CÁI NGÀY VÀO NĂM 1948 khi Ma Sih Hsuin nhận tấm vé hạng ba để bay tới San Francisco, cha anh bắt đầu nói chuyện với anh bằng tiếng Anh. Luyện tập bắt buộc, vì lợi ích của anh. Bài diễn thuyết kiểu thực dân Anh quyền uy của cha anh gây bối rối hơn những xấp xỉ hàm trong nghề kỹ sư điện của Sih Hsuin. “Con trai. Nghe ta đây. Chúng ta đã ở đường cùng.”
Họ ngồi trong văn phòng trên gác của một tòa nhà hỗn hợp ở Thượng Hải, một nửa là công ty thương mại quốc tế, một nửa là khu nhà ở gia đình. Giao thương trên phố Nam Kinh rì rào lên tới tận ô cửa sổ, chẳng thấy đường cùng đâu cả. Tuy nhiên, Ma Sih Hsuin không biết gì về chính trị, và tầm mắt của anh là tầm mắt của một người giải quyết quá nhiều bài toán dưới ánh nến. Cha anh - một học giả nghệ thuật, bậc thầy thư pháp, gia trưởng của một gia đình có vợ chính và hai vợ lẽ - không thể bỏ qua ẩn dụ này. Ẩn dụ làm Sih Hsuin xấu hổ.
“Gia đình này đã đi xa được đến thế. Từ Ba Tư tới Athens của Trung Hoa, có thể ví như vậy.”
Sih Hsuin gật đầu, dù anh sẽ chẳng bao giờ cho là như thế.
“Người Hồi chúng ta đã nhận tất cả mọi thứ mà đất nước này quẳng cho chúng ta, rồi bọc gói để bán lại. Tòa nhà này, biệt thự của chúng ta ở Hàng Châu… Nghĩ tới những thứ chúng ta đã nắm giữ lâu dài mà xem. Nhà Ma kiên cường!”
Ma Shouying đăm đăm ra bầu trời tháng Tám, nhìn sâu vào tất cả những tai ương mà Công ty Thương mại Ma đã chống chọi qua. Cuộc khai thác thuộc địa. Khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc. Bão lớn phá hủy các đồn điền trồng bông của gia đình. Cách mạng 1911 và thảm sát 1927. Khuôn mặt ông hướng về góc tối của căn phòng. Ma quỷ ở khắp mọi nơi, những nạn nhân những bạo hành mà ngay cả tay trùm tư bản này, người đã thuê cả một người hành hương đến Mecca cho ông, cũng không dám nói to ra. Ông xòe một bàn tay trên mặt bàn làm việc đầy giấy tờ. “Ngay cả người Nhật cũng không phá hủy nổi chúng ta.”
LỊCH SỬ MANG CHO Sih Hsuin bao biến động không ngừng, những thăng trầm bất định. Anh sẽ đến nước Mỹ trong bốn ngày nữa, là một trong mươi sinh viên Trung Quốc trong suốt cả năm 1948 được cấp visa. Suốt mấy tuần nay anh đã nghiên cứu bản đồ, xem xét các thư chấp nhận, luyện tập tất cả những cái tên khó hiểu: USS General Meigs. Greyhound Supercoach. Carnegie Institute of Technology. Trong một năm rưỡi, anh đã tham dự các buổi chiếu phim có Gable Clark và Astaire Fred, luyện tập ngôn ngữ mới.
Anh cất lời bằng tiếng Anh, vì lòng tự trọng.
“Nếu cha muốn, con sẽ ở lại đây.”
“Muốn con ở lại? Con chẳng hiểu cha đang nói gì cả.”
Cái nhìn trừng trừng của cha anh thật giống với một bài thơ:
Tại sao con cứ băn khoăn mãi
giữa ngã ba đường này
ngẩn ngơ dụi mắt?
Con không hiểu điều cha nói,
phải không con trai?
Shouying đứng dậy khỏi ghế và đi tới bên cửa sổ. Ông nhìn xuống phố Nam Kinh, một nơi sôi động hơn bao giờ hết để tạo ra lợi nhuận từ sự náo nhiệt ấy, tương lai. “Con là cứu rỗi của gia đình này. Chính quyền sẽ tới đây trong vòng sáu tháng. Khi đó tất cả chúng ta… Con trai, đối diện thực tế đi. Con sinh ra không phải để làm kinh doanh. Con nên ở trường điện mãi mãi. Nhưng còn các anh chị em con thì sao? Chú dì cô bác họ hàng của con? Những thương nhân người Hồi với rất nhiều tiền. Chúng ta không thể tồn tại quá ba tuần, một khi cái hồi kết đó tới.”
“Nhưng người Mỹ ấy mà… Họ hứa.”
Ma Shouying bước quay trở lại bàn và đưa ngón tay nâng cằm cậu con trai. “Con trai ta. Con trai ngây thơ của ta với lũ dế cưng, bồ câu nuôi, và đài sóng ngắn. Gold Mountain[1] rồi sẽ nuốt tươi con mất thôi.”
Ông buông mặt cậu con trai ra rồi dẫn đường đi xuống sảnh tối căn buồng cất giữ sổ sách, ở đây ông mở khóa cửa lưới và đẩy một cái tủ đựng hồ sơ qua một bên để lộ một két áp tường mà Sih Hsuin không thể ngờ nó tồn tại. Shouyng rút ra ba hộp gỗ bọc trong vải lụa. Ngay cả Sih Hsuin cũng có thể nói ngay chúng chứa gì: đó là lợi nhuận của các thế hệ gia tộc họ Ma, từ Con đường Tơ lụa tới Bến Thượng Hải, chuyển thành dạng động sản.
Ma Shouyng đảo qua hàng vốc những món đồ lấp lánh, ngắm nghía từng thứ trong một thoáng, rồi thả chúng trở lại khay. Cuối cùng ông cũng thấy thứ đang tìm: là ba chiếc nhẫn, cỡ quả trứng chim nhỏ. Ba khối ngọc mà ông đưa lên ánh sáng.
Sih Hsuin thở gấp. “Nhìn màu sắc này!” Màu của tham lam, tị hiềm, tươi mới, phát triển, ngây thơ. Xanh lục, xanh lục, xanh lục, xanh lục, và xanh lục. Từ cái túi đeo quanh cổ, Shouying lấy ra một cái kính lúp soi trang sức. Ông đặt mấy chiếc nhẫn ngọc dưới ánh sáng rồi ngắm nghía chúng với ánh nhìn mà rồi sẽ là cái nhìn cuối cùng. Ông đưa chiếc nhẫn đầu tiên cho Sih Hsuin, lúc này đang nhìn nó chằm chằm như nhìn một viên đá trên sao Hỏa. Nó là một khối ngọc chạm trổ sâu nhiều lớp thân cây với nhiều lá. “Con sống giữa ba cái cây. Một phía sau con. Cây Lote - cây đời của tổ tiên người Ba Tư của con. Cái cây nằm ở ngưỡng cửa thiên đường thứ bảy, không ai có thể vượt qua. À, nhưng mà kỹ sư thì chẳng có ích lợi gì cho quá khứ, phải không?”
Những lời này khiến Sih Hsuin bối rối. Anh không thể hiểu được câu chế nhạo của cha. Anh cố đưa lại cái nhẫn đầu tiên, nhưng cha anh đang bận với cái thứ hai.
“Một cây khác nằm ở phía trước con - Phù Tang. Một cây dâu tằm thần diệu ở xa về phía Đông, nơi người ta giữ tiên dược của sinh mạng.” Ông quờ cái kính lúp rồi nhìn lên. “Giờ con sẽ đến chỗ Phù Tang.”
Ông đưa viên ngọc. Nó tỉ mỉ ngoài tưởng tượng. Một con chim bay trên vùng tán lá tột cùng rối rắm. Từ trên những cành nhánh đan cài treo một dãy kén tằm. Người chạm trổ hẳn đã phải dùng một cây kim siêu nhỏ có đầu bằng kim cương.
Shouying dí cái mắt phóng đại xuống sát chiếc nhẫn cuối cùng. “Cây thứ ba ở xung quanh con: Hiện tại. Giống như bản thân Hiện tại, nó sẽ theo con bất cứ nơi nào con đi.”
Ông đưa cái nhẫn thứ ba cho cậu con trai, và người con hỏi, “Cây đó như thế nào ạ?”
Cha anh mở một cái hộp khác. Nắp gỗ sơn mài đen thẫm mở ra trên hai bộ bản lề hé lộ một cuộn tranh. Ông mở dây buộc cuộn đó, sợi dây đã không mở từ rất lâu. Cái cuộn bung ra với một loạt hình dung, những người đàn ông già nua mà da dẻ còn chảy thõng nhăn nheo hơn cả những nếp gấp trên áo chùng của họ. Một người đứng dựa vào cây gậy ba toong ở bìa rừng. Một người nhìn chăm chú qua ô cửa sổ nhỏ trong một bức tường. Một người khác ngồi dưới một cây thông ngả cong. Cha của Sih Hsuin phẩy phẩy tay phía trên nó. “Như thế này.”
“Những người đàn ông này là ai ạ? Họ làm gì?”
Cha anh xem xét dòng chữ, quá cũ nên Sih Hsuin không đọc được. “Luóhàn. Các vị la hán. Các nhà thông thái đã trải qua tứ thánh quả và giờ đang sống trong niềm vui trí huệ thuần khiết.”
Sih Hsuin không dám chạm vào thứ lấp lánh đó. Gia đình anh giàu có, phải - giàu tới nỗi nhiều người trong số họ không làm gì nữa. Nhưng giàu tới mức sở hữu được thứ này ư? Việc cha anh giữ bí mật những báu vật này khiến anh cảm thấy tức giận, mà vốn dĩ anh là người không biết tức giận. “Sao con không biết những thứ này”
“Hiện tại con đang biết đây.”
“Cha muốn con làm gì?”
“Nghe này, ngữ pháp của con thật khủng khiếp. Các thầy của con trong ngành điện và từ có lẽ giỏi hơn các thầy dạy tiếng Anh nhỉ?”
“Cái này bao lâu? Một nghìn năm? Hơn nữa?”
Một bàn tay khum lại đấu dịu chàng thanh niên. “Con trai: nghe này. Con có thể cất giữ một gia sản của gia đình bằng rất nhiều cách. Đây là cách của cha. Cha đã nghĩ chúng ta sẽ tập hợp những thứ như thế này và bảo vệ chúng. Khi thế giới trở nên hỗn loạn, chúng ta sẽ tìm cho chúng một ngôi nhà - một viện bảo tàng ở đâu đó, nơi bất cứ vị khách nào cũng có thể liên hệ tên của chúng ta với…” Ông hất đầu về phía bức tranh các Luóhàn đang dạo chơi trên ngưỡng cửa của Niết bàn. “Làm điều con muốn với chúng. Họ là của con. Biết đâu con sẽ khám phá ra họ muốn gì từ con. Điều quan trọng là giữ khỏi tay chính quyền. Bọn chúng sẽ lấy họ ra chùi đít.”
“Con sẽ mang những thứ này đi Mỹ ạ?”
Cha anh cuộn bức tranh lại, hết sức cẩn trọng buộc sợi dây sờn cũ quanh khối trụ đó. “Một người Hồi giáo từ đất đai của Khổng giáo, đến thành trì Thiên Chúa giáo Pittsburgh với một cuộn tranh Phật giáo vô giá. Chúng ta đang bỏ lỡ ai?”
Ông đặt cuộn tranh lại vào trong hộp, rồi trao nó cho con trai. Để đỡ lấy cái hộp, Sih Hsuin làm rơi một trong ba cái nhẫn. Cha anh thở dài rồi cúi người xuống nhặt món báu vật lên từ sàn nhà bụi bặm. Ông lấy hai cái nhẫn còn lại từ tay Sih Hsuin.
“Mấy cái này chúng ta có thể nướng trong bánh trung thu. Cuộn tranh thì… Chúng ta phải nghĩ thêm.”
Họ đặt các khay trang sức vào két rồi đẩy tủ hồ sơ lại trước cái két. Rồi họ khóa buồng sổ sách lại, đóng văn phòng, rồi đi xuống lầu. Họ dừng lại bên ngoài phố Nam Kinh, huyên náo người buôn kẻ bán, bất chấp cái kết tăm tối của thế gian.
“Con mang chúng trở lại,” Sih Hsuin nói, “khi học xong, và mọi thứ lại an toàn ở đây.”
Cha anh nhìn chăm chăm xuống phố và lắc đầu. Bằng tiếng Trung, như thể độc thoại, ông nói, “Ta không thể trở lại với một thứ đã mất.”
VỚI HAI CÁI RƯƠNG Gỗ và một cái vali, Ma Sih Hsuin đón tàu từ Thượng Hải đi Hồng Kông. Tại đây anh được biết rằng giấy khám sức khỏe của anh, theo yêu cầu của lãnh sứ quán Mỹ tại Thượng Hải, không đủ tiêu chuẩn với viên sĩ quan y tế của tàu, người mà Sih Hsuin phải trả năm mươi đô để được khám lại.
Tàu chiến General Meigs vừa được cho nghỉ nhiệm vụ và chuyển sang công ty vận tải American President Lines để sử dụng như một tàu chở khách trên Thái Bình Dương. Nó là một thế giới thu nhỏ với sức chứa một nghìn năm trăm người. Sih Hsuin chen chúc giữa một trong các khoang của người châu Á, ba tầng dưới ánh sáng trời. Người châu Âu ở phía trên, nơi có ánh nắng, với những chiếc ghế dài và những người phục vụ mặc đồng phục phục vụ đồ uống lạnh. Sih Hsuin phải tắm với hàng chục người khác, mức nước bằng gầu, trần truồng. Thức ăn kinh khủng và khó nuốt - xúc xích sũng nước, khoai tây nhão, thịt bò xay muối. Sih Hsuin không bận tâm. Anh đang đi tới Mỹ, tới Viện Carnegie vĩ đại, để lấy bằng sau đại học ngành Kỹ thuật điện. Thế thì ngay cả những khu tồi tàn dành cho người Á này cũng là một xa xi - không có bom rơi, không cưỡng hiếp và tra tấn. Anh ngồi trong ở giường tầng của mình hàng giờ, mút các hột xoài, cảm thấy mình như thượng đế.
Tàu hạ neo ở Manila, rồi Guam, rồi Hawaii. Sau hai mươi mốt ngày, họ tới San Francisco, cảng của lối đi đến miền đất may mắn của cây Phù Tang. Sih Hsuin đứng trong hàng Nhập cảnh với hai cái rương và một cái vali mỏng, từng cái đều được khắc tên anh trong tiếng Anh. Giờ anh là Sih Hsuin Ma - con người cũ của anh lộn từ trong ra ngoài, giống như một cái áo khoác có hai mặt. Những phù hiệu nhiều màu sắc phủ trên cái vali - những miếng dán từ con tàu, một miếng thêu màu hồng tên trường Đại học Nam Kinh, một miếng màu cam từ Viện Carnegie. Anh cảm thấy thoải mái, là người Mỹ, tràn ngập tình yêu mến với mọi người từ mọi quốc gia ngoại trừ người Nhật.
Viên sĩ quan hải quan là một phụ nữ. Bà nhìn qua giấy tờ của anh. “Ma là tên thánh Ki-tô giáo của anh hay là họ?”
“Không phải tên thánh Ki-tô giáo. Chỉ là tên Hồi giáo. Người Hồi.”
“Đó là một dạng tôn giáo à?”
Anh mỉm cười và gật đầu lia lịa. Bà nheo mắt lại. Trong một phút hoảng sợ, anh nghĩ mình đã bị tóm. Anh đã nói dối về ngày sinh, khi ghi là ngày Bảy tháng Mười một, năm 1925. Thực ra anh sinh vào ngày thứ bảy của tháng thứ Mười một - theo lịch âm. Cuộc hội thoại ngoài dự đoán của anh.
Bà hỏi anh về thời gian, mục đích, và địa điểm cư trú, tất cả đã được ghi chi tiết trong giấy tờ của anh. Toàn bộ cuộc nói chuyện, Hsuin khẳng định, là một bài kiểm tra thô lỗ khả năng ghi nhớ những gì anh đã viết. Bà chỉ hai cái rương của anh. “Anh có thể mở nó ra được không? Không phải - cái kia cơ.”
Bà xem xét bên trong hộp đựng thức ăn: ba cái bánh trung thu bao quanh là những quả trứng ngàn năm tuổi. Bà nôn khan như thể mộ tẩm vừa mở ra. “Chúa ơi. Đóng lại.”
Bà kiểm tra cẩn thận quần áo và những cuốn sách ngành điện, dừng lại xét xét kỹ từng đôi giày anh chuẩn bị cho mình. Bà bất ngờ khi phát hiện ra hộp gỗ đựng cuộn tranh, thứ mà Sih Hsuin và cha anh đã quyết định giấu kín dạng mỏ. “Cái gì đây?”
“Quà lưu niệm. Tranh Trung Quốc.”
“Hãy mở ra đi.”
Sih Hsuin cố tĩnh trí. Anh nghĩ về những con bồ câu nuôi, về hằng số Planck, bất cứ thứ gì ngoài kiệt tác đáng ngờ này, thứ mà, chí ít, sẽ lấy đi tiền thuế hải quan lớn hơn tiền tiêu của anh trong bốn năm tới, hay, tồi tệ nhất, sẽ khiến anh bị bỏ từ vì tội buôn lậu.
Khuôn mặt của người sĩ quan nhăn lại khi nhìn thấy các la hán. “Họ là ai?”
“Các vị thánh.”
“Họ làm sao thế?”
“Hạnh phúc. Họ thấy Điều Thật.”
“Đó là gì vậy?”
Sih Hsuin không biết gì về Phật giáo Trung Hoa. Anh khổ sở nghĩ cách diễn đạt bằng tiếng Anh. Giờ anh cần phải giải thích Thánh quả với nữ sĩ quan người Mỹ này.
“Điều Thật là: con người, rất nhỏ. Cuộc đời thì, rất rất to.”
Viên sĩ quan gật đầu. “Họ đã phát hiện ra điều đó sao?”
Sih Hsuin gật đầu.
“Và điều đó khiến họ hạnh phúc?” Bà lắc đầu rồi vẫy tay cho anh qua. “Chúc nhiều may mắn ở Pittsburgh.”
SIH HSUIN TRỞ THÀNH WINSTON MA: như một sửa chữa kỹ thuật đơn giản. Trong truyền thuyết, con người biến thành tất cả mọi thứ. Chim chóc, muông thú, cây cối, hoa lá, sông suối. Sao một người Mỹ không có tên Winston được chứ? Và Phù Tang - vùng đất phía Đông trong truyền thuyết của cha anh - thành ra, nhiều năm sau thời sống ở Pittsburgh, là Wheaton, Illinois. Winston Ma và người vợ mới cưới trồng một cây dâu tằm đáng kể trong sân sau trống trải nhà họ. Dâu là loài mà mỗi cây đều mang cả hai giống, có trước cả sự phân chia âm và dương, Cây Tái sinh, cây trung tâm của vũ trụ, loài cây thiêng đặt nền móng cho Đạo giáo. Đó là cây làm tơ lụa mà từ đó gia sản nhà Ma được tạo nên, một cây để vinh danh cha của anh, người sẽ không bao giờ được phép nhìn thấy nó.
Anh đứng gần cái cây, vòng đất đen quanh nó giống như một lời hứa hẹn dưới chân anh. Anh sẽ không quẹt bàn tay đầy bùn của mình dù là lên bộ đồ lao động của anh. Vợ anh Charlotte, hậu duệ của một gia đình trồng trọt đồn điền ở miền Nam đã suy vong, vốn từng gửi các nhà truyền giáo đến Trung Hoa, nói với anh, “Người Trung Quốc có một câu này: Khi nào là thời điểm tốt nhất để trồng một cái cây? Hai mươi năm trước.”
Người kỹ sư người Trung Quốc mỉm cười. “Được đấy.”
“Thế thời điểm tốt nhất tiếp theo là khi nào? Hiện tại.”
“A! Hay!” Nụ cười nở ra thực sự. Cho tới hôm nay, anh chưa từng trồng cái gì. Nhưng Hiện tại, thời điểm tốt nhất tiếp theo, rất dài, và viết lại mọi thứ.
VÔ SỐ HIỆN TẠI TRÔI QUA. Trong một lần như thế nữa, ba cô con gái nhỏ ăn ngũ cốc ngô dưới cây ăn sáng của chúng. Lúc này là mùa hè. Cây dâu đung đưa những chùm quả lộn xộn của chúng. Mimi, con cả, lên chín tuổi, ngồi giữa những vệt nước quả dâu cùng với chị em cô, quần áo dấp dính màu đỏ, than tiếc cho số phận gia tộc của họ. “Là sai lầm của ông Mao.” Một buổi sáng Chủ nhật, giữa mùa hè, năm 1967, hình ảnh con Verdi đập rầm rầm căn phòng ngủ khóa trái của bố mẹ Mimi, như bao nhiêu Chủ nhật khác trong tuổi thơ của nó. “Mao đó… Chúng ta đã là triệu phú nếu không phải vì ông ta.”
Amelia, đứa bé nhất, ngừng quấy ngũ cốc thành bột sệt. “Mao là ai?”
“Là kẻ đã lấy tất cả những gì ông sở hữu.”
“Ai ăn trộm đồ của ông à?”
“Không phải ông Tarleton. Ông Ma.”
“Ông Ma là ai?”
“Ông nội người Trung Quốc,” đứa thứ hai là Carmen trả lời.
“Em chưa bao giờ thấy ông.”
“Không có ai từng thấy ông. Cả mẹ cũng chưa.”
“Bố cũng chưa từng thấy ông hả?”
“Ông đang ở trại cải tạo lao động. Ở đó người ta nhốt người giàu.”
Carmen nói, “Sao bố không bao giờ nói tiếng Trung nhỉ? Thật tò mò.” Một trong những điều bí ẩn mà bố chúng rất hào phóng kể.
“Bố đã lấy hết những chiếc thẻ poker của em, lúc em thua bài bố.” Amelia rót sữa từ bát ra để nuôi cái cây.
“Đừng nói nữa,” Mimi ra lệnh. “Lau cằm đi. Đừng làm thế. Em sẽ đầu độc cái cây đấy.”
“Thế bố làm cái gì?”
“Kỹ sư. Đồ ngốc.”
“Cái đó thì em biết. Bố lái tàu hỏa. Tút, tút! Bố lúc nào cũng muốn chọc em cười.”
Mimi không chịu nổi sự ngốc nghếch. “Em biết bố làm gì rồi đấy.” Bố chúng đang sáng chế ra một cái điện thoại không to hơn cái cặp, chạy bằng pin xe hơi và có thể mang đi bất cứ đâu. Cả nhà giúp kiểm nghiệm nó. Họ phải đi vào ga-ra và ngồi trong cái Chevy - bốt điện thoại, là cách Wiston Ma gọi - mỗi khi họ thực hiện một cuộc gọi đường dài.
“Chị không nghĩ các phòng thí nghiệm rất gớm ghiếc à?” Carmen hỏi. “Mình phải nhập vào đó, như thể nó là một nhà tù lớn?”
Mimi ngồi im lặng lắng nghe. Verdi đang cào vào cửa sổ phòng bố mẹ nó ở trên lầu. Ba đứa được phép ăn dưới cây ăn sáng này, nhưng chỉ vào sáng Chủ nhật. Vào sáng Chủ nhật, chúng có thể đi tới Chicago cũng chẳng ai biết.
Carmen nhìn theo ánh mắt của Mimi. “Chị nghĩ bố mẹ làm gì trong đó, mọi buổi sáng?”
Mimi nhún vai. “Em ngắt dòng suy nghĩ của chị đấy à? Chị ghét khi em làm thế!”
“Họ có chạm vào nhau không nhỉ, trần truồng ấy mà?”
“Đừng thô thiển như thế.” Mimi đặt cái bát xuống. Nó cần sự sáng rõ và một nơi để suy nghĩ, và điều đó có nghĩa là độ cao. Nó trèo lên một chạc thấp của cây dâu, tim đập thình thịch. Vườn tơ tằm của ta, bố nó thường vẫn nói. Chỉ có điều không có kén tằm.
Carmen hét lên, “Đừng có trèo. Không có ai trên cây cả. Em sẽ mách đấy!”
“Chị sẽ đập bẹp em như đập con bọ.”
Câu này làm Amelia bật cười. Mimi dừng lại ở cái chạc đó. Quả dâu lủng lẳng quanh nó. Nó ăn một quả. Nó có vị ngọt, giống nho khô, nhưng con bé phát ngán dâu rồi, nó đã ăn quá nhiều trong suốt tuổi thơ đã qua. Cành cây dích dắc. Điều này khiến con bé băn khoăn, có quá nhiều hình dạng khác nhau của lá cây. Hình tim, hình găng tay, cả hình bàn tay dỏ hơi của hướng đạo sinh nữa. Một số có lông ở phía dưới, điều này khiến con bé thấy rùng mình. Sao một cái cây lại cần có lông chứ? Tất cả các lá đều có khía, với ba mạch chính, giống như ba chị em chúng. Con bé với lên hái một lá, biết trước điều khủng khiếp sẽ xảy ra theo. Máu cây dày đặc sánh rỉ ra từ vết thương. Đây, con bé nghĩ, hẳn là thứ mà lũ sâu bằng cách nào đó đã biến thành tơ. Amelia bắt đầu khóc.
“Dừng lại đi! Chị đang làm nó đau đấy. Em có thể nghe thấy tiếng kêu!”
Carmen nhìn lên ô cửa sổ mà Mimi đang cố với tới. “Bố có theo Ki-tô giáo thật không? Khi đi nhà thờ với chúng ta, em còn không thấy bố đọc các thứ về Chúa.”
Bố chúng, Mimi biết, là một cái gì khác, xa xôi. Bố là một người đàn ông Trung Quốc Hồi giáo nhỏ nhắn, dễ mến, hay mỉm cười, ấm áp, yêu toán học, yêu xe hơi Mỹ, điện tử, và cắm trại. Một người hoạch định dài hạn thường cất giữ những thứ được giảm giá trong tầng hầm, đêm nào cũng làm việc muộn, ngủ vùi trên cái ghế dựa cho đến bản tin mười giờ sáng. Mọi người đều yêu mến bố, đặc biệt là lũ trẻ. Nhưng bố không bao giờ nói tiếng Trung, ngay cả khi đi Chinatown. Thỉnh thoảng bố cũng nói đôi điều về cuộc sống trước khi đến Mỹ, sau khi ăn kem caramel hoặc giữa một đêm lạnh quanh đống lửa trại trong công viên quốc gia. Chuyện bố đã nuôi dế và bồ câu ở Thượng Hải. Chuyện bố nạo vỏ quả đào rồi bỏ lớp lông dưới áo một người hầu làm cô nối mẩn. Đừng có cười. Bố vẫn cảm thấy thật tệ, cả nghìn năm sau vẫn thế.
Nhưng Mimi không biết gì nhiều về bố cho tới tận hôm qua, một ngày thứ Bảy tồi tệ, khi con bé khóc mếu máo từ sân chơi trở về nhà.
“Có chuyện gì thế? Con làm sao nào?”
Con bé hùng hổ đứng trước bố. “Tất cả người Trung Quốc đều ăn thịt chuột và yêu Mao à?”
Cuối cùng ông cũng kể cho nó nghe, câu chuyện về một thế giới khác. Hầu hết quá khó hiểu với Mimi. Nhưng khi kể, bố nó trở thành nhân vật trong một bộ phim đen trắng rừng rợn của đêm muộn đầy rẫy những góc tối, âm nhạc ma quái, và hàng ngàn diễn viên. Bố kể cho nó về các Học giả Vong quốc, trở thành người Mỹ thông qua Đạo luật Người Di tản. Ông kể về những người Trung Quốc khác đã đi cùng mình, trong đó có một người mà sau này đã giành được giải thưởng cao nhất trong khoa học. Điều này khiến Mimi kinh ngạc: Mỹ và Trung Quốc đang chiến đấu với nhau trong não của bố nó.
“Chính quyền Trung Quốc nợ bố rất nhiều tiền. Họ trả lại cho bố, thì bố đưa cả nhà mình đi ăn một bữa tối thật ngon. Con chuột ngon nhất ta từng ăn!”
Con bé lại khóc òa lên, cho tới khi ông cam đoan với nó là ông chưa từng nhìn thấy con chuột nào tới gần Murray Hill, New Jersey cả. Ông thủ thỉ dỗ dành. “Người Trung Quốc ăn nhiều thứ lạ lắm. Nhưng chuột thì ít ăn.”
Ông đã đưa nó vào trong phòng làm việc của ông. Ở đó, ông cho nó xem những thứ mà tận một ngày sau, nó vẫn không hiểu nổi. Ông mở khóa cái tủ đựng hồ sơ rồi lấy ra một hộp gỗ. Bên trong đó có ba cái nhẫn màu xanh. “Mao, ông ta không bao giờ biết về thứ này. Ba chiếc nhẫn kỳ diệu. Ba cái cây - quá khứ, hiện tại, tương lai. May mắn là bố có ba cô con gái kỳ diệu.” Ông gõ gõ ngón tay vào thái dương. “Bố của con ấy mà, luôn suy nghĩ.”
Ông lấy cái nhẫn mà ông gọi là quá khứ và cố đeo vào ngón tay của Mimi. Những cành lá màu xanh quấn quýt đó đã mê hoặc nó. Đường nét chạm khắc rất sâu - cành lá đan cài cành lá. Không thể nào người ta có thể chạm khắc một thứ gì nhỏ đến vậy.
“Tất cả là ngọc đấy.”
Con bé giật bàn tay lại làm chiếc nhẫn trượt xuống sàn. Bố nó cúi xuống nhặt chiếc nhẫn bỏ lại vào trong hộp. “To quá. Chúng ta đợi sau này nhé.” Cái hộp trở lại vào tủ hồ sơ, và tủ hồ sơ được bố nó khóa lại. Rồi ông lục tủ quần áo và lấy ra một chiếc hộp sơn mài. Ông đặt chiếc hộp lên bàn vẽ kỹ thuật rồi tháo bỏ nghi thức của then cài và dải ruy băng. Hai cú phẩy nhẹ vào các thanh cuộn, và đây, trải ra trước mặt nó, là Trung Quốc, một nửa dòng máu của nó mà không thực gì hơn một truyền thuyết. Các chữ tiếng Trung buông xuống thành cột, uốn lượn như những đốm lửa nhỏ. Mỗi nét mực đều sáng quắc lên như thể chính nó vừa tự tay viết chúng.
Sau các dòng chữ đổ xuống đó là sự xuất hiện của những người đàn ông, ai cũng như một bộ da bọc xương tròn trịa. Đôi mắt họ mỉm cười với trò đùa giỏi nhất của tạo hóa, trong khi vai họ khum xuống dưới sức nặng của một cái gì đó nặng tới không chịu nổi.
“Họ là ai thế ạ?”
Bố nó ngắm nghía các hình dung. “Những người này ấy hả?” Môi ông mím lại như dáng nụ cười. “Luóhàn. La hán. Tiểu Phật. Họ giải quyết được cuộc đời. Họ vượt qua kỳ sát hạch cuối cùng.” Ông nâng cằm con bé về phía mình. Khi ông mỉm cười, lớp mạ vàng mỏng của cái răng cửa sáng lóe. “Các siêu anh hùng của Trung Hoa!”
Con bé lắc bàn tay ông ra rồi nhìn chăm chú các vị thánh. Một vị ngồi trong một cái hang nhỏ. Một vị quàng dải áo màu đỏ và đeo khuyên tai. Một vị khác dừng trên gò mỏm đá cao, với những vách đá và sương mù dập dềnh phía sau lưng. Một vị dựa vào thân cây, giống như Mimi sẽ dựa vào cây dâu ngày hôm sau, kể chuyện với các em gái nó.
Bố nó chỉ vào phong cảnh mơ màng đó. “Trung Hoa này. Rất xưa.” Mimi chạm vào vị ngồi dưới cây. Người bố cầm tay con gái lên rồi hôn ngón tay nó. “Cũ lắm rồi, đừng chạm.”
Con bé nhìn chằm chằm vị la hán đó, người mang đôi mắt hiểu mọi thứ. “Các siêu anh hùng ạ?”
“Họ thấy mọi câu trả lời. Không còn gì tổn thương được họ nữa. Hoàng đế đến rồi đi. Nhà Thanh, nhà Minh, nhà Nguyên. Cộng sản nữa. Con bọ trên một con chó khổng lồ. Nhưng các vị này ư?” Ông tặc lưỡi rồi giơ ngón cái lên, như thể các vị Phật nhỏ này là những người đáng để đặt cược, trong dòng chảy thời gian.
Ở phút giây đó, Mimi tuổi teen đã nâng mình lên trên đôi vai của chính nó năm lên chín tuổi để ngắm nhìn các vị la hán từ trên cao và từ những năm tháng đã qua. Từ cô bé thiếu niên đó phát triển lên một phụ nữ lớn tuổi khác nữa. Thời gian không phải là một con đường thẳng mở ra phía trước nó. Thời gian là một cột đồng tâm với chính nó ở giữa tâm và hiện tại cứ thế loang ra theo mép gờ xa nhất. Bản thân các tương lai chồng chất lên phía trên và phía sau nó, tất cả quay trở lại căn phòng này để một lần nữa nhìn ngắm khóm người đàn ông đã giải quyết được cuộc đời này.
“Nhìn màu sắc này,” Winston nói, và tất cả con người về sau của Mimi đổ sụm xuống quanh nó. “Trung Quốc thật là một nơi buồn cười.” Ông cuộn bức tranh cho vào trong hộp rồi cất nó trở lại đáy tủ quần áo.
Trên cành dâu, Mimi nghĩ rằng nếu nó có thể lên cao thêm một đoạn nữa từ Đất, nó hẳn sẽ nhìn được vào trong cửa sổ phòng bố mẹ nó để xem Verdi đang làm gì họ. Nhưng phía dưới Đất, cách mạng đang nổi lên. “Không được trèo!” Amelia hét. “Xuống đi!”
“Im lặng đi,” Mimi đề nghị.
“Bố ơi! Chị Mimi đang trong vườn tơ tằm!”
Mimi nhảy xuống đất, một chân thức đứa em gái nhỏ. Nó bịt miệng và lôi con bé đi. “Im đi thì chị cho xem cái này.
Với khả năng nghe hoàn hảo của trẻ thơ, cả hai cô em gái biết: cái này rất đáng để xem. Một lát sau, dưới lớp bảo hộ là tiếng kêu tru tréo của Verdi, chúng cùng nhau bò trườn, kiểu đặc công, vào phòng làm việc của bố chúng. Tủ hồ sơ khóa, nhưng Mimi mở được cái hộp sơn mài. Cuộn tranh trải ra trên bàn vẽ thiết kế của Winson để lộ một hình dung ngồi dưới một cái cây nhẫn nại, xù xì.
“Đừng chạm! Họ là tổ tiên của chúng ta đấy. Họ là các vị thần.”
CŨNG NHƯ ANH YÊU MỌI THỨ TRONG ĐỜI, người kỹ sư điện người Trung Quốc vẫn thường đưa cả gia đình vào trong ga-ra để thực hiện những cuộc gọi đường dài cho ông bà ngoại ở Virginia bằng chiếc điện thoại trên xe hơi lớn hơn cả cái bánh khúc cây ấy rất yêu các công viên quốc gia. Winston Ma dành nửa năm để lên kế hoạch cho nghi lễ thường niên vào tháng Sáu, đánh dấu các bản đồ, gạch chân các sách hướng dẫn, gạch đầu dòng từng ghi chép ngắn gọn trong các sổ tay, và thắt những con ruồi cá hồi[2] trông giống như những con rồng Tết Trung Hoa bé xíu. Vào tháng Mười một, bàn ăn luôn đầy ắp các thức đồ mà gia đình cần cho bữa tiệc Tạ ơn của họ - con trai và gạo - trong góc ăn sáng của nhà. Rồi kỳ nghỉ lễ đến và họ lại lên đường, năm người nhà họ trườn trên chiếc Chevy Biscayne màu xanh da trời có giá để đồ trên nóc và có ghế sau rộng bằng cả thềm lục địa, không có điều hòa và thùng ướp lạnh đầy nước trái cây đặt trên đá, ghi dấu hàng ngàn dặm trên những hành trình tới Yosemite, Zion, Olympic, và xa hơn nữa.
Năm nay họ trở lại Yellowstone mà anh yêu thích. Tất cả các khu cắm trại dọc đường đều được ghi chép thành một bài trong sổ tay của Winston. Anh viết số của bãi cắm trại và đánh giá nó dựa trên hàng loạt tiêu chuẩn khác nhau. Anh sẽ dùng các dữ liệu trong suốt mùa đông đó để hoàn thiện lộ trình cho năm tới. Anh bắt các cô con gái luyện tập nhạc cụ trên ghế sau. Việc này dễ cho Mimi, dùng kèn trumpet, và Carmen, kèn clarinet, hơn là với Amelia bé nhỏ cùng chiếc violin. Họ quên mang theo sách. Hai nghìn dặm không có gì để đọc. Hai cô con gái lớn nhìn chằm chằm em gái chúng trong mấy chục dặm ở Nebraska cho tới khi Amelia không chịu nổi òa lên khóc. Thời gian trôi đi như thế.
Charlotte thôi cố gắng quản lý mấy đứa con. Vẫn chưa ai ngờ đến, nhưng cô đã bắt đầu trượt vào thế giới riêng dài dặc mà mỗi năm trôi qua lại sâu thẳm hơn. Cô ngồi trên ghế trước, xem xét các bản đồ cho chồng cô và ngâm nga trong họng những giai khúc của Chopin. Chứng mất trí bắt đầu từ đây, trong những ngày yên lặng này, trong chiếc ô tô thần thánh.
Họ cắm trại trong ba ngày ở gần Slough Creek. Hai đứa em dành hàng giờ chơi bài Old Maid. Mimi ra suối cùng bố. Sự mệt nhoài cùng nhau thả câu, hình chữ C của cái cần kéo dài ra giữa không trung, nhịp phập phồng bốn kỳ với bàn tay cứng cơ đờ lại ở góc kim đồng hồ mười giờ mười phút, sóng lăn tăn khi con ruồi khô chạm xuống nước, có một nỗi sợ nho nhỏ trong con bé rằng thứ gì đó có thể sẽ thực sự cắn cân, cái giật mình của miệng con cá khi nó phá vỡ mặt nước: tất cả những thứ này mê hoặc con bé cho đến mãi sau này.
Để nước ngập tới gối trong dòng nước lạnh, bố nó cảm thấy tự do. Anh định hình các bãi cạn, đo đạc tốc độ của nước, xem xét các thứ dưới đáy, tìm kiếm cửa đập - các phương trình đồng thời trong những ẩn số phức đó khiến ta phải nghĩ như loài cá - không ngừng cảm nhận được chẳng gì khác ngoài sự may mắn tịnh khiết được ở trên mặt nước.
“Tại sao lũ cá lại trốn?” anh hỏi cô con gái. “Chúng làm gì?”
Đây là hình ảnh mà nó sẽ nhớ về bố nó, dạo chơi trong thiên đường của bố nó. Câu cá, bố nó đã giải quyết được cuộc đời. Câu cá, bố nó vượt qua kỳ sát hạch cuối cùng, trở thành la hán tiếp theo, gia nhập cùng những vị khác trong cuộn tranh bí ẩn nằm dưới đáy tủ quần áo mà Mimi vẫn thường xuyên viếng thăm bí mật, trong những năm vừa qua. Giờ con bé đã đủ lớn để hiểu rằng những vị trong cuộn tranh đó không phải là tổ tiên của nó. Nhưng nhìn bố nó như thế này, trên dòng sông, mãn nguyện và đang bình an, nó không thể không nghĩ rằng: Bố nó là hậu duệ của họ.
Charlotte ngồi trên chiếc ghế cắm trại bên cạnh bờ sông. Công việc duy nhất của cô là gỡ rối các sợi dây câu của hai người câu, gỡ rối họa tiết Byzantine, những thắt nút siêu nhỏ, hàng giờ. Winston quan sát mặt trời lặn xuống dòng sông, lau sậy chuyển từ màu vàng rộm sang màu nâu xám. “Nhìn màu sắc kìa!” Rồi lại thế, mấy phút sau, một tiếng thì thầm tự nhủ dưới bầu trời chuyển sắc cô ban: Nhìn màu sắc kìa! Có những màu trong phổ màu của anh mà không ai khác có thể thấy.
Họ cắm trại trên bờ của một hồ nước nhỏ cách không quá xa con đường chạy tới Tower Junction. Mimi và Carmen tìm kiếm các viên đá để làm trang sức. Charlotte và Amelia bắt đầu ván thứ mười bảy liên tiếp cờ đam Trung Quốc. Winston ngồi trên cái ghế cắm trại gập được, cập nhật vào cuốn sổ tay của anh. Có một chuyển động là lạ ở gần cái bàn. Amelia hét lên, “Gấu!”
Charlotte nhảy dựng lên, hất văng cả bàn trò chơi. Cô bế xốc con gái út lên cao và lao xuống hồ. Con gấu thong thả tiến về phía hai đứa đang lượm nữ trang. Mimi nghĩ lại xem nên là chỗ đậu cao hay bề mặt dốc. Nó phải làm một trong hai điều đó đối với gấu xám, và điều còn lại với gấu đen. Nó không thể nhớ ra thế nào. “Trèo đi,” nó hét lên với Carmen, rồi mỗi đứa bò lên một cây thông lodgepole. Con gấu, có thể với cả hai đứa bằng hai cú nhún dễ dàng, điều đó khiến nó mất hứng thú. Nó đứng bên bờ hồ, như tự hỏi hôm nay có phải một ngày tốt để bơi. Nó cân nhắc người phụ nữ nước ngập đến ngực đang đưa đứa con gái nhỏ xíu lên cao như thể cô sắp rửa tội cho đứa bé. Nó chờ để xem điều mà những giống loài điên khùng sẽ làm tiếp theo. Nó rảo bước về phía Winston, người đang ngồi cứng đờ bên chiếc bàn cắm trại, chụp ảnh bằng chiếc Nikon. Chiếc máy ảnh - thứ duy nhất của người Nhật mà anh cho phép mình có - tiếp tục tách, rập, soạt.
Winston nâng người lên khi con thú tiến tới. Rồi anh bắt đầu rì rầm với con gấu. Bằng tiếng Trung. Có một cái nhà xí ở gần khu trại, cửa mở. Winston nói với con gấu, phỉnh phờ nó. Điều này làm lạc lối con gấu, vốn đang xem xét lại toàn bộ tiếp cận của nó với tình huống này. Nỗi buồn thấm qua nó. Nó ngồi xuống cào cào vào không khí. Winston tiếp tục nói.
Điều này khiến Mimi kinh ngạc, thứ ngôn ngữ xa lạ bay ra từ miệng bố nó. Winson rút một nắm quả hồ trăn trong túi ra và ném vào cái hố xí. Con gấu lững thững đi theo đám quả, biết ơn vì trò tiêu khiển này. “Vào xe đi,” Winston khẽ hét lên. “Nhanh!” Cả nhà làm theo, và con gấu thậm chí không nhấc đầu lên. Nhưng Winston dừng lại để thu dọn bàn ghế cắm trại. Anh đã trả khá nhiều tiền cho chúng nên anh không muốn bỏ lại.
Đêm đó, ở khu cắm trại gần Norris, Mimi hỏi anh, vẻ kính sợ. Bố nó đã khác đi trong mắt nó. “Bố không sợ à?”
Anh cười to, ngượng ngừng. “Chưa tới lúc của bố. Chưa phải câu chuyện của bố.”
Những từ đó khiến con bé kinh ngạc. Làm sao bố nó biết được câu chuyện của mình, trước lúc nó tới? Nhưng con bé không hỏi bố điều ấy. Thay vào đó, nó nói, “Bố đã nói gì với nó?”
Lông mày anh nhíu lại. Anh nhún vai. Có thể nói gì khác được chứ, với một con gấu?
“Xin lỗi! Bố nói với nó rằng, loài người rất ngốc nghếch. Họ quên tất cả mọi thứ - nơi họ đến từ đâu, nơi họ đi tới. Bố nói: Đừng lo. Con người đang rời bỏ thế giới này, sớm thôi. Khi đó gấu sẽ lại lên chiếu trên.”
Ở HOLYOKE, Mimi là LUG: lesbian until graduation - đồng tính nữ tới tận ngày tốt nghiệp. Điều này cũng tương tự với một nửa trong số các trường cao đẳng khác thuộc nhóm Seven Sisters, gộp chung. Kéo và hồ dán, người ta gọi như thế. Vui vẻ, tội lỗi, lành mạnh, hổ thẹn, ngọt ngào - sự thực hành vĩ đại cho một cái gì đó. Có lẽ là cuộc đời. Là cái gì đó xảy ra sau khi tốt nghiệp.
Cô đọc thơ ca Mỹ thế kỷ mười chín và uống trà chiều ở South Hadley trong ba học kỳ. Nơi này hơn hẳn Wheaton. Nhưng vào một ngày tháng Tư khi cô đang đọc cuốn Flatland của Abbott cho một khảo sát dành cho sinh viên năm thứ hai gọi là Trí tuệ siêu phàm, thì cô đọc tới đoạn này trong câu chuyện, A. Square được đưa ra khỏi máy bay vào các không gian mở của Spaceland. Chân lý đến với cô như một cuốn sách khải huyền: Thứ duy nhất đáng tin trên đời là sự đo đạc. Cô phải trở thành kỹ sư, giống như bố cô trước khi có cô. Đó thậm chí không phải là một lựa chọn. Cô đã là một kỹ sư rồi, đã luôn là như thế. Và như với nhân vật Square của Abbott, giây phút cô trở lại Flatland, bạn bè ở Holyoke muốn giữ cô lại. Cô chuyển tới Berkeley. Nơi tốt nhất cho ngành kỹ thuật gốm mà cô có thể tìm thấy. Nơi này có sự vặn xoắn thời gian kỳ quái. Những bậc thầy tương lai của khoa học vũ trụ bên cạnh những nhà cách mạng khăng khăng tin rằng thời đại hoàng kim của Tiềm năng Con người đã lên đến đỉnh cao vào mười năm trước.
Cô trưởng thành, Mimi tái sinh, tìm kiếm cả thế giới giống như một người Kazakh nhỏ bé mang một cái máy tính cầm tay, và, theo đánh giá của nhiều người, là người đáng yêu nhất từng nói về phương trình Hall-Petch. Cô đặc biệt thích không khí của bộ phim Stepford Wives kỳ quái. Cô ngồi trong khu rừng bạch đàn, loài cây tỏa ra không khí nóng, suy ngẫm về các vấn đề và xem người biểu tình với từng biểu ngữ, các slogan viết bằng đủ kiểu chữ khác nhau. Thời tiết càng tốt thì các đòi hỏi càng giận dữ.
Một tháng trước ngày tốt nghiệp, cô mặc một bộ đồ đẹp chết người để đi phỏng vấn - bóng loáng, màu xám, chuyên nghiệp, uy lực y như một trận động đất NoCal. Cô phỏng vấn với tám hãng và được ba hãng nhận. Cô chọn một công việc làm cố vấn quá trình tuyển chọn cho một công ty đúc ở Portland, vì nó tạo nhiều cơ hội đi công tác nhất. Họ gửi cô tới Hàn Quốc. Cô yêu thích đất nước này. Trong bốn tháng, tiếng Hàn cô học được nhiều hơn vốn tiếng Trung mà cô biết.
Các em gái của cô cũng lang thang khắp trên bản đồ đất nước. Carmen rốt cuộc dừng chân ở Yale, học kinh tế. Amelia làm công việc săn sóc động vật hoang dã bị thương ở một trung tâm khám phá ở Colarado. Ở quê nhà Wheaton, cây dâu nhà Ma bị tấn công từ mọi phía. Sâu bột phủ khắp những khóm bông. Rệp vảy chi chít trên cành, vô can trước thuốc bảo vệ thực vật của bố cô. Vi khuẩn đen kịt trên lá. Bố mẹ cô vô vọng trong việc cứu cái cây. Charlotte, đang trong làn sương mù dày đặc của bà, lầm bầm chuyện đưa một mục sư tới cầu nguyện cho nó. Winston tìm kiếm khắp các sách về bí quyết làm vườn và viết đầy sổ tay những nghiên cứu đã được xuất bản mà không chê vào đâu được. Nhưng mỗi bài học đều chỉ đưa cái cây đến gần sự đầu hàng hơn.
Winston gọi cho Mimi khi cô trở lại Portland sau một chuyến tới Korea. Ông gọi cho cô từ bốt điện thoại gia đình, chính là ga-ra nhà Ma. Phát minh của ông đã thu nhỏ lại xuống cỡ của một đôi ủng, đáng tin cậy và tiết kiệm nhiên liệu tới mức Phòng thí nghiệm bắt đầu cấp phép cho các công ty khác. Nhưng Winston không hứng thú gì với chuyện kể cho con gái nghe về việc sự nghiệp của ông cuối cùng đã có thành tựu. Tất cả những gì ông nói là về cái cây sắp chết.
“Cái cây đó. Phải làm gì?”
“Nó có vấn đề gì à bố?”
“Màu xấu lắm. Tất cả lá đang rụng.”
“Bố kiểm tra đất chưa?”
“Vườn tơ tằm của bố. Hết rồi. Nó sẽ không bao giờ làm ra sợi tơ nào.”
“Hay là bố trồng một cây khác.”
“Thời điểm tốt nhất để trồng một cái cây. Hai mươi năm trước.”
“Vâng. Nhưng bố cũng luôn nói thời điểm tốt nhất tiếp theo là bây giờ mà.”
“Sai rồi. Thời điểm tốt nhất tiếp theo là mười chín năm trước.”
Mimi chưa bao giờ thấy người đàn ông vô cùng tháo vát và vui vẻ này chùng xuống đến thế. “Đi chơi đi bố. Đưa mẹ đi cắm trại đi.”
Nhưng họ vừa trở về từ mười nghìn dặm xa trên những dòng suối đầy cá hồi ở Alaska, và sổ tay của ông đầy ắp các ghi chú tỉ mỉ mà sẽ phải mất nhiều năm mới đi hết.
“Cho con nói chuyện với mẹ.”
Có một âm thanh - tiếng xe ô tô mở rồi đóng, rồi đến tiếng cửa gara. Một lát sau có tiếng nói, “Salve filia mea.”
“Mẹ? Mẹ nói cái gì thế?”
“Ego Latinam discunt.”
“Đừng làm thế với con, mẹ.”
“Vita est supplicium.”
“Chuyển máy lại cho bố đi ạ. Bố ơi? Mọi việc ở nhà có ổn không ạ?”
“Mimi. Đến lúc của bố rồi.”
“Bố nói thế nghĩa là sao ạ?”
“Mọi việc của bố xong rồi. Vườn tơ tằm, kết thúc. Câu cá ngày càng khó, mỗi năm mỗi khó. Bố làm gì bây giờ?”
“Bố đang nói gì thế ạ? Làm những việc mà bố luôn làm ấy ạ.”
Lập các biểu đồ cho các chỗ cắm trại năm sau. Chất đầy nhà kho với các bao xà phòng bánh, bột giặt, bột ngũ cốc, và bất cứ thứ gì được giảm giá. Ngủ quên hằng đêm vào lúc bản tin mười giờ. Tự do.
“Ừ,” ông đáp. Nhưng cô hiểu rõ giọng nói đã hình thành con người cô. Bất kể thứ ông giả vờ bằng câu ừ đó là gì, nó là một lời nói dối. Cô viết một ghi chú để gọi cho các em gái cô và bàn về sự suy sụp ở Wheaton. Bố mẹ đang cần sửa chữa. Phải làm gì đây? Nhưng gọi đường dài đến East Coast là hai đô một phút, nếu ta không có một cái điện thoại cỡ ủng thần diệu. Cô quyết định viết thư cho cả hai đứa em vào cuối tuần đó. Nhưng cuối tuần đó lại là hội thảo thiêu kết gốm ở Rotterdam, thế nên những lá thư trượt khởi đầu cô.
MÙA THU NĂM ĐÓ, khi vợ đang ngồi trong tầng hầm học tiếng Latin, Winston Ma, từng là Ma Sih Hsuin với những người biết ông, ngồi dưới cây dâu tằm mục ruỗng, và với tiếng tru nhà Macbeth của Verdi bên ngoài cửa sổ phòng ngủ, ông đặt một khẩu Smith &Wesson 686 với nòng súng dí vào thái dương rồi trải tấm thân nguyên thủy ra trên những phiến đá lát trên sân sau nhà. Ông không để lại ghi chép gì ngoài một bản viết thư pháp bài thơ một nghìn hai trăm năm tuổi của Vương Duy[3] để mở trên tấm giấy da trải trên bàn trong phòng làm việc của ông:
Già rồi, tôi chỉ thích yên tĩnh
Mọi thứ trên đời chẳng có nghĩa lý gì
Tôi không biết cách nào hay để sống
Tôi không người chìm trong suy nghĩ của mình, những khu rừng cũ của tôi
Gió thổi qua rặng thông tung bay giải áo
Ánh trăng miền núi chiếu trên phím đàn của tôi
Bạn hỏi: Đời người thăng trầm như thế nào?
Bài ca của người ngư phủ chảy sâu duỗi đáy dòng sông.
Mimi đang ở sân bay San Francisco, trên đường đi Seattle để kiểm tra công trường. Cô đang ngắm nghía các cửa hàng ở sảnh chờ bay thì giữa tiếng í ới ầm ĩ ngoài cổng sân bay và tiếng thông báo của dịch vụ công cộng, tên cô được xướng lên. Một cái gì đó lạnh ngắt lan khắp da đầu cô. Trước cả khi nhân viên ở bàn hỗ trợ hành khách đưa điện thoại cho cô, cô biết. Và trên suốt đường về nhà ở Illinois cô nghĩ: Vì sao mình đã biết chuyện này từ trước nhỉ? Tại sao tất cả chuyện này giống như là nhớ lại?
MẸ CÔ TUYỆT VỌNG. “Bố không muốn làm chúng ta đau lòng. Ông ấy có một số ý tưởng. Mẹ không hiểu gì về chúng. Chỉ là bố là như thế.” Những lời của bà cất lên từ nơi tiếng súng đã nổ trong khi bà đang ở tầng hầm, và đó hẳn là chỉ một trong nhiều lựa chọn mà bước ngoặt thời gian đã thử. Bà nghe rất nhẹ, rất thanh thản trong sự mơ hồ của bản thân, rất sâu thẳm dưới bề mặt của dòng sông đang chảy, đến nỗi Mimi không thể làm gì hơn là chia sẻ sự trầm tĩnh phi thực của bà. Việc mà bố cô để lại là việc Mimi phải kết thúc. Không có ai động chạm vào khung cảnh đó ngoại trừ việc mang đi thi thể và khẩu súng. Những mẩu não lấm tấm trên đá và thân cây, giống như những loài sên mới của vườn. Cô làm sạch tất cả với máy tẩy rửa. Xô, cái bọt biển, nước xà phòng, cho mặt sân lốm đốm đó. Cô đã không cảnh báo được với các em cô hay ngăn xảy ra việc mà cô đã thấy trước. Nhưng cô có thể làm việc này - lau sạch nhẵn vụ chết chóc ở sân sau này. Khi lau dọn, cô trở thành một cái gì khác hẳn. Gió thổi tung tóc cô. Cô nhìn những phiến đá vẩy máu, những mảnh trắng mềm đã là nơi trú ngụ các tư tưởng của ông. Nhìn màu sắc kìa! Bạn hỏi đời người thăng và trầm như thế nào ư? Như thế này đây. Cô ngồi dưới cây dâu mục ruỗng. Gió thổi những chiếc lá hình răng cưa. Những đường nứt nẻ vạch trên thân cây như nếp nhăn trên khuôn mặt của các la hán. Mắt cô nhức nhối vì sự hỗn độn của động vật. Ngay cả lúc này đây, mỗi tấc vuông của đất đều nhuốm trái cây, vệt nước trái cây, các thần tích bảo như thế, với máu của một vụ tụ sát vì tình yêu thương. Ngôn từ bật ra trong cô, nhỏ xíu vụn vỡ. “Bố. Bố ơi! Bố làm gì vậy?”
Thế rồi sự im lặng gào thét.
CARMEN VÀ AMELIA VỀ. Đoàn tụ, bộ ba ngồi xuống bên nhau một lần cuối. Họ không có lời giải thích. Sẽ không bao giờ có lời giải thích cả. Con người trên thế giới này đã ra đi trên một hành trình bất khả mà không có họ. Thế nên thay vì giải thích, tưởng nhớ. Họ đặt tay lên vai nhau và kể cho nhau nghe những câu chuyện của ngày xưa. Opera vào Chủ nhật. Những chuyến dạo chơi huyền thoại trên xe hơi. Những lần tới phòng thí nghiệm, nơi người đàn ông nhỏ bé ấy đi thoăn thoắt xuống sảnh, được chúc mừng bởi những đồng nghiệp da trắng cao lớn, một người phát minh đầy hạnh phúc của tương lai ngành di động. Họ nhớ ngày gia đình phân tán quanh con gấu. Họ thực hiện một nghi thức tưởng niệm lặng lẽ những ký ức và nỗi ngạc nhiên. Nhưng họ thực hiện nó trong nhà. Các em gái của Mimi không lại gần sân sau. Họ thậm chí không thể nhìn cây ăn sáng cũ, vườn tơ tằm của bố họ. Mimi nói với mẹ điều cô biết. Cuộc gọi đó. Đã đến lúc của bố.
Amelia ôm cô. “Đó không phải lỗi của chị. Chị đâu có biết.”
Carmen nói, “Bố nói với chị thế mà chị không nói gì với bọn em?”
Charlotte ngồi gần đó, khẽ mỉm cười. Giống như thể cả nhà vẫn đang trong một chuyến đi cắm trại ở đâu đó, và bà đang ở ven hồ, tháo những nút thắt bé xíu trong dây câu của chồng. “Bố không thích khi ba đứa cãi nhau.”
“Mẹ.” Mimi hét lên với bà. “Mẹ. Thôi đi. Tỉnh táo lại đi. Bố đi rồi.”
“Đi rồi?” Charlotte cau mày với sự ngốc nghếch của cô con gái. “Con đang nói cái gì thế? Mẹ sẽ gặp lại bố con.”
BA CÔ CON GÁI tấn công vào núi giấy tờ và báo cáo. Trước đây ý nghĩ này chưa từng xảy ra với Mimi: Luật pháp không ngừng lại với cái chết. Nó vươn xa hơn nấm mộ, rất nhiều năm, và rằng cuốn những người còn sống vào mớ bòng bong hành chính mà khiến cho những thử thách trước khi xảy cái chết đó giống như âm thanh kỹ thuật số cakewalk. Mimi nói với hai cô em gái, “Chúng ta phải chia các thứ của bố.”
“Chia?” Carmen nói. “Ý chị là lấy đi sao?”
Amelia nói, “Sao chúng ta không để mẹ…”
“Em xem cái kiểu cách của chị ấy đi. Chị ấy thậm chí không ở đây.” Carmen đúng bật dậy. “Chị có thể thôi giải quyết mọi thứ trong chớp mắt đi được không? Sao lại phải vội thế?”
“Chị muốn làm mọi thứ xong xuôi. Vì mẹ.”
“Bằng cách ném mọi thứ của bố đi hả?”
“Hiến tặng. Từng thứ cho đúng người.”
“Giống như giải một phương trình bậc hai to đùng ấy nhỉ.”
“Carmen. Chúng ta phải quan tâm tới nó.”
“Tại sao? Chị muốn bán căn nhà này đi mà không hỏi ý mẹ ư?”
“Chẳng lẽ mẹ sẽ đủ sức chăm sóc nó, trong tình trạng hiện nay hay sao?”
Amelia vòng tay ôm cả hai người chị. “Có lẽ để những thứ đó lại sau đã nhỉ? Chúng ta chỉ có chút thời gian ngắn ngủi với nhau.”
“Bây giờ tất cả chúng ta ở đây,” Mimi nói. “Chắc phải lâu lắm mới có dịp như thế này nữa. Chúng ta hãy làm cho xong đi.”
Carmen phẩy cái ôm ra. “Thế Giáng sinh chị không về nhà hả?”
Nhưng có gì đó trong giọng cô đã chính là một lời thứ nhận rõ ràng. Nhà đã biến mất khi bố họ đi.
CHARLOTTE ÔM CHẶT LẤY mấy món đồ nhiều kỷ niệm. “Đây là chiếc áo len yêu thích của bố con. Ôi, đừng lấy đôi ủng đó. Đây là cái quần ông ấy mặc khi bố mẹ đi leo núi.”
“Mẹ không sao đâu,” Carmen nói, khi chi còn ba người lại với nhau. “Mẹ đang cố gắng được. Mẹ chỉ hơi kỳ lạ một chút thôi.”
“Mấy tuần nữa em sẽ về thăm mẹ,” Amelia gợi ý. “Kiểm tra. Để chắc chắn mẹ ổn.”
Carmen nhìn thẳng Mimi, như muốn nối giận. “Đừng có mơ tới chuyện đưa mẹ vào một trung tâm nào đó.”
“Chị không mơ gì cả. Chị chỉ đang sắp xếp mọi thứ.”
“Sắp xếp ư? Ở đây ấy hả? Chị là người áp đặt nhất đấy. Thoải mái đi. Mười một cuốn sổ tay đầy ắp thẻ đánh giá về từng khu cắm trại mà chúng ta từng ở. Của chị cả đấy.”
BA GIỌNG NỮ CHÍNH OPERA chụm lại quanh một cái đĩa bạc. Trên cái đĩa là ba chiếc nhẫn ngọc. Trên mỗi chiếc nhẫn khắc một cái cây, và mỗi cây đó phân vào một trong ba biểu trung của thời gian. Cái thứ nhất là cây Lote, cây nằm ở biên giới của quá khứ mà không ai có thể vượt trở về được. Cái thứ hai là cây thông thẳng đứng mảnh khảnh của hiện tại. Cái thứ ba là Phù Tang, tương lai, cây dâu thần diệu ở xa về phía Đông, nơi ẩn giấu tiên dược của sinh mạng.
Amelia nhìn trân trân. “Ai sẽ lấy cái nào?”
“Có một cách đúng để làm việc này,” Mimi nói. “Và hàng đống cách sai.”
Carmen thỏ dài. “Cách đúng là gì vậy?”
“Im lặng. Nhắm mắt. Đến đến ba, chọn một.”
Đến ba, có cái gì đó nắm nhẹ các cánh tay, và mỗi cô gái tìm thấy số phận của mình. Khi họ mở mắt ra, cái đĩa trống trơn. Amelia có hiện tại vĩnh cữu, Carmen với quá khứ ảm đạm. Và Mimi còn lại trong tay cái cây mảnh khảnh của những thứ sẽ đến. Cô đeo nó vào ngón tay. Nó hơi to - món quá từ quê hương cô sẽ không bao giờ thấy. Cô xoay xoay chiếc nhẫn vĩnh cữu được thừa kế quanh ngón tay như thể “vừng ơi mở ra”. “Bây giờ đến các vị Phật.”
Hai đứa em không hiểu ý cô. Nhưng cũng phải, Amelia và Carmen đã không nghĩ tới cuộn tranh đó trong suốt mười bảy năm qua.
“Các Luóhàn” Mimi nói, phát âm sai. “Các vị la hán.” Cô mở cuộn tranh ra bàn nơi trước đây bố cô thường buộc ruồi cá hồi. Nó cũ hơn, lạ lùng hơn ba người họ nhó. Giống như có ai đó đã làm lại nó với màu và mực, từ một thế giới nào bên trên thế giới này. “Chúng ta có thể mang nó đến nhà đầu giá. Rồi chia tiền.”
“Ôi trời,” Amelia nói. “Bố không để lại cho chúng ta đủ tiền hay sao?”
“Hay Mimi cứ thế giữ nó đi. Như thế sẽ khôn ngoan hơn đây.”
“Chúng ta có thể tặng nó cho một bảo tàng. Để tưởng niệm Sih Hsuin Ma.” Cái tên nghe hoàn toàn không một chút Mỹ nào qua miệng của Mimi.
Amelia nói, “Như thế thì quá tuyệt vời.”
“Và chúng ta sẽ được khấu trừ thuế suốt đời.”
“Cứ như chúng ta đang kiếm được nhiều tiền lắm nhỉ.” Carmen cười khẩy.
Amelia cuộn bức tranh lại trong bàn tay nhỏ nhắn của cô. “Thế làm sao chúng ta làm được thế?”
“Chị chưa biết. Trước hết chúng ta phải mang đi định giá đã.”
“Chị làm chuyện đó đi, Mimi,” Carmen nói. “Chị giỏi khoản sắp xếp mọi thứ mà.”
CẢNH SÁT đưa lại cho họ khẩu súng. Họ sở hữu nó, về mặt giấy tờ, thông qua thừa kế. Nhưng không có ai trong số họ có tên trên giấy phép sử dụng. Không ai biết phải làm gì với nó. Nó nằm trong một cái chạn đựng đồ, to lớn và rù rì qua thanh hộp gỗ. Nó phải bị phá hủy, giống như chiếc nhẫn sẽ phải bị ném vào miệng núi lửa. Nhưng bằng cách nào đây?
Mimi thu hết can đảm cầm lấy hộp gỗ đó. Cô quẳng nó vào giá để đồ phía sau chiếc xe đạp cô đi thời trung học, chiếc xe mà bố mẹ cô vẫn giữ trong hầm suốt nhiều năm. Rồi cô đạp xuống Pennsylvania đến cửa hàng súng ở Glen Ellyn, nơi đã bán món vũ khí này. Cô không biết họ có mua lại nó hay không. Cô không quan tâm. Cô sẽ tặng nó như một món quà từ thiện. Cái hộp nặng đến khốn khổ trên giá xe, và cô muốn nó biến mất. Xe ô tô lướt qua cô, tài xế bực bội và mất bình tĩnh. Khu này quá đông đúc để người lớn có thể đi xe đạp. Cái hộp trông như một cái quan tài nhỏ. Rồi đến một xe cảnh sát. Cô cố tỏ ra bình thường, điều mà nhà Ma luôn giả vờ như thế. Chiếc xe cảnh sát đi chầm chậm phía sau cô, bật đèn giữa trưa. Xe bấm còi trong một phần tư giây, như một tiếng nấc của quyền lực tối cao. Mimi loạng choạng dừng lại và một chút linh cảm xẹt qua, về một án tù cho bất cứ ai không được cấp phép mà mang theo súng ngắn. Mặc dù, khẩu súng này đã được lau sạch sẽ tất cả các tế bào mô người còn sót lại sau vụ tự sát nhưng tim cô vẫn đập mạnh đến nỗi cô có cảm tưởng như mình có thể nếm được vị máu đang túa ra từ đầu lưỡi.. Viên cảnh sát bước ra đi tới chỗ cô đang co rúm lại trên chiếc xe. “Ở đằng kia cô đã không ra tín hiệu.”
Đầu óc cô run lấy bẩy theo. Cô chỉ có thể mặc kệ nó.
“Luôn phải dùng tay ra hiệu nhé. Đó là luật.”
RỒI MIMI Ở O’HARE, chờ chuyến bay trở lại Portland. Cô nghe thấy những thông báo liên quan đến mình được nhắc đi nhắc lại qua loa ở sân bay. Mỗi lần nghe cô lại đứng bật dậy, và mỗi lần phát ngôn lại thành ra những lời khác. Chuyến bay bị hoãn. Rồi lại hoãn tiếp. Cô ngồi xoay vặn cái cây ngọc xung quanh ngón tay, hàng nghìn lần. Mọi thứ trong thế giới này đều vô nghĩa, ngoại trừ cái nhẫn này và cuộn tranh cổ vô giá trong túi xách của cô. Cô muốn bình yên. Nhưng đây là nơi cô phải sống hiện tại: Trong bóng râm của cây dâu tằm mục ruỗng. Bài thơ không thể giải thích. Bài hát của ngư ông.
❀ ❀ ❀
[1] Gold Mountain là cách gọi của người Trung Quốc đối với vùng phía Tây của Bắc Mỹ - ND. Những chú thích trong bản dịch lần này được đánh dấu theo: ND (Người dịch), còn lại là chú thích của biên tập viên.
[2] Trout flies.
[3] Vương Duy (701 - 761): biểu tự Ma Cật, hiệu Ma Cật cư sĩ, là nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ, nhà viết thư pháp và là chính khách nổi tiếng đời Thịnh Đường, Trung Quốc. Bài thơ được nhắc đến trong đoạn này là bài “Thù Trương thiếu phủ” (Mời rượu huyện úy họ Trương). Bản dịch bài thơ được dịch theo nguyên văn tiếng Anh trong tiểu thuyết này của Richard Powers.