ con điều gì cả. Thu mình, bầu cho đảng lớn. và gật đầu như thế mọi thứ đều có ý nghĩa. Nhưng lúc này cô đang ở đây, mời gọi rắc rối. Hành động như thể cô không bận tâm chuyện gì sẽ xảy ra.

Họ đi vai kề vai qua con đường kéo gỗ, dàn hàng ngang mười người một, nhiều hàng hơn cô có thể đếm. Họ hát những giai điệu mà Mimi từng hát trong trại hè ở Northern Illinois, những bài hát của tuổi thơ vui nhộn. “Đất này là đất của ta. Giá mà tôi có cây búa.” Douggie mỉm cười ngâm nga theo điệu nhạc không lời. Giữa các bài hát, một hoạt náo viên với cái loa trong tay, đi mé ngoài gần phía đầu của đoàn người, khuấy động màn hô-đáp. Chặt cây trả giá quá đắt! Cứu lấy những cây cuối cùng của chúng ta!

Chính nghĩa khiến Mimi nổi giận. Cô đã luôn dị ứng với những con người mang niềm tin. Nhưng hơn cả cảm giác ghét niềm tin, cô ghét quyền lực lén lút. Cô vừa học được những thứ về sườn núi này mà khiến cô phát ốm. Một công ty đốn gỗ giàu có, được chống lưng bởi một gánh xiếc công nghiệp chuyên nghiệp, đang khai thác khoảng trống quyền lực trước khi có phán quyết của tòa án tối cao bằng cách vội vã đốn hạ một cách hợp pháp hàng loạt các cây lá kim đủ loại đã phát triển của nhiều thế kỷ trước khi khái niệm quyền sở hữu đến với những vùng này. Cô sẵn sàng thử bất cứ cách nào để làm chậm sự cướp bóc đó lại. Ngay cả là bằng công chính.

Họ đi qua bãi vân sam kéo dài suốt ba lần hát điệp khúc. Các thân cây cắt ánh nắng thành những mảnh ánh sáng. Ngón tay của Chúa, cô và các em gái thường gọi những tia sáng xuyên chiếu đó như thế. Những loài cây mà cô không biết tên mọc lên khắp xung quanh, bao bọc bởi những cây dây leo, hoặc đổ gãy xuống đất như những vật chắn đường - quá nhiều sự sống trong vô vàn hương vị mà cô muốn lôi xuống và mang đi. Tầng bụi rậm mọc chi chít những cây nhỏ mà bàn tay cô có thể bao gọn thân, những cái cán chổi đã mang trong mình hàng trăm năm. Nhưng tầng tán thì được nâng đỡ bởi những thân cây mà nhiều người biểu tình nắm tay nhau ôm vòng quanh cũng không xuể.

Những viễn cảnh mở ra qua các pháo đài xanh. Mimi giật ống tay áo của Doug và chỉ lên. Về phía Đông Bắc, dưới các khe núi và trên các sườn đồi dốc tới mức không thể đi bộ, những cái bánh tròn trông như cái gối giắt kim rải khắp đồi. Sương phủ khắp ngọn của các cây y hệt như cái ngày những con tàu màu trắng đầu tiên khởi neo rời khỏi bờ biển này. Nhưng qua một khoảng trống khác ở phía Nam, những đường phá hủy ngoằn ngoèo chạy khắp các sườn núi - bị rưới dầu diesel lên và đốt cho tới khi ngay cả nấm cũng chết, rồi bị dìm trong thuốc diệt cỏ để cho không thứ gì có thể mọc lại những hàng cây độc canh với vòng đời ngắn của công ty này, thứ mà cô mới biết được rằng sẽ chỉ tồn tại cùng lắm là được mấy mùa, trước khi đất đai bị bạc màu. Từ trên cao, cảm giác như thể những cái cây mọc khắp các sườn đồi này đang trong một cuộc chiến tranh. Những thảm cây xanh mướt đang đấu lại những bãi bùn loét nhoét, trải tới tận chân trời. Và những con người này tập hợp ở đây: những đội quân ngây thơ đang tiến tới chống lại lẫn nhau như họ vẫn làm bấy nay, vì những lý do ẩn giấu khỏi ngay cả sự dữ dội nhất này. Khi nào thì chuyện này đủ đây? Hiện tại, nếu bạn có thể tin tưởng vào đám đông đang cười nói hát ca này trên con đường nó thuyết phục đội kéo gỗ ở cuối con đường hằn những bánh xe này. Hiện tại, thời điểm tốt thứ hai.

Con đường hẹp lại và khu rừng lục bảo dày lên. Những thân cây khổng lồ khiến Mimi như nhỏ bé đi và mất phương hướng. Rêu mọc phủ lên mọi thứ thành -những thảm dày. Ngay cả dương xỉ cũng cao tới ngang ngực cô. Người đàn ông đi bên cạnh biết tên của mọi loại cây, nhưng Mimi quá kiêu hãnh để hỏi tên của chúng. Mặc dù đã sống ở tiểu bang này cả thập kỷ, mặc dù đã bao lần nỗ lực hiểu rõ các sách về thế giới hoang dã và những công cụ phân đôi các loài sinh vật, nhưng cô còn không thể phân biệt được cây thông limber với thông sugar, chứ đừng nói tới phân biệt cây tuyết tùng Port Orford với tuyết tùng incense. Những cây linh sam bạc, trắng, đỏ khổng lồ đều là một xếp tầng mò ảo. Và tầng bụi rậm dày kin kít - không thể tin được. Salal, không hiểu sao cô biết nó. Oxalis và trillium. Nhưng phần còn lại là một salad trộn hỗn hợp những tán lá khó gọi tên, bò lên tận ven đường mòn, chỉ chực chộp lấy mắt cá chân cô.

Douglas chỉ xuống phía trái của con đường. “Nhìn kìa!” Giữa hỗn độn muôn sắc xanh, bảy cây to lớn mọc thành hàng thẳng như sự tưởng tượng của Euclid.

“Làm thế quái nào? Có ai đó đã… ?”

Anh cười và vỗ vai cô. Sự động chạm mang lại cảm giác thật tốt.

“Nhớ lại xem. Nhớ về trước thật xa xem nào.”

Cô cố nhớ nhưng không thấy gì. Dougle giày vò sự băn khoăn đó thêm một lát nữa.

“Mấy trăm năm trước, ngay khoảng thời gian mà các đoàn hành hương đang nghĩ, Cái quái gì thế hử?, một quái vật to lớn nọ ngã xuống. Ruột cây mục ruỗng là mảnh đất gieo hạt hoàn hảo. Cả thảm cây giống dùng nó làm luống cày, như thể Chúa gieo chúng vào trong đó bằng một cái cào!”

Có cái gì đó loang loáng trước mặt cô, hé lộ bởi ánh sáng loang lổ, giống như sương phản lại một tấm mạng nhện. Những tấm lưới chằng chịt của hàng chục nghìn loài đan vào nhau quá ảo diệu để có thể theo dấu. Ai mà biết được bao nhiêu loài thuốc ẩn giấu ở đây? Loại aspirin tiếp theo; ký ninh tiếp theo; Taxol tiếp theo. Lý do đủ để cho khoảng rừng nhỏ cuối cùng này nên được giữ nguyên vẹn thêm chút nữa.

“Có điều gì đó, phải không?”

“Có, Doogles.”

Người đàn ông này đã cố cứu những cây thông của cô. Chèn thân anh vào giữa những lưỡi cưa và thân cây. Cô đã không thể ra tới đây, dù là trong thiên đường đầy nguy hiểm này, nếu không có anh. Nhưng theo như cô thấy, anh thực sự kiệt sức. Hơn bất cứ điều gì cái chân khập khiễng của anh khiến cô lo sợ. Sự lấp lánh mà anh tập trung nhìn ở ngọn đồi phía trước có dáng vẻ như của một con cún chưa hoàn toàn thuần phục bài học đi vệ sinh bên ngoài nhà. Đầu anh quay tròn, ngạc nhiên trước đám đông, hạnh phúc như thể con cún đó được cho phép quay trở vào nhà.

“Nghe thấy gì không?” Douglas hỏi.

Nhưng cô đã nghe thấy nó suốt cả sáng nay. Cách đó một phần tư dặm, tiếng rù rù đều đều càng chói tai thêm. Dưới con đường, qua những bụi cây dâu dại, những cái máy màu vàng sẫm và màu cam đang đào xới đất - máy san và máy ủi, biến con đường này thành một lãnh địa mới.

“Ôi, kìa, Mimi. Nhìn xem họ đang làm gì với chỗ đẹp xinh này. Họ làm gì?”

Những người biểu tình đến một cái cống với những song sắt chắn ngang đường. Người đi tiên phong dừng lại trước chướng ngại vật đó, và các biểu ngữ tập hợp xung quanh họ. Người phụ nữ cầm loa hô, “Chúng ta sắp tiến vào khoảng rừng bị phá huỷ. Đây sẽ là sự xâm phạm vào bản đồ xẻ gỗ mà chúng ta đang phản đối. Ai trong số các bạn không sẵn sàng bị bắt giữ thì đứng lại đây. Sự hiện diện và giọng nói của các bạn vẫn rất quan trọng. Báo chí sẽ để ý đến cảm xúc của các bạn!”

Tiếng vỗ tay, giống như vỗ cánh cửa con gà gô.

“Những người sẵn sàng tiến lên, cảm ơn các bạn. Bây giờ chúng ta sẽ tiến qua. Giữ kỷ luật. Giữ bình tĩnh. Không được để mình bị khiêu khích. Đây là một cuộc đối đầu hòa bình.”

Một phần của đám đông lướt về phía cái cống. Mimi nhướng mày nhìn Douglas. “Anh chắc chứ?”

“Ôi trời. Đó là lý do tại sao chúng ta ở đây, phải không?”

Cô không chắc anh muốn nói ở đây là bên bìa của rừng quốc gia đang được bán cho người trả giá cao nhất, hay ở đây là trên Trái Đất, thực thể duy nhất có thể dự đoán trước. Cô nhún vai xua đi tất cả ý nghĩ triết học đó. “Đi thôi.”

Bước thêm mười mét nữa, thế là họ trở thành tội phạm.

Tiếng gầm gừ ngày càng khủng khiếp. Trong vòng nửa dặm, họ đã phải đối mặt với sự khéo léo tối cao của con người. Cô có thể gọi tên các quái vật bằng sắt này dễ dàng hơn gọi tên các loại cây khác nhau kia. Sâu trong khu rừng trống, có một cái máy liên hợp xén và cẩu cây, chộp lấy hàng loạt thân cây nhỏ, cắt cây, rồi chất đống những thân cây có chiều dài bằng nhau, mỗi ngày làm việc bằng cả đội người đốn cây làm suốt cả tuần. Có một xe máy kéo bốc xếp tự động, chất đống các khúc gỗ đã cắt sẵn lên thùng xe. Cạnh đó, một cái máy xúc dọn đường đang mở rộng lòng đường, và một cái máy nạo đang san phẳng đường trước khi xe máy kéo ập đến. Cô đã biết có những loại máy ngoạm lấy những thân cây cao năm mươi feet và vật đổ nó xuống đất còn nhanh hơn máy ép trái cây ép một củ cà rốt. Có những cái máy xếp chồng những thân gỗ như những que tăm, rồi lôi chúng vào các nhà máy, nơi những thân cây hai mươi feet xoay trên các trục quay nhanh tới nỗi cái chạm của một lưỡi cắt có thể nạo thịt gỗ thành các lớp ván gỗ liên tục.

Những người đội mũ bảo hiểm chặn phía trước họ. Người quản đốc của họ nói, “Các ngươi đang xâm phạm đấy.”

Người phụ nữ cầm loa, người mà nhờ bà Mimi mới phát triển được chút tình cảm nắng kiểu nữ sinh, bà nói, “Đây là đất công cộng.”

Người cầm loa còn lại đưa ra mệnh lệnh, và đoàn người biểu tình tỏa ra khắp lòng đường bẩn thỉu. Họ ngồi xuống vai kề vai, dàn hàng ngang trên đường. Mimi và Doug khoác tay, tham gia vào dòng người đông đúc đó. Mimi khóa tay lại, chắp hai bàn tay phía trước. Chiếc nhẫn ngọc hình quả dâu tằm quay vào trong của cô ép vào cổ tay bên kia. Khi đám thợ đốn cây kịp nhận thấy điều gì đang diễn ra, thì mọi sự đã xong rồi. Hai đầu của chuỗi người khóa bản thân họ bằng dây cáp vào những cái cây ở phía bên kia của con đường.

Hai người đốn cây đi thẳng tới hàng người đang tay ngoắc tay. Mũi của đôi ủng để đinh của họ suýt đạp trúng mắt Mimi. “Chết tiệt,” gã tóc vàng quát. Mimi thấy được sự mệt mỏi thật sự của anh ta. “Khi nào thì bọn các người chịu lớn và hiểu thực tế hả? Sao các người không lo chuyện của mình và để yên cho bọn tao làm việc của bọn tao hả?”

“Đây là việc của tất cả mọi người,” Douglas đáp. Mimi kéo mạnh tay anh.

“Các người biết nơi nào có vấn đề thực sự không? Brazil. Trung Quốc. Đó là nơi người ta đốn hạ điên cuồng. Các người nên đi xuống đó mà phản đối. Xem họ nghĩ gì khi các người nói với họ rằng họ không thể trở nên giàu có như chúng ta.”

“Các anh đang đốn hạ cánh rừng già cuối cùng của nước Mỹ.”

“Nó mà đổ xuống các người thì các người chẳng biết già là thế nào đâu. Bọn tao đã đốn cây ở các sườn đồi này mấy thập kỷ rồi, và chúng tao cũng trồng lại. Chặt một cây thì trồng lại mười cây.”

“Đúng rồi. Chính tôi đây đã trồng lại rừng. Mười cây nhỏ tí đáng làm bột giấy thay cho một trong số những thiên tài cổ xưa vô cùng đa dạng này. “

Mimi quan sát người quản đốc thực hiện tất cả các tính toán chi phí - lợi nhuận. Đây là một điều buồn cười về chủ nghĩa tư bản: tiền mà bạn mất đi do giảm tốc luôn quan trọng hơn tiền mà bạn đã kiếm được. Một trong số những người đốn cây ngoáy cái ủng của hắn và hất một bãi bùn lên mặt Douglas. Mimi nói cánh tay định lau vết bùn đó, nhưng Douglas kẹp chặt cô trong bắp tay anh.

Một vệt bùn nữa. “Ô! Xin lỗi, anh bạn. Vô ý.”

Mimi bùng nổ. “Đồ côn đồ!”

Tay đốn cây chỉ ra phía sau đoàn người đang ngồi, nơi hàng loạt cảnh sát đang ùa xuống con đường của Cục Kiểm lâm. Đám cảnh sát phá vỡ chuỗi người như người ta nhổ một cây bồ công anh. Rồi họ cùm những kết nối bị phá vỡ đó lại với nhau phía sau lưng. Mimi và Douglas bị cùm cùng với hai người lạ kết nối giữa họ và hai người khác nữa ở hai bên. Họ bị bỏ lại ngồi lại giữa con đường bùn lầy trong khi cảnh sát dọn dẹp đống hỗn độn.

“Tôi muốn đi tiểu,” Mimi nói với một tay cớm, lúc khoảng hai giờ. Nửa tiếng sau, cô nói cũng với tay cớm đó. “Tôi thực sự, thực sự muốn tiểu.”

“Không, cô không muốn đâu. Cô thực sự không muốn.”

Nước tiểu chảy xuống chân cô. Cô bật khóc nức nở. Những người phụ nữ bị cùm chung với cô nôn khan và nhăn mặt.

“Tôi thực sự xin lỗi. Tôi thực sự xin lỗi. Tôi không nhịn được.”

“Suỵt, không sao đâu,” Douglas nói, ghì hai cơ thể xuống. “Đừng nghĩ về nó.”

Cô càng khóc thống thiết. “Không sao đâu,” Douglas luôn miệng nói. “Tôi đã ôm cô trong vòng tay tôi, trong đầu tôi.”

Tiếng khóc ngưng bặt. Nó sẽ không còn cất lên nữa suốt nhiều năm sau. Mùi bốc lên giống như cái cây nơi con vật đã đánh dấu, Mimi đành chấp nhận bị bắt giam và ghi dấu. Khi bà cảnh sát ở trụ sở lấy dấu vân tay của cô, cô cảm thấy, lần đầu tiên kể từ sau cái chết của cha mình, như thể cô đã đưa cho ngày hôm đó tất cả những gì mà nó muốn.

NỤ HÔN ĐẶT LÊN mái đầu Ray, từ phía sau, nơi anh đang ngồi trong phòng làm việc, đọc sách. Những nụ hôn, nhanh và chính xác, như bom dẫn đường, là đặc điểm của Dorothy những ngày này. Nó không bao giờ thôi làm máu anh đông cứng.

“Em đi hát đây.”

Anh ngước đầu lên nhìn cô. Cô bốn mươi bốn tuổi, nhưng với anh thì trông vẫn như lúc còn hai tám. Là do không sinh con, anh nghĩ thế. Sự khai nở vẫn xuyên chảy qua cô, mê hoặc thuần túy, như thể sự đáng yêu kỳ lạ vẫn có việc để làm, với tuổi trẻ đã lùi xa này. Quần jeans và áo len màu trắng tạo thành những nếp gấp bám vào mạng sườn thon thả của cô. Phía trên là chiếc khăn quàng màu tử đinh hương, buông xõa dịu dàng quấn quanh cổ, vùng da mà cô nghĩ là nó đã phản bội cô. Mái tóc cô buông lên khăn choàng, sáng bóng, màu hạt dẻ, hoàn hảo, độ dài vẫn y như lần cô thử xem Lady Macbeth trong buổi hẹn hò đầu tiên của họ.

“Trông em đẹp quá.”

“Ha! Em mừng là mắt anh đang mò đi.” Cô cọ nhẹ nơi nụ hôn chạm xuống. “Mỏng đi rồi, trên này này.”

“Thời gian là cỗ xe có cánh mà.”

“Em đang cố tưởng tượng ra loại xe như vậy. Nó hoạt động như thể” nào, chính xác?”

Cô ngước lên cao hơn. Siết chặt trong bàn tay áp trên cặp đùi của người chuyên chạy bộ, cô cầm một ấn phẩm Peters Edition màu xanh nhạt dập nổi với chữ màu đen lớn.

BR MS

tách làm đôi bởi cánh tay hoàn hảo của cô. Bên dưới đó, nhỏ hơn:

Ein Deu equiem

Buổi hòa nhạc vào cuối tháng Sáu. Cô sẽ đứng trên sân khấu với hàng trăm giọng ca khác, hòa lẫn vào giữa những phụ nữ đó, chỉ khác vẫn là một trong số ít người tóc còn chưa ngả bạc, và hát:

Thấy chưa. một Ackermann đang đợi

trái cây ngon

và kiên nhẫn về

cho đến khi anh cảm thấy mưa buổi sáng và mưa buổi tối

Kìa, người chồng đợi chờ trái ngọt của đất đai, và kiên nhẫn thật lâu với nó, cho tới khi anh nhận được cả cơn mưa đầu mùa lẫn cơn mưa cuối cùng.

Ca hát bây giờ là tất cả. Nó theo sau một chuỗi thứ vui cô thực hiện chuyên cần với hy vọng một tuần trôi qua viên mãn nhất. Bơi lội. Cứu hộ. Vẽ chân dung bằng than và phấn màu. Trong khi đó, anh rút lui vào thành trì là phòng làm việc của mình. Anh làm việc nhiều thời gian hơn bao giờ hết, với hy vọng mơ hồ mua thêm một ngôi nhà thứ hai cho họ, một nơi nào đó đẹp hơn. Một nơi nào đó bao quanh bởi, nếu không phải là thiên nhiên hoang dã, thì cũng là những hồi ức của nó.

“Diễn tập nhiều nhỉ.” Hai buổi tập hai tiếng mỗi tuần, và cô chưa từng lõ buổi nào.

“Rất vui mà.” Cô đã chuẩn bị nhiều tuần rồi. Sự thật là, cô đã luyện tập chăm chỉ ở nhà tới mức cô có thể hát bài này từ đầu tới cuối, ở mọi đoạn âm vực. “Anh chắc là anh không muốn tới chứ? Bọn em vẫn cần thêm giọng trầm.”

Hơn bao giờ hết, cô làm anh ngạc nhiên. Cô sẽ làm gì nếu anh nói có? “Có thể là vào mùa thu. Buổi hòa nhạc Mozart.”

“Anh có đủ việc để giữ cho mình bận rồi sao?”

Đây là việc mọi người vẫn làm - giải quyết các vấn đề riêng của mình trong cuộc đời người khác. Anh cười to. “Lúc này thì đúng như vậy. Anh đang đánh vật với thứ này đây.” Anh dựng trang giấy lên cho cô xem: “Nên chăng cây cần có quyền?” Cô đọc tiêu đề rồi chau mày. Ray đọc lại từng từ, cũng tỏ vẻ băn khoăn. “Ông ta dường như đang nói rằng luật pháp thiếu hụt khi chỉ nhìn nhận nạn nhân là con người.”

“Thế thì sao?”

“Ông ta muốn trao quyền tới cả những thứ không phải con người. Ông ta muốn cây được đền đáp cho sở hữu trí tuệ của nó.”

Cô nhếch mép. “Không tốt cho kinh doanh, hử?”

“Anh không biết nên vút xoẹt nó xuống đất và cười nhạo hay ném nó lên đống lửa rồi tự giết mình đi.”

“Cho em biết anh quyết định thế nào. Hẹn gặp lại anh khoảng giữa mười, mười một giờ. Đừng chờ em nếu anh buồn ngủ.”

“Anh buồn ngủ rồi đây.” Anh lại cười phá lên, như thể chỉ nói đùa. “Em mặc đủ ấm chứ? Trời sẽ lạnh lắm đấy. Nhớ cài cúc áo khoác.”

Cô dừng lại ở ngưỡng cửa, và khoảnh khắc ấy lại quay lại, giữa họ. Sự trào dâng bất chợt của giận dữ và hủy hoại lẫn nhau. “Em không phải là sở hữu của anh, Ray. Chúng ta đã thỏa thuận.”

“Chuyện gì vậy? Anh không hề nói em là sở hữu của anh.”

“Anh thật sự đã làm vậy đấy,” cô nói, rồi bỏ đi. Mãi khi cánh cửa đóng lại anh mới nhúc nhích. Áo khoác. Những chiếc cúc. Gió thổi tung bay. Hãy chăm sóc bản thân cẩn thận nhé. Em thuộc về anh.

CÔ LÁI XE XUỐNG Birch về phía Tây, dưới những cây phong màu cam. Anh không cần phải nhìn đèn hậu hay quan sát xem cô rẽ về hướng nào. Như thế sẽ thật bẽ mặt cho cả hai. Cô đủ thông minh để không lái xe qua phòng diễn tập trước. Thế nhưng: Anh đã đứng ở cửa sổ vào những đêm trước để nhìn đèn hậu. Anh đã làm tất cả, tất cả những thứ tuyệt vọng và đáng khinh. Tìm kiếm những số lạ trong hóa đơn điện thoại. Kiểm tra túi quần áo cô mặc đêm trước. Lục ví để xem các ghi chép. Anh không tìm thấy ghi chép nào cả. Chỉ có phòng phán xử chiếu bày từ A tới Z nỗi hổ thẹn của anh.

Những tuần mất lòng tin từ lâu đã chuyển thành một sự rơi tự do nhiều khi còn đáng sợ hơn trò nhảy dù thời tuổi trẻ của họ. Nỗi sợ hãi khám phá ra sự thật chẳng mấy chốc cô đặc lại thành nỗi buồn đau, cái cảm giác mà anh đã cảm thấy khi mẹ anh mất. Rồi nỗi buồn đau biến thành phẩm hạnh, thứ mà anh âm thầm nuôi dưỡng suốt nhiều tuần, cho tới khi phẩm hạnh sụp đổ dưới sự phát triển bùng nổ của chính nó thành sự bất động đầy cay đắng. Mọi câu hỏi là một cơn điên rồ tự nguyện. Ai? Tại sao? Bao lâu? Trước đây có thường xuyên hay không?

Có vấn đề gì vậy? Để áo khoác không cài khuy như thế. Giờ đây anh chỉ muốn bình yên, và ở bên cô thêm một lát nữa, lâu nhất có thể, trước khi cô nghiền nát mọi thứ chỉ để trừng phạt anh vì đã tìm ra sự thật.

CÔ ĐỖ XE ở chỗ đỗ phía sau rạp hát. Cô thậm chí có đi vào trong rạp một phút, không đủ nhiều để thiết lập một bằng chứng ngoại phạm để khiến cho cái cửa dưới sàn nhà mở ra dưới chân cô cảm giác điên khùng hơn tới vậy. Khi hàng trăm ca sĩ ùa lên các bục trên sân khấu, cô lẻn ra ngoài từ phía sau, như thể để lấy cái gì để quên trong xe. Trong nháy mắt, cô đã trên con đường mưa trơn trượt, trái tim mát lạnh, đang sống, đập điên cuồng. Cô sẽ hoàn thành tất cả, theo nhiều cách khác nhau, dài và yêu thương và không mục đích, không có nghĩa vụ theo hợp đồng nào cả, bởi một người đàn ông mà cô không quen biết từ Adam. Rồi ý nghĩ chạy suốt dọc cơ thể cô, như thể cô vừa được tiêm thứ gì.

Cô sẽ trở nên xấu xa. Xấu xa trở lại. Xấu xa điên rồ. Làm những việc cô chưa bao giờ tưởng tượng mình có thể làm. Những thứ mới. Sẽ tìm hiểu thêm về bản thân cô - đáng sợ hơn, ở tốc độ cao hơn, một cách vui vẻ. Những thứ cô thích và không thích, khi cô không nằm với tư thế đoan trang lười biếng. Ném ba mươi năm qua vào những ngọn lửa giải phóng trái tim. Ý nghĩ đó khuynh đảo cô - ma thuật. Lớn lên, cô thấy ướt đẫm và thực sự lên từ sự đung đưa của đôi chân của chính mình, giống như một cô gái trắng xanh mười sáu tuổi, khi cô nhìn thấy chiếc BMW màu đen đỗ bên vệ đường và chui vào đó.

Bốn mươi tám phút thí nghiệm hoang dại. Ngay liền sau đó, cô chẳng nhớ được gì. Giống như thể anh ta đã cho cô chút ma tuý, chỉ để cho vui. Cô nhớ mình ngồi với hai đầu gối choãi rộng trên một chiếc giường rộng lớn, cười khúc khích như một cô công chúa say. Cô nhớ tiếng nhạc Brahms chan chứa ngày càng lớn lên, thần thánh, lộng lẫy và thơ mộng. Rồi rơi xuống trong cơn đau chân và lưng, một người chạy bộ đường trường. Cô nhớ anh ta thì thầm vào tai cô khi lướt ngón tay trên cô - những âm điệu xao động, tôn thờ, đe doạ, mơ hồ cô uống vào mà không nhả ra.

Đôi khi trong biển cả bập bềnh đó, khi họ thực hiện vào tuần trước, các chi tiết từ những cuốn tiểu thuyết yêu thích của cô về ngoại tình lại lóe lên trong đầu cô một cách rõ ràng đến rừng rợn. Cô nhớ mình đã nghĩ, Giờ mình là nữ chính trong câu chuyện tăm tối của chính mình. Rồi một cái hôn chúc ngủ ngon dài và nhẹ, bên vỉa hè trong một chiếc xe tối, cách rạp hát ba dãy nhà. Mười bước chân xuống vỉa hè trơn trượt, cô ký gửi toàn bộ cuộc phiêu lưu này vào trí tưởng tượng, một thứ chỉ xảy ra trong sách.

Cô quay vào bên trong và lên trên bục trong phần thời gian còn lại, chờ sự trở lại của đoạn hợp xướng khi giọng nam trung hát, Nghe này, em cho anh thấy một điều thần bí; Chúng ta sẽ ngủ hết, nhưng chúng ta sẽ bị thay đổi hết. Trong một phút giây, trong mọt cái chớp mắt.

RAY NHẤM NHÁP BỮA TỐI - hạt hồ trăn và một quả táo. Việc đọc rất chậm chạp, và mọi thứ khiến anh sao nhãng. Nhìn xuống cuối lõi quả táo, anh nhận ra rằng đài hoa - một từ mà anh sẽ không bao giờ biết trong cuộc đời này - chẳng là gì khác ngoài những chút sót lại của một bông hoa táo héo tàn. Anh nhìn lên khỏi đám chữ rậm rịt một phút ba lần, chờ cho sự thật xuất hiện giống như một cây sồi đổ nghiền nát mái nhà. Chẳng có gì xuất hiện để giết anh cả. Chẳng có gì xuất hiện hết, mọi thứ cứ diễn ra mạnh mẽ và kiên nhẫn. Chẳng có gì xảy ra một cách dứt điểm cả nên khi kiểm tra đồng hồ xem tại sao Dorothy vẫn chưa về nhà, anh giật mình nhận thấy đã gần nửa tiếng trôi qua.

Anh cúi đầu và nhìn kỹ vào trang giấy. Bài báo khuấy đảo nỗi buồn đau của anh. Nên chăng cây cần có quyền? Giờ này tháng trước, việc đánh giá lập luận độc đáo này hẳn đã là môn thể thao vĩ đại vào buổi chiều của anh. Cái gì có thể được sở hữu và ai có thể thực hiện sự sở hữu? Cái gì mang quyền, và tại sao phải là con người, duy nhất trên cả hành tinh, có quyền?

Nhưng đêm nay những từ đó cứ lướt đi. Tám giờ ba mươi bảy phút. Mọi thứ đã là của anh đang đi xuống, và anh thậm chí không hiểu cái gì đã mang đến tai ương. Logic khủng khiếp của bài luận này bắt đầu khiến anh dao động. Trẻ con, phụ nữ, nô lệ, người bản xứ, người bệnh, người điên, người tàn tật: tất cả thay đổi, ngoài sức tưởng tượng, qua nhiều thế kỷ, trở thành những con người cá thể thông qua các luật. Thế thì tại sao cây cối, đại bàng, sông, và những quả núi đang sống không được phép kiện con người vì tội trộm cắp và những phá hại bất tận? Toàn bộ ý tưởng này là một ác mộng thiêng, một điệu nhảy xác chết của công lý giống như thứ mà anh đang sống qua lúc này, nhìn chằm chằm kim giây của chiếc đồng hồ kiên quyết không di chuyển. Toàn bộ công việc của anh cho tới lúc này - bảo vệ quyền sở hữu với những người có quyền phát triển - bắt đầu có vẻ giông với một tội ác chiến tranh kéo dài, giống với một thứ mà rồi đây vì nó anh sẽ bị bỏ tù, khi cách mạng đến.

Đề xuất này vang lên nghe lạ lùng hoặc đáng sợ hoặc đáng buồn cười. Điều này một phần là vì cho tới khi thứ không có quyền đó nhận được các quyền của nó, chúng ta không thể xem nó là gì khác ngoài một thứ để cho phục vụ cho “chúng ta” - những người đang nắm quyền lúc này.

Tám giờ bốn mươi hai, anh bắt đầu tuyệt vọng. Anh sẽ làm bất cứ điều gì lúc này, để lừa phỉnh cô, để khiến cô nghĩ rằng anh không có ý tưởng nào cả. Cú đấm từ cơn điên của cô sẽ tung ra. Cơn bốc hỏa đã khiến cô trở thành một người mà anh không thể nhận ra sẽ bùng cháy và để cô nguyên lành trở lại. Nỗi hổ thẹn sẽ khiến đưa cô trở lại là chính cô, và cô sẽ nhớ ra mọi thứ. Những năm tháng đó. Lần họ đi Italy. Lần họ nhảy xuống từ máy bay. Lần cô đâm xe vào một cái cây trong khi đọc thư mừng kỷ niệm ngày cưới và suýt chết. Những vở diễn nghiệp dư. Những thứ họ đã trồng cùng nhau, trong khoảng sân sau mà họ đã làm.

Không phải là câu trả lời khi nói rằng suối và rừng không thể có quyền bởi vì suối và rừng không thể nói. Các công ty cũng không thể nói; các nhà nước, bất động sàn, trẻ sơ sinh, người thiểu năng, khu tự trị, hay trường đại học đều không thể. Luật sư nói thay cho chúng.

Điều quan trọng nhất là không bao giờ được để cô nhận ra rằng anh biết. Anh phải tỏ ra rộn ràng, thông minh, vui vẻ. Giây phút mà cô nghi ngờ, nó sẽ phá hủy cả hai người họ. Cô có thể sống với bất cứ điều gì ngoại trừ sự được tha thứ.

Nhưng sự che đậy đang giết chết anh. Anh đã không bao giờ diễn được ai ngoài một Macduff chân thực. Tám giờ bốn mươi tám. Anh cố để tập trung. Buổi đêm kéo dài ra phía trước như hai bản án chung thân nối tiếp nhau. Anh chỉ có bài viết này để bầu bạn cùng anh và tra tấn anh.

Có điều gì bên trong chúng ta mang lại cho chúng ta nhu cầu không chỉ thỏa mãn những mong muốn sinh học cơ bản, mà còn mở rộng ý chí của chúng ta tôi các thứ khác, để đối tượng hóa chúng, để biến chúng trở thành của chúng ta, để lôi kéo chúng, để giữ chúng ở một khoảng cách tâm lý?

Bài viết lật giở dưới ngón tay anh. Anh không thể theo dõi nó, không thể quyết định liệu nó xuất sắc hay là thứ vứt đi. Toàn bộ bản thể của anh đang phân rã. Tất cả các quyền và ưu tiên của anh, mọi thứ anh sở hữu. Một món quà vĩ đại vốn đã là của anh từ khi ra đời đang bị cướp đi. Đó là một hành động xa hoa, dữ dội của sự tự lừa gạt, một lời nói dối hoàn toàn, như Kant từng nói: Trong những điều liên quan tối những thứ phi con người, chúng ta không có nghĩa vụ trực tiếp nào cả. Tất cả các tồn tại chỉ là phương tiện đi đến một cái kết. Cái kết đó là con ngươi.

GHÊ TỞM BAO TRÙM cô khi cô lái xe về nhà. Nhưng ngay cả sự ghê tỏm cũng cảm giác giống như tự do. Nếu một người có thể thấy phần tồi tệ nhất trong con người cô… Nếu một người có thể biết được thực tế trọn vẹn, nhận thức đầy đủ về con người thật sự của cô… Giờ đây khi đã thỏa mãn, cô muốn trong sạch trở lại. Trong ánh sáng của Snelling, cô nhìn lên gương chiếu hậu và thấy đôi mắt của cô đang lẩn tránh khỏi ánh nhìn lén lút của chính mình. Cô nghĩ: Mình sẽ dừng lại. Mình sẽ lấy lại cuộc đời mình. Sự đứng đắn. Điều này không cần phải dừng lại trong một quả cầu lửa. Buổi biểu diễn sắp tới có thể hút bớt năng lượng dư thừa của cô. Sau đó, cô sẽ tìm thứ gì đó khác để chiếm hữu cô. Để giữ cô bình tĩnh và tỉnh táo.

Đến Lexington, đi xuống mười tòa nhà, cô định làm thềm một liều thuốc nữa. Chỉ một liều nữa, để nhắc cô nhớ cảm giác trượt tuyết miền lục địa núi này là như thế nào. Cô sẽ không bị thống khổ. Cô sẽ có cơn nghiện này, mà không cần đến những giải pháp đáng thương. Cô không biết thứ gì đang bị gây nghiện: cơ thể cô hay là ý chí của cô. Cô chỉ biết rằng cô sẽ theo bản thân mình xuống, tới bất cứ đâu nó mang cô xuống. Tới lúc cô quay lại con đường hẻm núi đầy lá của họ, cô bình tĩnh trở lại.

CÔ VÀO NHÀ, mặt đỏ hồng vì lạnh. Khăn quàng xoã xuống khi cô đấy cánh cửa khép lại phía sau lưng. Bản ghi nhạc Requiem rơi xuống khỏi tay cô. Cô cúi người để nhặt, và khi cô đứng thẳng lên, mắt họ gặp nhau, đảo lộn tất cả. Sợ hãi, thách thức, cầu xin, hung dữ. Muốn về nhà trở lại, với một người bạn cũ.

“Ô! Anh không nhúc nhích khỏi cái ghế đó.”

“Diễn thử tốt chứ?”

“Tuyệt vời!”

“Anh rất mừng. Em đã hát phần nào?”

Cô đi tới chỗ anh ngồi. Một phần trong điệp khúc cũ của họ. Cô ôm anh, Ziemlich langsam und mit Ausdruck[6]. Trước khi anh có thể đứng lên, cô lướt qua, vào trong bếp, ngửi trên cơ thể mình hỗn hợp mùi muối và thuốc tẩy. “Em sẽ tắm qua một chút trước khi đi ngủ.”

Cô là một phụ nữ thông minh, nhưng cô chưa bao giờ có đủ kiên nhẫn với điều hiển nhiên này. Cô cũng không nghĩ anh có khả năng quan sát đơn giản. Cô tắm hai mươi phút rồi quay ra hát bản nhạc Brahms của mình.

TRÊN GIƯỜNG, trong bộ pajama hình con công, đã xức và hồi phục sau khi dùng dầu xịt nóng, cô hỏi, “Anh đọc thế nào?”

Anh cần một chút để nhớ lại suốt buổi tối anh đã ra sao trong khi cố đọc. Thứ cần là mọt thần thoại…

“Khó đấy. Anh không hoàn toàn ở đó.”

“Ùm.” Cô nghiêng mình để đối diện với anh, hai mắt nhắm lại. “Nói em nghe.”

Tôi không nghĩ là quả xa khi chúng ta đề cập tới Trái Đất, như một số người đã gợi ý, như một sinh thể, mà trong đó con người là một bộ phận chức năng - bộ phận trí tuệ, có thể thế.

“Ông ta muốn trao quyền cho mọi thứ còn sống. Ông ta khẳng định rằng chi trả cho cây cối vì sự phát minh sáng tạo của họ sẽ khiến cả thế giới giàu lên. Nhưng nếu ông ấy đúng, thì toàn bộ hệ thống xã hội của chúng ta… mọi thứ anh từng làm cho…”

Nhưng hơi thở của cô đã thay đổi, và cô chìm đi như một đứa trẻ mới sinh sau một ngày của những khám phá đầu tiên.

Anh tắt đèn ngủ rồi quay lưng lại với cô. Thế nhưng, cô lẩm bẩm trong giấc ngủ và túm lấy anh, bám vào lưng anh theo chút hơi ấm từ anh tỏa ra. Hai cánh tay trần của cô quàng trên anh, người phụ nữ mà anh đã yêu. Người phụ nữ anh đã cưới. Lady Macbeth thú vị, hoang dã, đầy năng lượng, không thể điều khiển. Người tình trong những cuốn tiểu thuyết phóng túng. Người nhảy dù khỏi máy bay. Nữ diễn viên nghiệp dư giỏi nhất anh từng biết.

NGƯỜI CANH GÁC VÀ BẠCH QUẢ, sâu trong khu rừng gỗ đỏ. Anh kéo một túi đồ tiếp tế. Cô thì một tay cầm cái máy quay của khu trại; với tay kia, cô nắm vào bắp tay anh giống như một người bơi trong kênh rạch đang đu xuống từ một cái xuồng. Thỉnh thoảng cô siết cổ tay anh, hướng sự chú ý của anh tới một thứ gì đó sặc sỡ hoặc phóng vụt ra ngoài sự hiểu biết của họ.

Đêm hôm qua họ đã ngủ trên nền đất lạnh, giữa trời. Những biển bùn bao vây quanh hòn đảo viền dương xỉ của họ. Anh nằm trong một cái túi ngủ kiểu những năm 1950 dính vệt nước tiểu và cô nằm trong một cái khác, bên dưới vô số những sinh vật hiền hòa say ngủ. “Cô không thấy lạnh cóng à?” anh hỏi.

Cô trả lời không. Và anh đã tin cô.

“Đau không?”

“Không nhiều.”

“Sợ không?”

Mắt cô thì nói, Tại sao? Miệng cô lại đáp, “Chúng ta nên sợ à?”

“Họ quá lớn mạnh. Humboldt Timber đã thuê hàng trăm người. Hàng nghìn máy móc. Tất cả luật pháp đều đúng về phía họ, được chống lưng bởi ý chí của người Mỹ. Chúng ta chỉ là một nhóm người thất nghiệp chống phá, cắm trại ngoài rừng.”

Cô mỉm cười, như thể với một đứa trẻ vừa hỏi liệu người Trung Quốc có thể tới chỗ họ thông qua một đường ngầm trong lòng đất được hay không. Bàn tay cô luồn ra khỏi túi ngủ của mình rồi luồn vào túi ngủ của anh. “Tin tôi đi. Tôi tin tưởng hoàn toàn. Những điều vĩ đại đang đến.”

Bàn tay của cô để giữa họ giống như một đường nối ngang khi cô chìm vào giấc ngủ.

HỌ THEO MỘT CON ĐƯỜNG NGOẰN NGOÈO xuống một cái cống thoát nước ở phía xa cho tới khi con đường trở thành một rãnh bùn lầy. Thêm hai dặm, con đường mòn biến mất và hai người họ phải đi trong bụi rậm. Ánh sáng rây qua các vòm cây. Anh quan sát cô băng qua một thảm hoa sao xen lẫn cây chút chít. Chỉ mới mấy tháng trước, theo cách nghĩ của chính cô, cô là một kẻ tự ái, rã rời, giận dữ, có vấn đề với chất gây nghiện, bị thôi học khỏi trường đại học. Giờ đây cô - sao chứ? Một thứ hòa bình với con người, trong liên kết với một thứ không hẳn là như thế.

Những cây gỗ đỏ làm những thứ lạ lùng. Chúng ngân nga. Chúng tỏa ra những vòng cung lực. Từng cái ụ trên thân cây của chúng trồi ra những hình dạng thần bí. Cô nắm lấy vai anh. “Nhìn nó xem!” Mười hai cây tông đồ đứng thành một vòng thần thánh hoàn hảo như những cái vòng mà cậu bé Nicky từng vẽ bằng thước đo độ vào những ngày Chủ nhật mưa từ nhiều thập kỷ trước. Nhiều thế kỷ sau khi tổ tiên của chúng chết, một tá phân thân cơ bản bao quanh trung tâm trống không đó, tất cả bao quanh hoa hồng la bàn ấy. Một tín hiệu hóa học lướt qua não Nick: Giả sử một người đã điêu khắc một trong số này, y như chúng đang đứng đây. Tác phẩm duy nhất đó hẳn sẽ là một dấu mốc trong nghệ thuật nhân loại.

Đi xuống dọc theo con lạch trơ sỏi, họ tới chỗ một cái cây không lồ bị đổ, một cái cây mà ngay cả bề dày cũng cao hơn Olivia. “Chúng ta tới nơi rồi. Ngay phía bên phải kia, Mẹ N đã nói thế. Hướng này.”

Anh thấy trước: một trảng cây khoảng sáu trăm năm tuổi, chạy ngược lên ngút tầm mắt. Những cây cột của một gian chính giữa giáo đường màu nâu đỏ. Những cái cây có trước cả chữ động (movable type). Nhưng các rãnh nếp của chúng được phun sơn những con số màu trắng, giống như ai đó xăm hình một con bò sống với một sơ đồ xẻ thịt cho thấy những đường cắt các phần thịt khác nhau ẩn phía dưới. Các lệnh của một vụ thảm sát.

Olivia nâng máy quay lên mặt và quay phim. Nick bỏ ba lô xuống, bước thảnh thơi vài bước. Một loạt lọ xịt đủ màu lấy ra từ trong ba lô của anh. Anh đặt chúng xuống một vạt cỏ đuôi ngựa non: sáu màu từ khắp bảng màu. Màu đỏ cherry một bên tay, màu vàng chanh bên tay kia, anh đi lại một cái cây bị đánh dấu. Anh xem xét những đường kẻ trắng có sẵn ở đó. Rồi anh nâng cái bình lên và xịt.

Sau đó, video của cô sẽ được biên tập, chèn giọng nói vào, rồi gửi cho các nhà báo có lòng thương cảm trong sổ địa chỉ của Lực lượng Bảo vệ Sự sống. Lúc này, phần âm thanh là hàng trăm tiếng kêu gào của rừng kết thúc trong tiếng hét kinh sợ - Sao các người lại làm thế? - nói sát vào loa. Nick quay trở lại bảng màu của mình dưới nền rừng và chọn thêm hai màu nữa. Anh vẽ, rồi lùi lại đánh giá công trình của mình. Các tác phẩm này thô sơ như bất cứ hiện vật nào có trong một tủ đồ sưu tập của bảo tàng. Anh đi đến cái cây bị đánh số tiếp theo và bắt đầu lại. Chẳng bao lâu sau, các con số biến mất, không thể nhận ra nữa, hóa thành những cánh bướm.

Anh tiến đến những cây được đánh dấu bằng một dấu tick màu xanh. Chúng ở khắp nơi, những phán quyết tử hình được làm với một đường nét đơn giản. Rồi anh tiếp tục vẽ lên những cây không hề bị đánh dấu, cho tới khi không thể phân biệt được đâu là những cây đã ghi vào danh sách đốn hạ và đâu chỉ là những kẻ đứng xem. Buổi chiều tàn; cả hai người họ đã ở trong rừng quá lâu để có thể nói là chỉ trong mấy giờ. Công việc sắp kết thúc, trong một nháy mắt nữa.

Olivia lia máy quay khắp trảng rừng vừa được biến hình. Nơi đã từng là các thước đo và ước tính tương lai, một dự án của những con số hà khắc, giờ đây chỉ còn là những con bướm nâu, bướm phượng, bướm morpho, bướm hairstreak, bướm heath. Nó có thể là một rừng linh sam thiêng trên các dãy núi ở Mexico, nơi những côn trùng Tiffany trình diễn cuộc chuyển cư nhiều thế hệ của chúng. Thế là hai con người, trong một buổi chiều, đã hoàn tác một tuần làm việc của sáu người thẩm định và điều tra viên.

Giọng nói trong video chưa chỉnh sửa nói rằng, “Họ sẽ quay trở lại.” Ý anh là những người đánh số sẽ quay trở lại để đánh dấu những sinh vật được chọn ra để giết thịt một lần nữa theo một cách kinh khủng hơn.

“Nhưng thế này rất đẹp. Họ sẽ phải trả giá. “

“Có thể. Mà cũng có thể các hãng gỗ sẽ cứ thế đến và lấy đi mọi thứ, giống như họ đã làm ở rừng Murrelet.”

“Giờ chúng ta có phim rồi.”

Ta có thể nghe thấy điều này trong âm thanh của giọng nói được ghi âm của cô: niềm tin rằng tình cảm có thể giải quyết được các vấn đề về tự do. Rồi đoạn phim chuyển sang tối om. Không ai biết chuyện gì xảy ra tiếp theo giữa hai con người đó, ở kia trên nền rừng, giữa những bờ dương xỉ và hoàng tinh. Không ai, trừ khi tính đến vô số sinh vật làm hang dưới lòng đất, bò dưới vỏ cây, thu mình trong các cành cây, leo trèo và nhảy nhót và chất đống trên khắp tán cây. Kể cả những cây khổng lồ cũng hít vào vài phân tử trên hàng tỉ phân tử quy tụ rải rác trong không khí.

PATRICIA NGHE THẤY từ xa cách một phần tư dặm: tiếng xe tải của Dennis nghiến xuống con đường rải sỏi. Âm thanh ấy khiến cô vui - vui trước khi cô biết mình vui. Theo cách của riêng nó, tiếng răng rắc rào rạo này khiến cô bay bổng y như tiếng kêu ríu rít của một con chim chích Townsend bay lượn quanh viền một vùng rừng trống. Chiếc xe tải là một vật hiếm hoi trong thế giới hoang dã, mặc dù sinh vật này xuất hiện hằng ngày, đúng giờ như cơn mưa.

Cô lướt xuống đường, cảm thấy cảm giác chờ đợi nãy giờ thật khó chịu, hai mươi phút cuối cùng này. Ông sẽ mang theo bữa trưa, phải, và lá thư, cái túi tổng hợp mọi kết nối của cô với thế giới bên ngoài. Dữ liệu mới từ phòng thí nghiệm trong Corvallis. Nhưng Dennis: Đó mới chính là phần mà tâm hồn cô giờ đây cần đến. Ông khiến cô vững tâm, sự lắng nghe của ông, và cô tự hỏi với nỗi sợ hãi háo hức rằng liệu hai mươi hai tiếng có phải quá dài để trải qua giữa những lần gặp mặt. Cô tới gần chiếc xe đang đỗ và phải lùi lại khi ông mở cửa buồng lái. Vòng tay rộng của ông ôm qua người cô và ông vùi vào cổ cô.

“Den. Loài động vật yêu mến của em.”

“Em yêu. Chờ mà xem chúng ta có gì này.” Ông đưa cho cô lá thư rồi cầm lấy cái thùng giữ nhiệt. Họ đi lên con dốc để vào căn nhà gỗ, vai kề vai, thanh bình bên nhau trong lặng im.

Cô ngồi xuống cái bàn tròn bên hiên, giở lá thư trong khi ông mở hộp đồ ăn. Làm sao tính nhị nguyên uy lực - Thông tin quan trọng về bảo hiểm của bạn. Mở ngay lập tức! - tìm đến cô ngay ở đây? Cô đã sống xa rời thương mại suốt nhiều thập kỷ, thế nhưng tên cô vẫn là một món hàng nóng, mua và bán liên tục khi cô ngồi trong căn nhà gỗ đọc Thoreau. Cô hy vọng rằng những người mua không phải trả nhiều. Không: cô hy vọng rằng họ đang bị tống tiền.

Không có gì từ Corvallis, nhưng có một cái gói từ đại diện của cô. Cô đặt nó xuống trên những thanh gỗ, bên cạnh cái đĩa của mình. Nó vẫn ở nguyên đó khi Dennis mang ra hai con cá hồi vân nhỏ nhồi tuyệt diệu.

“Mọi thứ ổn chứ?”

Cô gật đầu và lắc đầu cùng một lúc.

“Không có tin gì tệ phải không?”

“Không. Em không biết. Em không thể mở.”

Ông bỏ con cá ra rồi cầm cái gói lên. “Nó từ Jackie. Có gì mà phải sợ?”

Cô không biết. Kiện cáo. Sự trừng trị. Kinh doanh chính thức. Mở ngay lập tức. Ông đưa cho cô cái phong thư và khoát tay trong không trung, thúc đấy lòng can đảm của cô.

“Anh thật tốt với em, Dennis.” Cô lướt ngón tay vào dưới nắp phong bì niêm phong và nhiều thứ đổ ra. Các review. Thư của người hâm mộ chuyển tiếp. Một lá thư từ Jackie với một tờ séc kẹp cùng nó. Cô nhìn tờ séc rồi kêu lên. Tờ giấy rơi xuống đất và úp sấp, trên mặt đất luôn ấm ướt. Dennis lấy tấm séc lên rồi lau chùi. Ông rít lên. “Ôi trời!” Ông nhìn cô, mày nhướng lên. “Họ đặt dấu sai một con số à?”

“Hai con số!”

Ông cười to, hai vai run bần bật, giống chiếc xe cố lổ của ông cố nổ máy sau một đêm dưới trời lạnh giá. “Cô ấy nói với em là cuốn sách đã bán rất chạy.”

“Có gì đó không đúng ở đây. Chúng ta sẽ phải trả nó lại.”

“Em đã tạo ra một thứ rất hay, Patty. Mọi người thích những thứ hay.”

“Không thể nào…”

“Đừng có căng thẳng. Nó không quá nhiều đến thế.”

Nhưng thực sự là vậy. Nó nhiều hơn mức cô từng có trong bất cứ nhà băng nào, suốt cuộc đời cô. “Tiền đó không phải của em.”

“Ý em là sao, không phải của em? Em đã làm việc cho cuốn sách đó suốt bảy năm!”

Cô không nghe ông nói. Cô đang nghe tiếng gió ùa qua những cây tổng quán sủi.

“Em luôn có thể cho nó đi. Viết một tấm séc cho Cục Kiểm lâm Hoa Kỳ. Hoặc có thể là cho chương trình phục hồi lai ngược cây dẻ. Em có thể đầu tư nó vào nhóm nghiên cứu đó. Thôi nào. Giờ ăn cá đi. Anh mất hai tiếng mới bắt được lũ này đấy.”

SAU BỮA TRƯA, ông đọc cho cô nghe các review. Chẳng hiểu sao, qua giọng trầm ấm phát thanh của Dennis, chúng nghe hầu như tốt cả. Đánh giá cao. Mọi người nói, Tôi đã không nhận ra. Mọi người nói, Tôi đã bắt đầu hiểu ra mọi điều. Rồi ông đọc cho cô thư của các độc giả. Một số người trong số họ chi muốn cảm ơn cô. Một số người cứ nghĩ như thể cô là mẹ của tất cả các loài cây. Một số người khiến cô cảm thấy mình là Nữ hoàng Cô độc. Trong sân sau nhà chúng tôi có một cây bur oak chắc là đã 200 tuổi. Mùa xuân năm ngoái, một bên của nó bắt đầu yếu bệnh. Nhìn nó tàn lụi dần mòn khiến tôi như chết đi. Tôi phải làm gì đây?

Nhiều người nói đến những cây cho đi - những cây linh sam Douglas mà, với hành động tối cao, cho tất cả các dưỡng chất thứ cấp của chúng cho cộng đồng.

“Nghe cái này nhé, em yêu? ‘Cô đã khiến tôi nghĩ về cuộc đời theo một cách khác đi.’ Đây chắc là một lời khen.”

Cô bật cười, nhưng nghe giống như một con mèo báo rơi vào bẫy.

“Ồ. Nghe này, có một thứ này. Một lời đề nghị đến một chương trình phát thanh công cộng được nghe nhiều nhất cả nước. Họ đang thực hiện một series về tương lai của hành tinh, và họ cần một người nói về cây cối.”

Cô nghe giọng của ông từ trên cao trong một cây linh sam Douglas giữa một cơn bão hú gào. Công nghiệp của con người, khắp mọi nơi. Người ta cần các thứ từ cô. Người ta nhầm lẫn cô với ai đó khác. Người ta muốn kéo cô một cách hung bạo trở lại cái mà con người nhầm lẫn gọi là thế giới.

MOSES MỆT LẢ đi vào trong khu cắm trại. Hành động diễn ra khắp nơi, và họ đã mất mười ba người bị giam cầm và bắt giữ trong nửa tuần qua. “Chúng ta có một vị trí ngồi trên cây kế tục cần người giữ chỗ. Có ai sẵn sàng cho một phiên ngắn ở trên đó không?”

Bàn tay của Bạch Quả giơ lên cao trước cả khi Người Canh Gác kịp hiểu yêu cầu của nhiệm vụ. Có một dáng vẻ như lướt qua khuôn mặt cô: Vâng. Thú này. Cuối cùng.

“Cô chắc chứ?” Moses hỏi, như thể không phải ông ta vừa mới hoàn toàn những dự đoán của những tiếng nói của ánh sáng. “Cô sẽ ở trên đó ít nhất là vài ngày.”

CÔ TRẤN AN NICK trong khi xếp đồ đạc. “Nếu anh nghĩ anh có thể làm nhiều hơn ở dưới này… Em sẽ tự lo liệu được cho mình. Họ sẽ không dám làm hại em đâu. Nghĩ tới báo chí xem!”

Anh sẽ không thấy ổn, trừ khi ở nơi có cô. Mọi thứ đơn giản đến thế, ngớ ngẩn đến thế. Anh không nói vậy với cô. Điều này rõ ràng quá mức, ngay cả trong cách anh do dự và gật đầu. Tất nhiên cô biết. Cô có thể nghe thấy các hiện thân dù không ở đây lúc này. Tất nhiên cô có thể nghe những ý nghĩ ồn ào, mạch máu đập trong tai anh, dù là trong cơn mưa không ngớt này.

CÁC BA LÔ CỦA HỌ bay qua cổng trước. Sau đó tới họ - Bạch Quả, Người Canh Gác, và người hướng dẫn của họ, Loki, người đã chạy dưới đất để hỗ trợ các cây này suốt nhiều tuần. Bàn chân của họ quay trở lại lãnh địa của Humboldt Timber, xâm phạm với mục đích phạm tội. Ba lô rất nặng và đường rất dốc. Nhiều tuần mua rền rĩ liên tục đã biến con đường này trở thành cà phê Thổ Nhĩ Kỳ. Mấy tuần trước, họ hẳn đã không thể đi đến dặm thứ ba. Ngay cả bây giờ, qua năm dặm, ở độ cao này, Người Canh Gác phải hít thở những ngụm to. Anh thấy xấu hổ và tụt lại phía sau trên con đường, nơi cô không thể nghe thấy anh phì phò. Con đường tiến lên một vách núi thẳng đứng. Sức nặng của cái ba lô và lớp bùn như hút bàn chân kéo anh xuống cho tới khi mỗi bước chân là một cú nhảy sào. Anh dừng lại để thở, và không khí mang hơi tuyết đi vào lồng ngực anh. Phía trên cao, Bạch Quả phăm phăm tiến lên như một con thú thần thoại. Sức mạnh dâng lên trong đôi chân cô từ mặt đất như đệm mút. Mỗi cú nảy phủ bùn lại làm mới cô. Cô đang nhảy.

Sự nhát gan bỏ thêm mấy hòn đá vào ba lô của Nick. Anh không muốn bị bắt giam. Anh cũng chẳng thích gì độ cao. Anh chỉ muốn đưa mình lên bề mặt vách đá. Còn cô được thức đẩy bởi mong muốn cứu mọi sinh vật.

Loki đưa bàn tay ra. “Nhìn thấy ánh sáng loang loáng kia không? Chim ó và Tia lửa đang chờ chúng ta. Họ nghe thấy chúng ta.” Anh ta chụm hai tay lên môi và hú. Ánh sáng phía trên rừng cao lại chiếu loang loáng, có vẻ sốt ruột. Điều này cũng khiến Loki bật cười. “Mấy gã đó muốn xuống mặt đất lắm rồi. Hai người thấy không?”

Bản thân Nick cũng muốn như thế lắm rồi, dù anh còn chưa rời mặt đất. Họ vật lộn mấy trăm mét còn lại dẫn lên một lối đi. Một cái cây hiện ra từ bụi rậm, to đến phi thực.

“Nó đây,” Loki nói, vô nghĩa. “Đây là Mimas.”

Những âm tiết đó dâng lên và thoát ra khỏi miệng Nick, những âm tiết có nghĩa, đại thể, Ôi Chúa vô vọng của tôi. Anh đã thấy nhiều cái cây khổng lồ suốt mấy tuần nay, nhưng chưa có cây nào giống cây này. Mimas: bề ngang còn rộng hơn cả ngôi nhà điền trang cũ của ông cụ anh. Ở đây, khi ánh hoàng hôn phủ lên họ, cảm giác thật là nguyên thuỷ, thiêng liêng, một cuộc gặp trực diện với thần linh. Cái cây vút thẳng lên giống như một ụ đất hình cột khói và quên mất dừng lại. Từ dưới đất, đó có thể là Yggdrasil, Cây Thế giới, với rễ trong thế giới dưới lòng đất và tán trên thế giới bên trên. Cao hai mươi lăm feet tính từ mặt đất, một thân cây thứ hai chĩa ra từ phần mở rộng của hông cây, một nhánh cây còn to hơn cả Cây Dẻ Nhà Hoel. Hai thân cây khác chĩa ra cao hơn thân cây chính. Tổng thể trông giống như một bài tập trong môn phân nhánh học, Cây Tiến hóa của Cuộc đời - một ý tưởng vĩ đại lan tỏa thành những cành cây cùng họ mới, vươn lên theo dòng chảy của thời gian lâu dài.

Người Canh Gác đi lên chỗ Bạch Quả đang đứng nhìn trân trối, tự hỏi có phải là đã quá muộn để rút lui. Nhưng ngay cả trong ánh sáng dần tàn, khuôn mặt cô vẫn bừng sáng với đại nghiệp. Tất cả sự khích động mà đã là một phần rõ ràng của cô kể từ khi cô lái xe vào con ngõ sỏi đá nhà anh ở Iowa đã phai nhạt đi, thay thế bằng một sự tin chắc thuần khiết và đau đớn như sự đoan chắc của con cú cô độc đó. Cô dang cánh tay ôm các rãnh cây. Cô giống như một con bọ cố ôm con chó của nó. Gương mặt cô nghiêng nghiêng nhìn ngước lên thân cây khổng lồ. “Em không tin. Em không tin không có cách nào để bảo vệ thứ này ngoại trừ bằng thân xác của chúng ta.”

Loki nói, “Nếu không có ai mất tiền hay bị thương tích, luật pháp chẳng thèm đoái hoài đâu.”

Phần rễ của cây, nằm giữa hai cái ụ khổng lồ, mở ra một cái hốc lót đầy than đá đủ để cho cả ba người họ ngủ đêm nay. Những đường bồ hóng đen chạy ngược lên thân cây, những vết sẹo của ngọn lửa đã cháy rất lâu trước khi có một nước Mỹ. Vết sém trong tán lá dưới thấp gợi nhắc một trận sét vẫn còn mới đủ để nhận ra. Và từ trên cao trong vòm lá đan cài, xa tắp khỏi mặt đất, vọng xuống tiếng reo mừng của hai con người mệt mỏi kiệt sức mà chỉ muốn được khô ráo ấm áp và an toàn trở lại đêm nay, trong ít giờ.

Cái gì đó rơi phịch từ trên cao xuống. Người Canh Gác kêu lên và lôi Bạch Quả qua một bên. Con rắn rơi xuống nền rừng. Một sợi dây thừng lủng lẳng trong không khí, bề ngang bằng ngón tay cái của Người Canh Gác, trước cái thân cây rộng hơn cả tầm nhìn của anh.

“Chúng ta phải làm gì với thứ này? Buộc ba lô lên đây?”

Loki cười khùng khục. “Anh trèo lên đó.”

Anh ta đưa ra một bộ dây đai, thắt các nút trên sợi dây thừng, và các móc cài. Anh ta bắt đầu buộc thắt lưng của bộ dây đai quanh hông Người Canh Gác.

“Khoan đã. Cái gì đây? Đây là kẹp giấy à?”

“Sẽ có tác dụng đấy. Đừng lo lắng. Mấy thứ kẹp giấy và băng dính này không mang trọng lượng của anh đây.”

“Không, cái sợi dây giày này sẽ mang trọng lượng của tôi.”

“Nó đã từng mang những thứ nặng hơn anh nhiều đấy.”

Olivia bước lên giữa hai người đàn ông đang tranh cãi và đón lấy bộ dây đai. Cô buộc nó quanh hông mình. Loki khóa cô lại với các móc khoá. Anh ta buộc cô vào sợi thừng bằng hai nút thắt kiểu Prusik, một ở ngục cô và một ở bàn đạp chân.

“Thấy chưa? Trọng lượng của bạn sẽ kéo các nút này thắt chặt với sợi thùng, giống như những nắm tay nhỏ. Nhưng khi bạn thả ra…” Anh ta nói một thắt nút lỏng trên sợi thừng. “Đúng lên bàn đạp. Đẩy cái nút thắt trên ngực lên cao nhất có thể. Dựa ra sau và để nó mang trọng lượng. Ngồi vào trong bộ dây đai. Trượt cái nút thắt ở bàn đạp chân cao hết mức nó sẽ đi. Rồi đứng lên đó. Lặp lại.”

Bạch Quả bật cười. “Giống con sâu đo nhỉ?”

Giống hoàn toàn. Cô nhích lên. Cô đứng lên. Cô ngửa ra sau rồi ngồi xuống. Cô đứng lên và rồi lại nhích, trèo lên cái thang không khí, nhấc bản thân cô lên trong những bước đặt chân tự nâng mình khỏi bề mặt của Đất. Người Canh Gác đúng dưới trong khi cô lần bước, theo một cách chưa từng trải nghiệm, lên trời. Sự thân mật - cơ thể cô dập dềnh phía trên anh - khiến tâm hồn anh rực sáng. Cô là con nhím đó, Ratatoskr, Yggdrasil đang leo, mang theo những thông điệp giữa địa ngục, thiên đường, và nơi đây.

“Cô ấy rất tài,” Loki nói. “Cô ấy đang bay. Cô ấy sẽ lên tới đỉnh trong hai mươi phút.”

Đúng là như thế, mặc dù mọi thớ thịt của cô run rẩy khi cô lên tới nơi. Từ trên cao, những người reo mừng chào đón cô lên tới đỉnh. Phía dưới mặt đất, lòng ghen tị dày vò Nick, và khi bộ dây đai rơi xuống trở lại, anh bước vào. Anh lên được khoảng một trăm feet giữa không trung thì bắt đầu hoảng sợ. Sợ thừng này không thể giữ anh hẳn hoi được. Nó đang xoắn vặn và khiến phần nilon kỳ cục của nó kêu xào xạo. Anh ngửa cố ra xem còn bao xa. Vô tận. Rồi anh mắc sai lầm khi nhìn xuống. Loki quay trong những vòng tròn nhỏ phía dưới. Gương mặt anh ta ngửa lên trông như một bông hoa sao Paciffic sắp bị nghiền nát dưới bàn chân. Các cơ của Người Canh Gác đầu hàng cơn hoảng loạn. Anh nhắm mắt và thì thầm, “Tôi không làm được việc này. Tôi đang chết.” Anh cảm nhận thấy tiếng kêu ù ù, cú rơi bất tận, đang chạy dọc chân mình. Hai bụm nôn nhỏ dâng lên cổ họng anh và vọt ra áo gió của anh.

Nhưng Olivia đang nói, ngay sát tai anh. Nick. Anh đã từng làm điều này rồi. Em đã thấy nô mấy tuần trước. Một bàn tay nào, cô nói. Một bàn chân nữa. Ngồi. Trượt cái nút thắt. Đứng lên. Anh mở bừng mắt nhìn thân cây Mimas, sinh vật to nhất, khỏe nhất, rộng rất, cổ nhất, thực nhất, tỉnh táo nhất mà anh từng thấy. Kẻ giữ nửa triệu ngày và đêm, và nó muốn có anh trong vòm lá của nó.

Tiếng hò la chào đón anh ở trên đỉnh. Những người ở trên anh buộc anh vào cây bằng hai cái móc. Olivia đi tới đi lui trên bề mặt các cành cây, được kết nối bằng thang dây. Chim ó và Tia lửa đã nói rất lâu cho cô nghe tất cả các điều khoản trong thời gian giữ chỗ. Họ chỉ muốn xuống trước khi màn đêm chụp lấy họ. Họ trèo xuống sợi dây tới chỗ Loki, người đang gọi với lên qua màn đêm đang dần bao phủ. “Một ai đó sẽ đến thế chỗ cho các bạn trong vài ngày tới. Tất cả những gì các bạn cần làm là ở trên ấy từ giờ cho tới khi đó.”

Rồi CHỈ CÒN LẠI NICK và người phụ nữ lâu nay đã chỉ đạo cuộc sống của anh. Cô nắm bàn tay anh, bàn tay vẫn còn chưa mở nắm. “Nick. Chúng ta ở đây. Trong Mimas.”

Cô nói cái tên của sinh vật này như thể nó là một người bạn cũ. Như thể cô đã nói chuyện về nó suốt bao lâu nay. Họ ngồi bên nhau trong bóng tối loang lổ, hai trăm feet giữa không trung, trên cái mà Chim ó và Tia lửa gọi là Đại Hội trường: một bề mặt với một chiều bảy feet một chiều chín feet được tạo bởi ba cánh cửa nối vào nhau. Các bức vách vải bạt buông xuống che chắn ba phía quanh họ.

“Lớn hơn phòng của em ở trường đại học,” Olivia nói. “Đẹp hơn nữa.”

Thăng bằng trên một cành cây khác ngay phía dưới, có thể đến được bằng thang dây, là một mảnh ván nhỏ hơn. Một cái thùng hứng nước mưa, hộp đựng đồ, và thùng có nắp hoàn thiện căn phòng tắm. Sáu feet phía trên họ trên một ụ cây cao hơn, một bề mặt khác được dùng làm chỗ để đồ ăn, bếp và kho. Ở đó có đầy đủ nước, thức ăn, vải bạt, và gia cụ. Một cái võng căng giữa hai cành cây lưu giữ một thư viện nhỏ đáng giá, được bỏ lại đây bởi những người ngồi giữ cây trước đó. Toàn bộ ngôi nhà cây có ba cấp độ này cân bằng trên đỉnh của đoạn chạc ba khổng lồ được hình thành khi cái cây bị sét đánh từ nhiều thế kỷ trước. Nó đung đưa theo từng cơn gió nhẹ.

Một ngọn đèn dầu hỏa soi sáng gương mặt cô. Anh chưa bao giờ thấy cô vững chãi đến thế. “Lại đây nào.” Cô nắm cổ tay anh kéo về phía mình. “Đây. Gần hơn nữa.” Như thể xa hơn là một lựa chọn. Và cô đón anh như thể anh là một người tin rằng cuộc đời cần có cô.

TRONG ĐÊM, một cái gì đó mềm ấm lướt qua mặt anh. Bàn tay của cô, anh nghĩ thế, hoặc là mái tóc cô xoã xuống khi cô ngả vào anh. Ngay cả cảm giác bồng bềnh say sóng chầm chậm của cái nệm bông cũng cảm giác thật vui sướng - căn nhà chật chội của tình yêu. Một móng vuốt cào vào má anh, và nữ yêu tinh buông ra với tiếng kêu the thé. Người Canh Gác nhảy cẫng lên, la thét, “Chết tiệt!” Anh chạy ra mép mặt phẳng, nhưng cái dây an toàn kéo anh lại. Một lòng bàn tay đập vào bức vách vải bạt tưởng tượng. Các sinh vật kêu the thé lao xuống các cành cây.

Cô chạy đến trong chớp mắt, kẹp chặt hai cánh tay anh. “Nick. Dừng lại. Nick! Ổn rồi.”

Sự nguy hiểm vỡ ra thành những mảnh nhỏ. Trong tiếng răng va lập cập, anh từ từ nghe thấy những lời cô liên tục nói. “Mấy con sóc bay thôi. Chúng đã vờn chúng ta mười phút rồi.”

“Chúa ơi! Tại sao?”

Cô bật cười vỗ về anh rồi kéo anh trở xuống sàn. “Anh sẽ phải hỏi chúng thôi. Nếu chúng có quay trở lại.”

Cô rúc vào người anh, bụng cô áp vào tâm lưng nhỏ của anh. Giấc ngủ sẽ không đến. Có những sinh vật sống trên rất cao và xa khỏi con người đến nỗi chúng không bao giờ thấy sợ. Và nhờ sự điên cuồng trong những tế bào của mình, Nick - ngay trong đêm đầu tiên của chính nhiệm vụ ngồi cây lần đầu này - đã dạy cho chúng.

ÁNH SÁNG TỤ LẠI thành những đốm bằng nắm tay trên mặt anh. Anh hầu như không ngủ, nhưng thức giấc khỏe khoắn theo cách thường chỉ có ở những người siêng năng. Anh lăn nghiêng người và nâng tấm bạt lên. Cả quang phổ ùa vào trong, từ những sắc xanh lam tới những màu nâu, những màu xanh lục tới những màu vàng chưa từng thấy. “Nhìn kìa!”

“Xem nào.” Giọng cô, vừa ngái ngủ vừa háo hức, thì thào vào tai anh. “Ôi, Chúa ơi.”

Họ cùng nhau nhìn: những người khảo sát dây thăng bằng trên cao của một miền đất mới tìm ra. Khung cảnh này khiến lồng ngực anh vỡ tung. Mây, núi, Cây Thế giới, và sương mù - tất cả sự bền bỉ phong phú, quyện hòa mà của tạo hóa mà đã tạo ra những ngôn từ đầu tiên - khiến anh chìm đắm ngẩn ngơ, không thốt nên lời. Những thân cây mọc nhắc lại (reiterated trunks) chìa ra từ thân chính của Mimas, vút lên song song giống như những ngón tay trên bàn tay ngửa lên của Phật, tái hồi cây mẹ trên những quy mô nhỏ hơn, lặp đi lặp lại hình dáng bẩm sinh, cành lá của chúng đan cài vào nhau, quá hỗn độn rối rắm để có thể lần dấu.

Sương mù phủ khắp tán cây. Qua một khoảng hở trên vành lá Mimas, những ngọn cây sum sê của các cây gần đó đứng bồng bềnh trong làn sương khói của một bức tranh thủy mặc. Có nhiều chất trong những chùm lông màu xám của chúng hơn là trong những cái gai màu nâu xanh chọc ra từ chúng. Tất cả xung quanh họ trải ra như một ảo cảnh, câu chuyện thần tiên kỷ Ordovic. Buổi sáng này giống như buổi sáng khi sự sống lần đầu xuất hiện trên vùng đất khô cằn.

Người Canh Gác vén một bức vách vải bạt khá qua bên cái dây runner rồi nhìn lên. Hàng chục feet nữa của Mimas mở ra phía trên - những thân cây đã bị mất đi khi sét đánh vào cây này. Đỉnh của cả hệ thống sum sê này biến mất vào trong vầng mây thấp. Nấm và địa y ở khắp nơi, giống như những vệt sơn xịt ra từ một cái thùng trên trời. Anh và Bạch Quả vắt vẻo ở đó, gần tới nóc tòa Flatiron Building. Anh nhìn xuống. Nền của khu rừng giống như một con búp bê mà cô gái nhỏ hẳn đã tạo ra bằng hạt sồi và cây dương xỉ.

Chân anh lạnh toát với ý nghĩ rơi thẳng xuống dưới. Anh hạ tấm bạt xuống. Cô nhìn anh chăm chú, sự điên cuồng trong đôi mắt màu hạt dẻ của cô, tràn ra khi chuyện trò. “Chúng ta đã ở đây. Chúng ta đến được rồi. Đây là nơi họ muốn chúng ta đến.” Cô trông giống như một ai đó được triệu hồi để giúp những tạo phẩm kỳ diệu nhất của bốn tỉ năm sự sống.

Đây đó những ngọn cây đơn lẻ vút lên trên dàn hợp xướng những cây khổng lồ. Chúng trông giống như những đám mây dông, hoặc như quầng khói tên lửa. Từ phía dưới nhìn lên, những hàng xóm cao nhất trông như những cây tuyết tùng incense tầm trung. Chỉ đến bây giờ. bảy mươi mét cách mặt đất, Nicholas mới đo được kích thước thực của những cây cổ hiếm hoi này, rộng gấp năm lần so với con cá voi có thân mình lớn nhất. Những cây khổng lồ trải xuống tới khe núi nơi ba người bọn họ đã leo lên tối qua. Ở khoảng giữa, khu rừng lan rộng ra với một sắc xanh rậm hơn, sâu hơn. Anh đã đọc về những cây này và sương mù của chúng. Ở mọi phía, cây chồng lấn lên bầu trời ẩm và thấp, những đám mây mà chính chúng đã góp phần tạo thành. Những cuộn vách cây trên không - nổi ụ và gồ ghề hơn, gần như là một loài khác so với những phần thân trơn láng mọc lên ở phía gần đất - uống những bờ sương, tích tụ hơi nước rồi rây rắc xuống các rãnh thoát nước của mọi cành to nhánh nhỏ phía dưới. Nick liếc nhìn lên khu bếp, nơi họ có hệ thống hứng nước riêng đang hoạt động, nhỏ những giọt nước vào trong một cái chai. Thứ mà đêm qua anh đã nghĩ là thật tài tình - làm nên nước từ không có gì - bỗng thật thô thiển khi so với phát minh của loài cây.

Nicholas xem thước phim tự nhiên này như thể đang lật giở một cuốn Aipbook vô tận. Đất đai mở ra, những rặng núi nối liền rặng núi. Mắt anh dần điều chỉnh với sự phong phú kiểu họa tiết baroque. Những cánh rừng của năm sắc thái khác nhau tắm trong sương, mỗi sắc thái là một quần xã sinh vật còn chưa khám phá. Và mỗi cây anh nhìn lên lại thuộc về một nhà tài phiệt Texas, kẻ chưa bao giờ nhìn thấy một cây gỗ đỏ nhưng lại muốn nuốt trông tất cả chúng để trả cho món nợ mà y đã mang để có được chúng.

Sự rục rịch của hơi ấm bên cạnh nhắc anh nhớ rằng mình là Người Canh Gác. Anh không phải là động vật có xương sống lớn duy nhất ở trên cái chòi này.

“Nếu em không thôi nhìn ngắm, bàng quang của em sẽ nổ tung mất.”

Anh quan sát Olivia dò theo cái thang dây xuống bề mặt phía dưới. Anh nghĩ: Mình thực sự nên quay mặt đi. Nhưng anh đang sống trong một cái cây cao hai trăm feet so với bề mặt của hành tinh. Những con sóc bay đã thám thính khuôn mặt anh. Sương mù từ ấu thơ của thế giới đưa trở lại thời kỳ thời gian vô tận, và anh cảm thấy mình trở thành một loài hoàn toàn khác.

Cô ngồi xổm trên cái bình miệng rộng và dòng nước xối xả chảy ra từ cô. Anh chưa bao giờ nhìn một phụ nữ đi tiểu - một số lượng không nhỏ đàn ông từng sống hẳn cũng nói như vậy trên giường hấp hối của họ. Sự che dấu mang tính nghi lễ này bỗng dường như giống với một hành vi động vật kỳ lạ nào đó mà có thể được đưa lên một bộ phim truyền hình về thế giới hoang dã của BBC, giống như con cá đổi giới tính khi chúng cần, hoặc con nhện ăn thịt bạn tình sau khi giao phối. Anh nghe chương trình Phát âm Chuẩn đáng kính thì thầm ngoài camera, Khi được loại bỏ khỏi kiểu cách của mình, con người cá thể có thể thay đổi theo những cách đáng kinh ngạc.

Cô biết anh đang quan sát. Anh cũng biết rằng cô biết. Ở đây, nguyên vẹn, ngay lúc này: văn hóa này phù hợp với nơi này. Khi xong xuôi, cô nghiêng bình đổ xuống bên mé sàn. Gió cuốn nước rải rác đi. Hai mươi feet, và chất thải của cô phân tán vào trong sương mù. Các lá kim sẽ biến nó trở lại thành một cái gì đó sống. “Đến lượt anh,” anh nói, khi cô trở lên. Và rồi từ bên trên, cô quan sát anh khom mình trên cái xô lót túi, thứ mà sẽ đưa cho Loki dọn đi bón cây khi anh ta đến vào lần tiếp theo.

Họ ăn sáng ở không gian mở. Những ngón tay lạnh cóng của họ cho hạt dẻ và mơ khô vào cái miệng đang há hốc, kinh ngạc trước khung cảnh thiên nhiên. Ngồi yên nhìn ngắm: mô tả công việc mới của họ. Nhưng họ là con người, thế nên chẳng bao lâu mà mắt họ no. Cô nói, “Khám phá đi.” Những con đường chính từ Đại Hội trường đều có đặt các thòng lọng và dây đu, thang leo, những nơi để cài móc treo. Cô đưa cho anh bộ dây đai. Rồi cô tự làm một bộ cho mình từ ba sợi dây dù. “Chân trần. Anh sẽ bám tốt hơn.”

Anh đu đưa ra một cành cây rung rinh. Gió thối, và cả tán cây Mimas dúi xuống. Anh sẽ chết mất. Lao hai mươi tầng lầu xuống thảm dương xi. Nhưng anh đang dần quen với ý niệm này, và còn có những cách tệ hơn để đi.

Họ đi theo các hướng khác nhau. Không cần phải cố tìm vị trí của nhau. Anh mò mẫm dọc một cành cây to cỡ cái thùng gỗ, buộc dây vào, nhích từng chút trên mông quần. Cành cây bị chà xát tỏa ra mùi chanh. Một nhánh nhỏ chìa ra của nó mang rất nhiều quả hình nón, mỗi quả nhỏ hơn một viên bi. Anh gỡ một quả ra và đặt nó lên lòng bàn tay mở của mình. Những hạt giống đổ xuống giống như hạt tiêu xay thô. Một hạt mắc vào đường chỉ tay tuổi thọ của anh. Từ một hạt bé xíu như thế đã trở thành cái cây đang giữ anh ở độ cao hai trăm feet trên không trung mà không hề nao núng. Tòa thành này có thể ngủ cả một làng mà vẫn còn thùa chỗ để nhận thêm.

Từ trên cao, cô gọi xuống, “Huckleberry! Cả bãi trên này.”

Những con bọ cánh cứng, hai nửa hai màu, hoặc vằn vện ngũ sắc, những quái vật nhỏ xíu trong phim kinh dị. Anh lần mò đến một cái chạc kỳ lạ, cẩn thận không bao giờ nhìn xuống. Hai cái xà to, trải qua nhiều thế kỷ, đã dạt lại gần nhau giống như miếng sáp nặn. Anh vật lộn lên tới đỉnh của cái gò đó và nhận ra nó trũng xuống. Bên trong đó là một hồ nước nhỏ. Cây cối mọc quanh một hồ nước lác đác có những con động vật giáp xác nhỏ. Mấy giây trôi qua rồi Nick mới thốt ra một cái tên: con salamander. Làm sao sinh vật ưa ẩm có chân dài một inch này có thể trèo hết quãng đường có độ dài bằng hai phần ba một sân bóng, lên trên bề mặt của vỏ cây khô xơ này? Có lẽ một con chim đã thả nó xuống đây, trong khi lóng ngóng tìm chỗ ăn trong tàng cây. Không phải thế. Ngực của sinh vật trơn bóng kia đang phập phồng. Giải thích hợp lý duy nhất là tổ tiên của nó đã lên một chiếc thuyền từ một nghìn năm trước và đi thang lên đây, trải qua năm trăm thế hệ.

Nick quay trở lại con đường anh đã đến. Anh nhảy lên một góc của Hội trường Lớn vừa lúc Bạch Quả quay lại. Cô vừa tháo cái móc an toàn ở bụng. “Anh sẽ không tin được em tìm thấy cái gì đâu. Một cây độc cần cao sáu feet, lớn lên trên một bãi đất dày như thế đấy!”

“Chúa ơi. Olivia. Em vừa trèo tự do đấy à?”

“Đừng lo. Em đã trèo rất nhiều cây khi em còn nhỏ.” Cô hôn anh, một cú đánh phủ đầu nhanh. “Và anh biết đấy. Mimas nói ngài ấy sẽ không để chúng ta rơi đâu.”

ANH PHÁC HỌA CÔ trong khi cô viết lại những khám phá sáng nay của bản thân vào một cuốn sổ lật. Mũi khoan của nỗi cô đơn dễ dàng xuyên vào anh hơn vào cô rất nhiều. Sau nhiều năm cắm trại trong ngôi nhà nông trang ở Iowa, một ngày ở trên đỉnh của cột thủy quái này cảm giác giống như gạt ra ngoài lề. Nhưng ngược lại, cô, trong hóa học cốt lõi của mình, vẫn là một nữ sinh đại học, đam mê một cảm xúc kích động mà cô còn chưa xả hết. Sương mù tan hết. Trong ánh sáng tràn lan ban trưa, cô hỏi, “Theo anh bây giờ là mấy giờ.” Câu hỏi của cô gây bối rối hơn là bục bội. Mặt trời đã quá đỉnh đầu, nhưng hai người họ đã già hơn rất nhiều so với con người họ vào giờ này hôm qua. Cô cười khúc khích. “Okay. Bây giờ là ngày nào?”

Thế nhưng, chẳng bao lâu, một buổi chiều, một nửa giờ, một phút, nửa câu, hay nửa từ đều cảm giác cùng kích cỡ. Họ biến mất vào trong nhịp điệu của sự hoàn toàn không nhịp điệu. Chỉ riêng việc đi ngang hết chín feet của mặt sàn này đã là một thiên sử thi dân tộc. Thời gian tiếp tục trôi qua. Một phần mười của sự vĩnh cữu. Hai phần mười. Khi cô nói chuyện trở lại, sự dịu dàng của cô khiến anh tan chảy. “Em không bao giờ biết người khác cảm thấy ma tuý mạnh như thế nào.”

“Mạnh nhất. Hoặc ít nhất là bị lạm dụng rộng rãi nhất.”

“Phải mất bao lâu để… detox?”

Anh suy nghĩ. “Không có ai hết hẳn cả.”

ANH VẼ CÔ khi cô làm bữa trưa. Khi cô ngủ. Rủ gọi bầy chim hay chơi với một con chuột ở độ cao hai trăm feet. Với anh nỗ lực để chậm lại của cô trông giống như con người trong truyện cổ ở trong một cái vỏ hạt dẻ, trong một hạt của cây gỗ đỏ. Anh phác họa khe núi rậm rạp những cây gỗ đỏ, và những cây khổng lồ rải rác đây đó cao vút lên trên những người anh em thấp hơn của chúng. Rồi anh để cuốn sổ vẽ qua một bên, tốt hơn là xem ánh sáng thay đổi.

“EM NGHE THẤY CHÚNG KHÔNG?” anh hỏi. Tiếng rù rù xa xa, có hệ thống và có thấm quyền. Máy cưa và động cơ.

“Có. Chúng ở khắp mọi nơi.” Mỗi cây khổng lồ đổ xuống lại mang đội chặt cây đó tới gần hơn. Những cây có bề dày mười feet và già chín trăm tuổi đổ xuống trong hai mươi phút và được xẻ khúc trong vòng một giờ đồng hồ. Khi một cây lớn đổ xuống, dù từ rất xa, cảm giác cũng giống như một quả đạn pháo bắn vào một nhà thờ. Mặt đất như rung chuyển. Mặt phẳng trên cao hai trăm feet của Mimas lắc lư. Những cây to nhất mà thế giới từng tạo tác nên, được lưu giữ cho trận bao vây cuối này.

TRONG THƯ VIỆN VÕNG, cô tìm thấy một cuốn sách. Khu ràng bí mật. Bìa trước là hình một cây thủy từng thời tiền sử, cả phần trên mặt đất lẫn phần dưới mặt đất. Bìa sau ghi, Cuốn sách bán chạy bất ngờ nhất của nầm - Đã được dịch ra hai mươi ba thứ tiếng. “Anh có muốn em đọc cho anh nghe một chút không?”

Cô đọc như thể cô đang đúng trước một lớp học ghép, đọc thuộc lòng cả đoàn tàu chỏ hàng dài của các khổ thơ từ tập thơ Leaves of Grass - Lá cỏ mà toàn bộ học sinh lớp mười từng được giao cho học thuộc đó.

Ta và cái cây trong sân sau nhà ta đến từ cùng một tổ tiên.

Cô ngừng lại là nhìn qua bức tường trong suốt của ngôi nhà cây của họ.

Một tỉ rưỡi năm về trước, ta và cây chia đôi ngả.

Cô ngừng lại, như thể để thực hiện phép toán.

Nhưng ngay cả bây giờ, sau một hành trình thăm thẳm theo những hướng riêng, cây và ta vẫn có chung một phần tư bộ gene.

Cứ như thế, xuôi theo dòng suy nghĩ của tác giả, họ đi hết bốn trang sách trước khi ánh sáng dần tàn. Họ lại ăn trong ánh nến - xúp ăn liền trộn trong hai ca nước được đun trên cái bếp ga cắm trại nhỏ xíu. Khi họ ăn xong, bóng tối phủ xuống. Máy móc của những người chặt cây đã dừng, thay vào đó là hàng nghìn thách thức ma quái của màn đêm mà họ không thể giải mã.

“Chúng ta nên tiết kiệm nến,” cô nói.

“Nên thế.”

Còn rất lâu mới đến giờ đi ngủ. Họ nằm trên mặt sàn dài rung rinh mà họ đã cam kết ở đó, trò chuyện cùng nhau trong bóng tối. Ở trên này, họ không phải đối diện với nguy hiểm nào khác nguy hiểm cũ xưa nhất đó. Khi gió thổi, cảm giác giống như thể họ đang vượt Thái Bình Dương trên một chiếc bè nan. Khi gió ngừng thổi, sự yên tĩnh treo lơ lửng họ giữa hai cõi vĩnh hằng, toàn vẹn trong sự vỗ về của nơi đây và hiện tại.

Trong bóng tối, cô hỏi, “Anh đang nghĩ gì thế?”

Anh đang nghĩ rằng cuộc sống của anh đã lên đến đỉnh tối cao, chính ngày hôm nay. Rằng anh đã sống để thấy mọi thứ anh muốn. Đã sống để thấy bản thân mình hạnh phúc. “Anh đang nghĩ đêm nay trời lại rét. Có lẽ chúng ta cần kéo khóa các túi ngủ lại với nhau.”

“Em đồng ý.”

Từng vì sao trên thiên hà trải ra trên đầu họ, qua những chiếc lá kim màu xanh đen, trong một dòng sông sữa chảy tràn. Bầu trời đêm - thứ thuốc phiện tốt nhất đã có, trước khi có người đến bên nhau tạo thành một thứ gì đó mạnh mẽ hơn.

Họ kéo khóa các túi ngủ lại với nhau. “Anh biết không,” cô nói, “nếu một trong hai chúng ta rơi, người còn lại sẽ rơi theo.”

“Anh sẽ theo em tới bất cứ đâu.”

HỌ THỨC DẬY trước khi trời sáng hẳn, vì tiếng của động cơ ở sâu phía dưới họ.

TRÁT HẦU TÒA VÌ TỘI tụ tập bất hợp pháp khiến Mimi phải trả bốn trăm đô la. Cũng không có gì đáng kể. Cô đã trả gấp đôi thế cho một cái áo khoác mùa đông chỉ mang lại cho cô được một nửa mức thỏa mãn này. Thông tin về việc bắt giữ cô lan đến công ty. Nhưng các cấp trên của cô đều là kỹ sư. Nếu cô có thể chuyển các dự án khuôn gốm của đội mình đúng hạn thì công ty không bận tâm dù là cô vừa ra khỏi một nhà tù liên bang. Khi một nghìn người tuần hành mang áp phích xuống trụ sở của Cục Kiểm lâm ở Salem đời cải cách quy trình thông qua Kế hoạch Thu hoạch Gỗ rừng, Mimi và Douglas tham gia cùng họ.

Đầu một ngày thứ bảy tháng Tư, hai người lái xe tới một hoạt động ở Coast Range. Douglas dùng một ngày nghỉ ở cửa hàng bán dụng cụ nơi anh vừa tìm được việc. Buổi sáng hôm đó đẹp tuyệt vời, và khi họ đi về phía Nam, nghe nhạc grunge và các tin tức nổi bật trong ngày, bầu trời giảm sắc từ màu hồng nhạt sang màu thiên thanh. Một cái ba lô trong ghế sau chứa hai cặp kính bơi rẻ tiền, áo phông để quấn quanh mũi và miệng họ, và mấy chai nước được cắt sửa. Ngoài ra còn có những chiếc còng tay bằng thép của cảnh sát khóa đôi của-anh-và-của-cô, xích, và hai cái khóa xe đạp hình chữ U. Có một cuộc chạy đua trang bị. Những người biểu tình bắt đầu nghĩ rằng họ thậm chí có thể nhiều tiền hơn cảnh sát, những người được trợ cấp bởi một công chúng tin rằng tất cả các loại thuế đều là sự ăn cướp, nhưng cho đi gỗ của cộng đồng thì không phải thế.

Họ rẽ xuống con đường nhánh dẫn tới bãi biểu tình. Douglas nhìn khắp lượt xe cộ đang đỗ.

“Không có xe tải của truyền hình. Không hề có.”

Mimi chửi thề. “Okay, không ai hoảng sợ đâu. Tôi tin các nhà báo của báo giây đang ở đây. Với các phóng viên ảnh nữa.”

“Không TV, có nghĩa là chẳng có gì từng xảy ra.”

“Vẫn còn sớm mà. Có thể họ vẫn đang trên đường đến.”

Tiếng la hò vang lên phía dưới con đường, âm thanh của một đám đông sau khi bóng vào gôn. Qua những hàng cây, những đám người đối địch đang chuẩn bị giao chiến trục diện với nhau. Có tiếng la hét, một chút ẩu đả. Sau đó là một cuộc kéo co giằng giật với chiếc áo khoác của ai đó. Những người đến muộn đưa mắt nhìn nhau và bắt đầu rảo chân. Họ tới chỗ đối đầu trên một khoảng đất trống trong khu rừng trơ trụi. Nó giống như một màn xiếc Ý. Một vòng hai lớp những người biểu tình vây quanh một cái máy Cat C7 có gắn cần cẩu máy xúc - một quái vật khủng khiếp có cần cẩu uốn cong trên đầu họ giống như một con khủng long cổ dài. Những người đốn cây và những người xẻ cây loay xoay hỗn loạn. Một cơn giận dữ kỳ lạ treo lơ lửng trong không trung, hệ quả của việc sườn đồi phủ cây này cách thị trấn gần nhất không xa.

Mimi và Doug đi lên con dốc. Nghe tiếng ré của máy cưa, cô túm lấy cánh tay anh. Một máy khác gầm gừ lại tạo thêm một lần như thế nữa. Chẳng bao lâu là điệp khúc của những máy xới chạy bằng gas gào rú khắp khu rừng. Những người cưa cây vung máy của họ một cách lười biếng, đơn sơ. Thần chết cùng lưỡi hái.

Douglas dừng lại. “Họ bị điên à?”

“Đây là một rạp hát. Không ai lại cưa một con người không có vũ khí đâu.”

Nhưng ngay khi Mimi nói ra những lời đó, người lái một máy xúc với hai phụ nữ bị còng tay vào đó đá giày vào bàn đạp và kéo lê họ theo. Người biểu tình la hét trong ngạc nhiên kinh hãi.

Đám người chặt cây hướng sự chú ý của họ tới đám con tin ở chiếc máy Cat. Bọn họ sắp đặt để chuẩn bị hạ một trảng cây linh sam lớn, đe dọa các cây đó sẽ đổ xuống giữa đám người rỗi công đang bị còng tay. Doug rít khẽ và nước mắt tuôn xuống. Trước khi Mimi kịp phản ứng, anh chạy tới chỗ trận chiến hỗn độn, mang theo ba lô. Anh bước vào cuộc xung đột như một con chó xù bước vào con sóng, lao vào giữa đám người biểu tình, nắm vai người này rồi nắm vai người kia. Anh chỉ vào những người chặt cây bằng tay đang hạ những cây linh sam. “Hãy trèo càng nhiều người càng tốt lên những cái cây kia mà xem.”

Ai đó hét lên, “Cảnh sát đâu rồi? Họ luôn ở đây để đập phá mọi thứ khi chúng ta thắng mà.”

“Okay,” Douglas gào lên. “Những cái cây đó sẽ trở thành lịch sử trong mười phút nữa. Tiến lên!”

Trước khi Mimi kịp tới chỗ anh, anh vùng chạy, lao tới một cây linh sam có vành cây đủ thấp để nhảy lên được. Khi anh rời khỏi mặt đất, hai chân anh thực sự là một cái thang tám mươi feet thẳng tắp. Hai tá người biểu tình vẫy cò hồi sinh và lao theo anh. Đám người chặt cây nhìn những gì diễn ra bên hông mình. Họ đuổi theo, nhanh hết mức mà những đôi ủng để đinh của họ có thể.

Những người biểu tình hiếm hoi đầu tiên đến trảng cây và bò lên tán cây. Mimi phát hiện thấy một cây linh sam có cành mà ngay cả cô cũng với tới. Cô đang ở độ cao hai mươi feet trên thân cây thì một cái gì đó kinh khủng đập vào hai chân cô. Cô rơi chốc đầu xuống một vạt cây cuồng cuồng. Vai của cô đập vào phiến đá phủ địa y và nảy lên. Một cái gì đó rất nặng bám vào phía sau hai bắp chân cô. Douglas, đang cách mặt đất ba mươi feet trên cây của anh, hét lên với kẻ tấn công cô. “Tao sẽ giết mày, xin hãy giúp con Chúa ơi. Tao sẽ bẻ đầu mày khỏi cái cổ ngu si của mày. “

Gã đàn ông đang ngồi lên phía sau đầu gối của Mimi lè nhè, “Mày phải xuống thì mới làm thế được chứ nhỉ?”

Mimi nhổ bùn ra khỏi miệng. Kẻ tấn công cô nghiến cẳng chân của hắn lên phía sau đùi cô. Cô thét lên, dù đã cô nín. Doug bò xuống một cành cây. “Không!” cô hét lên. “Ở đó!”

Một số người biểu tình bị trói nằm trên mặt đất. Nhưng một số lên được cây và bò lên được các cành cây. Ở đó, họ tránh xa được những kẻ đuổi theo. Giày đã thoát khỏi tầm với của ngón tay.

Mimi rên ri, “Xuống khỏi tôi đi.”

Gã chặt cây đang ghì cô nao núng. Phe hắn đông hơn, thế mà hắn lại ghì xuống, giam hãm một phụ nữ châu Á quá nhỏ để có thể trèo được cây gì lớn hơn cây bụi. “Hứa là sẽ ở dưới đi.”

Sự lịch sự khiến cô ngạc nhiên. “Nếu công ty ông giữ lời hứa của các người, chuyện hẳn chẳng bao giờ xảy ra.”

“Hứa đi.”

Chẳng có gì ngoài những lời thề mỏng manh, kết nối mọi sinh vật trên đời. Cô hứa. Gã đốn rừng đứng lên và quay trở lại với phe đang lúng túng của mình. Đám người đốn rừng hội ý, cố cứu vãn tình hình. Họ không thể chặt cây linh sam mà không giết ai đó.

Mimi theo dõi Douglas trên cây của anh. Cô đã thấy cái cây đó từ trước. Đã mất quá nhiều thời gian để cô nhận ra: chính là cái cây trên khung nền phía sau vị la hán thứ ba, trong bức tranh của cha cô.

Những người đốn rừng khởi động lại máy cưa. Họ khua khua chúng nhẹ nhàng trong không khí, cắt cây bụi, rồi chất vào vùng đổ (fall zone) phía trước các cây linh sam. Một tay đốn rừng cưa một vạt chéo ở phía dưới của một thân cây to. Mimi quan sát, sững sờ đến không thê bật khóc. Họ muốn hạ nó đổ xuống qua các cành của cây có người ngồi phía trên. Cây linh sam khổng lồ kêu răng rắc, Mimi gào lên. Cô nhắm mắt lại chờ một cú đổ dữ dội. Cô mở mắt thì thấy thân gỗ đổ xuống xé toang cả mảnh rừng. Người ngồi cây bám vào cột buồm của mình, rên rỉ trong nỗi kinh hoàng.

Douglas chửi bới rủa xả xuống những kẻ chặt cây. “Chúng mày đánh mất cái trí đần của chúng mày rồi à? Chúng mày giết anh ấy mất.”

Gã đội trưởng hét lên, “Chúng mày đã xâm phạm.” Đội chặt rừng chuẩn bị một vùng đổ khác. Ai đó lấy ra những cái kìm dài và bắt đầu cắt ngang những cái còng nối đám người phản đối như thể hắn đang tỉa một cây sơn thù du. Sự chen lấn xô đẩy nổ ra khắp khoảng rừng trống; sự xa xỉ của bất bạo động kết thúc. Trong rừng linh sam, một gã chặt cây nghiêng cái cưa vào trong miếng bo của cây linh sam bị đốn hạ tiếp theo, dự định khiến nó đổ cách một cái cây khác đang có người ngồi ba feet. Tiếng la hét của người ngồi bị nhắm đến đó biến mất trong tiếng cưa, không chạm tới những kẻ đốn rừng, những kẻ đang đeo bịt tai. Nhưng chúng thấy tay của anh ta vẫy điên loạn và dừng lại chỉ đủ lâu cho dấu hiệu khủng khiếp đó bò xuống đất. Tiếp theo là một sự hỗn loạn hết sức từ cả hai phía. Những chiếc xe bị bao vây bắt đầu lăn bánh. Chín người ngồi trên các cây còn lại rơi xuống từ chỗ đậu của họ. Những kẻ chặt rừng, kẻ chiến thắng, vung cưa lên. Đám người phản đối lùi dạt ra sau, như một con hươu lùi khỏi lửa.

Mimi ngồi yên tại chỗ cô đã đưa ra lời hứa. Không khí phía sau cô ồn ào tiếng la hét. Cô quay lại thì thấy những ánh sáng loang loáng và nghĩ, Đoàn kỵ binh. Hai mươi cảnh sát giáp khí túa ra từ một chiếc xe tải bọc thép. Những cái mũ bảo hiểm polycarbonate với tấm chắn che kín mặt. Áo chống đạn Kevlar. Lá chắn chống đạn chịu lục cao. Cảnh sát càn quét khắp khoảng rừng trống, bố ráp những người xâm phạm, chụp còng vào cổ tay của những người đã đeo sẵn nửa cái còng bị cắt.

Mimi bật dậy. Một bàn tay chộp mạnh xuống vai cô, đấy cô trở lại xuống đất. Cô quay người nhìn mặt tay cớm, e sợ với mọi cảm giác của tuổi hai mươi. “Ngồi xuống! Không được nhúc nhích.”

“Tôi đâu có đi đâu.”

“Còn mở miệng thì cô sẽ phải hối hận đấy.”

Ba chiến binh rừng vào thứ Bảy chạy ngang qua, quay trở lại đường và xe của họ. Tay cớm mặt búng ra sữa hét lên, “Dừng lại tại chỗ và ngồi xuống. Ngay lập tức, ngay lập tức!”

Họ nhích lên, rồi quay lại, và ngồi xuống. Những tay đốn gỗ bên cạnh reo hò. Tay cớm mặt búng ra sữa xoay người rồi chạy nhanh về phía một nhóm người phản đối khác đang cố tháo chạy. Một nhóm cớm túa ra dưới các cây. Đám cớm từng đôi đứng phía dưới những người biểu tình ngồi trên cây cuối cùng, dùng dùi cui đập vào chân họ. Năm người ngồi cây còn lại bỏ cuộc, tất cả ngoại trừ Douglas Pavlicek, người đang trèo cao hơn. Anh lấy cái còng của mình ra khỏi ba lô và khóa vào một cổ tay. Rồi anh ôm vòng qua thân cây và khóa cổ tay thứ hai vào vị trí.

Mimi ôm đầu. “Douglas. Xuống đi. Hết rồi.”

“Không thể!” Anh lúc lắc cái còng đang khóa vòng ôm thân cây. “Phải ôm cho tới khi TV đến đây.”

Kẻ chống đối điên cuồng đá vào cái thang chặt cây mà cảnh sát dựng vào cây linh sam. Anh thắng một pha đối đầu mạnh mẽ tới nỗi ngay cả đám người đốn rừng cũng phải hoan hô. Nhưng chẳng bao lâu, bốn tay cớm leo lên đoạn cây phía dưới anh. Mắc kẹt tại chỗ, Douglas không thể di chuyển. Tay cớm với cái kìm dài lên cắt cái còng của anh. Anh kéo cánh tay, áp sợi xích vào thân cây. Đám người chặt cây đưa cho tay cảnh sát cái rìu. Nhưng Douglas che ngón tay trước sợi xích. Viên cảnh sát không thể lên cao hơn hông của anh. Sau một hội ý nhanh, họ dùng kéo cắt gấu quần của anh. Hai cảnh sát cố định chân anh. Người thứ ba cắt cái quần bò mềm sờn rách lên đến tận đũng quần của Douglas.

Mimi nhìn chằm chằm. Cô chưa bao giờ thấy cặp đùi trần của Douglas. Cô đã tự hỏi, suốt những tháng này, liệu có bao giờ cô có thể. Khao khát của anh rõ ràng như vẻ đờ đẫn trên khuôn mặt anh khi họ cùng uống một ly sô-cô-la lạnh. Bí mật duy nhất này là thứ giữ anh khỏi bất cứ hành động dại dột nào hơn là đặt bàn tay lên gáy cô. Mấy tuần trước, cô đã kết luận đó là một vết thương trong chiến tranh. Lúc này đây cô đang nhìn anh bị lột ra nơi công cộng, trước một đám đông kinh ngạc. Một bên chân mở ra giữa trời, xương xẩu và trắng bợt, hầu như không có lông, cặp đùi nhăn nheo hơn cả đùi của người già. Rồi chân bên kia, và giờ đây cái quần jean toạc ra từ đùi giống như một cái banner bị xé. Xuất hiện cả ba loại bình xịt hơi cay - capsicum, cs gas, và mace.

Những người quan sát kêu to. “Này, anh ấy bị xích tại chỗ rồi. Anh ấy không di chuyển được!”

“Các người muốn gì từ anh ấy vậy?”

Tay cớm đặt cái bình xịt vào háng Douglas và xịt. Chất lỏng nóng bỏng lan khắp hạ bộ của anh - một ly cocktail của hơi cay đậm đặc và capsaicin lên tới vài triệu đơn vị nhiệt Scoville. Douglas treo, lủng lẳng rủ xuống từ cái còng, thỏ gấp gáp những hơi ngắn. “A, a , a…”

“Ôi Chúa ơi. Anh ấy không thể di chuyển. Để cho anh ấy yên đi!”

Mimi quay sang xem ai vừa hét. Đó là một người chặt cây, lùn và rậm râu, giống như một người lùn giận dữ trong các trang sách của Grimm.

“Mở khóa còng tay đi,” một gã cớm ra lệnh. Lời nói mắc nghẹn trong miệng Douglas. Không có gì phun ra ngoài một tiếng nghèn nghẹn, giống như nửa giây đầu tiên của một cuộc không kích. Đám cớm lại xịt vào anh lần nữa. Những người phản đối nãy giờ vẫn ngồi yên đang chờ để được khởi động một cuộc nổi dậy. Mimi giận dữ đứng bật lên. Cô gào lên những điều mà cô sẽ không nhớ được dù chỉ trong vòng một giờ kể từ lúc này. Những người khác quanh cô cũng đứng dậy. Họ lao tới cái cây của người tù binh. Cảnh sát đẩy họ lùi lại. Đám cớm trên cây xịt vào cái háng trần truồng một luồng hơi cay nữa. Tiếng nghèn nghẹn ư ư nho nhỏ trong miệng Douglas bắt đầu từ từ tăng âm khủng khiếp.

“Mở khóa tay anh ra là có thể xuống. Rất đơn giản.”

Anh cố nói gì đó. Ai đó ở dưới hét lên, “Để cho anh ấy nói, lũ súc vật các người.”

Tay cảnh sát ngả lại, đủ gần để nghe anh thì thào, “Tôi đánh rơi khóa rồi.”

Hàng chục người bò trên khắp các thảm dương xỉ và lá kim trong suốt hai mươi phút để tìm cái vật nhỏ xíu màu bạc đó. Cuối cùng tay cảnh sát mở khóa cho Douglas và mang anh xuống khỏi cái cây giống như đưa Chúa khỏi cây thánh giá. Họ sẽ không để Mimi tiến lại gần anh.

KHI QUY TRÌNH khởi tố lằng nhằng xong xuôi, cô lái xe đưa anh về nhà. Cô cố gắng tắm rửa cho anh, với tất cả sự bồi thường êm dịu mà cô tìm được. Nhưng thịt của anh là một miếng cá hồi rực rỡ, giống như những chiếc lá của cây phong đường ở New England vào ngày lá đỏ rực nhất, và anh quá xấu hổ để cho cô xem.

“Tôi sẽ ổn thôi.” Anh nằm trên giường, đọc những chữ đó lên với trần nhà. “Tôi sẽ ổn thôi.”

Tối nào cô cũng ghé qua kiểm tra. Da anh vẫn ửng cam suốt một tuần.

DESTINY 2 ĐẠT DOANH THU bằng thu nhập hằng năm của cả tiểu bang. Destiny 3 xuất hiện ngay khi tiền thân của nó trở nên cũ đi. Người từ sáu lục địa đổ xô vào nơi mới nâng cấp - những người khai khẩn, người hành hương, người đào mỏ, chiến binh, mục sư. Họ thành lập phường hội và đoàn thể. Họ xây dựng các tòa nhà và những mặt hàng thời trang mà những người lập trình không bao giờ dự đoán được.

Destiny 4 là 3D. Nó trở thành một công việc kinh doanh đồ sộ, suýt phá vỡ công ty, cần gấp đôi số người lập trình và nghệ sĩ so với công việc tiền thân của nó. Ba mươi sáu kỹ thuật mới. Sáu nguồn lực mới. Ba nền văn hóa mới. Nhiều kỳ quan thế giới và kiệt tác hơn một người có thể khám phá khi chơi suốt nhiều năm. Ngay cả với việc gấp đôi liên tục các tốc độ xử lý, nó vẫn thúc đẩy các giới hạn của các kỹ thuật tiêu thụ nhiều nhất trong nhiều tháng.

Mọi thứ mở ra đúng như Neelay đã thấy trước từ nhiều năm trước. Các trình duyệt xuất hiện - thêm một nhát bồi cuối cùng của thời gian và không gian. Một cái click, thế là bạn đã ở CERN. Thêm một click nữa, bạn đang nghe nhạc underground từ Santa Cruz. Một cái nữa, bạn đang đọc báo ở MIT. Năm mươi máy chủ to khởi đầu vào năm thứ hai, và năm trăm cái vào cuối năm đó. Các trang web, công cụ tìm kiếm, cổng thông tin. Những thành phố đông đúc ngột ngạt của một hành tinh công nghiệp hóa lâu nay đã muốn thứ này xuất hiện, rất đúng lúc: đấng cứu thế phúc âm của sự phát triển vô tận. Web đi từ không thể tưởng tượng được tới không thể thiếu được, đan kết thế giới lại với nhau chỉ trong vòng mười tám tháng. Destiny nhập hội, lên mạng, và thêm một triệu cậu bé cô đơn nữa di cư đến Neverland được nâng cấp mới. Những ngày làm nông trại đã qua. Các trò chơi phát triển; chúng tham gia vào hạng các mặt hàng cao cấp của toàn cầu. Destiny 5 vượt quá các hệ thông hoạt động tổng hợp cho toàn bộ các dòng lệnh phức tạp nhất. Hệ thống nhận diện tự động tốt nhất của game này thông minh hơn cả các máy do thám không gian năm trước đó. Máy chơi trở thành động cơ phát triển nhân loại.

Nhưng tất cả những điều này không có ý nghĩa gì nhiều với Neelay, luôn ở trong căn hộ của anh phía trên trụ sở chính của công ty. Căn phòng có đầy màn hình và modem nhấp nháy như Giáng sinh. Các thiết bị điện tử của anh có đủ kích cỡ từ những module to bằng hộp diêm đến những giá đỡ to hơn cả con người. Mỗi thiết bị trong số này, như nhà tiên tri nói, không thể phân biệt được với ma thuật. Những viễn tưởng hoang dại nhất trong tuổi thơ của Neelay cũng không thể nhìn thấy trước được những điều thần diệu này. Thế nhưng, sự nôn nóng nhân đôi trong anh, với mỗi lần nhân đôi kỳ vọng. Sự khao khát của anh khủng khiếp hơn bao giờ hết - thêm một lần đột phá nữa, lần tiếp theo, một cái gì đó đơn giản và ưu tú sẽ lại có thể thay đổi mọi thứ. Những chuyến thăm của anh tới những cây tiên tri trong vườn cây cảnh của họ ở Martian, để hỏi chúng xem điều gì sẽ xảy ra tiếp tới. Nhưng các sinh vật đó chỉ lặng thinh.

Những vết lở loét do ngồi xe lăn hành hạ anh. Xương của anh ngày càng giòn khiến việc đi ra ngoài rất nguy hiểm. Hai tháng trước anh nghiến gãy một ngón chân khi vào trong xe tải - nguy cơ không thể cảm nhận được điểm cuối của chân. Anh phải ăn, làm việc và ngủ trên xe lăn. Thứ anh muốn hơn mọi thứ trên đời - thứ sẽ khiến anh bán công ty cho - là một cơ hội được ngồi bên một hồ nước ở trên High Sierras, mười dặm cách xa đường mòn phía dưới, và quan sát những chú chim crossbill đậu trên cành của những cây vân sam ven rừng để rỉa hạt từ quả vân sam bằng cái mở lạ thường của chúng. Anh sẽ chẳng bao giờ làm được điều đó. Chẳng bao giờ. Cuộc dạo chơi duy nhất anh có thể thực hiện lúc này là Destiny 6.

Trong Destiny 6, các thuộc địa của người chơi trở nên thịnh vượng trong khi anh ở xa. Những nền kinh tế liên kết năng động. Các thành phố đầy người thực giao thương và tạo ra luật pháp. Sáng tạo trong tất cả sự lãng phí khủng khiếp của nó. Mọi người trả phí thuê hằng tháng để sống ở đó. Đó là một bước đi liều lĩnh, nhưng trong game thế giới, không có sự liều lĩnh nào dẫn tới cái chết. Thú duy nhất sẽ giết bạn là không thể nhảy lên.

Neelay giờ đây không thể phân biệt được giữa bình tĩnh và tuyệt vọng. Anh ngồi bên cửa sổ rộng lới suốt nhiều giờ mỗi lần, rồi quẳng ra những ghi chú muôn thuở cho đội phát triển, phàn nàn về cũng một điều mà anh đã đòi hỏi suốt nhiều năm:

Chúng ta cần thêm hiện thực… Thêm cuộc đời! Động vật phải có bắt đầu và kết thúc, đi thẩn thơ và nhìn chăm chú, giống như những hình mẫu sống của chúng… Tôi muốn thấy cách một con sói đung đưa lùi lại trên mông của nó, màu mắt xanh của nó như thể sáng lên từ bên trong. Tôi muốn thấy một con gấu cào toang ổ kiến bằng móng vuốt của nó…

Hãy xây nơi này lên thật tỉ mỉ, từ mọi thứ ngoài kia. Những đồng cỏ thực, những rừng ôn đới thực, những vùng đất ngập nước thực. Anh em nhà Van Eyck đã vẽ bảy mươi lăm loại cây khác nhau vào những bức tranh thờ ơ Ghent. Tôi muốn được đếm bảy trăm năm mươi loại cây tương tự trong Destiny 7, mỗi cây với những trạng thái riêng. Cho đến nay chúng ta đã xem nó như một trò chơi của tâm trí. Đã đến lúc trở thành một cái gì đó hơn thế…

Khi anh soạn thảo ghi chú đó, nhân viên gõ cửa bước vào, với giấy tờ cho anh ký, tranh nhau để anh giải quyết. Họ không hề tỏ ra ghê tởm hay thương hại cho cây ba toong dài ngoằng thẳng đuỗn trên cái ghế. Họ đã quen với anh, những con người chơi trò thực tế ảo này. Họ thậm chí không để ý đến cái ống thông tiểu nữa, nơi nó đổ vào bao chứa đặt trên khung của cái ghế này. Họ biết giá trị ròng của anh. Cổ phiếu phổ thông của những cây hồng sam đóng phiên chiều đó với giá bốn mươi mốt đô một phần tư, tăng gấp ba lần so với khi phát hành công khai lần đầu vào năm ngoái. Người đàn ông như nhánh cây trong chiếc xe lăn này sở hữu hai mươi ba phần trăm của công ty. Anh đã khiến tất cả bọn họ giàu có, và anh đã khiến bản thân mình giàu bằng những hoàng để vĩ đại nhất trong trò chơi này.

Anh gửi đi bản ghi nhớ cuối cùng cỡ bằng tờ phướn, và một lát sau, bóng tối bao phủ quanh anh. Rồi anh làm việc mà anh vẫn luôn làm mỗi khi cảm thấy sụp đổ: anh gọi cho bố mẹ. Mẹ anh cầm máy. “Ôi, Neelay. Mẹ rất vui khi con gọi!”

“Con cũng rất vui, Moti. Mẹ ổn chứ ạ?” Và mẹ nói gì không phải là điều quan trọng. Pita ngủ ngày nhiều quá. Đang định làm một chuyến về lại Ahmedabad. Bọ rùa đang tấn công ga-ra - mùi kinh lắm. Có thể nay mai sẽ cắt một kiểu tóc thật ngầu. Anh say sưa trong bất cứ điều gì bà muốn nói. Cuộc sống, trong tất cả chi tiết nhỏ nhoi này sẽ không thể vừa vào bất cứ mô phỏng nào.

Nhưng rồi lại câu hỏi vùi dập đó, rất sớm trong lần này. “Neelay, chúng ta lại đang nghĩ rằng không phải là không thể tìm cho con một ai đó. Trong cộng đồng chúng ta.”

Họ đã lên xuống, vòng vèo quanh chủ đề này, suốt nhiều năm.

Hẳn sẽ là bạo hành thực thi xã hội đối với bất cứ phụ nữ nào bị đặt vào một trận chiến như thế.

“Không đâu, Moti. Chúng ta đã nói rồi.”

Nhưng Neelay này.” Anh có thể nghe thấy cách bà thốt ra những từ đó:

Con đáng giá hàng triệu, hàng chục triệu, có khi còn hơn - con thậm chí sẽ không nói với mẹ! Sao phải đầu hàng chứ? Ai mà không được học cách yêu?

“Mẹ? Đáng lẽ con nên nói với mẹ sớm hơn. Có một phụ nữ ở đây. Cô ấy thật ra là một trong những người chăm sóc con.” Điều này nghe rất có lý. Sự im lặng của đầu bên kia nghiền nát anh với niềm hy vọng đau đớn của nó. Anh cần một cái tên an toàn và thuyết phục, một cái tên anh có thể nhớ. Rupi. Rutu. “Cô ấy tên là Rupal.”

Một tiếng nấc mạnh, rồi bà bật khóc. “Ôi, Neelay. Mẹ hạnh phúc lắm lắm!”

“Con cũng thế, mẹ ạ.”

“Con sẽ biết niềm vui thực sự! Bao giờ thì chúng ta được gặp cô ấy?”

Anh tự hỏi tại sao đầu óc tội phạm của anh lại không thấy trước khó khăn khủng khiếp này.

“Sớm thôi. Con không muốn làm cô ấy sợ bỏ đi!”

“Gia đình của con sẽ làm cô ấy sợ ư? Kiểu con gái nào mà lại như thế?”

“Hay là tháng sau? Cuối tháng sau?”

Nghĩ rằng, tất nhiên rồi, thế giới sẽ kết thúc rất lâu trước thời điểm đó. Đã cảm thấy ngay nỗi đau đớn tận cùng của mẹ anh trước vụ chia tay giả của anh, chỉ mấy ngày trước khi những người phụ nữ định gặp nhau. Nhưng anh đã khiến bà hạnh phúc ở nơi duy nhất con người thực sự sống, ô cửa sổ rộng mở trong chốc lát của Hiện tại.

Tất cả đều tốt đẹp, và khi cuộc gọi kết thúc, anh đang làm cho mọi người ở cả Gujarat và Rajasthan ít nhất trong vòng mười bốn tháng để ý lịch trống, mua vé máy bay, và làm saris, trước khi có một đám cưới nào đó.

“Chúa ơi. Những việc như thế này cần thời gian, Neelay ạ.”

Khi họ dập máy, anh đưa bàn tay lên trời và đập sầm xuống mép bàn. Có một âm thanh nghe rất sai, cùng một cơn đau buốt trắng xoá, và anh biết rằng mình đã làm gãy ít nhất một cái xương.

Trong cơn đau mờ mắt, anh vào thang máy riêng đi xuống gian sảnh xa hoa của mình, viền rừng gỗ đỏ tuyệt đẹp được trả bởi khao khát của hàng triệu người được sống ở một nơi nào đó khác nơi này. Mắt anh tràn nước mắt và sự giận dữ. Nhưng lặng lẽ, lịch sự, với người tiếp tân đang khiếp sợ, anh đưa ngón tay gãy sưng phồng lên và nói, “Tôi sẽ phải đi bệnh viện.”

Anh biết điều gì đang chờ anh ở đây, sau khi họ chữa bàn tay anh. Họ sẽ mắng anh. Họ sẽ chuyền nước cho anh và bắt anh thề sẽ ăn uống đầy đủ. Khi người tiếp tân thực hiện các cuộc khỏi điên cuồng, Neeley liếc nhìn lên bức tường nơi anh treo những dòng chữ của Borges, vẫn là nguyên tắc dẫn đường cuộc đời tuổi trẻ của anh:

Mỗi người nên được thực hiện mọi ý tường, và tôi tin trong tương lai họ sẽ như thế.

PORTLAND CÓ VẺ ĐỘC HẠI với Patricia. Chứng nhân giáo dục chuyên gia, hay thậm chí tệ hơn. Tiến sĩ Westerford nằm trên giường trong buổi sáng của buổi điều trần sơ bộ, cảm giác giống như mới bị đột quỵ. “Không làm được đâu, Den.”

“Không thể không được, em yêu.”

“Ý anh là khía cạnh đạo đức hay luật pháp?”

“Đó là công trình của cuộc đời em. Em không thể bỏ đi lúc này.”

“Đó không phải là công trình của cuộc đời em. Công trình của cuộc đời em là lắng nghe cây!”

“Không. Đó là thứ vui của cuộc đời em. Phần công việc là nói với mọi người điều chúng nói.”

“Một pháp lệnh ngưng chặt cây trên phần đất liên bang nhạy cảm. Đó là vấn đề của các luật sư. Em thì biết gì về luật chứ?”

“Người ta muốn biết những điều em biết về cây cối.”

“Chứng nhân chuyên gia ư? Em sẽ phát bệnh mất.”

“Chỉ cần nói cho người ta nghe điều em biết.”

“Đó là vấn đề. Em không biết gì cả.”

“Sẽ giống như bước vào trước một lớp học thôi mà.”

“Chỉ khác là thay vì những người hai mươi tuổi mộng mơ muốn học mọi thứ, sẽ là một đám luật sư chiến đấu giành hàng triệu đô la.”

“Không phải đô la, Patty. Thứ khác cơ.”

Phải rồi, cô đồng ý, kéo lê chân trên những tấm ván sàn lạnh buốt. Đây là về một thứ khác. Thứ đối lập hoàn toàn với đô la. Một thứ cần tất cả nhân chứng mà nó có thể có.

DENNIS LÁI XE CHỞ CÔ mấy trăm dặm trên chiếc xe cổ lỗ của ông. Tai cô bì bùng khi họ tới tòa án. Trong bài phát biểu mào đầu của cô, khiếm khuyết trình bày thời thơ ấu của cô nở bung ra như một bông hoa mộc lan tháng Năm to đùng. Thẩm phán liên tục yêu cầu cô nhắc lại. Patricia cố nghe từng câu hỏi. Thế nhưng, cô vẫn nói được với họ: bí mật của cây. Ngôn từ trào lên trong cô như nhựa cây sau mùa đông. Không có cá thể ở trong rừng. Cây nào cũng sống dựa vào các cây khác.

Cô cố gắng loại bỏ trực cảm cá nhân và bám vào những thứ mà cộng đồng khoa học đồng ý. Nhưng khi cô làm chúng, bản thân khoa học bắt đầu có vẻ như phù phiếm như một cuộc thi về mức độ nổi tiếng ở trường trung học. Thật không may, luật sư của phía đối lập cũng đồng lòng. Ông ta đưa ra lá thư đã được gửi cho những người biên tập của tạp chí nơi mà bài nghiên cứu học thuật đầu tiên của cô xuất hiện. Lá thư được ký bởi ba nhà thụ mộc học hàng đầu, đã nghiền cô xuống đất. Các phương pháp nghiên cứu thiếu sót. Thống kê có vấn đề. Tiến sĩ Westerford thể hiện một sự hiểu lầm đáng xấu hổ nhất của sự lựa chọn tự nhiên của các cá thể… Máu chảy rần rật khắp cơ thể cô. Cô muốn biến mất, muốn chưa từng đến đây. Muốn đã cho một ít nấm độc vào món trứng ốp lết cô tự làm cho mình sáng nay, trước khi Dennis chở cô đến tòa án này.

“Mọi điều trong bài báo đó đã được xác nhận bởi nghiên cứu về sau. “

Cô không thấy cái bẫy cho tới khi nó bung ra. “Cô đã đạp đổ các niềm tin sẵn có,” tay luật sư đối lập nói. “Cô có thể đảm bảo rằng nghiên cứu về sau sẽ không đạp đố các niềm tin của cô hay không?”

Cô không thể. Khoa học cũng thế, có những lý lẽ của nó. Nhưng đó là một điểm quá xảo trá cho cho một phiên tòa của luật pháp. Quan sát - sự quan sát nhiều - sẽ quy tụ lại một thứ gì đó có thể lặp đi lặp lại, bất chấp những dục cầu và nỗi sợ của bất cứ người quan sát nào. Nhưng cô không thể thề với tòa án rằng khoa học lâm học cuối cùng đã quy tụ thành một lâm học mới, tập hợp những niềm tin mà cô và bạn bè cô đã hỗ trợ thúc đẩy. Cô thậm chí không thể thề rằng lâm học vẫn thực sự là một ngành khoa học.

Thẩm phán hỏi Patricia điều đó có đúng không, điều mà chứng nhân chuyên gia chứng nhận cho vị trí đã được xác nhận trước đó, rằng một vùng cây trồng trẻ, ngay ngắn, phát triển nhanh, nhất quán thì tốt hơn là một khu rừng cũ hỗn độn. Viên thẩm phán nhắc cô nhớ về một người nào đó. Những chuyến chạy xe đường dài qua những cánh đồng mới cày. Nếu con khắc tên con vào khoảng cao bốn feet trên thân một cây dẻ gai thì sau nửa thế kỷ nó sẽ cao tới mức bao nhiêu?

“Đó là điều các giáo viên của tôi đã tin, từ hai mươi năm trước.”

“Hai mươi năm có phải là một thời gian dài, trong những vấn đề như thế này?”

“Nó chẳng là gì, đối với một cây xanh.”

Tất cả những người đang tranh cãi trong phòng xử án đều phải bật cười. Nhưng với con người - những con người làm việc cật lực, mưu mô, tàn nhẫn - thì hai mươi năm là thời gian đủ để giết toàn bộ các hệ sinh thái. Sự phá rừng: một tác nhân làm biến đối khí hậu lớn hơn tất cả các phương tiện giao thông gộp lại. Trong những khu rừng bị đốn lượng carbon nhiều gấp đôi so với trong toàn bộ khí quyển. Nhưng chuyện đó là để cho phiên tòa khác.

Viên thẩm phán hỏi, “Những cây trẻ, thẳng, mọc nhanh hơn không tốt hơn những cây mục già hơn sao?”

“Tốt hơn cho chúng ta. Không tốt hơn cho rừng. Thực ra, những vùng cây trồng trẻ, độc canh, ngay ngắn thực sự không thể gọi là rừng.” Những từ đó vỡ tràn khi cô nói ra chúng. Chúng để lại cho cô cảm giác hạnh phúc còn được sống, sống để nghiên cứu cuộc đời. Cô cảm thấy biết ơn chẳng vì lý do gì, ngoại trừ trong ghi nhớ tất cả rằng cô đã có thể khám phá về những thứ khác. Cô không thể nói với thẩm phán, nhưng cô yêu chúng, những quốc gia phức tạp có đi có lại mà cô đã lắng nghe suốt nửa thế kỷ đó. Cô cũng yêu giống loài của chính mình - lén lút và tư lợi, mắc kẹt trong những thân thể bị che mắt, mù mắt trước tri nhận xung quanh mình - nhưng được tạo hóa chọn để biết.

Thẩm phán yêu cầu cô nói cụ thể. Dennis đã đúng. Đúng là giống như nói chuyện với sinh viên. Cô miêu tả cách một thân gỗ mục là nhà của những thứ loại tổ chức đồ sộ nhiều sự sống hơn một cây đang sống. “Đôi khi tôi tự hỏi chẳng lẽ nhiệm vụ thực sự của một cái cây trên Trái Đất không phải là vươn mình lên hết cỡ để rồi chuẩn bị để nằm chết trên nền rừng trong suốt một thời gian dài hay sao.”

Thẩm phán hỏi những sinh vật sống nào mà lại cần một cái cây chết.

“Có thể kể đến gia đình ta. Thứ loại chúng ta. Chim chóc, động vật có vú, các loại cây khác. Mười nghìn loài không xương sống. Ba phần tư của những động vật lưỡng cư trong khu vực cần đến chúng. Hầu như tất cả loài bò sát. Những động vật giữ cho côn trùng không ăn các cây khác. Mỗi cây chết là một khách sạn bao la.

Cô nói với ông về con bọ cánh cứng ambrosia. Chất cồn trong gỗ mục gọi nó đến. Nó đi vào trong khúc gỗ và đào bới. Qua những hệ thống đường hầm của nó, nó trồng những mẩu nấm (fungu) mà nó đã mang vào cùng mình, trên một khoang đặc biệt trên đầu nó. Nấm ăn gỗ; con bọ thì ăn nấm.

“Những con bọ trồng trọt trong thân gỗ đó à?”

“Chúng trồng trọt. Không cần hỗ trợ nào. Trừ khi tính đến khúc gỗ.”

“Thế những loài sống dựa vào những cành cây gãy và thân cây mục đó: có loài nào trong số chúng nguy hiểm hay không?”

Cô nói với ông: mọi thứ đều sống dựa vào mọi thứ khác. Có một loài chuột đồng rất cần rừng già. Nó ăn những cây nấm (mushroom) lớn lên trong những thân gỗ mục và bài tiết bào tử ra một nơi nào đó khác. Không có thân cây mục, không có nấm (mushroom); không có nấm, không có chuột đồng; không có chuột đồng, không có nấm (fungu) trải rộng, không có nấm trải rộng, không có cây mới.

“Cô có tin rằng chúng ta có thể cứu những loài này bằng cách giữ cho những mảnh của rừng già nguyên vẹn hay không?”

Cô suy nghĩ trước khi trả lời. “Không. Các mảnh thì không. Những khu rừng rộng sống và thở. Chúng phát triển các hành vi phức hợp. Những mảnh nhỏ không thể phong phú hay giàu có bằng. Các mảnh rừng phải lớn. để cho những sinh vật lớn sống ở trong đó.”

Luật sư phe đối lập hỏi liệu bảo tồn những vùng rừng rộng hơn một chút có đáng để con người phải trả nhiều triệu đô la hay không. Thẩm phán yêu cầu đưa ra con số. Phe đối lập cộng dồn sự mất cơ hội - cái giá của sự tê liệt khi không đốn cây.

Thẩm phán yêu cầu Tiến sĩ Westerford đáp. Cô cau mày. “Thân cây mục mang thêm giá trị cho rừng. Những khu rừng ở đây là những sưu tập sinh khối phong phú nhất trong tất cả mọi nơi. Những con suối trong rừng già có lượng cá nhiều gấp năm đến gấp mười lần. Con người có thể thu tiền từ thu hoạch nấm và các loại cây ăn được khác, năm này qua năm khác, nhiều hơn họ thu được từ việc chặt rừng trong suốt sáu mươi năm.”

“Thật ư? Hay đó chỉ là một ẩn dụ?”

“Chúng tôi có các con số.”

“Thế thì tại sao thị trường không phản ứng?”

Bởi vì các hệ sinh thái thường đa dạng, còn các thị trường thì trái lại. Nhưng cô đủ thông minh để không nói ra điều này. Đừng bao giờ tân công các vị thần thổ địa. “Tôi không phải nhà kinh tế học. Cũng không phải nhà tâm lý học.”

Luật sư phe đối lập tuyên bố rằng chặt bớt rừng là cứu rừng. “Nếu người ta không thu hoạch, hàng triệu mẫu rừng sẽ bị thổi đổ hoặc cháy trụi trong những đám lửa rừng.”

Vấn đề này ngoài lĩnh vực của cô, nhưng Patricia không thể bỏ qua. “Những khoảng rừng trống làm tăng số cây bị gió thổi đổ. Và những trận lửa rừng chỉ xảy ra khi lửa bị ủ quá lâu.” Cô chỉ ra vấn đề: lửa tái sinh. Có những quả của cây lá kim - ở mãi trên cây dù đã phát triển hết mức - không thể tách được nếu không có lửa. Thông Lodgepole giữ quả của chúng trong suốt nhiều thập kỷ, chờ cho tới khi một ngọn lửa tách mở chúng ra. “Ngăn chặn lửa lâu nay có vẻ là một cách quản lý hợp lý. Nhưng điều đó khiến chúng ta phải trả giá nhiều hơn mức mà nó giữ được.” Người luật sư của phe cô cau mặt. Nhưng lúc này cô đã dấn quá sâu để có thể tỏ ra khôn khéo.

“Tôi đã xem qua sách của cô,” viên thẩm phán nói. “Tôi chưa bao giờ tưởng tượng được! Cây cối triệu tập động vật và khiến chúng hành động ư? Cây cối ghi nhớ? Chúng cho nhau thức ăn và chăm sóc lẫn nhau?”

Trong phòng xử án ốp ván sẫm màu, câu chữ của cô từ đâu bất ngờ ùa ra. Tình yêu của cô dành cho cây tràn ra từ trong cô - vẻ đẹp duyên dáng của chúng, sự thực nghiệm dẻo dai của chúng, sự đa dạng và bất ngờ bất tận. Những sinh vật khoan thai chậm rãi với những từ vựng phức tạp của chúng, mỗi loài đều khác biệt, định hình lẫn nhau, nuôi chim chóc, dìm carbon xuống, làm sạch nước, lọc chất độc từ đất, bình ổn vi khí hậu. Kết hợp đủ thứ sống lại với nhau, thông qua không khí và lòng đất, và ta kết luận lại với một điều gì đó có chủ ý. Rừng. Một sinh vật bị đe dọa.

Viên thẩm phán cau mày. “Cái gì sẽ mọc lại sau khi một khoảng trống không còn là rừng?”

Cơn giận trào sôi trong cô. “Bạn có thể thay thế rừng với vùng cây trồng. Bạn cũng có thể sắp xếp Giao hưởng số Chín của Beethoven cho solo sáo kazoo.” Mọi người cười ồ lên, trừ viên thẩm phán. “Một cái sân sau vùng ngoại ô còn đa dạng hơn một trang trại cây trồng!”

“Còn lại bao nhiêu rừng nguyên sơ?”

“Không nhiều.”

“Ít hơn một phần tư so với chúng ta có ban đầu?”

“Ôi Chúa ơi! Ít hơn nhiều. Có thể không quá hai hoặc ba phần trăm. Có thể là năm mươi dặm vuông mỗi bên.” Chút còn lại trong lời thề giữ thận trọng của cô bay biến. “Đã có bốn cánh rừng vĩ đại trên lục địa này. Cả bốn lẽ ra đều phải tồn tại mãi mãi. Cả bốn đều biến mất chỉ trong mấy thập niên. Chúng ta hầu như đã không có thời gian để lãng mạn hoá! Những cây xanh ngoài kia là những cây cuối cùng của chúng ta, thế mà chúng đang biến mất - một trăm sân bóng mỗi ngày. Bang này đã chứng kiến những dòng sông đầy gỗ đốn kéo dài suốt sáu dặm.

Nếu muốn tối đa hóa giá trị hiện tại ròng của một khu rừng cho chủ nhân hiện tại của nó và lấy nhiều gỗ nhất trong thời gian ngắn nhất, thì đúng vậy: cắt đi rừng già và trồng những vườn cây thay thế ngay hàng thẳng lối, thứ mà ta sẽ có thể thu hoạch trong một vài lần nữa. Nhưng nếu bạn muốn đất còn trong thế kỷ sau, nếu bạn muốn nước sạch, nếu bạn muốn sự đa dạng và sự khỏe mạnh, nếu ta muốn những thứ tạo sự ổn định và các dịch vụ mà chúng ta thậm chí không thể đo đếm, thì hãy kiên nhẫn và để rừng từ từ trao cho.”

Khi cô kết thúc, cô rơi trở lại vào sự im lặng xấu hổ. Nhưng viên luật sư đòi hỏi lệnh cấm đang cười rạng rỡ. Viên thẩm phán nói, “Cô có cho rằng những cánh rừng già… biết những thứ mà các vườn cây trồng không biết?”

Cô nheo mắt và thấy cha mình. Giọng nói thì không phải nhưng có cặp kính không gọng, đôi lông mày cao tỏ vẻ ngạc nhiên, sự tò mò không ngừng ấy. Tất cả những bài học đầu tiên từ nửa thế kỷ trước vây quanh cô, những ngày trong chiếc Packard hỏng hóc, lớp học di động của cô, lái xe lòng vòng trên những con đường quê của miền Tây Nam Ohio. Cô ngạc nhiên khi nhận ra tất cả những niềm tin như con người trưởng thành trong cô, ở đó trong phôi thai, được hình thành bởi vài lời nói ngẫu nhiên với cửa sổ ô tô hạ xuống trong một buổi chiều thứ Sáu và những cánh đồng đậu nành của Highland County cuộn mở ra trong gương chiếu hậu.

Nhớ không? Con người không phải là loài động vật ăn thịt đầu chuỗi như họ vẫn nghĩ về bản thân. Các sinh vật khác - to hơn, nhỏ hơn, chậm hơn, nhanh hơn, già hơn, trẻ hơn, quyền uy hơn - chiếm vị trí đó, tạo ra không khí, và ăn ánh mặt trời. Không có chúng, chẳng có gì.

Nhưng viên thẩm phán đã không ở trong xe đó. Viên thẩm phán là một người đàn ông khác.

“Đó có thể là dự án vĩnh cửu của loài người, để học được những thứ rừng đã nghiệm ra.”

Viên thẩm phán suy ngẫm tuyên bố của cô, theo các mà bố cô đã thường suy ngẫm về những cây de vàng, những cành cây mảnh khảnh tỏa mùi root beer đó vẫn xanh ngát trong suốt mùa đông.

HỌ TRỞ LẠI sau khi giải lao để ra quyết định. Thẩm phán ra quyết định tạm hoãn việc đốn rừng gây tranh cãi. Ông cũng ban hành một lệnh cấm với tất cả những việc bán gỗ mới ở miền Tây Oregon cho tới khi tác động của những khoảng rừng bị đốn đối với các loài bị đe dọa được đánh giá. Mọi người tiến lại Patty và chúc mừng cô, nhưng cô không thể nghe được. Tai cô ù đi ngay khi cái búa đập xuống bàn.

Cô rời khỏi phòng xử án trong một vùng sương mù. Dennis đi bên cô, dẫn cô xuống sảnh và ra khỏi tòa nhà, nơi hai đám người biếu tình đối diện nhau trong biển biểu ngữ ở hai bên cô.

CHÚNG TA KHÔNG THỂ CHẶT CON ĐƯỜNG CỦA CHÚNG TA TỚI THIÊN ĐƯỜNG

BANG NÀY ỦNG HỘ NGƯỜI KHAI THÁC GỖ; NGƯỜI KHAI THÁC GỖ ỦNG HỘ BANG NÀY

Những kẻ đối địch hét vào nhau qua khoảng giữa đó, được tiếp lửa bởi sự chiến thắng hoặc sự bẽ mặt. Những con người tử tế yêu đất theo những cách không thể hòa hợp với nhau. Họ hét về phía Patricia giống như những con chim đang cãi nhau. Ai đó vỗ lên vai phải cô, và cô quay lại thì thấy chứng nhân chuyên gia phe đối diện. “Cô vừa khiến gỗ xẻ trở nên đắt hơn rất nhiều.”

Cô chớp mắt trước lời buộc tội, không thể hiểu tại sao đó có thể là một điều xấu.

“Tất cả các hãng gỗ với đất tư nhân và các quyền hiện hành sẽ đốn cây nhanh hết mức có thể.”

BÀN TAY CỦA HỌ LẠNH CÓNG và chân họ cứng đờ, trong không gian quá chật chội để lật trở. Đêm đủ khắc nghiệt để làm tê liệt những ngón chân như phủ sáp của họ. Gió thổi không ngừng và những tấm bạt phành phạch xé tan những nỗ lực trò chuyện của họ. Đôi khi những cành cây to rơi đập xuống từ trên cao. Sự im lặng thì còn có thể đáng sợ hơn. Leo trèo là tất cả bài thể dục mà họ có thể có. Nhưng trong ánh sáng thay đổi và những ngày trôi qua, mọi thứ có vẻ như bất khả thi dưới đất sẽ trở thành nhịp điệu buồn tẻ.

Các buổi sáng là một trò chơi mèo đuổi chuột. Hay nói cách khác, cú và chuột đồng, với Người Canh Gác và Bạch Quả chăm chăm nhìn từ cái tổ ẩm ướt lạnh cóng của họ xuống những con vật có vú nhỏ xíu đang chạy trên nền rừng ở xa phía dưới. Đội chặt cây xuất hiện trước khi sương mù tan. Một hôm, họ chỉ có ba người. Ngày hôm sau, hai mươi người, huyên náo trong buồng lái các máy móc của họ. Đôi khi những người đốn gỗ phỉnh phò: “Xuống mười phút đi.”

“Bây giờ chưa được. Chúng tôi đang bận ngồi cây!”

“Chúng tôi phải hét. Thậm chí không thể thấy các người. Như thế này thì gãy cổ chúng tôi mất.”

“Lên đây nào. Có rất nhiều chỗ trống trên đây!”

Đó là một sự bế tắc. Những người đàn ông khác nhau xuất hiện vào những ngày khác nhau, cố để phá bỏ nó. Tay trưởng đội. Viên quản đốc. Họ gào khản giọng những câu đe dọa hoặc những lời hứa nghe có lý. Thậm chí cả tay phó chủ tịch của các sản phẩm lâm nghiệp cũng tới thăm. Ông ta đứng dưới Mimas, đầu đội mũ bảo hiểm màu trắng, như thể ông ta đang khua môi diễn thuyết trước thềm Thượng viện.

“Chúng tôi có thể đưa các người vào từ chỉ trong ba ngày vì xâm phạm có tính chất tội phạm.”

“Chính vì thế mà chúng tôi không xuống.”

“Những thiệt hại mà chúng tôi đang gánh. Tiền phạt cực lớn đấy.”

“Cái cây này đáng được thế.”

Ngày hôm sau, một vị phó chủ tịch mũ trắng lại quay lại. “Nếu hai người xuống vào lúc năm giờ chiều, tối nay, chúng tôi sẽ hủy bỏ tất cả đơn kiện. Nếu không xuống, chúng tôi không thể đảm bảo cái gì sẽ xảy ra với các người. Xuống đi. Chúng tôi sẽ để hai người đi. Lý lịch của các người sẽ sạch sẽ.”

Bạch Quả vươn ra mép của phòng Hội trường Lớn. “Chúng tôi không lo lắng về lý lịch của chúng tôi. Chúng tôi đang lo lắng cho lý lịch của các người đấy.”

SÁNG HÔM SAU, khi cô đang tranh cãi với một trong những người chặt cây, anh ta ngừng cô lại giữa chừng.

“Này! Bỏ mũ của em xuống một chút xem nào.” Cô làm theo. Sự kinh ngạc của anh ta rất rõ ràng dù ở cách xa hai phần ba cái sân bóng. “Ôi trời! Em đẹp quá.”

“Anh nên nhìn tôi gần hơn! Khi tôi không lạnh cóng và được tắm táp vào một hai tháng trước.”

“Em làm cái quái gì vậy, cứ ngồi trên một cái cây thế? Em có thể có bất cứ gã nào em muốn.”

“Ai mà muốn gã nào chú khi mà các người có thể có Mimas?”

“Mimas?”

Đó là một chiến thắng nho nhỏ, khiến cho anh ta phải dùng cái tên đó.

NGƯỜI CANH GÁC THẢ MỘT LOẠT bom giấy lên đám người đốn cây phía dưới. Không gấp, những trang giấy mở ra những nét vẽ bằng chì về cuộc sống ở độ cao hai trăm feet. Những người đốn cây rất ngạc nhiên.

“Anh đã vẽ những thứ này sao?”

Tội lỗi.

“Thật không? Anh có huckleberry ở trên đó à?”

“Cả bụi!”

“Và một hồ nước có cả nhỏ bên trong chứ?”

“Còn hơn thế nữa.”

NHIỀU NGÀY TRÔI QUA, ướt và lạnh, mỗi ngày lại khổ sở hơn ngày hôm trước. Những người ngồi cây đáng lẽ phải tới giải thoát cho Người Canh Gác và Bạch Quả không bao giờ tới. Tình trạng ngồi không đã sang tuần thứ hai, và vòng công nhân ở dưới chân của Mimas bắt đầu giận dữ.

“Các người đang ở chỗ đồng không mông quạnh đấy. Người gần nhất cũng phải cách bốn gặm. Mọi thứ có thể xảy ra. Mà chẳng ai biết đâu.”

Bạch Quả cười tươi xuống phía họ, đẹp mê hồn. “Các anh quá tử tế. Các anh thậm chí không thể dọa nạt một câu đáng tin như thế! “

“Cô đang hủy hoại sinh kế của chúng tôi đấy.”

“Các sếp của anh mới làm như thế.”

“Chết tiệt!”

“Một phần ba công việc của rừng mất cho máy móc trong vòng mười lăm năm qua. Thêm cây bị đốn, bớt đi người làm.”

Cứng họng, những người chặt cây loanh quanh tìm chiến thuật khác. “Chúa ơi. Đây là một vụ mùa. Nó sẽ lớn trở lại! Các người đã nhìn thấy những cánh rừng phía Nam nơi này chưa?”

“Đó là giải độc đắc chỉ trúng một lần,”

Người Canh Gác hét xuống. “Một ngàn năm trước khi các hệ thống trở lại đúng vị trí.”

“Có vấn đề gì với hai người vậy? Tại sao các người lại ghét con người?”

“Anh đang nói cái gì thế? Chúng tôi đang làm điều này vì con người!”

“Những cây này rồi sẽ chết và đổ xuống. Chúng nên được thu hoạch trong khi phát triển hết mức, tránh lãng phí.”

“Tuyệt lắm. Hãy nghiền ông nội anh cho bữa tối, trong khi người ông ấy vẫn còn ít thịt.”

“Anh bị điên à. Sao chúng tôi phải phí sức nói chuyện với các người chứ?”

“Chúng ta phải học cách để yêu nơi này. Chúng ta cần trở thành thổ dân.”

Một trong những người chặt cây khởi động cái cưa máy và đập mạnh vào những cành của một trong những chạc lớn nhất phía dưới Mimas. Anh ta bước lùi lại và nhìn lên, khua khua một cành cây to bằng một cột buồm.

“Chúng tôi cung cấp nguyên liệu cho con người. Còn các người thì làm gì?”

Họ đi đến Bạch Quả, một nửa đội. “Chúng tôi hiểu những khu rừng này. Chúng tôi tôn trọng các cây này. Những cây này đã giết những người bạn của chúng tôi.”

Bạch Quả im lặng. Ý nghĩ một cái cây đã giết một con người thật quá sức với cô để nghĩ đến.

Đám đàn ông phía dưới thừa thắng tiến lên. “Ta không thể ngăn cản sự phát triển được! Con người cần gỗ.”

Người Canh Gác đã từng nhìn thấy các con số. Hàng trăm feet rộng gỗ thịt, nửa tấn giấy và bìa cứng mỗi người mỗi năm. “Chúng ta cần trở nên khôn ngoan hơn về những thứ chúng ta cần.”

“Tôi cần nuôi các con tôi. Anh thì sao?”

Người Canh Gác sắp sửa hét ra những điều mà anh biết rồi anh sẽ phải hối tiếc. Bạch quả đặt bàn tay lên cánh tay anh để ngăn lại. Cô nhìn chằm chằm xuống dưới, cố để nghe những người đàn ông này, chuẩn bị tinh thần để làm một việc mà họ đã được yêu cầu làm. Để làm một việc quan trọng và nguy hiểm mà họ đã học được để làm rất tốt.

“Chúng tôi không nói là đừng chặt gì cả.” Cô thõng một cánh tay xuống, vươn ra phía những người đàn ông ở cách xa hai trăm feet. “Mà chúng tôi nói, chặt như thể đó là một món quà, không phải như thể các người vừa thu hoạch được nó. Không ai muốn lấy nhiều quà hơn mức họ cần. Và cái cây này! Món quà này hẳn sẽ là một món quà quá lớn. nó sẽ giống như Chúa giáng thế và… “

Cô hé lộ một suy nghĩ mà Người Canh Gác cũng có cùng lúc đó.

Đã ở đó. Cũng đã bị đốn ngã.

CÓ NHỮNG NGÀY TUYỆT VỌNG cùng mưa đá. Những buổi chiều trở nên lạnh buốt. Nhưng những người ngồi thay phiên vẫn không xuất hiện. Người Canh Gác phát triển hệ thống hứng nước mưa. Bạch Quả làm một chỗ tiểu dành riêng cho phụ nữ. Cuối tuần thứ ba, những người chặt cây sắp đặt để thực hiện việc cưa cây gần đó. Nhưng họ bị cản trở sau vài giờ. Thật khó để hạ những cây có kích thước của những tòa nhà chọc trời khi mà một nhát cưa và một cơn gió nhẹ có thể dẫn đến việc ngộ sát.

ĐÊM ĐÓ, Loki và Tia lửa cuối cùng cũng tới. Loki lên cái trại trên cao của Mimas. Tia lửa ngồi lại phía dưới canh gác. “Xin lỗi vì chúng tôi lâu như vậy không tới. Đã có một chút… ẩu đả ở dưới trại. Hơn nữa, Humboldt và các đội quân của họ đã chắn lối khắp sườn đồi rồi. Hai đêm trước, họ đã săn đuổi chúng ta. Họ đã tóm được Chim Ó. Anh ấy bị nhốt rồi.”

“Họ đang canh gác cái cây đó vào ban đêm à?”

“Chúng ta đã đợi cơ hội đầu tiên để vượt qua.”

Người trinh sát đưa ra những tiếp tế quý giá - các gói súp ăn liền, đào và táo, ngũ cốc mười loại hạt, couscous trộn. Chỉ cần cho thêm nước ấm. Người Canh Gác nghiên cứu đống đồ. “Chúng tôi sẽ không được thay phiên à?”

“Chúng ta không thể liều lĩnh vào lúc này. Người Ăn Rêu và Sói Xám sợ chết nên về nhà rồi. Toàn bộ LDF đang dàn mỏng trên mặt đất. Chúng ta có một số vấn đề giao tiếp nội bộ. Thực ra lúc này chúng ta khá cạn kiệt rồi. Hai bạn ở đây chỉ thêm một tuần nữa thôi được không?”

“Tất nhiên!” Bạch Quả nói. “Chúng tôi có thể ở trên này mãi mãi.”

Mãi mãi có thể sẽ dễ dàng hơn, Người Canh Gác nghĩ, nếu anh cũng đã được nghe từ các hiện thân của ánh sáng. Loki run rẩy trong ánh nến. “Trời ơi, trên này lạnh quá. Cái gió lạnh đó thổi thốc qua các bạn.”

Bạch Quả nói, “Giờ chúng tôi không cảm thấy nó nữa.”

“Nhiều nữa,” Người Canh Gác điều chỉnh.

Loki khoác bộ đai vào. “Phải xuống trước khi họ bắt Tia lửa và tôi đây. Coi chừng Đội leo trèo Cali. Nghiêm túc đấy. Humboldt có một gã này có thể trèo cây không cần đai, chỉ cần giày đinh và một cuộn cáp lớn. Hắn ta là đủ thứ rắc rối của những người ngồi cây khác.”

“Nghe giống như một huyền thoại rừng xanh,” Người Canh Gác nói.

“Không phải thế.”

“Hắn ta dùng lực đấy mọi người ra khỏi cây à?”

“Chúng ta có hai người,” Bạch Quả tuyên bố. “Và giờ chúng tôi có sự cân bằng.”

NHŨNG NGƯỜI ĐỐN CÂY không đến nữa. Không còn gì hơn để tranh cãi qua lại. Phần cấp thêm của đội trợ cấp mặt đất của LDF cũng đang cạn kiệt. “Chắc là chúng ta vẫn đang bị vây hãm,” Người Canh Gác nói. Nhưng họ chẳng thấy được sự phong tỏa nào ở phía dưới. Con người có lẽ đã biến mất ở tất cả mọi nơi trừ những di chỉ hóa thạch. Cao trên vòm cây này, họ chẳng thấy con vật nào to hơn loài sóc bay, những con vật rúc theo hơi ấm của cơ thể họ vào buổi đêm.

Hai người họ không ai biết được đã bao nhiêu ngày trôi qua. Nick đánh dấu mỗi buổi sáng vào một tờ lịch vẽ tay, nhưng khi anh đi tiểu và rửa bằng miếng bọt và ăn sáng và mơ mộng một tác phẩm nghệ thuật tập thể nào đó nữa có thể thực thi công lý cho rừng, anh thường không thể nhớ được liệu anh đã đánh dấu ngày hôm đó hay chưa.

“Thế thì có làm sao chứ?” Bạch Quả hỏi. “Các cơn bão hầu như đã qua cả. Trời đang ấm lên. Ngày trở nên dài hơn. Đó là tất cả lịch mà chúng ta cần.”

Cả buổi chiều trôi qua khi Người Canh Gác ngồi vẽ. Anh vẽ những đám rêu mọc lên từ các khe hở. Anh vẽ địa y usnea và các loại địa y leo khác mà biến cái cây thành một câu chuyện cố tích. Bàn tay anh đưa và ý nghĩ hình thành:

Ai mà cần gì khác chứ, ngoại trừ thức ăn? Và những cây như Mimas có thể tạo ra thức ăn cho riêng chúng - tự do nhất trong tất cả.

Tiếng máy móc vẫn rù rì, phía bên dưới sườn đồi đang ngày càng trống hoác. Một cái cưa ở gần, một cái máy chặt cây ở xa hơn: hai người ngồi cây giờ đây có thể dễ dàng phân biệt các sinh vật đó bằng tai. Có những buổi sáng, những âm thanh đó là cách duy nhất để họ biết được liệu hệ thống tự do kinh doanh vẫn còn lao về phía bức tường khổng lồ của nó hay không.

“Chắc là họ đang cố làm cho chúng ta chết đói.” Nhưng trong khoảng thời gian dài tiếp tế không đến đó, họ có couscous và trí tưởng tượng.

“Chờ đã,” Bạch Quả nói. “Huckleberry sẽ lại cho quả trước khi chúng ta biết đấy.” Cô nhấm những hạt đậu gà khô như thể chúng là một khóa triết học. “Em chưa bao giờ biết cách nhấm nháp đồ ăn, trước đây.”

Anh cũng vậy. Và anh chưa bao giờ biết cơ thể anh bốc mùi như thế nào, phân tươi của anh, đang biến thành phân ủ. Và suy nghĩ của anh thay đổi như thế nào khi anh nhìn hàng giờ vào ánh sáng chạm khắc chìm qua những cành cây. Rồi máu nghe như thế nào, thùm thụp trong tai anh vào thời gian sau khi mặt trời lặn, và mọi sinh thể đang nín thỏ, chờ để xem điều gì xảy ra, một khi bầu trời sụp đổ.

Hiện thực nghiêng khỏi đường thẳng vuông góc trong mỗi làn gió nhẹ. Những buổi chiều mưa bão là môn thể thao hai người như muôn thuở. Khi gió nổi lên, chẳng còn gì, hoàn toàn chẳng có gì ngoài gió. Nó khiến họ trở nên hoang dã - tấm bạt bay phần phật điên cuồng và những cành lá kim quật họ vô tội vạ. Khi gió thổi, tất cả những gì não bạn có - không vẽ vời, không thơ phú, không sách, không mục đích, không hiệu triệu - chỉ còn là những cơn gió bão và những ý nghĩ phát điên của bạn đập điên loạn xung quanh, những loài chạy loạn xạ của chúng rơi tự do khỏi cây phả hệ ấy.

Khi ánh sáng tàn đi, hai người họ chỉ còn lại âm thanh. Nến và đèn dầu quá quý giá để có thể dành cho sự xa xỉ của đọc sách. Họ không hề biết khi nào thì đợt tiếp tế tiếp theo có thể vượt qua vòng bao vây, ấy là khi vẫn còn một vòng bao vây ở đó, vẫn còn một LDF hay bất cứ tổ chức nào trên đời còn nhớ tới hai người họ, ở trên cao trên cái cây một nghìn năm tuổi này, đang cần tiếp tế.

Cô cầm tay anh trong bóng tối, tất cả tín hiệu mà anh cần. Họ vùi vào nhau, như họ vẫn thế hằng đêm, chống lại bóng tối. “Họ ở đâu?”

Có hai lựa chọn, họ trong ý của cô là gì. Ba nếu như tính cả những sinh vật của ánh sáng. Và câu trả lời của anh là như nhau cho cả ba. “Anh không biết.”

“Có khi họ quên bẵng cái cây này rồi.”

“Không,” anh nói. “Anh không nghĩ họ quên.”

Anh trăng phía sau cô trùm một khoảng tối lên các đường nét của cô. “Họ không thể thắng được. Họ không thể đánh bại tự nhiên.”

“Nhưng họ có thể đảo lộn mọi thứ trong khoảng thời gian dài không tưởng tượng được.”

Nhưng trong một đêm như đêm nay, khi rừng phát ra những bản giao hưởng triệu phần và vầng trăng tròn sáng rực rải từng mảnh xuống những cành cây của Mimas, ngay cả Nick cũng dễ dàng tin rằng màu xanh có một ý đồ sẽ khiến tuổi của những động vật có vú dường như chỉ là một con đường tránh nhỏ.

“Suỵt,” cô nói, dù anh đã im lặng rồi. “Cái gì vậy?”

Anh biết mà cũng không biết. Một hiện thân thử nghiệm khác nữa đang xuất hiện, thông báo chỗ ở của nó, kiểm tra bóng tối, xác định vị trí của nó trong tổ ong khổng lồ. Sự thật là, hai mắt anh đang rủ xuống và anh không thể giữ cho câu hỏi của cô không biến thành những chữ tượng hình. Không có cách nào để thuần dưỡng bóng tôi hoặc để khiến nó có ích dù nhỏ nhất, anh chìm đi. Nhưng anh vẫn đủ tỉnh để nhận ra: Đây là một khoảng dài nhất của thời gian mình từng trải qua mà con chó đen không tôi cắn mông mình.

Họ ngủ. Họ không dính vào nhau nữa. Nhưng họ vẫn ôm nhau đủ chặt, hầu hết mọi đêm, đến mức dù gì họ cũng có thể rơi qua mép mặt sàn cùng nhau.

KHI TRỜI SÁNG TRỞ LẠI, anh đánh một cái dấu vu vơ lên tờ lịch tự làm. Anh rửa ráy, đi vệ sinh, ăn, rồi bò vào vị trí thức giấc quen thuộc của cô - đầu dọc theo chân cô, để họ có thể nhìn thấy nhau. Nick chợt nghĩ tại sao trong đầu anh từng có ý nghĩ chuyển cuộc đời mình lên chỗ hai mươi tầng trên không trung này. Nhưng tại sao một người lại đến một chỗ nào đó? Và ai nên ở lại mặt đất, một khi anh ta đã nhìn thấy cuộc sống trên vòm cây? Khi mặt trời nhô lên từng nấc nhỏ nhất trên bầu trời mùa hè, anh vẽ. Anh bắt đầu thấy nó có thể hoạt động như thế nào, vài đường nét màu đen trên một trang giấy trắng trơn có thể thay đổi những thứ trong thế giới này như thế nào.

Cô ngồi bên mép mặt sàn với tấm bạt vén lên, nhìn khắp khu rừng dốc xuống. Những mảng đất trông ở khoảng giữa đang tiến lại gần hơn. Cô lắng nghe những giọng nói vẫn văng vẳng theo cô, sự trấn an thường trực của cô. Chúng không đến hằng ngày. Cô làm lại một cuốn sổ cho mình rồi viết xuống những bài thơ bé xíu nhỏ hơn của một hạt giống cây gỗ đỏ.

Anh quan sát cô tắm bông tắm bằng nước hứng trong tấm bạt. “Bố mẹ có biết em ở đâu không? Nhỡ như có chuyện gì… xảy ra thì sao?”

Cô quay lại, trần truồng và run rẩy, cau mày, như thể câu hỏi đó là động lục học phi tuyến cao cấp. “Em không nói chuyện với bố mẹ kể từ khi chúng ta rời Iowa.” Dội nước sạch rồi mặc quần áo lại, mặt trời đi xuống bảy độ sau, cô nói thêm, “Và sẽ không đâu.”

“Sẽ không gì?”

“Không có gì xảy ra. Em vẫn luôn tin rằng câu chuyện này sẽ có kết thúc tốt đẹp.”

Cô vỗ vỗ Mimas, cái cây mà vào chính ngày hôm đó đã ăn bốn pound carbon từ không khí và cộng chúng vào khối lượng của mình, dù ở cuối tuổi trung niên này.

HỌ TRẢI QUA những giờ dài bất tận đọc sách trong túi ngủ của mình. Họ đọc tất cả những cuốn sách mà những người ngồi trước đó để lại trên thư viện vốn là cái võng. Họ đọc Shakespeare, kê tập sách dày đó trên phần bụng áp vào nhau của họ. Họ đọc một vở kịch mỗi buổi chiều, đọc tất cả các phần giữa chúng. Giấc mộng đêm hè. Nua Lear. Macbeth. Họ đọc hai cuốn tiểu thuyết kỳ ảo, một cuốn có ba năm trước và cuốn kia là một trăm hai mươi ba năm. Cô phải chật vật, khi họ gần kết thúc câu chuyện cũ hơn, giữ giọng mình kiềm chế.

“Em yêu những người này chứ?” Những câu chuyện này khiến anh say đắm. Anh quan tâm đến những gì xảy ra. Nhưng cô - cô tan vỡ.

“Yêu? Ồ. Vâng. Có thể. Nhưng tất cả họ bị giam cầm trong cái hộp giày mà họ chẳng biết gì. Em chỉ muốn lay lay họ và hét lên, Tỉnh táo lại đì, ôi trời! Nhìn quanh xem! Nhưng họ không thể, Nicky. Mọi thứ đang sống đều ở bên ngoài tầm mắt của họ.” Mặt cô nhăn nhúm và hai mắt lại đờ đẫn đi. Khóc mờ cả mắt, dù chỉ là những nhân vật trong tiểu thuyết.

HỌ ĐỌC Khu rừng bí mật lần nữa. Nó giống như một cây thủy tùng: hé lộ nhiều hơn trong lần nhìn ngắm thứ hai. Họ đọc về cách cành cây biết khi nào phân nhánh. Cách rễ cây tìm nước, dù là nước trong một cái ống bịt kín. Cách một cây sồi có thể có năm trăm triệu đầu rễ nhưng không có sự cạnh tranh. Cách những chiếc lá của vòm lá e thẹn (crown-shy) để một khoảng trống giữa chúng với nhau và với hàng xóm của chúng. Cách cây thay màu sắc. Họ đọc về thị trường chứng khoán hoang dã trao đổi thủ công, cả trên mặt đất và dưới mặt đất. Về những mối quan hệ đối tác có hạn phức tạp với các dạng thể sống khác. Những thiết kế tài tình đưa các hạt giống bay lên trên không trung cao hàng trăm dặm. Những thủ thuật truyền tín hiệu đã làm việc với những thứ di động rõ ràng trẻ hơn hàng chục triệu năm so với các cây đó. Hối lộ cho những con vật nghĩ rằng chúng đang được ăn trưa miễn phí.

Họ đọc về những cuộc viễn chinh di thực cây Một Dược được miêu tả trong các bức phù điêu ở Karnak, từ ba nghìn năm trăm năm trước. Họ đọc về những cây di trú. Những cây nhớ được quá khứ và dự đoán được tương lai. Những cây hòa việc ra hạt và kết quả của chúng thành những điệp khúc rộn ràng. Những cây phá hủy mặt đất để chỉ cây con của chính chúng có thể phát triển. Những cây triệu hồi các lực lượng côn trùng trên không đến để cứu chúng. Những cây với từng phần thân rỗng rộng đủ chỗ trú cho dân của những thôn nhỏ. Những chiếc lá có lông ở mặt dưới. Những cuống lá mỏng manh ngăn chặn được gió. Vành sự sống quanh một cây cột của lịch sử đã chết, mỗi lớp vỏ mới đều dày như lớp tạo tác trong thời kỳ phát triển rực rỡ.

“ANH CÓ THỂ CẢM THAY NÓ KHÔNG?” cô hỏi, dưới sự hỗn loạn của bầu trời phía Tây đầu một buổi chiều, mà cũng có thể là của ngày hôm sau. Không cần giải thích thêm, anh biết ý của cô. Bây giờ anh có thể đọc được suy nghĩ của cô, sau rất nhiều giờ họ đã trải qua cùng nhau trong sự thiền định vô mục đích, đầu gối lên khuỷu tay, khuỷu tay lên đầu gối.

Anh có thể cảm thấy nó nâng lên và biến mất không? Sóng đứng của tĩnh điện liên tục đó. Sự sao nhãng quả phổ biến mà ta chưa từng bao giờ biết mình bị bao phủ trong nó. Sự tin chắc của con người. Điều khiến ta không nhận thức được những thứ ngay ở đây - đã biến mất. Anh có thể - có thể cảm thấy nó. Cái cây, giống như một đèn tín hiệu rất lớn nào đó. Hai người họ, biến thành một cái gì đó được tiếp sức mạnh bởi đốm mặt trời lốm đốm vươn tới họ thông qua hàng chục feet từ những cành cây của Mimas phía trên họ.

“Lên ngọn đi,” cô nói với anh. Và trước khi anh kịp phản đối, anh lúc này đang ngước nhìn lên một máng xối đầy bùn ở trên một nhánh thân cây bị sét đánh, hai chân cô đã quặp quanh một cái ống chạy suốt dọc xuống đất và hai cánh tay cô dang ra, đón bầu trời.

MỘT ĐÊM NỌ KHI Nick đang chìm sâu trong giấc mơ xanh thì một cơn rùng mình lướt qua Mimas và khiến anh lăn ra mép của mặt sàn. Cánh tay anh nhào ra ngoài và túm lấy một cành cây mảnh. Anh bám víu, nhìn xuống hai mươi tầng lầu. Phía sau anh, Olivia gào lên. Anh bò trở lại giữa sàn vừa lúc một cơn cuồng phong lớn hơn đập vào tấm bạt và nâng cả cái chòi lên, vày vò nó. Gió hóa lỏng không khí và mưa đá ném xuống họ qua những tán lá kim. Khi nghe một tiếng gãy dữ dội, Nick nhìn lên. Ba mươi feet trên đầu anh, một cành cây dày hơn bắp đùi anh đứt ra và rơi xuống trong chuyển động chậm, đập vào những cành nhánh khác trên đường rơi xuống.

Những cơn gió giận dữ đẩy dạt Olivia vào trong thân của Mimas. Cô bấu chặt lấy mặt sàn, kêu la. Kích động. Cái cây nghiêng mấy feet theo chiều dọc, rồi uốn lại cũng xa chừng đó sang hướng khác. Nick dao động như một con chạy trên cái máy đếm nhịp cao nhất thế giới. Chắc chắn hơn bất cứ điều gì anh biết, anh biết mình sắp chết. Anh siết chặt từ hàm tới ngón chân, bám chặt lấy sự sống bằng tất cả những gì anh còn lại trong cơ thể. Anh sẽ thả mình, còn mặt đất sẽ giải quyết mọi chuyện.

Có gì đó gào lên với anh qua cơn mưa đá. Là Olivia. “Đừng. Chống cự. Đừng chống cự!”

Những từ đó đập vào anh, và anh có thể nghĩ lại. Cô đúng: siết chặt thì anh sẽ không kéo dài được quá ba phút nữa.

“Thả lỏng. Cười đi!”

Anh thấy đôi mắt cô, màu gốm xanh ngọc điên cuồng. Cô đu đưa uốn lượn hoang dại, uyển chuyển, như thể cơn bão này chẳng là gì. Trong một vài nhịp nữa, anh hiểu ra vấn đề. Chẳng là gì với một cây gỗ đỏ cả. Hàng nghìn cơn bão này đã thối qua tán lá này, hàng chục nghìn, và tất cả những gì Mimas từng làm là cho đi.

Anh đầu hàng cơn bão dữ như cái cây này đã làm, qua một nghìn năm của những cơn bão giết chóc. Như hồng sam đã làm qua một trăm tám mươi triệu năm. Phải, một cơn bão đã đánh gãy ngọn cây này, từ nhiều thế kỷ trước. Phải, những cơn bão sẽ đưa các cây xuống kích cỡ này. Nhưng không phải đêm nay. Không có vẻ gì như vậy. Đêm nay, đỉnh của một cây gỗ đỏ là nơi an toàn trong cơn gió lốc này hơn bất cứ nơi nào. Chỉ cần uốn mình và cưỡi bão.

Một tiếng hú vút qua cơn gió dày đặc mưa đá. Anh hú lại. Tiếng thét của họ biến thành tiếng cười điên dại. Họ hú hét liên hoàn cho tới khi cả cuộc chiến tranh của thế giới gào lên và những tiếng gọi hoang dã trở thành lời tạ ơn. Lâu sau thời khắc khi những nắm tay nắm chặt của anh hẳn đã buông lỏng ra, họ ca hát reo hò trước cơn bão.

SÁNG MUỘN HÔM SAU, ba người chặt cây xuất hiện dưới chân Mimas. “Hai người ổn chứ? Đêm qua gió bão rất nhiều. Nhiều cây to đổ. Chúng tôi đã lo lắng cho các bạn.”

KHÔNG THỀ NGỜ, cảnh sát làm video đó. Một năm trước, đó hẳn đã là loại bằng chứng mập mờ yếu ớt mà cảnh sát đã phá huỷ. Nhưng các chiến thuật của giới vô luật pháp đang thay đổi. Để chống lại họ, cảnh sát cần những thử nghiệm mới. Các phương pháp phải được ghi lại, đánh giá, và biên tập.

Camera lia khắp đám đông. Mọi người tràn xuống đường qua biển hiệu công ty bị đốt cháy. Họ bao vây các trụ sở, ấn trong những cái chòi gỗ quanh bìa rừng vân sam và linh sam. Ngay cả không phải một người quay phim tài giỏi cũng có thể làm nó giống không gì khác ngoài nền dân chủ Mỹ, quyền của con người được tụ tập trong hòa bình. Đám đông đúng lùi khá xa khỏi đường giới hạn sở hữu đất đai, hát những bài hát của họ và vẫy vẫy những tấm banner to rộng: NGỪNG THU HOẠCH GỖ BẤT HỢP PHÁP, KHÔNG CÒN CHẾT CHÓC TRÊN ĐẤT CÔNG. Nhưng cảnh sát vào ra khung hình. Cảnh sát đứng hoặc ngồi trên lưng ngựa. Những người đàn ông ngồi phía sau các phương tiện trông như những chiếc xe bọc thép chở quân.

MIMI LẮC ĐẦU ngạc nhiên. “Tôi đã không biết thành phố này có nhiều cảnh sát đến thế.” Douggie đi tập tễnh bên cô, cúi đầu. “Anh biết đấy chúng ta không cần phải làm việc này. Ít nhất là nửa tá người sẽ hạnh phúc khi được tham gia.”

Anh quay lại để đối diện cô và suýt vấp ngã. “Cô đang nói gì thế?” Anh giống như một con chó golden retriever bị đập bởi tờ báo cuộn tròn mà vừa mới hết sức tự hào tha được về. “Chờ đã.” Anh chạm vai cô, khó hiểu. “Cô sợ à, Meem? Vì cô không phải làm bất cứ điều gì mà cô…”

Cô không thể chịu được nó, lòng tốt của anh. “Được rồi. Tôi chỉ đang nói là lần này đừng có làm anh hùng.”

“Tôi đã không làm anh hùng lần trước. Làm sao tôi biết được họ sẽ nung chảy những hòn ngọc đó?”

Cô đã thấy, ngày mà chiếc quần bò mềm của anh bị cắt tung trong gió. Những hòn ngọc ấy, lủng lẳng trong không trung, đỏ rực vì hóa chất. Anh đã muốn cho cô xem lại, rất thường xuyên, vì: sự phục hồi kỳ diệu - gần như hồi sinh, có thể nói vậy. Chỉ là cô không thể khiến mình làm thế. Cô yêu thương người đàn ông này, có lẽ hơn bất kỳ ai ngoại trừ các em gái của cô và con cái chúng. Cô không khỏi ngạc nhiên vì một người đàn ông có thể chất phác tới cả khi anh ta ở độ tuổi bốn mươi. Cô không thể tưởng tượng được việc không để mắt tới anh. Nhưng họ là những kiểu người khác nhau. Mục tiêu mà họ dấn thân vào này - cuộc bảo vệ cho thứ không thể di chuyển và vô tội này, cuộc đấu tranh cho một thứ tốt đẹp hơn mong muốn tự tử thường trực - là tất cả những gì họ có chung.

Họ đi về phía những chiếc xe thùng, nơi vũ khí bí mật mới của người phản đối, những con gấu đen khung sắt, đang được đưa ra. “Thấy chưa, chúng ta đang làm việc này, thưa cô. Cô nghĩ thế nào? Đó không phải huân chương Purple Heart đầu tiên của tôi. Cũng không phải cuối cùng. Sẽ kết thúc với cả một chuỗi dài, giống như một con giun đất.”

“Douggie. Đừng bị thương thêm nữa. Hôm nay tôi không chịu được điều đó đâu.”

Anh hất cằm về phía hàng cảnh sát, chờ cho điều gì đó xảy ra. “Đưa nó đến chỗ họ.” Và rồi, giống như một sinh vật không có ký ức nào khác ngoài mặt trời. “Dô! Hãy nhìn tất cả những con người kia! Đó là một phong trào hay là gì?”

TỘI ĐẦU TIÊN - vượt qua địa giới vào đất đai của doanh nghiệp -xảy ra mà không bị quay hình. Nhưng các ống kính nhanh chóng bắt được hành động đó. Lấy nét tự động làm mờ và khóa lại khi một số người thợ lắp ráp lặng lẽ băng qua con đường lớn vào bãi cỏ được cắt tỉa đó. Ở đây, họ đứng lại và hò hét đáp lại những tiếng hiệu triệu ở trên loa.

Một dân tộc! Đoàn kết! Không bao giờ có thể bị đánh bại!

Một khu rừng! Một khi đã bị tàn phá! Không thể trồng lại!

Hai cảnh sát tiến tới chỗ những người xâm phạm và yêu cầu họ lùi lại. Lời lẽ của họ bị bóp nghẹt trong bản thu âm, nhưng đủ lịch sự. Nhưng, chẳng bao lâu, nhóm người trở thành một quả bóng mồi cuộn lăn. Mọi người thách thức và chửi bới - đúng kiểu phản kháng mà cảnh sát muốn tránh. Một phụ nữ lưng gù, tóc trắng hét lên, “Chúng tôi sẽ tôn trọng quyền sở hữu của họ nếu họ tôn trọng quyền sở hữu của chúng tôi.”

Camera quay ngoặt sang bên trái, nơi một nhóm chín người lao qua bãi cỏ. Cuộc khẩu chiến đầu tiên hóa ra là một chiến thuật nghi binh được thực hiện tốt để lôi kéo cảnh sát rời khỏi lối vào tòa nhà. Mỗi người mang một ống tuýp sắt nông hình chữ V dài khoảng ba feet, dày đủ để đút một cánh tay vào. Rồi hình ảnh cắt. Rồi khung cảnh chuyển vào bên trong nhà. Các nhà hoạt động nối nhau lại thành một vòng tròn quanh cái cột ở sảnh trước. Đám đông nhân viên tò mò ùa ra ngoài các hành lang. Cảnh sát đến phía sau người quay phim, cố để giải quyết tình huống lộn xộn này.

NHỮNG NGƯỜI PHẢN Đối đã tập luyện để làm sao triển khai được nhanh nhất có thể. Nhưng trong sảnh thật này, với những nhân viên đang đi lại và cảnh sát đang đuổi theo, triển khai không phải là đơn giản. Cuộc xô đẩy chia tách Mimi và Douglas. Rốt cuộc họ đối diện nhau trong vòng tròn. Họ có ba dây để khóa vòng tròn lại. Douglas nhét tay trái của mình vào con gấu đen và gắn cái móc cài trên dây cáp ở cổ tay anh vào lên cái trụ sắt được hàn vào chính giữa ống tuýp. Các đồng sự của anh cũng làm tương tự. Mấy giây sau, cả vòng tròn chín nút đó ép chặt nhau lại thành một thứ không thể lách qua dù là bất kể loại cưa kim cương nào.

Họ ngồi khoanh chân thành một vòng tròn trên mặt sàn quanh một cây cột to. Douglas nghiêng sang một bên nhưng vẫn không thể nhìn thấy cô. Anh hét lên, “Meem,” và khuôn mặt tròn với nước da nâu mà anh đã xem như là lòng tốt của cả thế giới này hé sang nhìn anh cười rạng rỡ. Anh đưa ngón tay cái lên làm dấu với cô, rồi chợt nhớ ra ngón cái của anh đang ở trong cái ống tuýp sắt.

MỘT ĐƯỜNG MÁY di chuyển dài ghi lại từng cận cảnh. Người đàn ông cao lớn, vụng về, có hai răng của hở và mái tóc rậm rạp dài kéo ra sau thành đuôi ngựa bắt đầu hát. Chúng ta sẽ vượt qua. Chúng ta sẽ vượt qua. Ban đầu có tiếng cười khúc khích. Nhưng đếm đến ba thì cả nhóm hát theo. Năm tay cảnh sát kéo giật đám người biểu tình, nhưng gõ đám rối một cách dễ dàng không phải là một phương án. Người đàn ông mặc đồng phục nói, như thể đọc lại từ một người nhắc vở: “Tên tôi là Sherriff Sanders. Sự có mặt của các bạn ở đây là vi phạm luật hình sự, điều số…” Tiếng la hét từ vòng tròn nhấn chìm giọng ông. Ông dừng lại, nhắm mắt, và bắt đầu lại. “Đây là đất tư nhân. Tôi thay mặt bang Oregon ra lệnh cho các bạn giải tán. Nếu các bạn không rút lui trong yên lặng, các bạn sẽ bị giam giữ vì lắp ráp bất hợp pháp cũng như xâm phạm với mục đích phạm tội. Bất cứ nỗ lực chống lại việc bắt giữ sẽ bị coi là vi phạm luật hình sự điều…”

Người đàn ông răng thưa, vụng về hét với lên. “Các bạn nên tới chỗ chúng tôi ở dưới này.”

Cảnh sát lùi lại. Ai đó ngoài khuôn hình máy quay hét lên, “Tất cả các người là tội phạm. Các người chỉ muốn nhổ lên người khác!”

Vòng tròn lại cất tiếng hát. Cảnh sát đến bao vây theo chu vi vòng tròn đó càng lúc càng đông. Tay cảnh sát trưởng lại bước lên. Bài phát biểu của ông ta chậm, rõ, và to, như thể của giáo viên tiểu học. “Thả tay các bạn ra khỏi thứ đang giữ… ra khỏi bên trong cái ống tuýp của các bạn. Nếu các bạn không tự thả mình ra trong vòng năm phút, chúng tôi sẽ dùng bình xịt hơi cay để buộc các bạn phải tuân thủ.”

Ai đó trong vòng nói, “Ông không thể làm thế.”

Máy quay dừng lại ở một phụ nữ gốc Á nhỏ bé với khuôn mặt tròn và mái tóc ngắn màu đen. Bên ngoài máy quay viên cảnh sát trưởng nói, “Tất nhiên là chúng tôi có thể. Và chúng tôi sẽ làm thế.” Có tiếng la hét từ trong vòng tròn. Camera không biết nên hướng vào đâu. Có thể nghe thấy người phụ nữ có gương mặt tròn nói, “Luật pháp Hoa Kỳ cấm cảnh sát dùng hơi cay trừ khi anh ta gặp nguy hiểm. Nhìn chúng tôi đi! Chúng tôi thậm chí không thể di chuyển!”

Tay cảnh sát trưởng nhìn đồng hồ. “Ba phút.”

Tất cả mọi người nhao nhao. Một cú lia khắp hành lang lộn xộn để giảm đi những cận cảnh đáng sợ. Có một cuộc ẩu đả; một thanh niên trẻ trong vòng bị đá vào thận từ phía sau. Camera lướt đi và dừng lại ở người đàn ông răng thưa. Đuôi ngựa tóc ông vung vẩy tới lui. “Cô ấy bị hen suyễn, Chúa ơi. Thật tồi tệ. Các người không thể dùng bình xịt hơi cay với một người bị hen suyễn được. Như thế người ta sẽ chết đấy, ôi trời.”

Ai đó ngoài máy quay nói, “Làm điều cảnh sát bảo đi.”

Người đàn ông răng thưa gật đầu như thể cố ông ta bị gãy. “Làm đi, Mimi. Mở khóa. Làm đi.”

Người phụ nữ tóc xám hét vào ông ta. “Tất cả chúng tôi đã đồng ý cùng nhau ngồi như thế này.”

Tay cảnh sát trưởng hô to, “Các bạn đang vi phạm luật pháp và hành động của các bạn đang phá hủy cộng đồng. Hãy ra khỏi các cơ sở này. Các bạn có sáu mươi giây.”

Sáu mươi giây trôi qua vẫn trong tình trạng lộn xộn đó. “Một lần nữa tôi yêu cầu các bạn mở khóa và rút tay ra khỏi các ống tuýp đó rồi yên lặng rời đi.”

“Tôi đã nhận được một huân chương Air Force Cross vì bị bắn rơi khi bảo vệ đất nước này đấy.”

“Tôi đã đưa ra mệnh lệnh cho các bạn giải tán trong năm phút trước. Các bạn đã được cảnh báo về các hậu quả, và các bạn đã chấp nhận chúng.”

“Tôi không chấp nhận chúng!”

“Giờ chúng tôi sẽ sử dụng hơi cay và các thứ hóa chất khác để buộc các bạn phải bỏ tay ra khỏi các ống sắt của mình. Chúng tôi sẽ tiếp tục sử dụng các phương tiện này cho tới khi các bạn đồng ý thả tay ra. Các bạn có thả ra bây giờ để tránh bị xịt hay không?”

DOUGLAS NGHIÊNG SANG BÊN NÀY, rồi sang bên kia. Anh không thể thấy cô. Cái cột chắn giữa họ, và cái vòng đang trở nên giận dữ. Anh hét gọi tên cô và cô vẫn ở đó, nghiêng ánh mắt sợ hãi vào mắt anh. Anh hét lên những điều cô không thể nghe qua tất cả những tiếng ồn khác. Họ khóa ánh mắt nhau trong khoảng nhỏ bé nhất mãi mãi. Anh vội vã gửi hàng chục lời khẩn cầu vào trong cái kênh nhỏ hẹp đó. Em không phải làm điều này. Em đấng giá với anh hơn tất cả cánh rừng mà công ty này có thể tàn sát.

Ánh mắt cô còn đong đầy những thông điệp hơn, mà tất cả đều đố về mấu chốt nặng nề nhất: Douglas. Douglas. Họ làm gì?

HỌ BẮT ĐẦU VỚI CƠ THỂ ngồi gần chân của tay cảnh sát trưởng nhất - một phụ nữ độ tuổi bốn mươi, to béo, với mái tóc gợn sóng màu vàng, đeo cặp kính mốt từ năm ngoái. Một tay sĩ quan tới phía sau cô, một tay cầm chiếc cốc giấy còn tay kia cầm cái bông tăm. Giọng của tay cảnh sát trưởng bình tĩnh. “Đừng kháng cự. Bất cứ sự đe dọa nào về phía chúng tôi sẽ bị xem như là một cuộc tấn công vào cảnh sát, đây là trọng tội.”

“Chúng tôi bị khóa! Chúng tôi bị khóa!”

Tay sĩ quan thứ hai đi đến cùng người đang cầm cái tăm bông và cốc giấy. Ông ta cúi xuống, một tay giữ chặt người phụ nữ còn tay kia nghiêng đầu cô ra phía sau. Người phụ nữ buột ra, “Tôi dạy môn sinh học ở trường cấp hai Jefferson. Tôi đã có hai mươi năm dạy bọn trẻ về…”

Ai đó ngoài khung hình hét lên, “Cô sắp được dạy dỗ đấy!”

Cảnh sát trưởng nói, “Giải thoát cô ra khỏi cái ống tuýp.”

Người giáo viên thở hồng hộc. Có tiếng la hét. Tay sĩ quan với cái bông tăm đưa nó xuống mắt phải của người phụ nữ. Hắn ta cố gắng bỏ thêm một chút nữa vào mắt trái của cô. Hóa chất đọng lại dưới mí mắt và thấm xuống phía khuôn mặt nghiêng ra sau của người phụ nữ. Tiếng rên của cô đơn thuần là tiếng của loài thú. Mỗi tiếng rên lại vút lên đến đỉnh cho tới khi cô bật ra kêu gào. Ai đó hét lên, “Dừng lại! Ngay lập tức!”

“Chúng tôi có nước cho mắt của cô. Cô buông ra thì chúng tôi sẽ cho cô. Cô có tự buông ra không?” Tay phó sĩ quan lại dốc đầu cô ra sau, và gã cầm tăm bông luồn nó vào mắt và mũi cô. “Cô buông ra thì chúng tôi sẽ cho cô nước lạnh để rửa.”

Ai đó hét lên, “Các người đang giết cô ấy. Cô ấy cần bác sĩ.”

Tay cớm cầm bông tăm vẫy vẫy về phía sau hắn. “Tiếp theo chúng tôi sẽ dùng loại mace. Tệ hơn nhiều.”

Tiếng gào thét của người phụ nữ vỡ ra thành tiếng rên the thé. Cô quá chìm vào con đau để có thể buông mình. Hai bàn tay cô không thể tìm được cái móc để mở chốt. Hai kẻ phụng sự của lễ ban thánh thể tiếp tục theo chiều kim đồng hồ tới người tiếp theo của vòng tròn - một người đàn ông cơ bắp ở độ tuổi đầu ba mươi, trông giống một người đốn gỗ hơn là một người yêu loài cú. Anh cúi đầu xuống và nhắm nghiền mắt.

“Thưa ông? Ông có định buông ra không?”

Đôi vai rộng lực lưỡng của anh cụp vào trong, nhưng những con gấu đen ở hai bên cánh tay anh giữ vai anh mở ra. Tay phó sĩ quan cố gắng đẩy đầu người đàn ông ngả ra. Quyền lực nằm trong tay cảnh sát, và khi viên sĩ quan thứ ba bước tới giúp đỡ, cái cổ nhanh chóng bị vặn ngửa ra. Làm mắt mở không dễ như thế. Họ luồn cái bông tăm vào mi mắt trong khi khóa cái đầu to đùng lại. Hơi cay cô đặc tràn ra. Một lượng chất lỏng vào mũi anh, và anh bắt đầu sặc. Camera lia quanh phòng. Nó liệng trên cửa sổ ra phía ngoài, nơi đám đông những người phản đối đang ở trên bãi cỏ ca hát mà không hay biết điều gì xảy ra ở bên trong. Những tiếng nấc nghẹn bị phá vỡ bởi giọng của một sĩ quan cảnh sát. “Ông có buông ra không? Thưa ông? Ông. Ông có nghe tôi nói không? Ông có sẵn sàng thả ra không?”

Ai đó hét lên, “Các người không có lương tâm à?”

Ai đó rít, “Dùng cái chai đó. Bắn vào mắt chúng.”

“Đó là tra tấn. Ở nước Mỹ!”

Camera trở nên loạng choạng. Nó dập dềnh như một người say.

LỜI NÓI TUÔN RA TỪ DOUGLAS khi đám cớm biến mất phía sau cây cột. “Cô ấy bị hen. Các người không thể dùng hơi cay với cô ấy, ôi trời. Vì Chúa, nó sẽ giết chết cô ấy.”

Anh nhoài hết cỡ sang bên phải, chống lại gọng kẹp của những con gấu đen. Anh thấy đám cớm đang tấn công cô, người đàn ông mặc đồng phục cúi xuống từ phía sau và đỡ đầu cô trong một vòng tay êm ái. Bị cưỡng ép trong mắt của ba gã đàn ông. Tay cảnh sát trưởng nói, “Thưa cô, hãy buông cánh tay của cô ra và cô có thể đi. Không cần phải bị đau.” Người phụ nữ bên cạnh Mimi nôn khan.

Douglas gọi tên Mimi. Tay sĩ quan cầm bông tăm kẹp cổ cô bằng một tay.

“Thưa cô? Cô có muốn buông ra không?”

“Xin đừng làm tôi đau. Tôi không muốn bị đau.”

“Thế thì buông ra đi.”

Douglas gần như gập đôi người. “Buông đi!” Đôi mắt Mimi nhìn sâu vào mắt anh. Chúng lóe sáng điên cuồng và cánh mũi cô phập phồng như mũi con thỏ bị sập bẫy. Anh không hiểu ánh nhìn ấy, một sự dự đoán nào đó. Mắt cô nói: Dù có điều gì xảy ra, hãy nhớ điều em đã cố gắng làm. Tay cảnh sát ngả ngửa cái đầu xinh đẹp của cô. Miệng cô há ra với tiếng ahhgh… ùng ục.

Rồi anh nhớ ra. Anh có thể di chuyển. Rất dễ dàng: anh dò dẫm các chốt khóa cổ tay anh vào các cột trung tâm của những con gấu đen, và anh tự do. Anh nhào tới, rú lên, “Tránh ra!”

Không phải là mọi thứ chậm xuống. Mà là não của anh tăng tốc nhanh hơn sự di chuyển của những người đàn ông đó. Anh có tất cả thời gian trên thế giới này để nghĩ, nhiều lần, Tấn công một sĩ quan cảnh sát. Trọng tội. Mười đến mười hai năm trong tù. Cảnh sát còng tay và vật anh ngã sấp sõng soài trên sàn nhà trước khi anh kịp nhúc nhích. Trước khi có bất kỳ ai kịp gọi, Gỗ xẻ.

Đêm hôm đó, một người quay phim run rẩy đã lén sao chép đoạn băng và tuồn cho báo chí.

DENNIS MANG xúp bí đến căn nhà gỗ của Patricia làm bữa trưa. “Patty? Anh không biết liệu có nên đưa chuyên này ra không.”

Cô đập đầu vào vai ông. “Hơi muộn để băn khoăn rồi phải không?”

“Lệnh cấm đó sẽ không được giữ. Nó bị bãi bỏ rồi.”

Cô lùi lại và khóc nức nở. “Thế nghĩa là sao?”

“Họ nói trên tivi tối qua. Quyết định của một phiên tòa khác. Cục Kiểm lâm không bị ràng buộc bởi lệnh tạm trì hoãn đưa ra trong phiên điều trần của em.”

“Không bị ràng buộc ư.”

“Họ đã sẵn sàng phê duyệt một đơn hàng tồn đọng cho những kế hoạch thu hoạch mới. Mọi người trên khắp bang đang nổi giận. Có một hành động ở trụ sở chính của một công ty khai thác gỗ rừng. Cảnh sát đã đổ hóa chất vào mắt mọi người.”

“Cái gì? Den, nghe có vẻ không phải.”

“Họ đã đưa ra clip. Anh đã không thể xem.”

“Anh chắc không? Ở đây”

“Anh đã xem rồi.”

“Nhưng anh vừa bảo anh đã không thể xem mà.”

“Anh đã xem rồi.”

Tông giọng của ông đập vào cô. Họ đang cãi nhau - một điều mà không ai trong hai người họ biết cách làm. Dennis cũng cúi đầu xấu hổ. Tồi tệ; phải làm tốt hơn. Cô nắm bàn tay ông. Họ ngồi đối diện qua những bát xúp trống, nhìn ra một khoảng trống hẹp trong bụi cây độc cần. Những câu hỏi viên thẩm phán trong buổi điều trần ngày hôm đó trở lại trong tâm trí cô. Vùng hoang dã thì có ích gì? Nó có thể tạo ra điều gì khác biệt, khi mà quyền được phát triển giàu có không giới gian đang biến tất cả các khu rừng thành những chứng minh hình học? Gió thổi và những cây độc cần đung đưa từng cành non lơ thơ của chúng. Thật là một thân hình duyên dáng, một loài cây thanh lịch. Một loài cây khiến mọi người phải xấu hổ, xấu hổ vì khả năng, những lệnh cấm. Vỏ cây màu xám, những cành cây xanh mơn; những lá kim dọc trên các cành non, vươn chĩa ra ngoài. Phẩm chất bằng lặng, hiền triết, an nhiên trong sự ung dung của nó. Quả của nó, bé xíu, những quả chuông nhỏ chốc xuống chứa đụng sự lặng yên bất tận.

Cô là người có lỗi, vì thế cô phá vỡ sự yên lặng, khi nó vừa bắt đầu trở nên quen thuộc. “Vào mắt họ ư?”

“Hơi cay. Dùng tăm bông. Trông giống như thứ gì đó ở ngoài… không phải ở đất nước này.”

“Mọi người thật đẹp đẽ.”

Ông quay lại cô, kinh ngạc. Nhưng ông là một người của niềm tin, nên ông chờ để nghe bất cứ lời giải thích nào cô muốn trao gửi. Và, Đúng thế, cô nghĩ. Ý nghĩ đó khiến cô bướng bỉnh. Phải: đẹp đẽ. Và chịu định mệnh bi đát. Đó là lý do tại sao cô chưa bao giờ có thể sống giữa con người.

“Sự vô vọng khiến cho họ quyết tâm. Chẳng có gì đẹp đẽ hơn thế.”

“Em nghĩ chúng ta vô vọng à?”

“Den. Làm thế nào để việc khai thác sẽ dừng lại? Nó thậm chí không thể chậm lại. Cách duy nhất chúng ta biết làm là phát triển. Phát triển mạnh hơn; phát triển nhanh hơn. Nhiều hơn năm trước. Phát triển, cả con đường lên mép vục và khắp nơi. Không có khả năng nào khác.”

“Anh hiểu.”

Rõ ràng là ông không hiểu. Nhưng thiện ý nói dối của ông dành cho cô cũng khiến trái tim cô tan vỡ. Cô hẳn sẽ nói với ông - những kim tự tháp cao lớn lung lay của những sinh vật to lớn đang trên đường sụp đổ rồi, trong chuyển động chậm, dưới cú đá nhanh dữ dội đang đánh bật cả hệ thống hành tinh này đó. Những vòng tuần hoàn của không khí và nước đang vỡ. Cây Cuộc đời sẽ lại đổ xuống, sụp đổ xuống thành một đống động vật không xương sống, cây cỏ phủ bề mặt đất, và vi khuẩn, ngoại trừ con người… Ngoại trừ con người.

Con người đang đặt bản thân họ bên mép lửa. Ngay cả ở đây, trong vùng đất này nơi sự phá hủy đã hoàn thành từ lâu lắm, nơi những mất mát của năm này không là gì khi so với những mất mát chồng chất ở xa về phía Nam… mọi người bị đánh đập và lạm dụng. Mọi người để cho mắt họ bị nhỏ hơi cay vào trong khi cô - người biết hàng tỉ chiếc lá đang biến mất mà không có thay thế, hằng ngày - cô lại chẳng làm gì cả.

“Em có nghĩ anh là một người hòa bình không?”

“Ôi, Den. Anh hòa bình gần như một cái cây!”

“Anh cảm thấy khổ tâm. Anh muốn đánh đám cớm đó.”

Cô siết bàn tay ông vừa lúc những cây độc cần lắc lư. “Con người. Quá nhiều nỗi đau.”

HỌ ĐÓNG GÓI đĩa bẩn lại và bỏ vào phía sau xe tải để ông đưa về lại thành phố. Cô ôm ông trước của xe.

“Em là một phụ nữ giàu có, phải không?”

“Không đủ giàu để chạy chúc cảnh sát công cộng, nếu đó là điều em đang nghĩ.”

Cô cười quá to cho câu đùa đó, rồi cũng bật khóc quá nhanh. “Bảo tồn tại chỗ đang thất bại. Và bây giờ em biết nó sẽ luôn như thế.” Ông nhìn cô và chờ đợi. Cô nghĩ: Nếu phần còn lại của giống loài này thoải mái với việc ngắm nhìn và chờ đợi như người đàn ông này, thì có lẽ chúng ta vẫn còn có thể được cứu vớt. “Em muốn khởi động một ngân hàng hạt giống. Hiện nay chỉ còn một nửa số cây trên thế giới so với trước đây trước khi chúng ta hoàn toàn mất chúng.”

“Tại vì chúng ta sao?”

“Một phần trăm rừng trên thế giới, mỗi thập kỷ. Một vùng rộng lớn hơn Connecticut, mỗi năm.”

Ông gật đầu, như thể không ai để ý đến chuyện này mà phải thấy ngạc nhiên. “Một phần ba đến một nửa của những loài đang tồn tại có thể tuyệt chủng vào lúc em đi.”

Những từ đó của cô khiến ông bối rối. Cô sẽ đi đâu?

“Hàng chục nghìn loài cây chúng ta chẳng hiểu gì. Những loài chúng ta hầu như không phân loại được. Giống như đốt cháy trụi thư viện, bảo tàng mỹ thuật, hiệu thuốc, và kho lưu trữ cổ thư, cùng một lúc.”

“Em muốn làm một con thuyền ark[7].”

Cô mỉm cười với từ đó, nhưng rồi nhún vai. Nó đúng hơn tất cả. “Em muốn làm một con thuyền ark.”

“Ở đâu mà em có thể cất giữ…”

Sự kỳ lạ của ý tưởng đó khiến ông băn khoăn. Một cái hầm để cất giữ những chắp nối của mấy trăm triệu năm. Bàn tay trên cánh cửa xe, ông ngước nhìn chằm chằm lên một cái gì đó ở cao trên một cây tuyết tùng. “Em sẽ… làm gì với chúng? Có khi nào chúng sẽ…”

“Den. Em không biết. Nhưng một hạt giống có thể ở trạng thái ngủ hàng nghìn năm.”

HỌ GẶP NHAU TRÊN sườn đồi vào một chiều tà, cùng ngắm nhìn ra biển. Cha và con. Cũng đã khá lâu rồi. Sau thời gian ở cùng nhau trong một nơi hoàn toàn mới này, thì sẽ còn lâu hơn rất nhiều nữa.

Neelay-ji. Có phải là con đó không?

Pita. Chúng ta ở đây. Hoạt động rồi!

Người hành khất già bước đến chỗ vị thần da xanh và vẫy tay. Vị thần đứng yên. Âm thanh nghe tệ quá, Neelay.

Con nghe được mà, bố. Đừng lo. Chỉ có bố và con.

Bố không thể tin được! Kỳ diệu quá!

Chuyện này chưa là gì đâu. Chờ một chút.

Vị thần xanh loạng choạng khi ông cố bước đi. Nhìn quần áo của con kìa! Nhìn bố xem!

Hy vọng khiến bố bật cười, Pita.

Bên cạnh nhau, với những bước chân run rẩy, họ đi dọc những vách đá bị sóng biến xói mòn. Vì từ rất lâu trước đó người cha đã rời đến bệnh viện ở Minnesota xa xôi đó cho nên một cuộc đi bộ cùng nhau như thế này là không thể có. Kể từ đầu tuổi ấu tho của cậu bé họ chưa bao giờ đi ra ngoài như thế này, trò chuyện bên cạnh nhau, ngôn từ vội vã để bắt kịp nhịp cùng bước chân.

Nó to quá, Neelay.

Vẫn còn nữa. Còn rất nhiều nữa.

Và các chi tiết! Làm sao con đã làm được thế?

Pita, đây mới chỉ là bắt đầu thôi, tin con đi.

Vị thần màu xanh loạng choạng bước ra gò mỏm đá. Ôi chúa ơi. Nhìn xuống kia. Những con sóng!

Họ đứng trên đỉnh của một thác nước đang đổ ào xuống biển ở phía dưới. Những tảng đá được sóng chạm khắc lác đác trên bãi cát giống như những lâu đài tiên. Những hồ thủy triều long lanh phía dưới.

Neelay. Đẹp quả. Bố muốn thấy tất cả!

Họ đi dọc bờ biển một lát rồi quay lại phía bên trong đất liền.

Giờ chúng ta đang ở đâu? Chỗ này là chỗ nào?

Tất cả là tưởng tượng, Pita.

Phải, nhưng rất quen thuộc.

Thế thì tốt ạ!

Sau này người bố sẽ kể lại với mẹ cậu bé. Cách anh được nhấc lên là thả trở lại thế giới tuổi tho, trước thuở bình minh của loài người. Không khí mù sương và ánh sáng xiên nghiêng của miền nhiệt đới khiến anh bối rối. Màu vàng nâu của cát và màu xanh ngọc của biển, những quả núi khô bao quanh. Anh nheo mắt trước thảm thực vật, vô cùng phong phú. Anh chưa từng để ý nhiều đến cây cối. Anh chưa từng có thời gian, trong cuộc đời mình, để học về chúng. Và giờ anh sẽ không bao giờ.

Họ bước xuống một con đường dọc theo những thân cây mở ra dưới những cái ô xù xì khổng lồ dưới mặt trời. Cái gì thế này, Neelay? Khoa học viễn tưởng của con à? Như thể những tờ tạp chí viễn tưởng rẻ tiền của con trai ông vẫn còn tụ những cuộn bụi thành từng đống dưới cái giường tuổi tho của nó.

Không, Pita. Trái Đất. Những cây mâu rồng.

Chúng có thật không? Những cây như thế này, trong thế giới của chúng ta?

Người hành khất mỉm cười chỉ trỏ. Mọi thứ đều dựa trên một câu chuyện thực!

Vị thần áo xanh sực thấy: cá trong những biển này, chim trên trời, và tất cả những thứ bò trên Trái Đất được tạo ra chỉ là sự khởi đầu đơn sơ cho một nơi trú ẩn nào đó trong tương lai, được giữ lại từ nguyên bản đã biến mất. Ông đi lại gần một trong những cây nấm độc lớn. Những người chơi có thể làm gì với những nơi này?

Ngôn từ trào ra ngoài ý muốn từ kẻ hành khất. Bố muốn nó làm gì, hở bố?

À, Neelay. Bố nhớ rồi. Câu trả lời hay!

Người hành khất miêu tả hộp cát này rộng như thế nào. Một người có thể hái lượm thảo dược, săn thú, trồng trọt mùa màng, đốn cây và làm ván, đào các mở sâu để lấy khoáng sản và quặng, mua bán và mặc cả, xây dựng nhà cửa và tòa thị chính, cả nhà thờ rồi các kỳ quan thế giới…

Họ lại bước đi. Khí hậu thay đổi sang một vùng tươi tốt hơn. Những con thú lớn đi lảng vảng dưới tầng bụi rậm. Phía trên đầu họ, cả đám bay lượn. Khi nào thì mọi người bắt đầu đến?

Cuối tháng sau.

Bố hiểu. Nhanh thôi!

Bố sẽ vẫn ở đây, bố ạ.

Phải, tất nhiên rồi, Neelay. BỐ gật đầu thì sao, lần nữa xem nào? Vị thần xanh học cách gật đầu. Quá nhiều thứ mới để học. Khi đó chuyện gì sẽ xảy ra?

Khi đó bọn con sẽ bị lụt. Năm trăm nghìn đã đăng ký chơi rồi. Hai mươi đô la mỗi tháng. Bọn con dự tính sẽ có mấy triệu.

Bố vui khi thấy nó như thế này. Trước khi đó.

Phải. Chỉ có hai chúng ta!

Vị thần Vishnu mới tu loạng choạng đi lên đường mòn. Bây giờ họ có những ngọn núi phải băng qua. Những hẻm núi phủ dây leo. Vị thần đứng một lát, kinh sợ trước những gì bao quanh ông. Rồi ông đi xuống trở lại con đường rừng.

Chỉ một phần tư thế kỷ thôi, bố ạ. Kể từ khi bọn con viết chương trình “Hello World” đó. Và đường cong vẫn tiếp tục đi thẳng lên.

Từ hai nghìn dặm xa, mấy tỉ chu kỳ đồng hồ của bộ xử lý - một bộ xử lý bắt nguồn từ bộ xử lý mà vị thần da xanh đã giúp xây dựng - cha và con trai cùng nhau nhìn qua rặng núi rồi tới tương lại. Vùng đất của những khao khát náo nhiệt này sẽ mở rộng ra vô tận. Nó sẽ đầy ắp cuộc đời nối tiếp cuộc đời giàu có hơn, rộng lớn hơn, ngạc nhiên hơn. Bản đồ sẽ phát triển đầy hết mức mà thứ này chấp nhận được. Thế nhưng rồi mọi người vẫn thấy khao khát và cô đơn.

Họ đi dọc những đỉnh núi ngoạn mục. Xa phía dưới, một dòng sông cũ bao la uốn lượn qua khu rừng già dày đặc cây cối xanh um. Vị thần xanh đứng nhìn, Tất cả cuộc đời mình, ông mang nỗi nhớ quê hương. Lòng khao khát đã đưa ông từ một ngôi làng ở Gujarat tới Golden State. Bao lâu nay ông không có quê hương, ngoại trừ trong công việc và lời nói. Và suốt cả cuộc đời mình ông nghĩ: Chỉ có mình ta. Lúc này, ông nhìn xuống dòng sông đang chảy ngoằn ngoèo uốn lượn. Hàng triệu người sẽ trả tiền thuê hàng tháng để ở đây. Còn ông sẽ biến mất.

Giờ chúng ta đang ở đâu, Neelay-ji?

Nó không hoạt động như thế đâu bố. Tất cả đều mới tinh.

Phải. Không. Bố hiểu. Nhưng những cây cối và chim muông này. Chúng ta đã đi bộ từ châu Phi tối châu Á à?

Theo con. Con sẽ cho bố xem cái này.

Người hành khất đưa họ xuống một con đường khúc khuỷu dẫn vào khu rừng rậm rạp. Họ bước vào ma trận của những quanh co, trông giống hệt nhau. Các sinh vật phóng vèo vèo qua tầng bụi rậm.

Cây sầu đâu, Neelay. Thật kỳ diệu. Gần giống y như ở nhà!

Chờ đã. Vẫn còn nữa.

Rừng già dày lên và đường mòn mảnh dần. Các hình bóng chập chờn trong những chiếc lá hình lược và các dây leo. Rồi người bố thấy nó, ẩn đằng sau vòm lá của sự mô phỏng um tùm này: một ngôi đền đổ nát, lọt thỏm trong cây vả duy nhất.

Ôi, hoàng tử của ta. Con đã thực sự làm được thứ này.

Không phải chỉ mình con. Hàng trăm người. Thực ra là hàng nghìn. Con thậm chí không biết tên của họ.

Con cũng đang ở đây. Công việc con đã làm…

Người hành khất quay lại. Anh vẫy tay về phía những rễ cây bò ngoằn ngoèo qua những phiến đá cổ, tìm kiếm những khe hở để trườn vào và hút nước. Anh đưa đầu ngón tay út xương xẩu của mình lên. Bố thấy không, Pita? Tất cả chỉ từ một hạt lớn bằng chừng này…

Vishnu muốn hỏi: Sao bố lại khiến mắt mình ướt nước? Thay vào đó, ông nói, Cảm ơn con, Neelay. Bố phải đi bây giờ.

Vâng, bố. Con sẽ sớm gặp lại bố. Đó là một lời nói dối đủ vô hại. Trong thế giới này, người hành khất vừa đi qua một nửa lục địa. Nhưng trong thế giới khác đó, anh quá yếu và tàn tật quá nặng để liều lĩnh cho một chuyến bay. Và vị thần xanh, người vừa băng qua một rặng núi gập ghềnh bằng chân trần: trong thế giới đầu, cơ thể của ông quá hỏng hóc với các chương trình giả mạo và các lỗi cú pháp mà ông sẽ không bao giờ đưa đến thế giới này.

Cơ thể con rối của ông gật đầu và hai bàn tay chắp vào nhau. Cảm ơn vì cuộc đi bộ này, Neelay yêu quý. Chúng ta sẽ sớm về nhà.

TỪ GIÁC NGỘ đến vụ vỡ đập trong não của Ray Brinkman mất mười ba giây. Tivi trong phòng ngủ phát oang oang bản tin buổi đêm. Các lực lượng của Israel đang cày nát những vườn Olive của Palestine. Bên dưới chăn, Ray dí cái điều khiển, tăng âm thanh để nhấn chìm các suy nghĩ. Dorothy đang ở trong phòng tắm, chuẩn bị để lên giường. Nghi thức hằng đêm của cô chuyển đổi từ tiếng ồn này sang tiếng ồn khác: tiếng máy sấy tóc chuyển thành tiếng bàn chải đánh răng bằng điện rồi trở thành tiếng nước dội vào bồn rửa bằng gốm. Mỗi âm thanh như muốn nói với anh về đêm khuya, cái cách mà những con sói hẳn đã từng, hoặc như những tiếng rú của một kẻ điên. Và giống như tiếng gọi của những con vật đó, những âm thanh này cũng sẽ sớm biến mất.

Cô thực hiện lâu như vô tận - nhưng để làm gì chứ? Sau thảm họa của đêm nay… Điều gì, với tất cả những sự chuẩn bị này, mà cô không thể làm với nhiều mục đích hơn trong buổi sáng? Cô sẽ sạch sẽ cho giấc ngủ và sẵn sàng cho bất cứ điều gì mà đêm có thể mang đến, dù có thể là cơn ác mộng không tồi tệ hơn ban ngày đã sẵn có.

Anh không tài nào hiểu được. Sau buổi đêm nay, thật không thể tưởng tượng được là cô sẽ trở lại cái giường suốt hơn mười năm qua của họ. Nhưng càng không thể tưởng tượng được hơn là cô sẽ ngủ ở cuối hàng lang, căn phòng mà cô đã từng, từ rất nhiều năm trước đây, mơ biến nó thành phòng cho trẻ. Anh sẽ phá hủy cái giường đó. Chặt tấm ván đầu giường bằng gỗ sồi điêu khắc thành củi. Người phát thành viên nói, “Trong khi đó, những cây khác trong các sân trường trên khắp Canada đều bị đốn hạ để bảo vệ cuộc sống của trẻ em sau khi…”

Ray nhìn màn hình nhưng không thể hiểu được mình đang xem gì. Điều đó xảy ra trong những giây từ một đến ba. Anh nghĩ, với một suy nghĩ vẫn còn mạch lạc: Tôi đã là một người đàn ông hạnh phúc nhầm lần giữa chấp nhận và thực tế. Một người đàn ông chưa bao giờ nghi ngờ rằng cuộc đua đó đã được định đoạt một tương lai đầy ý nghĩa. Giờ thì điều đó đã kết thúc.

Những ý nghĩ này kéo dài trong chưa đầy một phần tư giây. Hai mắt anh nhắm lại trong giây lát, rồi anh diễn tập. Buổi hẹn hò đầu tiên của họ. Các phù thủy nói với anh đừng nghĩ gì tới ngày mai. Anh vượt qua mọi tổn hại cho tới khi khu rừng mở ra và trải suốt nhiều dặm, cho tới khi những thân cây trèo lên sườn của một quả đồi xa. Anh an toàn, an toàn kể từ bây giờ, ai có thể trưng dụng khu rừng hay trả giá một cái cây đã tháo rễ khỏi đất? Macbeth vĩ đại của chúng ta sẽ sống viên mãn đến khi tạ thế lúc tuổi già. Nhưng anh đã được trao cho phần khác đó. Một con người, không phải do một phụ nữ sinh ra, kẻ có thể khiến rừng di chuyển.

Ray khép mi mắt trong nửa giây. Bên trong những màn hình sống đó anh quan sát hai người họ ngủ cùng nhau, cái đêm trong hành trình đầu tiên của họ vào nhà hát nghiệp dư. Tất cả những ngày hôm qua của chúng ta, lặp đi rồi lặp lại. Lady Macbeth bé bỏng, chưa quá hai mươi tư tuổi, chật vật trong phòng giải trí của tuổi trưởng thành. Người bạn căng thẳng của anh, nằm bên anh trong bóng tối, tấn công anh bằng một cuộc phỏng vấn cam go: Anh cảm thấy thế nào về bố mẹ mình? Anh có những tư tưởng phân biệt chủng tộc không? Anh đã bao giờ ăn trộm trong cửa hàng chưa! Ngay từ lúc đó, vào đêm đầu tiên, anh đã nhìn thấy họ sẽ chăm sóc lẫn nhau ra sao khi tuổi già. Hai người họ, theo một thiết kế được đặt trước từ lâu mà đã hứa hẹn sẽ giải thích bản thân nó qua thời gian. Mãi mãi. Và mãi mãi. Và mãi mãi.

Tiên tri là một mánh khóe. Anh phải nhấc mình lên để sống. Nhưng bằng cách nào? Tại sao? Bản tin chuyển sang một cảnh tượng rừng rợn. Ray xem trong cảm giác mụ mị: mọi người bị phong toả, còn cảnh sát tỉa từng người để tra tấn. Tiếng nước chảy trong phòng tắm ngừng lại. Đó là giây thứ sáu và bảy.

Mọi tài sản đều là đồ trộm cắp. Đó là điều vợ anh đã nói với anh, chỉ một giờ trước: Anh nghĩ điều này rồi sẽ bay biến hết và em sẽ suy nghĩ thấu đạt? Rằng em sẽ trở lại là Dot nhỏ bé ranh mãnh của anh?

Anh đã cố để nói rằng anh biết chuyện suốt nhiều tháng. Trong một năm hoặc hơn. Rằng anh vẫn ở đây. Vẫn là chồng cô. Đến và đi. Ở với ai cũng được. Làm gì cũng được. Chỉ cần ở gần bên.

Tệ hơn cả trộm cắp. Giết người. Anh đang giết em, Ray.

Anh đã cố nhắc nhở: Một điều gì đó vẫn còn chưa xảy ra giữa họ. Một lý do tại sao họ phải ở lại cùng nhau. Anh đã thấy nó rồi, một linh cảm giữ cho anh bước tiếp, trong suốt những tháng giữ yên lặng này. Một mục đích nào đó cho sự tái hợp của họ vốn đã luôn tồn tại. Họ thuộc về.

Không ai thuộc về ai cả, Ray. Anh cần phải để em được tự do.

Một điều gì đó đang xảy ra trong phòng tắm, một thứ là tất cả nhưng nghe như không gì cả.

Hai giây yên lặng, rồi anh hoảng sợ. Không gì cả bỗng có ý nghĩa. Không có gì để phải quan tâm đến. Anh quay lại ti vi. Mọi người đang nhận thứ đó vào mắt, chẳng vì gì cả. Hoàn toàn chẳng có ích lợi gì.

Trong giây thứ chín và mười, não của anh biến thành một tòa án lưu động vùng. Nó tràn ngập với một ý nghĩ anh có lần đầu vào nhiều tháng trước, một đêm khi đang đọc sách, trong khi người vợ theo luật pháp của anh đang đi ra ngoài giải tỏa đầu óc bằng hành động được xem là bí mật. Một ý nghĩ anh đã lấy cắp từ cuốn sách có bản quyền của ai đó khác, một người mà giờ anh phải trả tiền cho họ. Thời gian làm thay đổi những thứ có thể được sở hữu, và người có thể thực hiện sự sở hữu. Chúng ta phải chi trả lại cho thế giới mọi ý tưởng, mọi thứ chúng ta từng ăn trộm.

Những con người trên màn hình bắt đầu kêu gào. Hoặc cũng có thể âm thành đó vang ra từ trong anh, quan sát bản thân anh và vợ mình ngả úa vàng rồi sụp đổ. Cô đang ở ngưỡng cửa, gọi tên anh. Môi anh mấp máy, nhưng chúng chẳng tạo ra âm thanh nào.

Nó giống như anh có từ “cuốn sách”, và rồi em đặt nó vào bàn tay anh.

Anh trượt từ giường xuống sàn ván gỗ thông. Hai mắt anh bập xuống chỗ vân gỗ cuộn xoáy. Một thứ bên trong não anh vụn vỡ, và tất cả mọi thứ vốn đã từng an toàn như những ngôi nhà giờ đây sụp đổ giống như một hầm mỏ bị đào quá đà. Máu ngập vỏ não anh, và anh chẳng gì sở hữu cả. Hoàn toàn chẳng gì cả, ngoài thứ này.

MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG đứng bên bàn Mimi trong bộ suit vải xéc màu nâu sẫm khi cô đến vào lúc bảy giờ ba mươi phút buổi sáng thứ Hai. Chỉ cần liếc qua, cô biết ngay người lạ này là ai. “Cô Ma có phải không?”

Những hộp các tông dẹt dựa vào bàn cô. Anh ta đã ở đây được một lúc. Công việc của anh ta là đến đây trước, để đảm bảo rằng sẽ không có vấn đề gì. Máy tính của cô đã bị rút ra, và tất cả các dây cáp được cuộn thành những ống gọn gàng đặt trên đỉnh CPU. Các tập hồ sơ đã biến mất từ lâu, bị đưa đi trong khi cô đang uống coffee và ăn bánh mỳ vòng cách đó một dặm.

“Tôi là Brendan Smith. Tôi ở đây để hỗ trợ cô trong quá trình rời khỏi công ty.”

Cô đã biết trước điều này sẽ xảy ra, từ nhiều ngày trước. Cô đã lên khắp các bản tin, xâm phạm bất hợp pháp. Dù các kỹ sư đồng sự của cô có thể bỏ qua lỗi này - xét cho cùng, đó là kiểu người luôn bị làm phiền bởi vô số lỗi thiết kế - cô cũng cảm thấy có lỗi vì chống lại sự tiến bộ, tự do, và giàu có. Quyền tập ấm của chủng loài. Đó là thứ mà nghề của cô sẽ không bao giờ tha thứ được.

Cô nhìn chằm chằm vào người tống cổ chuyên nghiệp cho tới khi anh ta nhìn lảng đi. “Garreth nghĩ tôi sẽ làm vấy bẩn chỗ này sao? Đánh cắp các bí mật khuôn đúc gốc quốc tế nào đó?”

Người đàn ông lắp ráp một thùng các tông. “Chúng ta có hai mươi phút để đóng những thùng này. Chỉ các đồ cá nhân. Tôi sẽ kiểm kê tất cả những thứ cô muốn lấy, và chúng ta sẽ kiểm tra thông qua nó trước khi rời đi.”

“Rời đi? Rời đi?” Cơn giận dữ trào lên cổ họng cô, cơn giận dữ mà công ty hộ tống tư nhân này đã được thuê để vô hiệu hoá. Cô quay người đi ra cửa. Anh chàng Nâu sẫm dừng cô lại, chỉ với chút lực.

“Một khi cô rời khỏi văn phòng, chúng tôi sẽ xem như đã niêm phong.”

Cô nao núng và ngồi lại bàn làm việc của mình. Không phải của cô. Não cô cảm giác nóng rát. Sao họ dám? Sao có ai dám? Tôi sẽ kiện vời tất cả những gì họ có. Nhưng tất cả các quyền và đặc lợi của thực hành công lý đều là của họ. Loài người là giống du côn. Luật pháp là công cụ bắt nạt. Các đồng nghiệp của cô đi qua cửa, chậm lại chỉ đủ để thoáng nhìn cảnh tượng đó và rồi chuồn mất trong xấu hổ.

Cô đặt những quyển sách của mình vào trong chiếc hộp mà người bảo hộ của cô vừa làm cho cô. Rồi đến các cuốn sổ.

“Sổ không được, sổ là tài sản của công ty.”

Cô cưỡng lại thôi thúc muốn ném cho gã một cái dập ghim. Cô bọc các bức ảnh của mình vào trong từ giấy mà người bảo hộ đưa cho cô rồi đóng gói lại. Carmen và con ngựa miền núi Kencky của nó. Amelia và bọn trẻ, trong bể bơi ở Tucson. Bố cô, đúng bên dòng suối ở Yellowstone. Ông bà cô ở Thượng Hải, trong ngày Chủ nhật đẹp nhất của họ, giơ cao ảnh của các cô bé Mỹ mà họ sẽ không bao giờ gặp.

Trò giải đố logic làm bằng những cái đinh uốn cong. Các khung trang trí viết: Phản ứng lên tiếng to hơn lời lẽ. Một số người xem cải cốc này là vơi một nửa, một số xem là đầy một nửa; một kỹ sư thấy một công cụ ngăn chặn to gấp đôi mức cần thiết của nó.

“Cô xong chưa?” nhân viên hỗ trợ nghỉ hưu non cá nhân của cô nói.

Một cái va li phủ đầy những miếng nhãn dán. Một cái hòm được rập một cái tên nước ngoài.

“Các chìa khóa của cô.” Cô lắc đầu, rồi đưa ra các chìa khóa cơ quan. Anh ta kiểm tra chúng trên một danh sách mà anh ta bắt cô ký vào. “Hãy theo tôi.” Anh ta bưng các thùng. Cô cầm cái va li và cái hòm. Trên hành lang, các đồng nghiệp tò mò dạt đi. Anh ta đặt các thùng xuống và khóa cửa. Đúng khoảnh khắc cái khóa kêu tách, cô sực nhớ ra.

“Ôi. Mở ra đã.”

“Văn phòng đã bị niêm phong.”

“Mở ra.”

Anh ta mở. Cô vào lại trong phòng, đi đến một bức tường, đứng lên một cái ghế. Cô tháo ra, từng chút từng chút một, cuộn tranh một nghìn hai trăm năm tuổi về các la hán trên ngưỡng cửa của Giác ngộ, cuộn nó lại, cho vào túi. Rồi cô theo người hộ tống ra cửa trước, đi qua những nhân viên đã chào hỏi cô nồng nhiệt suốt nhiều năm và giờ đang tập trung vào công việc gấp gáp của họ. Khi cô đang chuyển dần cuộc đời chuyên nghiệp tích luỹ lâu năm ra bãi đỗ xe, người đàn ông đó đứng sừng sững ở cửa công ty, giống như thiên thần ở cổng phía Đông vườn địa đàng, kẻ đã giữ con người, những kẻ đã hái trộm trái của một cây cấm, khỏi đột nhập trở lại vườn và ăn một trái khác mà hẳn đã có thể giải quyết được mọi thứ.

NHỮNG CON VẬT DUY NHẤT mà biết chúng được tắm: Đó, Douggie nói không ngừng - lúc gần nửa đêm, qua tiếng nhạc rock om sòm trong quán rượu ven đường đầy những tay lính hết phiên trực và những nhà hoạt động có vũ trang khác - đó là nơi mọi rắc rối bắt đầu.

“Ý tôi là, tại sao biết mình sắp chết lại khiến bạn đứng lên? Thông minh đủ để thấy bạn là một bao tải thịt thối quấn xung quanh một ống nước thải nhỏ mà sẽ ngừng hoạt động trong - gì nhỉ? Trong vài nghìn lần mặt trời mọc nữa?”

Nhà triết học anh em ngồi bên cạnh anh bên quầy bar gỗ son tiêu đáp, “Anh có thôi nói nhảm nhí đi được một giây không?”

“Bây giờ, một cái cây. Những gã đó biết mọi thứ trên một thời gian biểu mà chúng ta thậm chí… “

Một cú đấm vung ra và gặp anh ở xương má, quá nhanh đến mức như thể Douglas cứng đờ tại chỗ. Anh ngã đập đầu xuống sàn gỗ thông quá nhanh đến mức anh thậm chí không nghe được người đàn ông đứng trên mình đưa ra bài điếu văn. “Tôi xin lỗi. Nhưng anh đã được cảnh báo.”

Khi anh tinh lại, người bạn spinoza của anh đã đi từ lâu. Anh xoa khắp đầu và mặt mình với những đầu ngón tay ngập ngừng. Không có gì mất cả, nhưng có một cảm giác ủy mị dường như không đúng lắm. Các vì sao và ánh sáng, những vầng mây đen và con đau, dù anh đã sống qua những điều tồi tệ hơn. Anh để cô nhân viên lo lắng giúp mình đứng lên rồi gõ ra. “Con người không phải như bề ngoài của họ đâu.” Lần này không có ai lên tiếng phản đối.

Anh ngồi trong xe giữa bãi đỗ xe của quán rượu, thực hiện kế hoạch không có kế hoạch trước. Anh, trong nhận thức rõ ràng nhất của mình, không có ai để đến xin giúp đỡ và an ủi ngoại trừ người đồng sự trong chiến dịch giải cứu thế giới, người phụ nữ đã tham gia cùng anh với một sự nghiệp lớn hơn chủ nghĩa Pavlicek khốn khổ đơn thuần. Cô là người duy nhất biết cách đón nhận anh và cho anh một mục đích trong đời sống này. Đến chỗ Mimi vào giờ này là thúc đẩy một ranh giới. Mặc dù cô chưa bao giờ tỏ rõ việc cấm anh đến vào ban đêm, cô sẽ không lấy làm vui mừng. Tuy nhiên, cô sẽ biết phải làm gì với đống hỗn độn đó, khuôn mặt anh.

Cô từng nói với anh một lần, trong những giờ buồn tẻ khi họ bị xích cùng nhau giăng ngang trên một đoạn đường, khoảng thời gian mà hóa ra ngay cả các công ty khai thác gỗ cũng không thích thú gì, về những tình yêu mạnh mẽ thời tuổi trẻ của cô. Cả hai giới, chính thế. Tiết lộ đó, chỉ cần thêm một cái lông vũ, đủ sức hạ gục anh. Anh băn khoăn không biết cô muốn là kiểu người như thế nào. Thế giới này dựa vào rất nhiều loài khác nhau, mỗi loài là một thực nghiệm điên rồ. Anh chỉ ước một lúc nào đó cô sẽ cho anh vào thánh đường nội tại, người bạn tâm giao đáng tin cậy, người phục vụ của cô hoặc gì đó. Ước gì cô và bất cứ ai có thể đang là câu trả lời hiện tại của cuộc đời cô có thể để cho anh canh gác - canh gác cho họ, một người lính canh chống lại thế giới xấu xa.

Anh cố nhét cái chìa vào ổ khóa. Có lẽ anh không được tin tưởng với máy móc hạng nặng. Nhưng má anh như rời rạc hẳn và có gì đó đang kêu ù ù bên ngoài mắt anh. Không có chỗ nào để bấu víu, thực sự. Anh lao ra khỏi bãi đỗ rồi quay trở lại con đường cao tốc qua thung lũng, hướng về thành phố, và tình yêu.

Anh đã không nhìn thấy chiếc xe tải đậu bên lề đường phía bên ngoài thanh chắn. Không thấy nó tiến vào bề mặt nhựa đường phía sau anh. Chẳng thấy gì cho tới khi hai mắt trắng dã bao phủ gương chiếu hậu của anh và con quái thứ đâm sầm vào thanh chắn phía sau xe anh. Xe chồm về phía trước, phía sau liệng đuôi cá. Chiếc xe tải lù lù hiện ra và đâm sầm vào xe anh lần nữa. Anh không thể phanh, thậm chí không thể nghĩ. Con đường dốc xuống. Anh nhấn bàn đạp, nhưng chiếc xe tải vẫn bám lấy anh. Ở cuối chân quả đồi đó, anh lướt qua một đường tàu hoả, lao vút lên.

Một ngã tư lướt về phía anh. Anh trượt theo một cú đánh phải bất ngờ, với vận tốc gấp hai lần một cú rẽ được kiểm soát. Trong cuộc trượt tuyết vượt chướng ngại vật vận tốc chậm, đuôi xe anh xoay quét vòng quanh, hai trăm bảy mươi độ theo chiều kim đồng hồ. Khi cuối cùng cũng dừng lại, xe anh đang ở ngã tư đó, vuông góc, còn chiếc xe tải chở gỗ trống đố sầm xuống đường cao tốc, người lái xe nằm gục trên cái còi, một tiếng còi dài tạm biệt.

Douglas ngẩn ngơ ở giữa ngã tư, kỳ dị. Cú va chạm khiến anh đờ đẫn hơn bất cứ thứ gì cảnh sát từng làm. Hơn cả khi máy bay của anh rơi. Đó chỉ là Chúa, với trò cò quay thông thường của Ngài. Đó là một gã điên, với một kế hoạch.

Anh tiếp tục xuôi xuống con đường dài về lại thành phố. Anh không thể thôi nhìn vào gương chiếu hậu, nơi anh hy vọng hai cái đèn sáng trắng giống nhau sẽ lại lướt đến một lúc nào đó. Nhưng anh đi hết cả con đường đến căn hộ của Mimi mà không gây thêm sự cố nào nữa. Đèn vẫn sáng trong nhà cô. Khi cô mở cửa, rõ ràng là cô đang say. Phía sau lưng cô, căn phòng bừa bộn. Một cuộn tranh trải ra trên sàn phòng khách.

Cô chao đảo và líu ríu, “Chuyện gì xảy ra thế?”

Anh ngạc nhiên chạm vào khuôn mặt mình. Đã quên hết mọi điều về nó. Trước khi anh kịp trả lời, cô kéo anh vào trong. Và đó là cách mà cuối cùng thì cây cối cũng đưa họ về nhà.

ADAM APPICH đặt chân phải vào một cái hốc tưởng tượng và dẫm lên. Trượt cái nút thắt lên, bước lại bằng chân trái, cố hết sức quên đi mình đã bước bao nhiêu bước chân hư ảo. Tự nhủ: Mình đã từng trèo cây suốt ngày. Nhưng Adam đang không trèo cây. Anh đang trèo không khí, trên một sợi dây mảnh như một cây bút chì, lủng lẳng từ một cái cây rộng tới nỗi anh không thể nhìn thấy cả hai bên gò cùng một lúc. Những đường rãnh trong lớp vỏ dày hàng foot của nó còn sâu hơn cả bàn tay anh. Phía trên anh, một con đường dài màu đen biến hút vào trong mây. Cái dây bắt đầu xoay tròn.

Một giọng từ trên cao vọng xuống, “Này. Đừng chống cự.”

“Tôi không thể làm được.”

“Anh có thể. Anh sẽ làm được, thưa anh.”

Cổ họng anh ứ dịch trào ngược và nỗi khiếp sợ. Từng bước từng bước, anh thu hẹp khoảng cách bất khả. Gần trên đỉnh, anh mới dám nhìn lên. Hai sinh vật thuộc về cây nói những lời khích lệ nhẹ nhàng mà anh không nghe thấy và cũng không tin. Anh với tới cái gì đó cứng, vẫn còn thở. Không ổn, nhưng còn thở.

“Thấy chưa?” Khuôn mặt rạng rỡ của người phụ nữ khiến anh tự hỏi liệu có phải anh đã không chết ở đâu đó trên dọc đường lên. Người đàn ông - làn da vón cục và bộ râu Cựu ước - đưa cho anh một cốc nước. Adam uống. Trong một lát anh tin rằng anh sẽ ổn. Bề mặt sàn dưới anh nghiêng trong gió. Cặp đôi trên cây băn khoăn, mời anh ăn mấy quả mọng.

“Tôi ổn. Chắc là điều đó sẽ thuyết phục hơn nếu tôi đã nói thế năm phút trước.”

Người phụ nữ tên là Bạch Quả nhảy lên một cành cây tới chỗ chạn đựng đồ ăn dựng tạm, tìm kiếm một loại trà mà cô cam đoan là sẽ giúp anh hết chóng mặt. Cô không đeo gì cả. Chân trần, hai mươi mấy tầng lầu trên không trung. Anh vùi mặt vào cái gối nhồi lá kim.

Khi cảm thấy có thể, Adam nhìn xuống. Bùn nhão từng mảng loang lổ trải suốt khu rừng phía dưới. Anh đã vượt qua được vụ thảm sát gần đây, lẻn được vào là nhờ sứ giả Loki. Nhưng cái khung cảnh nhìn từ trên cao xuống này thì thật khủng khiếp. Phiên ngồi cây dài nhất, cương quyết nhất trong vùng này - được thực hiện bởi những đối tượng lý tưởng cho nghiên cứu của anh về chủ nghĩa lý tưởng lầm lạc (misguided idealism) - là tàn dư rộng cuối cùng được trừ lại sau cuộc thu hoạch. Các cây còn sống rải rác lốm đốm trên những vạt đồi trọc, giống như những cụm râu bỏ sót trên cằm của một thiếu niên mới cạo râu. Những gốc cây tươi ở khắp nơi, xỉ than và những cành cây đố cháy, những mẩu gỗ vụn rải rắc mùn cưa, đây đó những thân cây bị bỏ lại trong các khe núi quá dốc để bận tâm đến. Và một cụm cây bao quanh cây vĩ đại mà những người ngồi này gọi bằng tên đó.

Người đàn ông, Người Canh Gác, chỉ ra những cột mốc đó. “Tất cả tầng đất mặt bị toi ra đó đang rửa trôi bề mặt này xuống sông Eel. Giết chết cá trên suốt đường ra biển. Khó để nhó, nhưng khi chúng tôi tới đây, mười tháng trước, mọi thứ vẫn còn xanh tươi hết tầm mắt. Đã có rất nhiều cố gắng để làm chậm mọi thứ xuống.”

Adam không phải bác sĩ lâm sàng, và hai trăm năm mươi cuộc phỏng vấn các nhà hoạt động suốt dọc bờ Lost Coast đã khiến anh e dè với các chẩn đoán. Nhưng Người Canh Gác không trầm cảm nặng cũng không phải nhà duy thực tái sinh.

Một ánh lửa lóe lên từ xa phía dưới, tiếng ù ù của máy móc nặng, và Người Canh Gác cúi xuống nhìn. “Kia.” Màu vàng sáng hơn một con sên chuối, dích dắc một nửa dặm đường cách xa khoảng rừng đang bị phá huỷ.

“Chúng ta có gì thế?” Bạch Quả hỏi.

“Máy đốn gỗ skyline yarder. Hai cái máy Cat. Chúng ta có thể bị phong tỏa trong ngày mai.”

Anh nhìn Adam. “Cậu có thể hỏi bất cứ điều gì cậu muốn hỏi, rồi trở xuống quay về trong đêm nay.”

“Hoặc tham gia cùng chúng tôi,” Bạch Quả nói. “Chúng tôi sẽ đưa anh lên phòng dành cho khách.”

Adam không thể trả lời. Cái đầu anh vẫn đang bóp nghẹt anh. Việc thở làm anh phát ốm. Anh chỉ muốn quay trở lại Santa Cruz, phân tích dữ liệu từ các bảng hỏi và rút ra các kết luật mập mờ từ các số liệu thống kê thô.

“Anh cứ thoải mái ở đây,” người phụ nữ nói với anh. “Dù gì, chúng tôi đã chỉ định tình nguyện trong mấy ngày, thế mà giờ chúng tôi đang ở đây, gần một năm rồi.”

Người Canh Gác mỉm cười. “Muir có một câu nói rất hay: Tôi chỉ ra ngoài đi dạo một lát…”

Ruột gan của Adam trào ra không trung, hai trăm feet cách xa mặt đất.

CÁC ĐỐI TƯỢNG ngồi trên mặt sàn, nhìn chằm chằm vào bảng hỏi và cây bút chì mà Adam đưa cho họ. Bàn tay họ vân vện nâu và xanh, với váng bột ở dưới móng tay họ. Họ có mùi quả chín và mùi mốc của cây gỗ đỏ. Người kiểm tra đã tránh ra khỏi họ, lên cái võng quan sát, thứ sẽ không bao giờ ngừng rung lắc. Anh nghiên cứu khuôn mặt họ để xem sức căng của sự cứu rỗi hoang tưởng mà anh đã thấy trong rất nhiều nhà hoạt động mà anh đã phỏng vấn. Người đàn ông - hào phóng nhưng theo thuyết định mệnh. Người phụ nữ - tự chủ theo một cách mà không ai bị quấy nhiễu nặng nề có quyền được như thế.

Bạch Quả hỏi, “Đây là nghiên cứu tiến sĩ của anh à?”

“Vâng.”

“Giả thuyết của anh là gì?”

Adam đã phỏng vấn rất lâu đến mức từ này nghe thật lạ lùng. “Mọi điều tôi nói có thể làm ảnh hưởng tới câu trả lời của cô.”

“Anh có một giả thuyết về những người mà..

“Không. Chưa có giả thuyết. Tôi chỉ đang thu thập dữ liệu.”

Người Canh Gác cười, một tiếng đơn âm giòn. “Đó không phải là cách nó hoạt động đấy chứ?”

“Cách cái gì hoạt động ạ?”

“Phương pháp khoa học. Cậu không thể thu thập dữ liệu mà không có một lý thuyết dẫn đường.”

“Như tôi đã nói với anh rồi đấy. Tôi đang nghiên cứu về hồ sơ cá nhân của các nhà hoạt động môi trường.”

“Niềm tin bệnh lý?” Người Canh Gác hỏi.

“Không phải thế. Tôi chỉ… Tôi muốn hiểu một chút về những con người mà… những con người tin rằng…”

“Cây cũng là con người ư?”

Adam bật cười, rồi ước gì mình đã không làm vậy. Đây là ở trên cao. “Vâng.”

“Anh hy vọng làm được điều đó bằng cách cho thêm tất cả những điểm này vào rồi làm một kiểu phân tích hồi quy nào đó…”

Người phụ nữ đưa ngón tay chạm vào mắt cá chân đồng sự của mình. Anh im lặng ngay lập tức theo cách mà trả lời cho một trong hai câu hỏi mà Adam muốn lẻn cho vào bảng hỏi của mình. Câu hỏi còn lại là làm sao họ đại tiện được trước mặt nhau, bảy mươi mét trên không trung.

Nụ cười của Bạch Quả khiến Adam cảm thấy mình gian dối. Cô trẻ hơn anh mấy tuổi, nhưng cứ như mấy thập kỷ thì đúng hơn. “Anh đang nghiên cứu về cái gì khiến một số người xem thế giới sống là quan trọng khi mà thứ có thật duy nhất với mọi người là những người khác. Anh nên nghiên cứu tất cả những người mà nghĩ rằng chỉ có con người là quan trọng.”

Người Canh Gác bật cười. “Nói về bệnh lý.”

Trong một thoáng, phía trên họ, mặt trời ngừng lại. Rồi nó bắt đầu rơi về phía Tây, trở lại với đại dương đang mong chờ. Ánh sáng ban trưa thiếp lên khung cảnh mạ vàng và màu nước. California, Vườn địa đàng của nước Mỹ. Những vết tích nhỏ xíu cuối cùng của rừng Jura, một thế giới khác hẳn với tất cả mọi thứ trên Trái Đất. Bạch Quả lật giở tập câu hỏi, dù Adam đã yêu cầu cô không được xem trước. Cô lắc đầu với một điều ngây thơ ở trang thứ ba. “Không có điều gì trong thứ này sẽ nói cho anh biết chút gì quan trọng cả. Nếu anh muốn biết về chúng tôi, chúng ta cứ nói chuyện thì hơn.”

“À.” Cái võng làm Adam say sóng. Anh không thể nhìn đi bất cứ đâu ngoài miền đất bốn mươi chín foot vuông phía dưới anh. “Vấn đề là…”

“Cậu ấy cần dữ liệu. Các con số đơn giản.” Người Canh Gác vẫy tay về phía Đông Nam, khúc ca rù rì cưa máy của sự tiến bộ. “Hoàn thành phép loại suy này: các bảng hỏi là để liên hợp các cá thể giống như các máy skyline yarder là để…”

Người phụ nữ đúng rung rinh mạnh tới nỗi Adam tin rằng cô sẽ ngã qua mép sàn. Cô ngả qua một bên, trong khi Người Canh Gác nghiêng ra sau để cân bằng lại.

Cả hai không ai nhận thức được sự phối hợp hành động nhịp nhàng theo cặp đôi của họ. Bạch Quả quay về phía Adam. Anh chờ cô lao xuống như Icarus. “Tôi đã thiếu ba tín chỉ để đến tấm bằng Khoa học thống kê bảo hiểm. Anh có biết Khoa học thống kê bảo hiểm là gì không?”

“Tôi… Đây có phải là một câu hỏi đánh đố không?”

“Đó là ngành khoa học thay thế toàn bộ cuộc đời con người bằng giá trị tiền mặt của nó.”

Adam thở hắt ra. “Cô có thể, cô biết đấy, ngồi xuống được không?”

“Có chút gió nào đâu! Nhưng được thôi. Nếu tôi có thể hỏi anh một điều.”

“Okay. Chỉ làm ơn…”

“Anh có thể hiểu được gì về chúng tôi thông qua một khảo sát mà anh không thể bằng cách nhìn vào mắt chúng tôi và hỏi?”

“Tôi muốn biết…”

Như thế sẽ phá hủy mất bảng hỏi. Anh sẽ gợi ý cho họ theo cách làm mất hiệu lực bất kể câu trả lời nào họ có thể đưa ra. Nhưng chẳng hiểu sao, trên đỉnh của cây đậu thần ngàn năm tuổi này, anh không còn quan tâm nữa. Anh muốn nói, một điều anh đã không muốn làm suốt một thời gian. “Có rất nhiều chúng chứ cho thấy rằng lòng trung thành nhóm cản trở lý trí.”

Bạch Quả và Người Canh Gác trao đổi nụ cười mỉa, như thể Adam vừa nói với họ rằng khoa học đã chứng minh rằng trong khí quyển thì phần lớn là không khí.

“Con người tạo ra hiện thực. Đập thủy điện. Đường hầm dưới đáy biển. Vận tải siêu âm. Khó để mà phản bác điều đó.”

Người Canh Gác mỉm cười, mệt mỏi. “Chúng ta không tạo ra hiện thực. Chúng ta chỉ lảng tránh nó. Cho tới bây giờ. Bằng cách cướp các vốn tự nhiên và che giấu cái giá phải trả. Nhưng hóa đơn vẫn đến mỗi ngày và chúng ta sẽ không thể trả nổi.”

Adam không biết nên mỉm cười hay gật đầu. Anh chỉ biết rằng những người này - nhóm rất nhỏ miễn dịch với hiện thực đồng thuận - có một bí mật anh cần phải hiểu.

Bạch Quả quan sát Adam, như thể qua một tấm gương hai chiều của phòng lab. “Tôi có thể hỏi anh một điều nữa được không?”

“Bất cứ điều gì cô muốn.”

“Một câu hỏi đơn giản thôi. Anh nghĩ chúng ta có bao lâu?”

Anh không hiểu. Anh nhìn Người Canh Gác, nhưng người đàn ông đó cũng đang chờ câu trả lời của anh. “Tôi không biết.”

“Trong sâu thẳm trái tim anh. Bao lâu, trước khi chúng ta kéo nơi này đổ xuống xung quanh?”

Những từ cô dùng khiến Adam đỏ mặt. Đó là câu hỏi dành cho những ký túc xá sinh viên. Cho những quán rượu vào đêm muộn tối thứ Bảy. Anh đã để tình huống vượt khỏi tầm kiểm soát của mình, và không có gì trong chuyện này - sự xâm phạm qua đất tư, cuộc trèo leo đó, cuộc trò chuyện mơ hồ này - đáng làm chỉ để có thêm hai điểm dữ liệu nữa. Anh quay mắt đi, nhìn ra những cây gỗ đỏ bị tàn phá. “Thực sự. Tôi không biết.”

“Anh có tin rằng loài người đang sử dụng các nguồn lực nhanh hơn thế giới có thể thay thế chúng?”

Câu hỏi dường như vượt quá xa sự tính toán đến mức trở nên vô nghĩa. Rồi có chút dồn nén nhỏ nào đó trong anh trào ra, và nó giống như một sự mù quáng. “Đúng.”

“Cảm ơn!” Cô hài lòng với học sinh lổn tuổi của mình. Anh cười đáp lại. Đầu của Bạch Quả lắc lu về phía trước và cặp mày của cô lóe sáng. “Thế theo anh tỉ lệ đang giảm đi hay tăng lên?”

Anh đã nhìn thấy các biểu đồ đó. Mọi người đều đã thấy. Mồi lửa chỉ mới bắt đầu.

“Nó rất đơn giản,” cô nói. “Rất rõ ràng. Tăng trưởng theo cấp luỹ thừa sẽ trong một hệ thống hữu hạn sẽ dẫn đến sự sụp đổ. Nhưng mọi người không thấy. Rất nhiều quyền hạn của con người đang bị phá sản.”

Bạch Quả khóa ánh mắt anh với cái nhìn pha giữa quan tâm và thương hại. Adam chỉ muốn cái võng ngừng rung. “Có phải một ngôi nhà đang bén lửa không?”

Một cái nhún vai. Một cái kéo môi qua một bên. “Phải.”

“Và anh muốn quan sát một nhúm người đang hô hào, Thả nó ra, khi mà những người khác đang vui thứ nhìn mọi thứ cháy trụi.”

Một phút trước, người phụ nữ này là đối tượng của nghiên cứu quan sát của Adam. Giờ thì anh muốn chia sẻ bí mật với cô. “Có một cái tên. Chúng tôi gọi nó là hiệu ứng bàng quan. Tôi đã từng để mặc giáo sư của mình chết vì không ai khác trong giảng đường đứng lên. Nhóm càng lớn…”

“… thì càng khó để kêu, Lửa?”

“Bởi vì nếu có một vấn đề thực sự, chắc chắn ai đó…”

“… rất nhiều người hẳn sẽ đã…”

“… với sáu tỉ người khác…”

“Sáu? Nói là bảy đi. Mười lăm, trong mấy năm nữa. Chúng ta sẽ sớm ăn hết hai phần ba năng suất ròng của hành tinh. Nhu cầu gỗ đã tăng gấp ba trong đời chúng ta.”

“Không thể dẫm phanh khi ta sắp đâm vào tường.”

“Móc mắt mình ra còn dễ hơn.”

Tiếng gầm gừ xa xa vang lên, vọng lại trong yên lặng. Toàn bộ nghiên cứu này với Adam bắt đầu có vẻ như chệch hướng. Anh cần nghiên cứu tình trạng ốm yếu ở một quy mô không thể tưởng tượng được, một sự ốm yếu mà không kẻ bàng quan nào có thể nhận ra.

Bạch Quả phá vỡ sự yên lặng. “Chúng tôi không một mình. Những người khác đang cố tới chỗ chúng tôi. Chúng tôi có thể nghe thấy họ.”

Từ cổ xuống tấm lưng nhỏ của Adam, lông dựng lên. Anh có rất nhiều lông. Nhưng tín hiệu này vô hình, bị mất trong quá trình tiến hoá. “Nghe ai?”

“Tôi không biết. Cây cối. Nguồn sống.”

“Ý cô là đang nói? Nói to?”

Cô vuốt ve một nhánh cây như thể đó là một con thú cưng. “Những từ thực sụ. Nhưng không to. Giống như một hợp xướng Hy Lạp trong đầu tôi.” Cô nhìn Adam, khuôn mặt cô sáng rõ như thể cô vừa mời anh ở lại ăn tối. “Tôi đã chết. Tôi đã bị điện giật trên giường của mình. Tim tôi đã ngừng đập. Tôi trở lại và ngạc nhiên khi nghe thấy họ.”

Adam quay sang Người Canh Gác để xác nhận tình trạng thần kinh bình thường. Nhưng nhà tiên tri râu ria chỉ cong mày.

Bạch Quả vỗ vỗ vào bảng hỏi. “Tôi nghĩ giờ anh có câu trả lời rồi. Về tâm lý của những người cứu thế giới nhỉ?”

Người Canh Gác chạm vào vai cô. “Còn gì điên rồ hơn - cây cối đang nói, và con người đang lắng nghe?”

Adam không nghe. Giờ anh chỉ đang điều chỉnh một thứ đã từ lâu ẩn trong thanh thiên bạch nhật. Anh nói, chẳng với ai. “Tôi đôi khi cũng nói to. Với chị gái tôi. Chị đã biến mất khi tôi còn nhỏ.”

“À, vâng, ra thế. Chúng ta có thể nghiên cứu anh không?”

Sự thật uốn xuống gần đến anh, một thứ mà ngành của anh sẽ không bao giờ nhận thấy. Bản thân ý thức là một trạng thái của sự điên, khi bàn đến những ý nghĩ về thế giới xanh. Adam đưa tay ra để giữ vũng người nhưng anh chỉ chạm phải một nhánh cây đang rung rinh. Treo trên cao khỏi bề mặt xa xăm mất hút bởi một sinh vật hẳn là muốn anh phải chết. Não anh quay cuồng. Cái cây đánh thuốc anh. Anh đang xoay mòng lần nữa tên một sợi thừng to bằng một cái dây leo. Anh nhìn sâu vào khuôn mặt cô gái như thể một hành động tuyệt vọng cuối cùng nào đó của sự đọc-con-người có thể sẽ bảo vệ anh. “Cái gì…? Chúng đang nói cái gì? Cây ấy?”

Cô cố nói với anh.

KHI HỌ NÓI CHUYỆN, chiến tranh tới gần cái rãnh thoát nước gần nhất. Lực của mỗi cú đổ mới khiến Adam tan vỡ, ngay cả khi nó xé qua những vạt cây khổng lồ còn sót lại. Anh chưa bao giờ hình dung được mức độ dữ dội này, giống như một tòa nhà chọc trời đổ xuống. Lá kim và gỗ mùn phủ rợp cả không khí. “Những khu vực cây đổ là những kẻ giết người,” Bạch Quả nói. “Bọn họ san phẳng lỳ mỗi dải đất hạ cánh, để cây sẽ không bị nát khi đổ xuống. Điều đó hủy hoại đất.”

Một cái cây có độ dày bằng chiều cao của Adam nghiêng mình đổ sầm xuống con dốc phía dưới. Đất ở chỗ bị ảnh hưởng nhão nhoét ra.

CHIỀU MUỘN HÔM ĐÓ, họ thấy dáng Loki ở xa xa, đang đi tới qua cánh rừng bị hủy hoại, vừa kịp lúc để hộ tông nhà tâm lý học trở lại qua vòng phong tỏa của Humboldt. Nhưng có gì đó trong dáng hấp tấp. chúi về phía trước cho thấy nhiệm vụ đã thay đổi. Từ dưới bệ gốc cây, anh ta gọi họ thả dây và bộ đai xuống.

“Có vấn đề gì thế?” Người Canh Gác hỏi.

“Tôi sẽ nói với các bạn ở trên đó.” Họ tạo chỗ trống cho Loki trong cái tổ đông đúc lúc này. Anh ta trắng nhợt và thở hồng hộc, nhưng không phải vì leo trèo. “Đó là Mẹ N và Moses.”

“Lại bị tra tấn à?”

“Chết rồi.”

Bạch Quả gào lên.

“Ai đó đã đánh bom văn phòng. Họ đã ở bên trong, viết một bài phát biểu cho Ban hành động rừng. Cảnh sát đang nói rằng họ đã tự nổ bản thân bằng thuốc nổ dụ trữ. Cáo buộc LDF khủng bố nội bộ.”

“Không,” Bạch Quả kêu. “Không. Làm ơn không phải thế này.” Khắp xung quanh, bóng chiều đổ xuống trong ngơ ngác.

Có một khoảng yên lặng kéo dài không yên tĩnh. Người Canh Gác nói. “Mẹ N, một kẻ khủng bố ư! Bà hẳn sẽ thậm chí không cho tôi chọc vào một cái cây. Bà đã bảo tôi, ‘Cái cưa sẽ khiến anh chàng ấy đau.’”

HỌ KỂ NHỮNG CÂU CHUYỆN về những người đã chết. Mẹ N đã đào tạo họ như thế nào. Moses đã đề nghị họ lên ngồi Mimas. Dịch vụ tưởng niệm, ở độ cao hai trăm feet. Adam nghĩ về một điều mà anh đã học được ở trường đại học: tưởng niệm luôn là một tiến trình của sự cộng tác.

Loki xuống, lo lắng quay trở lại với những người khóc thương ở dưới đất. “Chúng ta chẳng thể làm gì. Nhưng ít nhất chúng ta có thể làm cùng nhau. Cậu có xuống không?” anh ta hỏi Adam.

“Cậu có thể ở lại nếu muốn,” Bạch Quả nói.

Điều tra viên nằm trên chiếc võng rung lắc của mình, sợi tới không dám di chuyển một ngón chân. “Tôi muốn xem màn đêm từ trên cao này.”

ĐÊM HÔM ĐÓ, bóng đêm thật phong phú và đáng xem. Cả mùi nữa: mùi nồng phì nhiêu của cây mục và bào tử, của rêu bám trên khắp mọi thứ, đất đang được tạo ra, ngay cả ở đây, rất nhiều tầng lầu trên mặt đất. Bạch Quả nấu đậu trắng trên cái bếp nhỏ. Đó là bữa ngon nhất mà Adam từng ăn kể từ khi đi điền dã. Độ cao không gây phiền cho anh lắm, vì giờ đây anh vẫn chưa thể nhìn xuống đất.

Sóc bay xuất hiện để xem xét người mới. Anh mãn nguyện, một vị ẩn sĩ ngồi trên đỉnh của bầu trời đêm. Người Canh Gác hí hoáy vẽ vào cuốn sổ nhỏ dưới ánh nến. Thỉnh thoảng anh ta đưa các bản vẽ cho Bạch Quả. “Ôi, đúng. Đúng là chúng rồi, chính xác!”

Các âm thanh đều ở xa xa, một ngàn âm độ, vừa phải và nhẹ hơn. Có một con chim mà Adam không biết tên, đập cánh vào bóng đêm. Những tiếng kêu the thé của những con vật ẩn mình. Thân gỗ của ngôi nhà cao này, kêu răng rắc. Một cành cây rơi xuống đất. Một cành nữa. Một con ruồi, đi trên lớp lông trên tai anh. Hơi thở của chính anh vọng bên trong cố áo của anh. Hơi thở của hai người kia, gần gũi đến vô lý trong ngôi làng trên mây này, giữ dịch vụ yên lặng của họ. Sự gần nhau giữa ấm áp và kinh sợ khiến Adam thấy ngạc nhiên. Cô gái bám lấy người họa sĩ, người đang làm việc để tận dụng mấu nến cuối cùng. Một khoảng da thịt trên vai bắt ánh sáng, trần trụi và đẹp đẽ. Nó trông như phủ lông măng, hay có thể là lông vũ. Rồi bản thảo đầy vết mục chuyển thành năm từ riêng biệt.

HỌ THỨC GIẤC khi tiếng gầm gừ đến gần hơn. Những người đàn ông lảng vảng khắp mặt đất phía dưới họ và xa hơn ra chỗ những đống gỗ phí hoài, kết nối các nỗ lực của họ thông qua máy bộ đàm.

“Này,” Bạch Quả hét xuống. “Có chuyện gì thế?”

Một người chặt rừng ngước lên. “Tốt nhất là các người ra khỏi đó đi. Tai họa sắp ập tới chỗ các người rồi đấy!”

“Tai họa gì?”

Điện từ nhiễu rè rè qua máy bộ đàm. Không khí ngột ngạt và có tiếng kêu rì rì. Ngay cả ánh sáng ban ngày cũng bắt đầu rung chuyển. Một âm thanh ầm ầm dâng lên từ chân trời. “Họ không đâu,” Người Canh Gác nói. “Họ không thể.”

Chiếc trực thăng băng qua quả đồi gần đó. Lúc đầu chỉ vờn, nhưng nửa phút sau cả cái cây đập thùm thùm như cái trống. Cái cây khổng lồ nghiêng ngả. Adam bám chặt vào cái võng đang chao liệng. Một luồng khí mạnh thổi những câu chửi khẽ của anh trở lại vào mặt anh như thể một con ong bắp cày điên cuồng lao lên tấn công.

Gió đập vào cây, một luồng gió thổi giật ngược lên, rồi tới luồng gió đảo chiều của nó. Ngọn của các cây gỗ đỏ biến thành cao su, và các cành cây đâm xuyên qua tán cây. Người Canh Gác bò lên khu vực kho để lấy máy quay video, trong khi Bạch Quả chộp lấy một cành cây gãy to bằng cái gậy bóng chày. Cô trèo ra một cành cây gần nhất để tấn công. Adam hét lên, “Vào trong đi!” Những lời của anh bị nghiền nhỏ trong cánh quạt máy bay.

Người phụ nữ bám hai bàn chân trần vào cành cây, một cành cây dù to khổng lồ nhưng vẫn đang rung bần bật như dây cao su trong trận cuồng phong đảo loạn. Chiếc trực thăng nghiêng và lóe sáng, cô đối mặt với cái máy đó. Nó lao thẳng về phía cô; cô điên cuồng vung cái cành cây. Người Canh Gác đến phía sau cô, quay phim.

Chiếc trực thăng rất to, với một cái khoang rộng như cả một bungalow. Đủ to để nâng một cái cây lâu đời hơn cả nước Mỹ thẳng lên trời và kéo nó băng qua cả vùng này. Cánh của nó khuấy đảo không khí xung quanh cô gái đang lơ lửng. Hai người ngồi bên trong cái bình sợi thủy tinh đó, giấu mặt trong mũ vành lưỡi trai và mũi bảo hiểm ôm cằm, đang trao đổi vào những cái mic nhỏ xíu với chỉ huy nhiệm vụ từ xa nào đó.

Adam nhìn chằm chằm vào kỹ xảo của phim bom tấn quay từ phía sau nhân vật này. Anh chưa bao giờ gần một thứ gì to lớn và hung hiểm tới như vậy. Anh thấy hàng triệu phần của nó - càng, bánh lệch tâm, cánh, đĩa, và nhiều thứ anh thậm chí không biết tên - vượt quá khả năng của bất cứ con người nào để lắp ghép, đừng nói gì tới thiết kế. Thế nhưng hẳn phải có hàng chục nghìn chiếc máy bay như thế, được sử dụng bởi các ngành công nghiệp trên mọi lục địa. Hàng chục nghìn cái nữa, được vũ trang và bọc thép, trong rất nhiều kho vũ khí trên khắp địa cầu. Chim ăn thịt phổ biến nhất thế giới.

Các ngọn cây gãy đổ xuống và không khí đầy bụi mùn. Hóa thạch bốc cháy bốc hơi lên từ con quái vật này, hôi nồng như mùi dàn khoan dầu bốc cháy. Mùi hôi thối khiến Adam nôn khan. Các cánh trực thăng gầm gào dữ dội vào màng nhĩ tai anh, giết chết mọi suy nghĩ. Người phụ nữ vụt cái cành cây như thể một cái cò hiệu, rồi đánh rơi vũ khí của cô xuống và bám chặt. Người đồng sự đang quay phim của cô lỏng tay nắm trong trận cuồng phong nhân tạo, và cái camera cũng rơi xuống hai trăm feet rồi võ tan tành. Một tiếng nói the thé, được khuếch cục đại, phát ra từ cái trực thăng. Rời khỏi cái cây, ngay lập tức.

Người phụ nữ bắt đầu run rẩy. Cô không thể bám được lâu nữa. Mimas rùng mình. Chống lại mọi suy xét, Adam nhìn xuống. Những chiếc xe ủi có màu vàng xanh đang nện quanh bục rễ cây. Những người đàn ông, cưa, và máy móc chuẩn bị một khoảng đổ ngay sát mép các ụ rễ của Mimas. Adam nhìn Người Canh Gác, người đang chi xuống một đội khác, đang đào xới bục rễ của một cây gỗ đỏ hai trăm feet phía dưới. Họ muốn hạ nó ngay cạnh Mimas. Bạch Quả lại vung chân lên cao khỏi cành cây đang đỡ cô. Tiếng nói trong trực thăng vang lên, Xuống ngay!

Adam kêu lên và khua khua tay. Anh hét lên những thứ mà ngay cả anh cũng không thể nghe thấy qua cảnh điên cuồng này. “Dừng lại. Lùi lại đi!” Anh không thể bàng quan đối với cái chết này.

Chiếc trực thăng dừng lại rồi nghiêng mình vòng đi. Tay đốn cây hét lên từ vùng đố. “Thật chứ? Các người kết thúc rồi chứ?”

“Phải,” Adam hét lên.

Âm tiết đó đánh thức Người Canh Gác từ trạng thái thôi miên. Anh nhìn ra phía Bạch Quả, người dường như đang hỏi ý kiến các hiện thân của cô lần cuối. Cô treo lủng lẳng trên cành cây, khóc nức nở. Không có con đường nào còn lại ngoài tỉnh lại. Người Canh Gác nghiêng đầu, và sự chiếm giữ kết thúc. Phía dưới, người đốc công của vùng đổ hội ý với mạng lưới vô hình của anh ta. Thêm một tiếng nói hét ra từ chiếc trực thăng: Đã xác nhận xuống. Rời đi bây giờ. Thứ đang bay đó rồ lên trong không trung rồi liệng đi. Gió lặng xuống. Tiếng ồn điếc tai tắt lịm, để lại chẳng gì khác ngoài lặng yên và thất bại.

Họ xuống bằng bộ đai: nhà tâm lý học sợ hãi, họa sĩ khắc kỷ, rồi đến nữ tiên tri, người mà khuôn mặt, khi cô xuống dưới hai trăm feet dây thừng, có vẻ mụ mị. Họ bị bắt giữ và dẫn xuống sườn đồi loang lổ tới con đường vận chuyển gỗ, thứ đã phạm vào mấy trăm mét của rễ ngầm của Mimas. Họ ngồi trong bùn và chờ cảnh sát suốt nhiều giờ. Rồi đám cớm lỗ mãng nhét họ, ba người dàn hàng ngang, vào trong ghế sau của xe cảnh sát.

Con đường vận chuyển gỗ khúc khuỷu cua tay áo xuống khe núi. Ba tù nhân liếc nhìn ngược lên sườn núi bị lột trần ở vòng ngoài của cái cây khổng lồ đó, một nửa số cây có niên đại bằng Thiên Chúa. Một giọng trầm hơn tiếng gầm của trực thăng đang nói điều gì không ai trong số họ nghe được, kể cả Bạch Quả.

TRONG KHI CÁC TÙ NHÂN đang bị giam giữ, Patricia Westerford mở các cuộc đàm phán với các tập đoàn của bốn trường đại học để thành lập Hầm Dòng mầm Hạt giống Toàn cầu. Một vài tờ giấy dẫn đường và Hạt giống trở thành một pháp nhân.

“Đã đến lúc, Tiến sĩ Westerford nói với khán giả đa dạng của cô, những người mà từ họ cô phải gây quỹ cho kiểm soát khí hậu, các hầm công nghệ cao, và các nhân viên được đào tạo, “nhiều thời gian đã trôi qua, để chúng ta có thể bảo tồn hàng chục nghìn loài cây mà sẽ biến mất trong vòng cuộc đời của chúng ta.” Cô nói tới điều quan trọng nhất khi những cây đó thoát ra bờ môi cô. Trong hai tháng nữa, cô sẽ đi về phía Nam, cho chuyến đi thám hiểm đầu tiên tối lưu vực sông Amazon, hơn một nghìn dặm vuông rừng sẽ biến mất trước khi cô đến đó. Dennis sẽ làm sẵn bữa trưa chờ cô khi cô trở lại.

TRONG KHI CÁC TÙ NHÂN THIẾP NGỦ, Neelay Mehta tận hưởng những giờ tuyệt vời của sự sáng tạo. Từ chiếc giường trong văn phòng của anh, anh đưa ra chỉ thị cho các yêu tinh của Sempervirens về bản chất của Destiny 7:

Cái gì sẽ khiến mấy triệu người chơi không thể sign off? Nơi này phải tràn đầy hơn và hứa hẹn hơn những cuộc đời mà họ trở về, offline… Tưởng tượng hàng triệu người dùng cùng nhau làm giàu thế giới này vôi từng đọng tác của họ. Giúp họ xây dựng một nền văn hóa đẹp đẽ đến mức họ sẽ thấy trái tim tan vỡ khi đánh mất.

CÁCH ĐÓ NỬA ĐƯỜNG ĐẤT NƯỚC, một người phụ nữ khác bắt đầu án từ hoàn toàn của riêng mình. Thứ ngập trong não chồng cô cũng ngập cả lên cô. Cô gọi 911. Cô đi cùng trong chuyến xe cứu thương trong buổi đêm ấm áp. Ở bệnh viện cô ký giấy đồng ý dựa trên nhận thức đầy đủ, dù cô sẽ không bao giờ cảm thấy nhận thức đầy đủ lần nữa. Cô đi tới bên người đàn ông sau cuộc phẫu thuật đầu tiên. Thứ còn lại của Ray Brinkman nằm bẹp trên chiếc giường điều chỉnh. Một nửa sợ anh đã bị bỏ đi và não của anh được bọc lại bởi một lớp da đầu. Các ống dẫn luồn ra từ anh. Khuôn mặt anh đờ đẫn với nỗi kinh hoàng hoang dại.

Không ai có thể nói cho Dorothy Cazaly Brinkman biết rằng anh sẽ ở trạng thái này bao lâu. Một tuần. Nửa thế kỷ nữa. Những ý nghĩ xuyên qua đầu cô trong những đêm đầu tiên đó, trong suốt những đêm thức trông trong phòng cấp cứu. Những thứ khủng khiếp. Cô sẽ ở lại cho tới khi anh ổn định. Sau đó, cô sẽ phải sống tiếp cuộc đời mình.

Lặp đi rồi lặp lại cô nghe thấy những lời mình đã hét vào anh, chỉ mấy giờ trước khi não của anh vỡ ra. Hết rồi, Ray. Hết rồi. Hai chúng ta hết rồi. Anh không phải nhiệm vụ của em. Chúng ta không thuộc về nhau, và chúng ta chưa bao giờ.

TRONG TÙ, chập chờn trên chiếc giường tầng, Adam thấy nhăng cây gỗ đỏ khổng lồ nổ như rocket trên bệ phóng của chúng. Nghiên cứu của anh vẫn nguyên vẹn - tất cả dữ liệu bảng hỏi quý giá được thu thập suốt nhiều tháng đó - nhưng anh thì không. Anh đã bắt đầu thấy những thứ cụ thể về niềm tin và luật pháp mà ẩn mình ở phía sau sự mở rộng của thường thức. Nhà tù không bị buộc tội này giúp anh mở rộng tầm nhìn.

“Cậu thấy trò chơi của họ chưa,” Người Canh Gác nói với Adam. “Họ không muốn mất phí hay công khai sự việc khi đưa chúng ta ra tòa. Họ chỉ sử dụng hệ thống pháp lý để làm tổn thương chúng ta hết mức có thể.”

“Có luật nào…?”

“Có. Nhưng họ đang phá bỏ nó. Họ có thể giữ chúng ta bảy mươi hai giờ mà không cần cáo buộc. Đó là hôm qua.”

Adam chợt nghĩ đến chuyện từ gốc có từ đâu. Cội nguồn. Căn nguyên. Gốc rễ. Não của cây, của hành tinh.

VÀO ĐÊM THỨ TƯ trong phòng giam, Nick mơ về cây dẻ nhà Hoel. Anh quan sát nó, đã tăng tốc ba mươi hai triệu lần, một lần nữa hé lộ kế hoạch tàng ẩn của nó. Anh nhớ, trong giấc ngủ của mình, trên một cái nệm mỏng trong căn nhà cũ, cách mà cái cây tua thời gian đó vẫy vẫy những cánh tay căng phồng của mình. Cách mà những cánh tay đó được kiểm tra, được khám phá, được điều chỉnh trong ánh sáng, viết những thông điệp vào không khí. Trong giấc mơ đó, các cây cười vào những thông điệp ấy. Cứu chúng tôi ư? Thật đúng là mệt kiểu việc con người làm. Ngay cả tiếng cười đó cũng mất nhiều năm.

TRONG KHI NICK ĐANG MƠ, cả rừng cũng thế - tất cả chín trăm loại mà con người đã phân loại. Bốn tỉ héc-ta, từ rừng phương Bắc đến rừng nhiệt đới - lối sống chính của Trái Đất. Và khi rừng trên thế giới mơ, mọi người tụ tập tại khu rừng công ở một bang phía Bắc. Bốn tháng trước, vụ cố ý đốt rừng đã làm cháy đen mười nghìn mẫu trong một vùng gọi là Deep Creek - một trong những nơi nhiều vụ cháy rừng không thể dập nhất trong năm. Người cố ý đốt rừng không bao giờ được tìm thấy. Chẳng ai muốn tìm thấy hắn ta. Chẳng ai, đúng thế, ngoại trừ mấy trăm người chủ nhân của khu rừng này, những người hội tụ trong khu rừng đã bị bán sạch này, tay cầm khẩu hiệu. Mimi cầm một cái có ghi Không Một Cây Cháy Đen. Bảng của Douglas viết Hãy nói không phải thế, Khói.

ADAM, NICK, VÀ OLIVIA bị giam giữ không buộc tội nhiều hơn hai ngày so với luật pháp cho phép. Họ bị đe dọa với hàng chục đơn kiện, chỉ để qua đêm lại bỏ qua hết mọi thứ. Hai người đàn ông gặp Bạch Quả khi cô được thả. Họ thấy cô qua ô cửa sổ lưới, đi xuống phía dành cho phụ nữ với một bọc đồ cuộn tròn nhỏ trên tay. Rồi cô tới chỗ họ, ôm họ. Cô bước lùi lại và hiu hiu đôi mắt màu lửa xanh của cô. “Tôi muốn xem nó.”

Họ lên xe của Adam, thứ mà giờ đây với anh như thể thuộc về ai đó khác. Những người đốn cây đã đi; chẳng còn lại gì để cắt. Họ đã đi tới những cánh rừng còn xanh từ lâu. Sự trống trải thật rõ ràng từ nửa dặm xa. Nơi từng có một thảm xanh lục mà bạn có thể nghiên cứu suốt cả ngày, giờ đây chỉ là màu xanh da trời. Cái cây đã hứa với cô rằng sẽ không để ai bị thương đã biến mất.

Giờ, Adam nghĩ. Giờ cô sẽ mất kiềm chế. Bắt đầu nổi giận.

Ở nền rễ cây, cô đưa bàn tay ra, chạm một bằng chứng cuối cùng nào đó, kinh ngạc. “Nhìn xem! Ngay cả gốc cây cũng cao hơn tôi.”

Cô chạm vào gò vết cắt kỳ lạ và bật khóc nức nở. Nick hấp tấp đi tới chỗ cô, nhưng cô ngăn anh lại. Adam phải xem từng cơn co thắt khủng khiếp. Có những niềm an ủi mà tình yêu mạnh nhất của con người cũng không đủ sức trao cho.

“HAI NGƯỜI SẼ ĐI ĐÂU?” Adam hỏi, qua đĩa trứng trong một quán ăn sáng ven đường. Bạch Quả nhìn qua khung cửa kính rộng, nơi những cây sung dâu California chạy dọc vỉa hè bên lề đường. Người Canh Gác hướng theo ánh mắt của cô. Những cây này cũng vậy, đang khua khua ngón tay của chúng vào không khí. Vẫy vẫy phập phồng như một ca đoàn nhạc phúc âm.

“Chúng tôi lên phía Bắc,” cô nói. “Có chuyện gì đó đang diễn ra ở Oregon.”

“Các cộng đồng kháng cự,” Người Canh Gác nói. “Trên khắp nơi đó. Trên đó họ có thể dùng chúng tôi.”

Adam gật đầu. Dân tộc học đã qua. “Họ… có nói với cô điều này hay không? Các… hiện thân của cô?”

Cô cười phá lên thô lỗ. “Không. Phó cảnh sát trưởng đã cho tôi mượn cái đài chạy bộ của cô ấy. Tôi nghĩ cô ấy đã để ý đến mình. Anh nên đi cùng chúng tôi.”

“À. Tôi phải hoàn thành nghiên cứu này. Luận án của tôi.”

“Làm việc đó ở trên ấy. Nơi ấy sẽ đầy những người mà anh muốn nghiên cứu.”

“Lý tưởng hoá,” Người Canh Gác nói.

Adam không đọc được người đàn ông này. Đâu đó trên cái cây đó hay trong phòng giam chật hẹp của mình, anh ta đã đánh mất khả năng chế nhạo một cách thẳng thừng. “Tôi không thể.”

“À. Phải rồi. Nếu anh không thể, anh không thể.” Có thể cô đang cảm thông. có thể cô đang hạ anh. “Chúng ta sẽ gặp nhau trên đó. Khi anh ghé qua.”

ADAM MANG tai ương đó trở lại Santa Cruz. Trong suốt nhiều tuần anh làm việc với dữ liệu của mình. Gần hai trăm người đã trả lời cho hai trăm bốn mươi câu hỏi của Bảng kiểm kê tích cách Mới được sửa đổi (Revised NEO Personality Inventory). Họ cũng đã hoàn thành bảng khảo sát của anh kiểm tra các niềm tin đa dạng, bao gồm cả các ý nghĩ về quyền của con người đối với các nguồn lực tự nhiên, phạm vi của nhân tính, và quyền của cây. Số hóa các kết quả là chuyện nhỏ. Anh chạy dữ liệu qua nhiều gói phân tích khác nhau.

Giáo sư Van Dijk có xem qua. “Làm tốt đấy. Mất khá nhiều thời gian nhỉ. Có gì thú vị xảy ra trong quá trình điền dã không?”

Có điều gì đó đã xảy ra với ham muốn thể xác của anh khi anh đi vắng. Giáo sư Van Dijk vẫn nóng bỏng như thế. Nhưng với Adam giờ đây cô dường như là một giống loài khác.

“Năm ngày trong từ có được xem là thú vị không ạ?” Cô nghĩ anh đang đùa. Anh để cô nghĩ như vậy.

CÁC XU HƯỚNG HIỆN CÓ trong tính cách của các nhà hoạt động môi trường cấp tiến hiện ra từ dữ liệu. Các giá trị cốt lõi, một cảm nhận về bản sắc. Các điểm của chi bốn trên ba mươi yếu tố tính cách được đo bởi Bản kiểm kê MỚI đủ để dự đoán, với độ chính xác cao, liệu một người có tin: Rừng đáng được bảo vệ bởi vì giá trị của nó đối vôi con người. Anh muốn cho bản thân làm một bài kiểm tra, nhưng nó sẽ không nói lên điều gì lúc này.

Quay trở lại căn hộ của mình sau mười tiếng ngồi trong phòng máy tính, Adam bật tivi. Chiến tranh dầu lửa và bạo lực giáo phái. Có vẻ còn quá sớm để nghĩ tới chuyện ngủ, dù đó là tất cả những gì anh muốn. Anh vẫn còn một loạt câu chuyện ở nhiều tầng vút trên không trung, được giữ trên cao bởi một cái cây không tồn tại, lắng nghe tiếng cót két của ngôi nhà trên cao và những tiếng hót của những con chim mà anh ước gì mình có thể biết tên. Anh cố đọc một cuốn tiểu thuyết, cuốn gì đó về những người có đặc quyền gặp khó khăn trong hòa hợp với nhau trong những địa điểm kỳ lạ. Anh ném nó vào tường. Có gì đó vụn vỡ trong anh. Hứng thú của anh với sự tự tôn của con người đã chết. Anh đến một nơi tụ tập ưa thích của sinh viên sau đại học, ở đây anh uống năm cốc bia, chín mươi sáu đê-xi-ben nhịp trống, và một trăm phút tán gẫu cùng trời cuối đất với hai mươi đứa bạn vừa gặp. Bị đẩy trở ra khỏi cái kén vui vẻ đó, anh quay lại bãi đỗ xe của quán bar. Anh không mụ mị tới mức tưởng tượng mình phù hợp để lái xe, nhưng không có cách nào khác để về nhà.

Những cơn sóng của niềm vui trá hình phóng vụt ra khỏi tòa nhà khi một loạt xe cơ bắp gầm gừ lao xuống Cabrillo. Người phụ nữ dưới một cột đèn đường hét vào hư không, “Tôi thật ngu khi đang cố hiểu anh.” Bên kia con hẻm, mọi người chờ được chấp nhận cho vào lối sau của một sự kiện đêm muộn chỉ đón khách có giấy mời mà Adam, bị dích dắc cuốn vào đám đông nhỏ đó, cũng vô tình phải tham gia. Một sự phi lý khác của con người mà anh biết rõ nhưng quá xay xỉn để nhớ ra tên. Anh đi bộ nửa tòa nhà, bị đẩy tới bởi một con sóng cực lớn tự nó cho nó ăn, phun ra sau nó những thứ cặn thải: những hão huyền, những cuộc diệt chủng, những thập tự chinh, chứng nghiện từ kim tự tháp tới những viên đá cưng - những ảo tưởng tuyệt vọng của văn hóa mà từ đó, trong một đêm ngắn ngủi, trên rất cao trên Trái Đất, anh từng thức nhận.

Ở góc đường, anh dựa vào một cột đèn đường. Một thực tế cố vùng vẫy để thoát ra khỏi anh, một thứ anh đã cảm thấy suốt thời gian dài nhưng chưa bao giờ có thể nói cho rõ. Gần như tất cả mọi phần của nhu cầu đều được tạo ra bởi một ủy ban dân chủ, ảo tượng, phản chiếu, thứ mà công việc của nó là biến các nhu cầu của một mùa thành những cuộc bán đại hạ giá của mùa sau. Anh loạng choạng đi tiếp vào một công viên đầy những con người đang chìm trong mê đắm và bóng đêm. Không khí hơi hôi nồng mùi khăn giấy ướt, cỏ, và tình dục. Đói khát ở khắp nơi, thức ăn duy nhất là muối.

Một cái gì đó rất cứng đập vào đầu anh, rơi xuống đất, rồi lăn đi một đoạn. Anh cúi xuống bóng tối và tìm kiếm. Thủ phạm nằm trên bãi cỏ, một cái nút công nghiệp khắc trên bề mặt tròn của nó một chữ X hoàn hảo. Nó có vẻ được thiết kế để được mới với một cái tuốc-nơ-vit Phillips-head lớn và trông giống kiểu cách trong khoa học viễn tưởng về động cơ hơi nước: tinh xảo, kiểu Victoria, chế tạo tinh tế. Nhưng nó làm từ gỗ.

Thứ này quá lạ lùng để gọi thành lời. Anh nghiên cứu nó suốt một phút, nhận thức lại rằng anh quả thực không biết gì. Không biết gì ngoài bản thân anh. Anh nhìn lên những cành của một cây khuynh diệp duyên dáng, nơi mà từ đó thứ bí ẩn này rơi xuống. Thân cây dày đã bắt đầu múa điệu thoát y là thương hiệu giống loài của nó. Những mảnh vỏ màu nâu mỏng mảnh trút xuống dưới gốc, để lại phía sau một thân cây trắng tới mức khêu gợi.

“Cái gì?” anh hỏi cái cây. “Cái gì? Mi muốn một mảnh của ta à?” Cái cây cảm thấy chẳng cần phải trả lời.

BẢY DẶM ĐƯƠNG của Cục Kiểm lâm quá sáng rực khiến anh phát sợ. Adam theo con đường nhánh, leo dọc những cây tùng bách cao lớn - vân sam cho tới độc cần cho tới linh sam Douglas, tuyết tùng đỏ, ba loại cây linh sam, tất cả những loài mà anh gọi là cây thông. Cây madrone thì anh biết, màu sắc và hình dáng của con người. Và ở tầng cây thấp, sơn thù du, hắc mai, và tổng quán sủi, cây trẻ thì mượt mà, cây già thì gân guốc.

Một học bổng hoàn thành luận án kéo dài một năm - một món quà từ các vị thần - thế mà anh đang dùng nó như thế này đây. Cái ba lô của anh đè nặng lên hông anh. Trên bầu trời xanh phía trên anh, mặt trời hành động như thể nó sẽ không bao giờ ẩn đi nữa. Nhưng không khí mát mẻ và bóng tối sớm buông trên những con đường ngoằn ngoèo ám chi cho những gì sắp xảy ra. Chỉ mấy tuần nữa luận án của anh sẽ hoàn thành. Nhưng, điều này là lần đầu tiên: một chút cuối cùng của nghiên cứu trì hoãn.

Vùng Tây Bắc có nhiều dặm đường vận chuyển gỗ hơn là đường cao tốc công cộng. Nhiều dặm đường vận chuyển gỗ hơn sông suối. Đất nước này có đủ để vòng quanh Trái Đất hàng chục lần. Cái giá của đốn gỗ là khấu trừ thuế, và các nhánh đang phát triển nhanh hơn bao giờ hết, như thể mùa xuân vừa mới bừng lên. Các khúc cong của con đường này cuối cùng mở rộng ra, và khu định cu xuất hiện trước mặt anh. Dọc theo viền khu trại, những con người ăn mặc sặc sỡ, hầu hết trẻ tuổi, có lẽ khoảng một trăm người, chiếm vạt rừng cuối cùng. Adam lại gần hơn; công việc trở nên rõ ràng. Cộng đồng đào hào. Sự lắp ráp vô chính phủ một cây cầu có thể rút đi. Hàng rào và cọc sắt mọc lên từ gỗ nhặt nhạnh. Căng trên lối vào có đào hào trên con đường lầy lội, một tấm banner viết:

KHU SINH THÁI TỰ DO CASCADIAN

Những từ đó mọc lên cuống lá và tua dây leo. Chim chóc đậu trên thảm thực vật đó của các con chữ. Adam nhận ra phong cách và biết người họa sĩ đó. Anh bước vào pháo đài đồ chơi Lincoln Log qua cây cầu rút bắc qua cái rãnh đang đào. Vừa bước qua lối vào, một người đàn ông mặc đồ rằn ri và mái tóc hoi hói phía trước buộc ra sau, đang nằm giữa con đường. Cánh tay phải của anh duỗi xuống bên người anh, giống như một vị Phật nằm. Cánh tay trái biến mất dưới một cái hố trong lòng đất.

“Xin chào, thanh niên! Cậu đến đây để giúp đỡ hay cản trở?”

“Anh ổn chứ?”

“Tên là Linh sam Doug. Chỉ đang kiểm tra một thứ để cầm giữ mới. Có một thùng phuy đầy xi măng ở sâu sáu feet dưới đây. Nếu họ muốn lôi tôi ra, họ sẽ phải bẻ gãy tay tôi!”

Từ một cái tổ trên đỉnh chạc ba chân làm từ các khúc gỗ buộc vào nhau ở trên đường, một phụ nữ nhỏ nhắn, tóc đen, không rõ người dân tộc nào, gọi xuống, “Mọi chuyện ổn chứ?”

“Đó là Dâu Tằm. Cô ấy nghĩ cậu là một Freddie.”

“Một Freddie là sao?”

“Chỉ là đang kiếm tra,” Dâu Tằm nói.

“Freddie là Federale[8].”

“Em không nghĩ anh ấy là một Freddie. Em chỉ…”

“Có thể là do cái áo sơ mi button-down và quần chinos.”

Adam nhìn lên cái tổ trên chạc ba chân của người phụ nữ. Cô nói, “Họ sẽ không thể đưa thiết bị xuống con đường này trừ khi hất đổ cái này xuống và giết tôi.”

Người đàn ông với cái tay ở dưới đất nói gằn. “Các Freddie sẽ không làm vậy đâu. Họ nghĩ cuộc đời là thiêng liêng. Cuộc đời con người, đúng ra là thế. Đinh cao của sáng tạo hay gì đó. Tình cảm. Đó là yếu điểm của họ.”

“Thế nếu anh không phải là một Freddie,” Dâu Tằm hỏi, “anh là ai?”

Một thứ chợt hiện lên trong Adam mà anh đã không nghĩ tới suốt hàng chục năm.”

“Tôi là Cây Phong.”

Dâu Tằm nở nụ cười nghiêng nghiêng, như thể cô có thể khám phá được anh. “Tốt. Chưa có Cây phong ở đây.”

Anh quay mặt đi, tự hỏi thứ gì đã trở thành cái cây đó. Bản ngã thứ hai nơi sân sau nhà anh. “Hai người có ai biết người đàn ông tên là Người Canh Gác hoặc người phụ nữ có tên Bạch Quả không?”

“Ôi trời, có,” người đàn ông bị xích vào Đất nói.

Người phụ nữ trên chạc ba cười tươi. “Chúng tôi không có lãnh đạo ở đây. Nhưng chúng tôi có hai người đó.”

HAI NGƯỜI BẠN TÙ cũ chào Adam như thể họ sẵn biết anh sẽ tới. Người Canh Gác vỗ vai anh. Bạch Quả ôm anh, rất lâu. “Thật tốt khi anh đến đây. Chúng tôi có thể sử dụng anh.”

Họ đã thay đổi theo một cách tinh tế nào đó mà không có bài kiểm tra tính cách nào có thể định lượng được. Dữ dội hơn, kiên quyết hơn. Cái chết của Mimas đã dồn nén họ, như nén phiến nham thành đá ốp stale. Sự chuyển hóa của họ khiến Adam ước gì anh đã chọn một chủ đề nào khác để nghiên cứu. Tính đàn hồi của tinh thần, tính nội tại, thần tính - những phẩm chất mà ngành của anh nổi tiếng kém khả năng đo lường.

Bạch Quả nắm cổ tay anh. “Chúng tôi muốn có một lễ chào mừng nhỏ khi có người mới đến.”

Người Canh Gác đo đạc cái ba lô của Adam. “Anh tham gia với chúng tôi thật chứ?’

“Lễ chào mừng ư?”

“Đơn giản thôi. Anh sẽ thích nó.”

CÔ ĐÚNG MỘT NỬA; lễ chào mừng rất đơn giản. Nó diễn ra vào buổi tối hôm đó, trên một bãi cỏ rộng phía sau bức tường. Khu sinh thái Tự do Cascadian tập hợp trong trang phục hội hè. Rất nhiều người mặc đồ sọc và xám. Những chiếc váy hippie vải hoa chảy kết hợp với áo vest không tay. Không phải cả tập hợp đó đều trẻ. Một vài người trung niên mập mạp đứng bên cạnh với quần thun và áo cardigan. Một người từng là trưởng hội Giáo lý thực hiện lễ kỷ niệm. Ông ở độ tuổi tám mươi, với một vòng sẹo tròn quanh cổ, ở nơi ông đã tụ treo mình trên một thân cây bị đốn.

Họ bắt đầu hát. Adam cố dìm xuống cảm giác căm ghét lối hát nghi lễ của mình. Những tâm hồn-tự nhiên xù xì và sự nhảm nhí của họ khiến anh muốn ói. Anh cảm thấy xấu hổ, cảm giác anh thường có mỗi khi nhớ lại thời thơ ấu. Mọi người lần lượt kể lể về những thách thức trong ngày và gợi ý các biện pháp. Khắp xung quanh anh trải ra những màu sắc loè loẹt của dân chủ bột phát. Có lẽ như thế cũng không sao. Có lẽ sự kiện tuyệt chúng biện minh cho những gì còn chưa tỏ tường. Có lẽ sự sốt sắng có thể giúp cho giống loài bị tổn thương của anh hơn bất cứ điều gì. Anh là ai mà có quyền nói?

Người từng là trưởng hội lên tiếng, “Chúng ta chào đón cậu, Cây Phong. Chúng ta hy vọng cậu sẽ ở lại lâu nhất có thể. Làm ơn, nếu cậu thực tâm làm điều này, hãy nhắc lại những lời này theo tôi. Từ ngày hôm nay trở đi…”

“Từ ngày hôm nay trở đi…” Anh hoàn toàn không thể không nhắc lại, với rất nhiều người tụ tập quan sát anh ở đây.

“…Tôi cam kết sẽ tôn trọng và bảo vệ…”

“…Tôi cam kết sẽ tôn trọng và bảo vệ…”

“…ý nghĩa chung của sinh vật. “

Đó không phải là những lời nói có tính hủy hoại nhất anh từng nói, hay là đáng tiếc nhất. Một cái gì đó vang lại trong đầu anh, một cái gì đó anh từng sao chép lại. Một điều là đúng… một điều là đúng khi nó có xu hướng… Nhưng anh không thể nhớ hết. Tiếng chúc mừng rộn lên xung quanh khi anh lặp lại xong câu cuối cùng. Mọi người cùng nhau nhóm lửa trại. Ngọn lửa cao, rộng, màu cam, và gỗ cháy thành than có mùi của tuổi thơ.

“Cậu là một nhà tâm lý học,” Mimi nói với người mới gia nhập. “Thế làm cách nào để chúng ta thuyết phục mọi người rằng chúng ta đúng?”

Thành viên Cascadian mới nhất mắc mồi. “Những cuộc tranh luận hay nhất trên thế giới không bao giờ thay đổi trong đầu của một con người. Thứ duy nhất có thể làm thể là một câu chuyện hay.”

Bạch Quả kể câu chuyện mà tất cả mọi người còn lại quanh lửa trại đều biết rõ. Đầu tiên cô đã chết, và lúc đó chẳng có gì. Rồi cô tỉnh trở lại, và rồi có mọi thứ, các hiện thân của ánh sáng kể cho cô nghe những sản phẩm tuyệt diệu nhất của bốn tỉ năm sự sống cần cô giúp như thế nào.

Một ông già người Klamath có mái tóc dài bạc trắng và đeo kính trông giống Clark Kent gật đầu. Ông cất tiếng cầu chúc phước lành. Ông ngân nga những bài ngâm cũ và dạy mọi người vài từ của tộc người Klamath-Modoc. “Mọi thứ xảy ra ở đây đều đã được tri nhận từ trước. Người của chúng ta đã nói từ rất lâu rằng ngày hôm nay sẽ đến. Họ đã nói tới chuyện rừng sẽ chết, khi con người bỗng nhiên nhớ đến những người còn lại trong gia đình họ.” Và trong nửa buổi đêm đó, các nhân vật ngồi xung quanh đống lửa, cười nói và lắng nghe và thì thầm và gào rú lên với vầng trăng cao trên đỉnh những ngọn cây vân sam.

NGÀY HÔM SAU là công việc thuần tuý. Các con mương được mở rộng và đào sâu, một bức tường được bảo vệ. Adam quay búa suốt nhiều giờ. Đến chiều anh mệt tới mức không thể chịu đựng nổi. Anh cùng nấu ăn ngoài trời với bốn người bạn như một gia đình nguyên mẫu Carl Jung: Bạch Quả, Linh mục Mẹ; Người Canh Gác, Người bảo vệ Cha; Dâu tằm, Thợ thủ công Con; Linh sam Doug, Chàng hề Con. Bạch Quả là chất kết nối, ban bùa phép rộng khắp xuống mọi người trong trại. Adam kinh ngạc trước sự lạc quan mạnh mẽ của cô, ngay cả sau những thất bại mà cô phải chịu đựng. Cô nói chuyện với thẩm quyền của một người đã nhìn thấy trước tương lai, từ trên cao.

Đêm đó họ đưa anh vào trong, một cái xe moóc vuông bên hai cặp đôi. Anh không chắc liệu vai trò của mình trong gia tộc giả cách tuyệt vọng này nên là gì. Linh sam Doug gọi anh là Giáo sư Cây Phong, và anh trở thành nhân vật đó. Đêm hôm đó, anh ngủ một giấc sâu mê mệt của một tình nguyện viên kiệt sức.

Hai đêm sau, nỗi sợ hãi dâng lên trong Adam, bên một hộp đậu hầm được làm nóng trên lửa đốt quả thông khô. “Phá hủy tài sản liên bang. Chuyện nghiêm trọng.”

“Ôi, cậu là một tội phạm, anh bạn,” Linh sam Doug nói.

“Tội phạm bạo lực.”

Douglas xua xua tay với anh. “Tôi đã từng phạm những tội ác thực sự. Được ủy thác bởi chính phủ.”

Dâu Tằm nắm lấy bàn tay đang khua khoắng của chú hề. “Những tội phạm chính trị của ngày hôm qua đang ở trên tem bưu chính của ngày hôm nay!”

Bạch Quả đang ở rất xa, trong một miền đất khác. Cuối cùng cô lên tiếng, “Đây không phải là căn nguyên. Tôi đã nhìn thấy căn nguyên.

Khi đó Adam cũng thấy lại nó. Một sườn núi đang thở, đang sống, bị lột trần.

ĐỒ TIẾP TẾ ĐẾN, được mua bằng sự quyên tặng của những người thương cảm. Trại này là một phần nhỏ trong một mạng lưới của những nỗ lực đang lan rộng khắp bang. Có cuộc nói chuyện của một đội quân bước đi tay khoác tay quan những con đường của thủ phủ. Một cuộc tuyệt thực, ngồi ngoài trời bốn mươi ngày đêm trên bậc tam cấp của Tòa án Quận Hoa Kỳ ở Engence. Linh hồn của Rừng, quấn chăn sọc xanh lá, đi bộ một trăm dặm trên cà kheo xuống Đường cao tốc 58.

Đêm hôm đó, nằm trên cái túi ngay trên đất, Adam muốn quay trở lại Santa Cruz để hoàn thành luận án. Ai cũng có thể đào mương, xúc đất, giam bản thân vào một cái hố. Nhưng chỉ có anh có thể hoàn thành dự án và mô tả của mình, trong các yếu tố đã được đo đạc, tại sao mọi người lại quan tâm liệu một khu rừng sống hay chết. Nhưng anh ở lại thêm một ngày nữa, trở thành một thứ mới - đối tượng nghiên cứu của chính anh.

CUỘC CHIẾM GIỮ CÀNG KÉO DÀI, các nhà báo đến xem càng đông. Một toán những người đàn ông trong một chiếc xe tải của Cục Kiểm lâm yêu cầu tất cả bọn họ rời đi. Các Cascadian Tự do dễ dàng trốn tránh họ và khiến họ phải rời đi. Hai người đàn ông mặc suit từ văn phòng đại diện quốc hội ghé qua để lắng nghe. Họ hứa đưa những ý kiến bất bình đến Washington. Chuyến thăm của họ khiến Dâu Tằm phấn khích. “Khi các chính trị gia bắt đầu lỏn vởn, có điều gì đó sắp xảy ra.”

Adam - Cây Phong - đồng ý. “Các chính trị gia muốn thuộc về bên chiến thắng. Gió chiều nào xoay chiều đó.”

Bạch Quả lẩm bẩm, “Trái Đất sẽ luôn luôn chiến thắng.”

Một đêm đèn pha loang loáng khắp con đường chính, và các cú bắn đỏ loè. Ba ngày sau, tim và lòng của một con nai xuất hiện ngay bên ngoài rào chắn.

MỘT CHIẾC F-35O SUPER DUTY TO LỚN dừng lại bên dưới đường, cách cây cầu rút một trăm mét. Hai người đàn ông mặc áo khoác thợ săn cao cổ màu ô liu. Người lái xe, trẻ tuổi với kiểu râu dê tỉa gọn, có thể là một ca sĩ nhạc đồng quê thu hút phái nữ. “Tại sao chúng tao lại đến đây hử? Những kẻ cố chấp! Này - được thôi!”

Một cô gái tên là cỏ Linh Duyên hét lên, “Chúng tôi chỉ đang bảo vệ một thứ tốt đẹp.”

“Tại sao các người không bảo vệ thứ thuộc về các người, và để yên cho chúng tao bảo vệ công việc của chúng tao và gia đình chúng tao và những quả núi của riêng chúng tao và lối sống của chúng tao?”

“Cây không thuộc về ai cả,” Linh sam Doug nói. “Cây thuộc về rừng.”

Cửa xe bên ghế khách mở, và người đàn ông già hơn bước ra. Ông ta đi bộ quanh phía trước chiếc xe. Một lần, trong cuộc đời trước, rất lâu trước đây, Adam đã tham dự một môn học là tâm lý học khủng hoảng và đối đầu. Giờ anh không nhớ gì nữa. Người đàn ông cao nhưng gù, mái tóc bạc rủ xuống mặt. Ông ta giống như một con gấu xám to đang chồm lên phía trước bằng hai chân sau của mình. Một cái gì đó lóe sáng ở cổ tay ông ta. Adam nghĩ: Súng. Dao. Chạy.

Lão già bước đến thanh cản trước bên trái và nâng vũ khí kim loại lên.

Nhưng sự đe dọa mềm dẻo, triết lý, gây bối tôi, và vũ khí chỉ là một bàn tay kim loại. “Tôi đã mất cánh tay đến tận khuỷu, khi đốn cây.”

Gã điển trai gọi với ra từ trong xe, “Còn tôi bị bệnh ngón tay trắng, vì làm việc. Các người đã nghe đến làm việc rồi chứ, đúng không? Làm những thứ mà người khác cần phải làm xong ấy?”

Lão già đặt bàn tay bình thường lên mui xe và lắc đầu. “Các người muốn con người làm gì? Họ không thể ngừng dùng gỗ.”

Bạch Quả xuất hiện, đi qua cây cầu về phía hai người đàn ông. Con gấu xám dụng đúng lùi lại một bước. Cô nói, “Chúng tôi không biết con người có thể và không thể làm gì. Đã có quá ít sự cố gắng!”

Ánh nhìn của cô đặt gã lái xe râu dê vào trạng thái cảnh giác cao nhất. “Cô không thể đặt gỗ lên trên cuộc sống của những con người tử tế.” Hắn ngạc nhiên; hắn muốn cô. Riêng điều đó quá rõ ràng với Adam từ xa một trăm mét.

“Chúng tôi không như vậy,” cô nói. “Chúng tôi không đặt cây cối lên trên con người. Con người và cây cối ở đây cùng nhau.”

“Điều đó có nghĩa thế quái gì thế?”

“Nếu con người đã biết cái gì tạo ra cây cối, họ hẳn sẽ rất rất biết ơn vì sự dâng hiến đó. Và những con người biết ơn sẽ không cần nhiều đến vậy.” Cô nói với hai gã đàn ông một lúc lâu. Cô nói, “Chúng ta cần phải thôi là những người viếng thăm ở đây. Chúng ta cần sống ở nơi chúng ta sống, cần trở nên bản địa trở lại.”

Gã con gấu khoát tay. Lão bước về phía sau vòng qua của xe lối ghế khách và lên xe. Khi chiếc xe tải đồ sộ đánh lái ra, gã lái xe hét vào các lực lượng tụ tập đang ở sau cây cầu, “Ôm từ biệt đi, những kẻ cố chấp! Tất cả các người sẽ bị nghiền nát.” Hắn phóng vút đi với một vạt sỏi bắn lên.

Phải, Adam nghĩ. Có thể thế. Và rồi hành tinh sẽ nghiền nát những kẻ nghiền nát.

CUỘC PHẢN ĐỐI tiên vào tháng thứ hai. Chuyện này rồi chẳng đi tới đâu, theo như Adam thấy. Sự bất tài vô vọng của bản chất lý tưởng hóa này lẽ ra đã phải đánh sập nơi này từ lâu rồi. Nhưng Khu sinh thái tự do vẫn tiếp tục hoạt động. Tin đồn lan khắp khu trại rằng Tổng thống - của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - đã nghe về cuộc phản đối và đang chuẩn bị dừng tất cả việc bán gỗ cứu hộ trên toàn liên bang, đặc biệt là những vụ bắt nguồn từ việc cố tình đốt rừng, cho tới khi chính sách có thể được xem xét lại.

MỘT BUỔI CHIẾU LẠNH LẼO, SÁNG SỦA, hai giờ sau khi mặt trời lên đến đỉnh. Người Canh Gác đang vẽ những khuôn mặt cho một cuộc kể chuyện vào buổi tối xung quanh đống lửa. Dưới sườn đồi, có ai đó thổi từ và, rống lên như một con thú lớn thời cổ đại khi mặt trời buông xuống. Một người chạy marathon tên là Chồn Marten chạy cật lục lên rặng núi rồi phi vào khu trại. “Họ đang đến.”

“Ai?” Người Canh Gác nói.

“Freddies.”

Theo cách đó, ngày hôm ấy đến. Họ tiến xuống con đường mòn về phía phần dốc trước pháo đài, nơi con hào và bức tường giờ đã hoàn thành đứng đó. Dưới đoạn đèo, dọc con đường chỏ gỗ mà Adam đã đi bộ lên rất lâu trước đó, một đoàn xe đang bò tới, chở đầy những người mặc đồng phục với bốn màu sắc và thiết kế khác nhau. Sau chiếc xe tải của Cục Kiểm lâm là một cái máy đào khổng lồ, được chuyển đổi sang mục đích tấn công. Phía sau nó, còn có nhiều thiết bị, nhiều xe tải.

Các Cascadian Tự do được vẽ mặt đứng nhìn chằm chằm. Rồi ông trưởng hội tám mươi tuổi với vòng sẹo cổ nói, “Được rồi, anh em. Hãy hành động.” Họ tiến đến các nhiệm vụ của mình, khóa bản thân lại, nâng cây cầu lên, canh gác bức tường, hoặc rút vào các vị trí phòng thủ. Rồi đoàn xe tiến đến trước hàng rào. “Các người có mười phút để yên lặng rời đi. Sau đó, các người sẽ bị đưa đến nơi giam giữ.”

Mọi người trên các bờ luỹ đồng loạt hét lên. Không có người lãnh đạo: tất cả giọng nói đều cần được nghe. Phong trào này đã tồn tại suốt nhiều tháng bằng nguyên tắc đó, và giờ họ sẽ chết bởi nó. Adam chờ một khoảng nghỉ trong cơn mưa tiếng nói đó. Rồi cả anh, cũng hét lên.

“Cho chúng tôi ba ngày, tất cả nơi này sẽ được yên lặng gói ghém lại.” Những người đúng đầu đoàn xe quay sang phía anh. “Chúng tôi đã có một chuyến thăm từ văn phòng quốc hội. Tổng thống đang tập hợp một mệnh lệnh hành pháp.”

Cũng nhanh như khi anh thu hút được sự chú ý của họ, anh đánh mất nó. “Các người có mười phút,” viên cảnh sát nhắc lại, và sự ngây thơ chính trị của Adam tắt ngấm. Hành động từ Washington không phải là câu trả lời cho cuộc đối đầu này. Nó là nguyên nhân.

Vào lúc chín phút bốn mươi giây, cái máy xúc saurian cổ dài vung cần cẩu qua cái mương và đập vào bờ tường. Tiếng la hét vang lên từ những thành luỹ bị đập nát. Những người bảo vệ vẽ mặt hình chiến tranh nháo nhào bỏ chạy. Adam bò loạng choạng và bị xô ngã xuống đất. Cái xúc lại bổ vào bức tường. Nó vung ra như một cú quật cổ tay và đập xuống cái cầu. Thêm một cú đập nữa và cây cầu toạc ra. Hai cú đánh mạnh vào các cọc đỡ và thế là cả dãy bờ rào đổ xuống đất. Mấy tháng làm việc - những bức thành ghê gớm nhất mà Khu sinh thái Tự do có thể xây - vỡ vụn ra giống như pháo đài gỗ đồ chơi của trẻ con.

Con quái thú lăn tới bờ mương và cào đống đố nát bên kia bò. Chỉ mất một phút để cái máy xúc cào các khúc gỗ từ bức tường bị phá hủy và kéo chúng xuống con hào. Những bánh xe của cái máy lăn qua con mương vừa bị lấp đầy và qua bức tường bị đánh sập. Các Cascadian, sơn vẽ mặt chảy lem nhem, ùa ra như những con mối trong gò đất bị vỡ. Một số chạy ra đường. Vài người quay về phía những kẻ tấn công để tranh luận và van nài. Bạch Quả bắt đầu tụng kinh: “Nghĩ về những thứ các bạn đang làm! Có một cách tốt hơn!” Cảnh sát từ đoàn xe có mặt khắp nơi, còng tay và ghì mọi người xuống đất.

Người hát kinh chuyển sang hét lên, “Không bạo lực! Không bạo lực!”

Adam thua nhanh, bị hạ xuống bởi một tên cớm to lớn bị chứng đỏ mặt nặng tới mức trông hắn giống như một trong những chiến binh sinh thái có vẽ mặt. Năm mươi mét trên vách đá, Người Canh Gác cuộn đầu gối lại từ phía sau và lăn xuống sườn núi đầy đá dăm bằng khuôn mặt vẽ màu xanh của anh. Chỉ có những người khóa mình sót lại. Cái máy xúc lăn chậm lại trên con đường. Nó tiến tới chỗ cái chạc ba đầu tiên và đưa cái xúc húc vào để của nó. Cái chạc chao đảo. Đám cớm từ các cuộc càn quét ghé lại xem. Trên cái tổ quạ của mình, Dâu Tằm kẹp cánh tay quanh đính của các cột tháp đang rung lắc. Mỗi cú vồ của máy xúc vào để cái chạc lại khiến cô quay mòng mòng như một hình nộm thử nghiệm va chạm.

Adam hét lên, “Chúa ơi. Thôi đi!”

Những người khác để ý tới tiếng hét - người của cả hai bên cuộc chiến. Ngay cả Doug, từ chỗ nằm trên đường của anh. “Meem. Hết rồi. Xuống đi.”

Cái xúc lại đập vào để của cái lều teepee. Ba thân cây hình thành cái khung đó rên ri oằn xuống. Một tiếng cót két khủng khiếp, và một trong các cột chông nứt. Vết nứt bắt đầu bằng một trăm vòng sâu bên trong trụ gỗ và mở ra. Khúc gỗ linh sam toác ra, xé toạc lên tới đỉnh cột thành một cái chông.

Mimi hét lên, cái tổ quạ của cô rơi xuống. Cái cọc bị nút đâm vào xương má cô. Cô bật ra khỏi cái que nhọn và ngã nhào, ôm cây gỗ ngã xuống, nảy vào một tảng đá ở dưới đất. Douglas thả mình ra khỏi cái hố và chạy về phía cô. Người lái máy xúc kinh hãi lia cái xúc đi, như thể một bàn tay phản đối sự ngây thơ của nó. Nhưng cú đánh trái tay đó đập trúng chú hề con, anh phải nhận lực rút của cái xúc và anh sụm xuống như một con rối bị cắt dây.

Cuộc chiến tranh vì Trái Đất kết thúc. Cả hai bên chạy ào tới chỗ người bị thương. Mimi thét lên và ôm mặt. Douglas nằm bất tỉnh. Cảnh sát chạy xuống chỗ cái xe moóc và gọi xe cứu thương. Các công dân choáng váng của Khu sinh thái Tự do vừa sụp đổ nháo nhào kinh sợ. Mimi lăn nghiêng người trong tư thế thai nhi và mở mắt. Cây cối với đủ màu sắc từ xanh ngọc tới xanh nước biển giăng qua bầu trời. Nhìn màu sắc kìa, cô nghĩ, rồi bất tỉnh.

ADAM TÌM THẤY Bạch Quả và Người Canh Gác trong đám đông đang xô đẩy, vây quanh hai người ngất xỉu. Bạch Quả chỉ lên trên đồi nơi có bốn người phụ nữ chống đối vẫn đang nằm ngang trên đường, khóa mình xuống mặt đất. “Chúng ta vẫn chưa thua.”

Adam nói, “Chúng ta thua rồi.”

“Họ sẽ không dám chặt những cây này bây giờ. Sau khi báo chí làm rùm beng chuyện này.”

“Họ sẽ.” Đây là những cây cổ đại còn sót lại, cho tới khi tất cả các khu rừng đều trở thành các khu biệt thực hoặc trang trại.

Bạch Quả rủ rủ mái tóc bẩn thỉu của mình. “Những người phụ nữ đó có thể nằm khóa mình ở đó cho tới khi Washington hành động.”

Adam bắt gặp ánh mắt của Người Canh Gác. Sự thật quá tàn nhẫn với ngay cả anh ta để có thể nói ra.

TRỰC THĂNG ĐƯA người bị thương tới một bệnh viện chấn thương hạng hai ở Bend. Douglas trải qua cuộc phẫu thuật ngay lập tức vì gãy xương hàm Le Fort III. Mimi phẫu thuật đưa mắt cá bị trật trở về vị trí và ổ mắt bị bay đi được vá lại. Các bác sĩ ở phòng cấp cứu có thể làm rất ít cho cái rãnh trên má cô nhưng đã khâu nó lại để chờ một ngày nào đó phẫu thuật thẩm mỹ có thể tái tạo nó.

Cảnh sát thông báo với báo chí không xử phạt những người xâm chiếm đất đai. Chỉ có bốn phụ nữ cuối cùng, những người đã bám trụ thêm ba mươi sáu giờ nữa, bị bỏ tù. Sau đó những cư dân còn lại cuối cùng của Khu sinh thái Tự do Cascadia rời sườn núi và sự chiếm đoạt của cải trở lại.

Thế nhưng, và vẫn còn: hai mươi tám ngày sau, một cỗ máy chứa đầy các phương tiện trong Rừng Quốc gia Willamette bốc cháy.

ĐÓ KHÔNG PHẢI LÀ SỰ THẬT. Đó chẳng là gì hơn một rạp hát, một mô phỏng, một câu chuyện ngụ ngôn đạo đức, cho tới khi họ nhìn thấy hậu quả.

Báo chí đăng tải một hình ảnh: một lính cứu hỏa và hai nhân viên kiểm lâm đang kiểm tra cái máy xúc bị đốt thành than. Năm con người chuyền bức ảnh xung quanh bàn ăn tối ở nhà Mimi Ma. Một ý nghĩ ngầm kết hợp họ, dưới lòng đất, như cách các ý nghĩ thường xuyên làm lúc này. Ôi chúa ơi. Đó là chúng ta.

Trong suốt một lúc lâu, chẳng cần phải nói ra lời nào. Tâm trạng chung phập phồng giống như cổ phiếu biến động. Nhưng nó lắng lại thành một thách thức thụ động. “Họ đã được nhận nhiều như họ đang trao,” Mimi nói. Hai mươi hai vết khâu trên mặt cô khiến mỗi lời nói đều nhức nhối. “Chúng ta hòa.”

Adam không chịu được khi nhìn cô, hay nhìn Douglas, khuôn mặt anh ta là một mó hỗn độn băng gạc khác. Adam cũng đã muốn có cuộc trả thù lại cái thiết bị đã khiến một người trong số họ mù một bên mắt và người kia bị biến dạng này. Trả đũa lại sự tàn ác của con người. Giờ thì anh không biết mình muốn gì và làm cách nào để đạt được nó.

“Thực sự,” Nick nói, “họ vẫn còn tiếp tục.”

ĐÓ LÀ MỘT HÀNH ĐỘNG ĐƠN LẺ của tuyệt vọng. Nhưng nhu cầu về công lý cũng giống như về sở hữu hay tình yêu. Nuôi nó chỉ khiến nó lớn lên. Hai tuần sau khi cái máy bị phá hủy, họ hướng tới một xưởng cưa ở gần Solace, California, hoạt động trong nhiều tháng dưới một giấy phép đã bị thu hồi và trả tiền phạt gây rắc rối chỉ bằng một tháng lợi nhuận của nó. Cô gái mà nghe được các hiện thân chỉ ra cách cuộc tấn công cần diễn ra. Người quan sát đã được huấn luyện thực hiện việc giám sát bí mật. Người kỹ sư biến hai tá bình sữa bằng nhựa thành thiết bị nổ. Người thương binh thực hiện vụ nố. Nhà tâm lý học giữ cho mọi thứ hoạt động. Thiết bị chết người cháy tốt hơn họ mong đợi. Lần này họ để lại một thông điệp viết nguệch ngoạc trên hông một nhà kho gần đó, được bỏ qua vì nó chứa đầy những tấm gỗ vô tội. Các con chữ rất nghệ thuật, gần như hoa mỹ:

NÓI KHÔNG VỚI NỀN KINH TẾ TỰ TỬ,

NÓI CÓ VỚI PHÁT TRIỂN THỰC SỰ

Họ ngồi tụ tập quanh bàn của Dâu Tằm như thể họ sắp chơi một ván bài. Triết học và những khả năng đặc biệt tốt đẹp khác giờ đây không thể giúp gì họ. Một giới hạn đã vượt qua, một công việc đã chấm dứt; những lời nói không có hệ quả. Thế nhưng họ vẫn không thể ngừng nói, mặc dù các câu nói không dài. Vẫn tiếp tục bàn bạc, khi mà kết luật cho sự thảo luận của họ đã biến mất từ lâu trong gương chiếu hậu của chiếc xe tải vận chuyển của họ.

Adam quan sát những người đồng phạm của mình, không cản được mình viết những ghi chép trong đầu. Dâu Tằm cắt không khí trong một di chuyển chậm. Cô đặt sống dao lên một điểm chính xác trên lòng bàn tay mở của mình. “Tôi cảm thấy như thể tôi đã ở trong một đám tang liên tục suốt hai năm.”

“Kể từ khi miếng da che mắt xuất hiện,” chú hề con đồng ý.

“Tất cả những phản đối. Tất cả những lá thư. Bị đánh đập. Gào thét hết hơi hết sức của chúng ta, nhưng chẳng ai nghe cả.”

“Trong hai đêm, nhiều thứ xảy ra hơn chúng ta đã làm được trong suốt nhiều năm cố gắng.”

Hoàn thành là thứ mà giờ đây Adam không biết làm thế nào để đo đạc nữa. Thứ mà họ đang làm - anh đã hoàn thành cái gì - chỉ là làm cho nỗi đau dừng lại đủ lâu để có thể chịu đựng.

Mimi nói, “Nó không còn là một đám tang nữa.”

“Không phải là một lựa chọn khó khăn,” Nick nói. Giọng anh lặng đi, kinh ngạc trước sự phục kích của nhận thức thông thường. “Chúng ta phá hủy một số lượng nhỏ thiết bị, hay những thiết bị đó đang phá hủy một số lượng lớn cuộc đời.”

Nhà tâm lý học lắng nghe. Có những điều dối trá khác, sâu hơn nhiều trong tim của con người. Anh đã lao vào vị trí của mình để cứu thứ có thể cứu. Một chút thời gian phải được mua từ sự khải huyền đang đến. Chẳng có gì khác có ý nghĩa hơn điều đó. Luận án của anh đã có câu trả lời của nó.

Olivia chỉ cần hạ cằm xuống thì những người khác im lặng. Phép thuật của cô đối với họ cứ lớn dần lên qua mỗi lần phạm tội. Cô đã đặt bàn tay mình lên một gốc cây bị cưa lớn như một nhà nguyện. Cô đã quan sát một cánh rừng chết mà có tuổi già hơn cả giống loài của cô. Cô đã nhận lời chỉ dẫn từ những thứ lớn lao hơn con người. “Nếu chúng ta sai, chúng ta trả giá. Họ không thể lấy nhiều hơn mạng sống của chúng ta. Nhưng nếu chúng ta đúng?” Cô buông ánh mắt xuống trước một luồng suy nghĩ. “Và mọi thứ đang sống nói với tôi rằng chúng ta…”

Không ai cần cô hoàn thành suy nghĩ đó. Một người sẽ không làm gì, để giúp đỡ những sản phẩm tuyệt diệu nhất của bốn tỉ năm sáng tạo? Trong lúc Adam nghĩ về ý nghĩ này, anh nhận ra một điều khác: Năm người họ đang trong một cuộc chạy khác. Một cuộc nữa. Đó hẳn sẽ là cuộc cuối cùng. Rồi họ sẽ đường ai nấy đi, hoàn thành dù chút ít những gì họ có thể làm để ngăn giống loài này tự giết mình.

CHÍNH ADAM PHÁT HIỆN RA bài báo này: “Cục Kiểm lâm tìm kiếm các dự án đa lợi ích.” Hàng nghìn mẫu đất công ở Washington, Idaho, Utah, và Colorado, được dành cho các công ty đầu cơ và phát triển tư nhân thuê. Rừng bị chặt phá cho thêm lợi nhuận tận thế. Cả nhóm nghe bài báo trong yên lặng. Dù chỉ là đưa vấn đề ra để bầu cũng không cần.

Không có thư hay email, và hầu như không có cuộc gọi. Họ giao tiếp trực tiếp hoặc không gì cả. Họ sống bằng tiền mặt. Chẳng có gì để ghi lại. Công việc kỹ sư của Dâu Tằm ngày càng trở nên phức tạp hơn. Cô bắt tay vào công việc tốt nhất của cô từ trước đến nay, được mách nước với những luật ngầm thủ công: Bốn quy tắc của cố ý tạo hỏa hoạn. Tạo lửa bằng bộ hẹn giờ điện tử. Thiết kế mới đáng tin cậy hơn. Cây Phong và Linh sam Doug lái xe đến năm mươi dặm để lấy cho cô các vật liệu cần thiết.

Người Canh Gác và Bạch Quả giám sát một trong các vùng mới cho thuê - Stormcastle, ở Idaho, trong dãy núi Bitterroot, gần biên giới Montana. Những thân cây lực lưỡng của rừng công được bán sạch để làm thêm một khu nghỉ dưỡng bốn mùa khác nữa. Họ thực hiện chuyến đi vòng quanh khu vục đó vào ban đêm, khi nơi này bị cấm ra vào. Người họa sĩ vẽ mọi thứ - những nền đường mới phát quang, các kho thiết bị và những xe moóc công trường, móng của các tổ hợp mới tinh của khu nghỉ dưỡng. Có nhiệt huyết trong các bản phác thảo hoàn hảo của anh, và cả sự khiêm nhường. Trong khi anh vẽ, người từ bỏ khoa học bảo hiểm lang thang trong vùng đất đã phát quang đó, đo bằng bước chân các khoảng cách giữa các cọc trắc đạc. Cô nghiêng đầu, lắng nghe.

Cả năm người họ làm việc trong ga-ra nhà Dâu Tằm, dưới một cái lều bạt, trong quần áo sơn toàn thân và găng tay ba lớp. Họ lắp ráp thành một đài của thùng nhiên liệu năm galoon và các thiết bị hẹn giờ trong các hộp nhựa Tupperware. Họ đánh dấu trên các bản đồ của Người Canh Gác nơi mỗi thiết bị phải đi tạo ra một vụ cháy dai dẳng. Họ sẽ gửi đi thông điệp cuối cùng này và kết thúc. Họ sẽ chia tay, biến mất trong con đường vô hình, sau khi đã có được sự chú ý của đất nước này. Đánh thức lương tâm cửa hàng triệu con người. Gieo một hạt giống, loại mà cần có lửa mới nảy mầm.

MỌI THỨ ĐƯỢC ĐƯA VÀO phía sau xe tải của họ. Khi cửa sổ ga-ra nhà Dâu Tằm nâng lên và họ len ra, cảm giác như thể họ đang hướng về dãy núi để cắm trại và leo núi. Họ mang theo một máy quét cảnh sát. Găng tay và mặt nạ trùm mặt cho tất cả. Họ mặc đồ đen. Họ rời Western Oregon vào sáng sớm. Nếu có bất cứ tai nạn nào khi họ chạy chầm chậm xuống lối vào đường cao tốc liên bang thì chiếc xe tải sẽ bốc cháy như một quả cầu lửa khổng lồ.

Trong xe tải, họ trò chuyện và ngắm cảnh. Họ vượt qua những vạt rừng của Potemkin, những tấm mành ảo tượng chỉ sâu mấy feet. Doug sản xuất ra cả một cuốn sách những câu hỏi nhỏ và đố mọi người về Cách mạng và Nội chiến. Adam thắng. Họ ngắm chim - những con chim săn mồi dọc hành lang săn bắn thứ nhỏ của đường cao tốc. Hai giờ sau, Mimi nhìn thấy một con đại bàng đầu trắng với sải cánh dài bảy feet. Nó khiến mọi người im bặt.

Họ lắng nghe một cuốn sách trên băng: các thần thoại và truyền thuyết về những con người đầu tiên của miền Tây Bắc. Ông già của thế giới cổ đại, Kemush, mọc lên từ tro của những ánh sáng miền Bắc và làm ra mọi thứ. Coyote và Wishpoosh xé tan cảnh trí trong cuộc chiến sử thi của chúng. Các loài vật hợp lực ăn trộm lửa từ Cây Thông. Và tất cả những linh hồn của bóng tối biến đối hình dong, nhiều và đa dạng như lá cây.

Đêm buông xuống núi Bitterroot. Những dặm cuối cùng là khó khăn nhất - chậm, gió, và xa xăm. Cuối cùng họ dùng xe vào khu vực đã dàn dựng, hai dặm cách đường cao tốc bang. Địa bàn trông giống hệt như Người Canh Gác đã vẽ. Mimi ngồi lại trong xe tải, một cái khăn trùm quanh khuôn mặt mang sẹo của cô, quét tần số radio bằng máy quét cảnh sát. Những người khác ngồi yên lặng làm việc. Tất cả nhiệm vụ đã được bàn đi bàn lại hàng chục lần. Họ di chuyển giống như một sinh vật duy nhất, vật các thùng nhiên liệu năm gallon vào vị trí và kết nối chúng với nhau bằng những cái bấc là khăn tắm và mền đã nhúng trong thuốc phóng. Rồi họ gắn vào các hộp Tupperware đụng máy hẹn giờ.

NGƯỜI CANH GÁC ĐI LÀM công việc được giao cho anh. Đêm nay là cơ hội duy nhất của anh làm trong một tình huống sẽ được thấy bởi hàng triệu người. Anh đi khỏi khu nhà nghỉ chính đã xây được một nửa của resort tương lai này, nơi những người khác đang triển khai thiết bị của họ. Băng qua đồng cỏ được cắt tỉa anh đến chỗ hai cái xe moóc, quá xa khỏi chỗ hành động để các vụ nổ có thể ảnh hưởng tới. Các bức vách của chúng là những tấm phông có sẵn của anh. Anh lấy hai hộp sơn phun từ trong túi áo khoác ra và bước tới bức vách sạch hơn của chiếc xe. Với những nét chữ mang tất cả sự trau chuốt mà bàn tay anh có thể tạo ra, anh viết:

KIỂM SOÁT GIẾT CHÓC

KẾT NỐI PHỤC HỒI

Anh bước lùi lại để kiểm định mầm mống của thứ duy nhất anh biết chắc chắn. Với một cái bút đánh dấu lớn. anh tô điểm các con chữ in hoa bằng cành lá, cho tới khi các con chữ trông như đang đâm chồi nảy lộc trở lại từ ngày tận thế. Chúng trông như các chữ tượng hình Ai Cập, hoặc những hình dong nhảy múa trong một cuốn sách cổ về động vật mang nghệ thuật thị giác. Dưới hai dòng này anh viết thêm hy vọng kéo theo đó:

VỀ NHÀ HAY LÀ CHẾT

Ở địa bàn gây nổ, mọi thứ diễn ra suôn sẻ. Nhưng khi vật các thùng vào vị trí, Adam và Doug thực hiện không nhịp nhàng. Nhiên liệu sánh vào gấu áo Adam và thấm xuống cái quần denim màu đen của anh. Ngửi thấy mùi hôi của hóa dầu, anh siết chặt hai nắm tay cho tới các găng tay ướt đẫm của anh nhỏ nước. Nắm tay anh đau rã vì nâng nhấc quá nhiều. Anh nhìn lên mái chớp của tòa nhà và nghĩ, Mình đang làm cái quái gì đây? Sự rõ ràng của mấy tuần gần đây, sự đột ngột tỉnh khỏi cơn mộng du, niềm tin chắc của anh rằng thế giới đã bị đánh cắp và khí quyển bị hủy hoại bởi những lợi ích ngắn hạn nhất trong số các lợi ích ngắn hạn, cảm nhận rằng anh phải làm tất cả những gì có thể để đấu tranh cho những sinh vật tuyệt diệu nhát trên thế giới: tất cả những thứ này bỏ rơi Adam, và anh bị bỏ lại trong sự điên cuồng chối bỏ bản chất khắc nghiệt bởi sự tồn tại của con người. Quyền sở hữu và quyền làm chủ: chẳng còn gì khác đáng tính đến. Trái Đất sẽ phát hành tiền tệ cho tới khi tất cả cây cối phát triển thành những hàng thẳng, ba người sở hữu cả bảy lục địa, và mọi sinh vật lớn đều được nhân giống để giết mổ.

BÊN HÔNG CỦA cái xe moóc còn lại, Người Canh Gác sơn các chữ bằng bảng chữ cái hoang dại và sống động. Câu thơ nổi lên và trải trên nền trắng trống trơn:

Vì bạn có năm cái cây trên Thiên đường không bao giờ thay đổi

dù hạ hay đông, lá chẳng rơi tàn.

Vì Ngài biết chúng sẽ chẳng bao giờ nếm mùi sự chết.

Anh lùi lại, cổ họng thắt lại, hơi ngạc nhiên với những gì tràn ra trong anh, lời cầu nguyện này anh rất cần trao gửi không phải để cho ai đó sẽ hiểu nó. Rồi: Bùm, và phía sau anh hất tới một làn sóng rung chuyển. Sức nóng thổi ra ngoài không khí, lâu trước thời điểm đáng ra có vụ nổ. Người Canh Gác quay sang thì thấy một quả bóng màu cam dâng lên như cảnh mặt trời lên cao nhanh, mô phỏng. Hai chân anh lao về phía trước, và anh chạy nhanh về phía ngọn lửa.

Một bóng dáng khác lướt qua tầm mắt anh. Douglas, dáng chạy tập tễnh của anh, một chân cứng đờ, một nhịp điệu cà nhắc. Họ tới chỗ đám cháy cùng lúc. Rồi, Douglas, hét-thì thầm, “Ôi trời không. Ôi trời không!” Anh quỳ xuống, kêu rên trước những gì đã xảy ra. Hai thân hình nằm trên mặt đất. Một trong hai bắt đầu nhúc nhích khi Nick lại gần, và không phải là thân hình mà Nick cần thấy nhúc nhích.

Adam nhấc vai lên khỏi mặt đất. Đầu anh lia nhìn khắp mọi huống. Một vệt máu chảy xuống gương mặt anh. “Ôi,” anh kêu. “Ôi!”

Douglas giữ chặt anh. Nick nhào xuống để nâng Olivia. Cô nằm ngửa, khuôn mặt hướng lên những vì sao. Hai mắt cô hé mở. Khắp xung quanh họ, không khí chuyển sang màu cam. “Livvy?” Giọng anh rùng rợn. Âm sắc líu nhíu đặc quánh của nó, tệ với cô hơn cả vụ nổ. “Em có nghe thấy anh không?”

Một bọt bóng hình thành trên môi cô. Rồi từ đó, “Khhg. “

Một cái gì đó thấm xuống từ bên mình cô, xuống hông cô. Ta trước của chiếc áo sơ mi đen của cô lấp lánh trong bóng tối. Anh nhấc nó lên và gào thét, vuốt nó xuống trở lại. Một tiếng khóc than lặng lẽ tuôn ra từ anh. Rồi anh trở lại là một con quái vật có năng lực. Người phụ nữ bị thương nhìn anh trong nỗi khiếp sợ. Anh bắt bản thân im lặng và giữ vẻ mặt bình thường. Thực hiện tất cả các động tác của mọi sự sơ cứu khả dĩ. Không khí bắt đầu chập chờn. Hai bóng người bò tới chỗ họ. Douglas và Adam. “Cô ấy… ?”

Có cái gì đó trong những từ ấy chạm vào Olivia. Cô cố để nâng đầu lên. Nick nhẹ nhàng đặt cô xuống. “Tôi còn,” cô nói. Hai mắt cô lại nhắm lại.

Bỏng tất cả. Douglas quay vòng quanh những vòng nhỏ, tay anh ép vào đầu. Những âm thanh cô đặc thoát ra khỏi anh. “Chết tiệt, chết tiệt, chết tiệt…”

“Chúng ta phải đưa cô ấy đi,” Adam nói.

Nick chặn phía trước anh ta. “Chúng ta không thể!”

“Chúng ta phải đi. Lửa.”

Vụ xô xát khó coi kết thúc trước khi kịp bắt đầu. Adam đỡ người phụ nữ từ dưới cánh tay cô rồi kéo cô trên nền đất đá sỏi.

Âm thanh rỉ qua cổ họng cô. Nick cúi xuống bên cạnh cô lần nữa, vô vọng. Anh sẽ thấy hình ảnh này trong hai mươi năm tiếp theo. Anh đứng lên, loạng choạng chạy đi, và nôn xuống đất.

Rồi Mimi ở đó, bên cạnh họ trong bóng tối. Cảm giác nhẹ nhõm lướt qua người Nick. Một người phụ nữ khác. Một người phụ nữ sẽ biết làm thế nào để cứu họ. Nhìn thoáng một cái, người kỹ sư đã hiểu tất cả. Cô đặt bộ chìa khóa xe tải vào tay Adam. “Đi. Trở lại thị trấn gần nhất mà chúng ta đã đi qua. Mười dặm. Gọi cảnh sát.”

“Không,” người phụ nữ nằm trên đất nói, khiến mọi người giật mình. “Đừng. Giữ…”

Adam chỉ vào ngọn lửa. “Tôi không quan tâm,” Mimi nói. “Đi. Cô ấy cần giúp đỡ.”

Adam đứng yên, cơ thể anh kháng cự. Giúp đỡ sẽ không giúp đỡ cô. Và nó sẽ giết chết tất cả chúng ta.

“Làm đi,” người phụ nữ nằm sõng soài lẩm bẩm. Lời nói đó khẽ tới mức ngay cả Nick cũng không thể nghe ra.

Adam nhìn chằm chằm bộ chìa khóa trong tay. Anh nghiêng người về trước rồi đi nhanh tới chỗ xe tải.

“Douglas,” Mimi cáu. “Thôi đi.” Người cựu chiến binh ngừng than khóc và đứng im. Rồi Mimi cúi xuống đất chăm sóc cho Olivia, mở cổ áo cho cô, đấu dịu cơn hoảng loạn da thịt. “Trợ giúp đang đến. Giữ yên.”

Những từ đó kích động người phụ nữ đang đổ máu. “Không. Làm đi. Tiếp tục.

Mimi suỵt cô im lặng, vuốt ve một bên mặt cô. Nick len lén lùi ra sau. Anh quan sát từ một khoảng xa. Mọi thứ đang diễn ra, không thể sửa chữa, mãi mãi, thực sự. Nhưng ở một hành tinh khác, với những con người khác.

Nhiều thứ thấm ra từ thắt lưng của Olivia. Môi mấp máy. Mimi ghé vào, tai cô kề miệng Olivia. “Một chút nước nhé?”

Mimi quay người nhìn lên chỗ Nick. “Nước!” Anh đờ đẫn, bất lực.”

“Tôi sẽ đi kiếm một chút,” Douglas hét lên. Anh nhìn thấy một chỗ trũng trên đồi, qua ánh lửa. “Đó là một thung lũng. Chắc hẳn phải có suối nước phía dưới đó.”

Hai người đàn ông tìm thứ gì đó để lấy nước. Mọi thùng mà họ có đều dính hóa chất. Có một cái túi zip ni lông trong túi Nick. Anh đổ mấy hạt hướng dương trong đó ra rồi đưa cho Douglas, người đang chuẩn bị đi vào khu rừng phía sau công trường.

Không khó để tìm thấy dòng suối. Nhưng một điều đáng ghét đã biết được siết lấy Douglas khi anh nhúng cái túi xuống. Ta không thể uống nước ở bên ngoài. Không có con sông, hồ, suối, hay con lạch nào ở đất nước này đủ an toàn để uống. Anh dí xuống và lấy đầy nước vào túi. Người phụ nữ cần một ngụm nhỏ nước trong, lạnh vào miệng cô, dù có độc hay không. Douglas dán miệng túi lại rồi chạy ngược trở lên sườn đồi. Anh nhỏ một chút nước vào miệng cô.

“Cảm ơn.” Đôi mắt cô rực lên với lòng biết ơn. “Tốt quá.” Cô uống một chút nữa. Rồi mắt cô nhắm lại.

Douglas giữ cái túi zip, bất lực. Mimi nhúng ngón tay vào nước và lau nhẹ khuôn mặt vằn vện của Olivia. Cô nâng đầu lên, vuốt mái tóc màu hạt dẻ. Rồi đôi mắt xanh lại mở ra. Lúc này chúng đầy vẻ cảnh báo, nhận thức, khóa vào đôi mắt của người chăm sóc chúng. Khuôn mặt Olivia nhăn nhúm trong khiếp sợ, giống như một con ngựa bị phục kích. Rõ ràng như khi cô nói những từ đó ra, cô nhét ý nghĩ đó vào đầu của Mimi: Có cái gì đó không đúng. Tôi đã được cho thấy điều sẽ diễn ra, và nó không phải là thứ này.

Mimi giữ ánh mắt của cô, hấp thụ nỗi đau mà cô có thể. An ủi là không thể. Hai đôi mắt khóa vào nhau, và không ai có thể rời đi. Những ý nghĩ của người phụ nữ bị lời ruột rót vào Mimi thông qua một kênh đang ngày càng mở rộng, những ý nghĩ quá lớn và chậm để hiểu.

Nick đứng yên, mắt nhắm lại. Douglas ném cái túi xuống đất và loạng choạng bỏ đi. Bầu trời bừng lên, sáng rực với lời khước từ. Hai vụ nổ mới xé tan không khí. Olivia hét lên, tìm kiếm ánh mắt của Mimi lần nữa. Ánh nhìn chằm chằm của cô trở nên hoang dại, bám chặt, như thể nếu nhìn đi chỗ khác, dù chỉ trong một giây, sẽ tồi tệ hơn cái chết tồi tệ nhất.

Người đàn ông thứ ba xuất hiện bên mép địa ngục. Hình bóng của Adam, sớm hơn rất nhiều so với dự kiến, khiến Nick hoạt động trở lại. “Cậu đã tìm được người giúp chưa?”

Adam nhìn xuống hình ảnh Đức Mẹ ôm thân xác chúa hài đồng. Một phần nào đó trong anh dường như ngạc nhiên khi thấy hoạt cảnh vẫn đang diễn ra.

“Người giúp có tới không?” Nick hét lên.

Adam không nói gì. Với tất cả ý chí của mình, anh lùi lại khỏi cơn điên.

“Đồ hèn… đưa chìa khóa cho tôi. Đưa chìa khóa cho tôi.”

Người nghệ sĩ chồm lên nhà tâm lý học, vật lộn. Chỉ khi tên anh thoát ra từ miệng Olivia, anh mới thôi đánh đấm. Anh nhanh như chớp lao tới chỗ bên cạnh cô. Lúc này cô đang thở mạnh. Khuôn mặt cô lại nhăn túm lại. Cơn sốc đã khiến cô mê man đang tản dần, để lại cô quằn quại và hổn hển.

“Nick?” Cơn hổn hển dừng lại. Hai mắt cô mở to. Cô phải cố để thôi không nhìn qua vai anh vào cảnh khủng khiếp mà cô thấy.

“Anh đây. Anh đây.”

“Nick?” Lúc này là một tiếng thét. Cô cố gắng ngồi lên, và những thứ mềm mềm đổ ra dưới áo cô. “Nick!”

“ơi. Anh đây. Ngay đây. Anh ở bên em.”

Cơn hổn hển lại dâng lên. Sự phản kháng nhịp nhàng nhỏ ra từ miệng cô. Hưm. Hưm. Hưm. Cô siết chặt các ngón tay. Cô rên rỉ, và tiếng kêu đó loang dần ra cho tới khi chẳng có âm thanh nào hơn tiếng lửa cháy khắp cả ba phía quanh họ.

Mắt cô nhắm nghiền. Rồi chúng mở ra, hoang dại. Cô nhìn chằm chằm, không chắc liệu mình đang nhìn gì.

“Nó có thể kéo dài bao lâu?”

“Không lâu,” anh hứa.

Cô cào cào anh, một con thú rơi từ trên một đỉnh cao khủng khiếp. Rồi cô lại lắng lại. “Nhưng chúng ta không thể chứ? Thứ này sẽ không bao giờ kết thúc - thứ mà chúng ta có. Phải không?”

Anh chờ quá lâu, và thời gian trả lời anh. Cô vật lộn thêm mẩy giây nữa để nghe câu trả lời, trước khi lịm vào những gì xảy ra tiếp theo.

❀ ❀ ❀

[1] Nguyên văn: Blessed be the time that apple taken was - ND.

[2] Harry Houdini (1874-1926): ảo thuật gia, nổi tiếng với những màn ảo thuật trốn thoát - ND.

[3] Methuselah: là tên của một cây giống gỗ đỏ ở White Mountains, California, được cho là cây lâu đời nhất còn tồn tại trên trái đất, mọc vào năm 2833 TrCN - ND.

[4] Ent: Một tộc người cây trong truyện của J. R. Tolkien - ND.

[5] Board foot: đơn vị đo kích thước gỗ, 1 board foot rộng 1 foot vuông, dày 1 inch - ND.

[6] [Tiếng Đức]: Một điệp khúc/cụm từ/cách nói phổ biến (khi nói về cách chơi một bản nhạc) với tiết tấu chậm rãi, bay bổng và đầy cảm xúc.

[7] Trong Kinh thánh, ark là con thuyền Noah đã đóng để cứu gia đình mình trong Đại hồng thủy - ND.

[8] Federale là một từ lóng chỉ Federal police - cảnh sát liên bang - ND.

Hà Uy Linh dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.